1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu nồng độ il 17 trong máu bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt và mối liên quan với mức độ bệnh

93 274 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI PHẠM THỊ THẢO “Nghiên cứu nồng độ IL-17 trong máu bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt và mối liên quan với mức độ bệnh Chuyên ngành

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHẠM THỊ THẢO

“Nghiên cứu nồng độ IL-17 trong máu bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt và mối

liên quan với mức độ bệnh

Chuyên ngành : Da liễu

LUẬN VĂN BÁC SĨ NỘI TRÚ

Người hướng dẫn khoa học:

TS.BS Lê Hữu Doanh

Trang 2

HÀ NỘI - 2015 ĐẶT VẤN ĐỀ

Vảy nến là bệnh da viêm mạn tính, tiến triển thành từng đợt xen kẽ những giai đoạn ổn định [1],[2] Bệnh không gây tử vong nhưng ảnh hưởng lớn đến hoạt động, thẩm mỹ và chất lượng sống của người bệnh Bệnh rất thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới Tỷ lệ bệnh chiếm khoảng 2-3% dân số [3],[4]

Bệnh vảy nến được mô tả đầu tiên từ thời cổ đại trong y văn của Hyppocrates Khi đó, tác giả đã thống kê các tổn thương giống như bệnh vảy nến ngày nay nhưng được gọi với các tên khác nhau Năm 1801, Robert Willan là người đã mô tả những nét đặc trưng của bệnh và đặt tên là

“psoriasis” rút ra từ chữ Hylạp “psora” [1],[4] Ở Việt Nam, giáo sư Đặng Vũ

Hỷ là người đầu tiên đặt tên cho bệnh là “vảy nến” [5],[6]

Hiện nay, căn nguyên của bệnh chưa được biết rõ Một số giả thuyết cho rằng tổn thương vảy nến được hình thành do sự kết hợp của ba yếu tố: di truyền, miễn dịch và có sự tác động của các yếu tố khởi phát trong môi trường [7],[8],[9] Về cơ chế miễn dịch, nhiều tác giả hiện nay cho rằng bệnh vảy nến

là bệnh da viêm có liên quan đến tế bào lympho T ở da đặc biệt là tế bào Th1, Th17 và Th22 [10],[11] Đặc biệt trong thời gian gần đây có ý kiến cho rằng Th17 dưới sự kích thích của IL-23 đã sản xuất ra IL-17, TNF-α, IL-6, IL-22…đóng vai trò chủ đạo trong cơ chế bệnh sinh của bệnh vảy nến trong đó người ta nhấn mạnh đến vai trò của IL-17 [12],[13],[14] Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về IL-17trong bệnh vảy nến nhưng kết quả còn chưa có sự thống nhất giữa các tác giả Theo các tác giả Orican (2005), Yilman (2012) và Mychalak Stoma (2013) nồng độ IL-17 tăng cao không có ý nghĩa thống kê ở

Trang 3

bệnh nhân vảy nến nhưng tương quan với mức độ nặng của bệnh [15],[16],[17] Ngược lại, nghiên cứu của Almakhzangy (2009) cho thấy nồng

độ IL-17 tăng cao có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân vảy nến nhưng không liên quan đến mức độ nặng của bệnh [18] Takahashi (2012) nghiên cứu trên số lượng bệnh nhân tương đối lớn đã chỉ ra rằng nồng độ IL-17 tăng cao có ý nghĩa thống kê và tương quan với mức độ nặng của bệnh [19] Ở Việt Nam có duy nhất nghiên cứu của Phan Huy Thục (2015) cũng chỉ ra rằng nồng độ IL-17 tăng cao ở bệnh nhân vảy nến và liên quan đến mức độ nặng của bệnh [20].Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đánh giá ở vảy nến thể thông thường còn các nghiên cứu trên vảy nến thể đặc biệt thì rất ít Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài:

“Nghiên cứu nồng độ IL-17 trong máu bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt và mối liên quan với mức độ bệnh” với 2 mục tiêu sau:

1 Khảo sát các đặc điểm lâm sàng và yếu tố liên quan ở bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt

2 Đánh giá sự thay đổi của nồng độ IL-17 trong máu bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt và mối liên quan với mức độ bệnh

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Bệnh vảy nến

1.1.1 Lịch sử bệnh

Bệnh vảy nến đã được biết đến từ lâu Hipocrate (năm 460-375 trước công nguyên) miêu tả bệnh vảy nến như là tình trạng da có vảy và đặt tên là

“Lopoi” Galen (năm 133-140 sau công nguyên) là người đầu tiên dùng thuật

ngữ psoriasis (xuất phát từ psora trong tiếng Hy Lạp là ngứa) [1] Cuối thể kỷ

18, bệnh vảy nến và bệnh phong được cho là một nhóm Đến thế kỷ 19, Willan mô tả những nét đặc trưng của bệnh và bệnh vảy nến được tách khỏi bệnh phong vào năm 1841 bởi Hebra Ở Việt Nam, Giáo sư Đặng Vũ Hỷ là người đầu tiên gọi tên bệnh là vảy nến [5],[6]

1.1.2 Tình hình bệnh vảy nến

Vảy nến là một trong số những bệnh da thường gặp nhất, chiếm 2 đến 3% dân số thế giới [6],[4] Tỷ lệ mắc bệnh cao nhất của các nước châu Âu

là Đan Mạch (2,9%), ở Mỹ dao động từ 2,2% đến 2,6% và thấp nhất ở châu

Á là 0,4% [4],[2] Ở Việt Nam, theo Nguyễn Xuân Hiền và cộng sự, vảy nến chiếm 6,44% bệnh nhân da liễu ở Viện Quân y 108 [6] Nghiên cứu của Trần Văn Tiến tại Viện Da liễu Trung ương có 134 bệnh nhân vảy nến nằm điều trị trong thời gian từ tháng 3/1999 đến 8/2000, chiếm tỷ lệ 12,04% [21]

Tỷ lệ mắc bệnh của 2 giới nam và nữ là tương đương nhau [4],[2] Bệnh vảy nến có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào [4],[2]

Trang 5

1.1.3 Cơ chế bệnh sinh của vảy nến

Ngày nay người ta nhận thấy rằng vảy nến là một bệnh lý mạn tính Mặc

dù cơ chế bệnh sinh chưa thật sự rõ ràng nhưng tổn thương vảy nến được hình thành là do sự kết hợp của yếu tố gen, môi trường và yếu tố miễn dịch

1.1.3.1 Yếu tố di truyền

a Yếu tố gen

Gen trong bệnh vảy nến đã được biết đến gần 100 năm nay Sau nhiều năm, dựa vào các nghiên cứu rộng rãi trên quần thể, nghiên cứu gia phả, nhiều tác giả ủng hộ cho giả thuyết vảy nến là bệnh liên quan đến nhiều gen Gần đây, nhiều nghiên cứu tập trung vào việc tìm gen đặc hiệu cho bệnh, nhưng chỉ có một số vị trí gọi là vị trí nhạy cảm với bệnh vảy nến PSORS được khẳng định gồm PSORS1 (nằm ở vị trí 6p21.3), PSORS2 (17q24-q25), PSORS3 (4q), PSORS4 (1q21.3), PSORS5 (3q21), PSORS6 (19p),PSORS7 (1p), PSORS8 (16q12-q13), PSORS9 (4q28-q31) Trong đó, PSORS1 nằm ở cánh ngắn của NST số 6, thuộc nhóm gen mã hoá HLA, PSORS2 được cho là có liên quan đến điều hoà miễn dịch, còn PSORS4 nằm trong phức hợp biệt hoá thượng bì chứa ít nhất 58 gen liên quan đến quá trình biệt hoá thượng bì [4]

Người ta ước tính rằng nguy cơ bị bệnh vảy nến ở con cái là 41% nếu cả bố

và mẹ đều bị bệnh, 14% nếu chỉ bố hoặc mẹ bị bệnh, 6% nếu có một người anh chị/em ruột bị bệnh và 2% nếu không có bố, mẹ, anh, chị, em ruột bị bệnh [4]

Tỷ lệ mắc bệnh vảy nến ở các cặp sinh đôi cùng trứng khác nhau từ 73% tuỳ thuộc từng nghiên cứu nhưng đều < 100% Điều này chứng tỏ vai trò của yếu tố môi trường trong khới phát bệnh Hiệu quả của phương pháp điều trị vảy nến bằng tia UV cũng gợi ý rằng tia UV có thể là một yếu tố chính trong môi trường tương tác với gen gây ra bệnh vảy nến [22]

Trang 6

35-b Kháng nguyên bạch cầu người (HLA)

Như chúng ta đã biết, PSORS1 nằm trên đoạn gen mã hoá HLA là một yếu

tố ảnh hưởng mạnh mẽ trong bệnh vảy nến HLA có nhiều alen liên quan với bệnh vảy nến như HLA-Cw6, HLA-B13, HLA-B37, HLA-B46, HLA-B57, HLA-Cw1, HLA-DR7, HLA-DQ9 Trong đó HLA-Cw6 được chứng minh là yếu tố nguy cơ cao nhất đối với bệnh vảy nến ở người Cap-ca Người có HLA-Cw6 mắc bệnh vảy nến tăng gấp 9-15 lần người bình thường Nhưng HLA-Cw6

có sự liên quan khác nhau ở các thể vảy nến týp 1 và týp 2: ở nhóm khới phát sớm thì 85% có HLA-Cw6, nhưng ở nhóm khởi phát muộn thì tỷ lệ này chỉ có 15% [22],[4]

1.1.3.2 Yếu tố môi trường

Vảy nến được coi là bệnh do sự tương tác giữa yếu tố gen, miễn dịch và môi trường Nhiều yếu tố khởi động bệnh đã được các nhà nghiên cứu đã đề cập như căng thẳng thần kinh (stress), nhiễm khuẩn, chấn thương, khí hậu thời tiết, thuốc, thức ăn…

Các yếu tố stress đã được khẳng định có liên quan đến sự phát bệnh và vượng bệnh, bao gồm các stress tâm lực, stress tâm trí và stress xúc cảm Tỷ

lệ gặp stress ở các bệnh nhân vảy nến từ 35-70% theo từng tác giả

Các ổ nhiễm khuẩn khu trú, nhất là các nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt do liên cầu tan huyết β nhóm A có thể làm khởi phát vảy nến thể giọt hoặc làm nặng bệnh vảy nến đã có sẵn

Thương tổn vảy nến có thể xuất hiện tại những nơi có chấn thương

thượng bì (hiện tượng Koebner): vết mổ, vết bỏng, vết cào gãi chà sát

Tiến triển của bệnh vảy nến có liên quan rõ tới mùa, thời tiết khí hậu Phần lớn bệnh nặng về mùa đông, nhẹ về mùa hè (thể mùa đông); nhưng cũng

có những trường hợp ngược lại (thể mùa hè) [23]

Trang 7

Một số thuốc có thể khởi phát hoặc làm trầm trọng hơn bệnh vảy nến: các thuốc chẹn β, lithium, thuốc chống sốt rét, thuốc chống viêm không steroid Ngừng đột ngột thuốc corticoid toàn thân cũng làm bệnh xuất hiện hoặc chuyển sang thể nặng, do đó khuyến cáo không dùng corticoid toàn thân cho tất cả các thể của bệnh vảy nến

Vai trò của thức ăn: Gần đây đã chứng minh có sự liên quan giữa bệnh vảy nến và mức độ tiêu thụ rượu, hút thuốc lá Nhiều tác giả khuyên bệnh nhân vảy nến nên ăn nhiều dầu cá, hoa quả, giảm đường, mỡ, muối [24]

1.1.3.3 Yếu tố miễn dịch

Vai trò của cơ chế miễn dịch đang ngày càng được làm sáng tỏ trong cơ chế bệnh sinh của vảy nến Sự hình thành tổn thương vảy nến được giải thích trong các giai đoạn sau:

- Sự hoạt hóa của tế bào trình diện kháng nguyên (APC) mà ở da là tế bào Langehans

- Tương tác giữa tế bào trình diện kháng nguyên với tế bào Lympho T ở

da, sau khi hoạt hóa tế bào Lympho T di chuyển vào vùng hạch lân cận

- Các tế bào Lympho hướng da sẽ di chuyển lại tổ chức da

- Tái hoạt hóa tế bào Lympho T CD4 và CD8 tại trung bì da và sản xuất các chất hóa học trung gian tế bào như IL2, IL17, IL 6, IL22, TNF - …

- Các chất hóa này sẽ kích thích tăng sinh thương bì và hình thành tổn thương vảy nến

Hiện nay, người ta đề cập đến ba con đường chính trong cơ chế miễn dịch của vảy nến đó là: con đường hoạt hóa Th1, Th17 và Th22 [8] Trong đó

Trang 8

gần đây người ta cho rằng Th17 và các sản phẩm của nó đóng vai trò chủ đạo trong cơ chế bệnh sinh của vảy nến [25],[26],[27]

Hình1.1 Cơ chế bệnh sinh của vảy nến 1.1.4 Phân loại vảy nến

Vảy nến là bệnh da mạn tính với biểu hiện lâm sàng rất đa dạng với nhiều hình thái khác nhau Trong đó, người ta chia làm 2 nhóm lớn đó là: nhóm vảy nến thông thường và nhóm vảy nến thể đặc biệt Nhóm vảy nến thể đặc biệt gồm có: vảy nến thể mủ và đỏ da toàn thân do vảy nến [3],[4],[2] Trước đây, vảy nến thể khớp được xếp vào một thể đặc biệt của vảy nến Ngày nay, người ta cho rằng viêm khớp là một biểu hiện của bệnh vảy nến và

có thể gặp ở tất cả các thể Mỗi thể của vảy nến có những đặc điểm lâm sàng

và cận lâm sàng đặc trưng

1.1.5 Đặc điểm lâm sàng của bện nhân vảy nến thể đặc biệt

1.1.5.1 Vảy nến thể mủ

VNTM là thể đặc biệt của bệnh vảy nến Tổn thương cơ bản là các mụn

mủ nông, đỉnh phẳng trên nền dát đỏ Theo phân loại của Baker VNTM được chia làm 2 nhóm lớn là [2]:

Trang 9

 VNTM khu trú:

- Viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau

- VNTM lòng bàn tay, bàn chân

 VNTM toàn thân:

- VNTM toàn thân cấp tính của Von Zumbusch

- VNTM ở thời kỳ mang thai

- VNTM bùng phát

- VNTM dạng vòng

a Vảy nến thể mủ khu trú:

 Viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau

Viêm da đầu chi liên tục của Hallopeau là bệnh lý mạn tính, hay tái phát, khu trú ở đầu ngón tay ngón chân Tổn thương cơ bản là các mụn mủ như đầu đinh ghim, trên nền da đỏ, dần dần khô bong vảy và có thể để lại vết teo da Tổn thương thường khu trú ở đốt xa của ngón tay, ngón chân Nếu tổn thương ở giường móng có thể gây loạn dưỡng móng, teo móng và mất móng [2]

 Vảy nến thể mủ lòng bàn tay, bàn chân

Vảy nến thể mủ lòng bàn tay, bàn chân là thể khu trú của vảy nến thể

mủ ở lòng bàn tay, bàn chân Tổn thương cơ bản cũng là các mụn mủ trên nền

da đỏ sau đó tổn thương khô sẫm màu có thể dày sừng tổn thương tiến triển thành đợt [4]

b Vảy nến thể mủ toàn thân

 VNTM toàn thân cấp tính của Von Zumbusch

- Khởi phát:

Có thể thấy dấu hiệu sốt nhẹ kéo dài một ngày hoặc lâu hơn trước khi

có thay đổi rõ ràng trên da hoặc thấy đau rát ở vùng da sắp xuất hiện thương tổn [2]

Trang 10

- Tổn thương cơ bản:

Dát đỏ xuất hiện đột ngột tiến triển nhanh trong vòng 1 ngày, da trở nên

đỏ rực như bỏng lửa Thương tổn lan tỏa nhanh thành đám rộng có thể tiến triển tới đỏ da toàn thân nhưng mặt và lòng bàn tay, lòng bàn chân thường không bị Trong vòng vài giờ sau, trên nền dát đỏ xuất hiện các mụn mủ nông, nhỏ li ti, đỉnh phẳng Các mụn mủ có thể mọc ở trung tâm hoặc ở viền của dát

đỏ Mụn mủ đơn độc hoặc sắp xếp theo dạng herpes, dạng vòng cung, dạng

đồng tiền Có khi nhiều mụn mủ tập trung lại thành hồ mủ lớn [2]

Vài ngày sau, mụn mủ khô bong vảy da trắng mỏng Quá trình bong vảy có thể kéo dài một đến vài tuần sau đó da nhạt màu dần và trở về bình thường Kèm theo các tổn thương trên da bệnh nhân có thể có sốt, đau đầu và nổi hạch Khi các mụn mủ thuyên giảm thì các triệu chứng này cũng giảm đi Các đợt tổn thương có thể cách nhau vài ngày hoặc vài tuần Nếu không được điều trị cẩn thận, bệnh nhân có thể tử vong vì rối loạn điện giải hoặc sốc giảm thể tích

 VNTM ở phụ nữ có thai

 VNTM bùng phát

 Đây là thể vảy nến thể mủ xuất hiện ở phụ nữ có thai mà thường xuất hiện ở ba tháng cuối của thai kỳ [4] Tổn thương cơ bản cũng là các mụn mủ tập trung trên nền da đỏ, tiến triển từng đợt Bệnh nhân thường kèm theo hạ calci máu [28],[29]

Đây là thể vảy nến thể mủ mà xuất hiện đột ngột, không có tiền sử bị vảy nến trước đó Tổn thương cơ bản cũng là các mụn mủ nông trên nền dát

đỏ Thể này ít có các triêu chứng toàn thân và ít tái phát Thể này rất dễ nhầm với dị ứng thuốc thể phát ban mụn mủ cấp tính [4]

Trang 11

 VNTM dạng vòng

Đây là một thể hiếm gặp của vảy nến thể mủ toàn thân Tổn thương cơ bản là các mụn mủ nông tập trung ở rìa của các dát đỏ hình vòng hoặc hình đa cung Các tổn thương có xu hướng lan ra xung quanh như hồng ban nhẫn ly tâm và ở giữa có xu hướng lành [4]

1.1.5.2 Đỏ da toàn thân do vảy nến

Thể này thường là biến chứng của VNTM, do hậu quả của việc sử dụng thuốc không hợp lý, đặc biệt là corticoid đường toàn thân, nhưng đôi khi lại là tiến triển tự nhiên từ một vảy nến thể thông thường, hoặc cũng có thể là biểu hiện đầu tiên của bệnh Bệnh nhân được chẩn đoán là thể đỏ da toàn thân khi diện tích da bị tổn thương lớn hơn 90% [4]

Biểu hiện: da toàn thân đỏ tươi, phù nề, căng bóng, có khi tiết ít dịch Triệu chứng toàn thân: bệnh nhân sốt cao, rét run, rối loạn tiêu hoá, suy kiệt dần có thể tử vong do một bệnh nhiễm khuẩn nào đó [2]

1.1.5.3 Các tổn thương kèm theo tổn thương da ở bệnh nhân vảy nến

a Tổn thương móng

Có khoảng 30% - 40% bệnh nhân vẩy nến bị tổn thương móng tay, móng chân [4],[2] Tổn thương móng có thể xuất hiện đơn độc hoặc kèm theo các tổn thương ở trên da Các tổn thương móng trong vảy nến bao gồm:

- Tổn thương của đĩa móng: rỗ móng; móng dày, mủn; móng có đường vân ngang; liềm móng đỏ

- Tổn thương của giường móng: tách móng, dày sừng dưới móng, dấu hiệu giọt dầu, xuất huyết

- Tổn thương quanh móng: viêm quanh móng

b Tổn thương khớp

Tỷ lệ khớp bị thương tổn trong vẩy nến tùy từng thể Thể nhẹ, thương tổn da khu trú, chỉ có khoảng 2% bệnh nhân có biểu hiện khớp Trong khi đó

Trang 12

ở thể nặng, dai dẳng có đến 20% bệnh nhân có thương tổn khớp Biểu hiện hay gặp nhất là viêm khớp mạn tính, biến dạng khớp, cứng khớp, lệch khớp, bệnh nhân cử động đi lại rất khó khăn … Một số bệnh nhân thương tổn da ít nhưng biểu hiện ở khớp rất nặng, đặc biệt là khớp gối và cột sống [2],[4]

c Tổn thương niêm mạc

Tổn thương niêm mạc trong vảy nến thì khá là hiếm gặp Trong đó vị trí niêm mạc hay gặp tổn thương nhất là niêm mạc qui đầu Bên cạnh đó có thể gặp tổn thương lưỡi với hình ảnh viêm lưỡi hình bản đồ hoặc là viêm lưỡi phì đại bong vảy Ngoài ra có thể gặp tổn thương ở niêm mạc mắt bao gồm: viêm kết mạc, viêm giác mạc hoặc viêm mí mắt [2],[4]

d Tổn thương các cơ quan khác

Ngày nay vảy nến được xem như là một bệnh lý toàn thân với biểu hiện

đa cơ quan Người ta nhận thấy rằng có một số bệnh lý và tình trạng rối loạn

có tỷ lệ xuất hiện tăng cao ở vảy nến Trong đó, người ta nhấn mạnh đến xơ vữa động mạch, tăng mỡ máu, tăng đường máu, tăng acid uric máu…[30] Do

đó cần có cái nhìn tổng quát hơn trong thăm khám lâm sàng và điều trị bệnh nhân vảy nến để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân

1.1.5.4 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt

Trong vảy nến thể đặc biệt, hầu hết các xét nghiệm cận lâm sàng đều trong giới hạn bình thường trừ hai thể nặng là vảy nến thể mủ toàn thân và đỏ

da toàn thân do vảy nến Những bất thường về cận lâm sàng có thể gặp trong hai thể này là:

a Công thức máu

Nhìn chung là bình thường, tuy nhiên có thể tăng bạch cầu đặc biệt bạch cầu ĐNTT

Trang 13

b Sinh hóa máu

 Ở bệnh nhân vảy nến thể giọt có thể có tăng ASLO trong những trường hợp nhiễm liên cầu trước đó

 Các trường hợp vảy nến khởi phát đột ngột thường liên quan đến HIV Do đó cần xét nghiệm HIV cho những trường hợp này

 Có khoảng 50% bệnh nhân vảy nến có biểu hiện tăng acid uric máu Sự tăng nồng độ acid uric trong máu thường gặp ở những bệnh nhân có tổn thương lan tỏa và tăng nguy cơ tổn thương khớp ở những bệnh nhân này

 Giảm protein và albumin máu, rối loạn điện giải thường gặp ở bệnh nhân vảy nến thể mủ và ĐDTT vảy nến còn trong vảy nến thể thông thường ít gặp [31],[32],[33]

 Thường gặp giảm canxi máu ở bệnh nhân vảy nến thể mủ, trong

đó thường chỉ giảm canxi đơn thuần ngoài tế bào, canxi ion vẫn bình thường và BN không biểu hiện thiếu canxi trên lâm sàng [34],[35]

 Hiện tượng tăng đường máu, tăng triglycerid, tăng cholesterol,

hạ HDL gặp phổ biến ở bệnh nhân vảy nến Đặc biệt ở những bệnh nhân thừa cân hoặc béo phì và hay gặp ở những bệnh nhân trên 50 tuổi

Trang 14

 Những thay đổi ở trung bì bao gồm: giãn mạch nhú bì và thâm nhiễm bạch cầu lympho

1.1.6 Tiến triển của bệnh

Bệnh thường tiến triển mạn tính, xen kẽ giữa các đợt bùng phát (thời gian từ vài tuần đến vài tháng hoặc dai dẳng nhiều tháng, nhiều năm) là giai đoạn ổn định bệnh Tần số tái phát rất thay đổi Sự lui bệnh có thể do tự nhiên hoặc do điều trị phù hợp

Cách phân giai đoạn bệnh:

- Giai đoạn không hoạt động: thời kỳ lui bệnh (tổn thương sạch hoàn toàn, từng phần hoặc đang thu nhỏ diện tích) hoặc thời kỳ ổn định (các tổn thương ban đỏ có vảy tồn tại như nó đã có nhiều tháng trước)

- Giai đoạn hoạt động (giai đoạn tiến triển): có sự mở rộng chu vi tổn thương hoặc xuất hiện tổn thương mới

1.1.7 Điều trị vảy nến

Vảy nến là một bệnh da mạn tính, diễn biến tái phát nhiều đợt xen giữa những thời kỳ ổn định bệnh Ngay cả khi bệnh ổn định vẫn có những tổn thương vảy nến ở một vài vị trí trên cơ thể Một phương pháp điều trị được coi

là tối ưu khi đạt những yêu cầu sau [4]:

- Thời gian điều trị ngắn, thời gian bệnh ổn định dài

- An toàn

- Bệnh nhân chấp nhận được

Trang 15

Có nhiều phương pháp điều trị vảy nến Trong đó được chia làm hai nhóm chính là điều trị tại chỗ và điều trị toàn thân Điều trị tại chỗ gồm: corticoid, salicycic, chế phẩm nhựa đường, diathranol, calcipotriol, retionid và tacrolimus Điều trị toàn thân gồm: methotrexat, vitamin A acid, cyclosporine, chế phẩm sinh học và liệu pháp ánh sáng Căn cứ thể lâm sàng và mức độ tổn thương, chúng ta lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp

Đối với vảy nến thể thông thường, nếu bệnh ở mức độ nhẹ tức là chỉ số PASI < 10, BSA < 10 và điểm chất lượng cuộc sống < 10 thì chỉ cần điều trị tại chỗ Ngược lại, nếu bệnh ở mức độ vừa và nặng phải điều trị kết hợp các phương pháp đường toàn thân Điều trị vảy nến thể thông thường được coi là

có hiệu quả khi PASI giảm 50% (PASI50) so với trước điều trị, tổn thương vảy nến được coi là sạch khi PASI giảm 75% (PASI75) [21]

Đối với vảy nến thể mủ thì bắt buộc phải điều trị kết hợp cả tại chỗ và toàn thân Riêng đối với vảy nến thể mủ toàn thân cần phải chú trọng các biện pháp điều trị hỗ trợ nhằm chống rối loạn nước điện giải, điều chỉnh thân nhiệt…Thuốc được ưu tiên sử dụng cho điều trị đường toàn thân ở vảy nến thể

mủ là vitamin A acid

Tương tự như vảy nến thể mủ, đỏ da toàn thân vảy nến cũng bắt buộc kết hợp điều trị tai chỗ và điều trị toàn thân Bên cạnh đó, chúng ta cần chú trọng các biện pháp điều trị hỗ trợ nhằm chống rối loạn nước điện giải, bồi phụ albumin máu, và hạ thân nhiệt

Đối với tổn thương vảy nến ở da đầu, điều trị bằng dầu gội từ chế phẩm than đá, ưu tiên các thuốc bôi dạng dung dịch và điều trị PUVA Còn tổn thương móng có thể điều trị bằng corticoid bôi hoặc tiêm tại chỗ ngoài ra có thể dùng PUVA uống Với các bệnh nhân có tổn thương khớp, bên cạnh các thuốc điều trị vảy nến cần phối hợp thêm các thuốc chống viêm giảm đau cho bệnh nhân, ưu tiên các thuốc giảm đau chống viêm không steroid

Trang 16

1.2 Interleukin 17

IL-17 còn được gọi là IL-17A là một thành viên trong gia đình interleukin gồm có 6 thành viên: IL-17A (IL-17/CTLA-8), IL-17B (CX1/NERF), IL-17C (CX2), IL-17D (IL-27), IL-17E (IL-25) và IL-17F (ML-1) Các thành viên trong gia đình IL-17 có cấu trúc protein tương tự nhau và không giống với bất cứ cytokine nào khác gồm 4 chuỗi polypeptide được liên kết với nhau bởi cầu nối disulfide tạo nên không gian ba chiều bền vững IL-17 hoạt động bằng cách gắn lên các receptor có ở mô đích Có 5 loại receptor cho gia đình IL-17 đó là IL-17RA, IL-17RB, IL-17RC, IL-17RD và IL-17RE Về mặt chức năng, người ta nhận thấy rằng IL-17A và IL-17F có nhiều nét tương đồng, và cũng là 2 interleukin trong gia đình IL-17 được nghiên cứu nhiều nhất [14],[36],[37] Trong khi đó các nghiên cứu về vai trò của IL-17B, IL-17C và IL-17E còn rất hạn chế

Hình 1.2: Mô hình cấu trúc IL-17A 1.2.1 Cấu tạo của IL-17

IL-17A là một protein homodimer có 155 aa, trọng lượng phân tử 35 kDa, mỗi tiểu đơn vị nặng 15-22 kDa [38] Người ta xác định được IL-17F có

2 đồng phân 1 và 2 có cấu tạo giống với IL-17A nhất (55% và 40% aa chung),

Trang 17

tiếp đến IL-17B (29%), IL-17C (23%) và cuối cùng là IL-17E (17%) IL-17 của chuột khác với IL-17 của người từ 62-88% aa [39],[40],[41]

1.2.2 Nguồn gốc của IL-17

Dưới sự kích thích của IL-23 trong ống nghiệm, cả Th17 và Tc17 đều sản xuất IL-17 Người ta cũng nhận thấy, phần lớn các tế bào Tαβ và một nhóm nhỏ Tγ ở trung bì cũng sản xuất ra IL-17 [42],[43],[44] Có khoảng 30% tế bào CD3 (+) ở trung bì của tổn thương vảy nến là tế bào Tγ và cao hơn ở da lành Khi được kích thích trong ống nghiệm các tế bào Tγ sản xuất IL-17 gấp nhiều lần so với tế bào Tαβ Ngoài ra, có ý kiến cho rằng BCĐTT

và tế bào mast lại là nguồn chính sản xuất ra IL-17 [45],[46],[47]

1.2.3 Receptor của IL-17

Để thực hiện được chức năng, IL-17 gắn với cả IL-17RA và IL-17RC có

ở bề mặt tế bào đích Sự vắng mặt của một trong hai thụ thể này khiến sự dẫn truyền không hiệu quả IL-17RA có mặt trong nhiều mô: tế bào nội mô mạch máu, tế bào T ngoại vi, dòng tế bào B, nguyên bào sợi, phổi, và tế bào mô đệm tủy IL-17RC có nhiều ở tuyến tiền liệt, sụn, thận, gan, tim và cơ [36],[39]

1.2.4 Vai trò của IL-17

IL-17 là một chất tiền viêm liên quan đến các phản ứng dị ứng, trung gian quá trình viêm và tham gia vào phản ứng quá mẫn chậm IL-17 kích tích tăng sản xuất nhiều cytokine khác (IL- 6, G-CSF, GM-CS, IL- 1β, TGF- β, TNF- α), chemokine (bao gồm IL -8, GRO - α, và MCP- 1), và prostaglandin ( PGE2) từ nguyên bào sợi, tế bào nội mô, tế bào biểu mô, tế bào sừng, và đại thực bào Hậu quả thu hút bạch cầu đơn nhân và BCĐNTT gây ra phản ứng viêm và phá hủy tổ chức Do đó IL-17 có vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của các bệnh viêm dị ứng đặc biệt là hen phế quản và các bệnh lý viêm mạn tính như: viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, xơ cứng bì hệ thống, vảy nến…[45],[46]

Trang 18

1.2.5 Vai trò của IL-17 trong bệnh vảy nến

1.2.5.1 Tác động của IL-17 lên tế bào sừng

- IL-17 làm bộc lộ chemokin CCL20 của tế bào sừng, CCL20 này làm cầu nối cho CCR6 Do đó, IL-17 trực tiếp thu hút tế bào tua gai và tế bào Th17 đến

da [48],[49],[50]

- IL-17 điều hòa việc bộc lộ sản xuất các chemokin của các tế bào sừng bao gồm CXXL1, CXCL3, CXCL5, và CXCL6, các yếu tố hoạt hóa receptor của chemokin CXCR2, CXCL2 và CXCR1 Do đó thu hút bạch cầu ĐNTT [51],[52]

- IL-17 gây nên sự bộc lộ chuỗi peptid từ tế bào sừng, đáng chú ý là denfensin 2, S100A7, S100A8 và S100A9, những yếu tố này góp phần kích thích phản ứng tiền viêm IL-17 cũng kích thích sản xuất cytokin-36 từ tế bào sừng (trước đây gọi là IL-1F6, IL-1F8 và IL-1F9), cytokin này có vai trò hiệp đồng với IL-17 để làm gia tăng sản xuất chuỗi peptid kháng khuẩn là CXCL8, IL6 và TNF-α [53]

β ILβ 17 làm giảm sản bộc lộ filagrin từ tế bào sừng cũng như các gen liên quan tới sự bám dính của tế bào sừng Điều này cho thấy, IL-17 góp phần làm gián đoạn hàng rào bảo vệ da trong các bệnh da viêm [53],[51]

1.2.5.2 Tác động lên các tế bào khác

Ngoài tế bào sừng, IL-17 còn có ảnh hưởng tới các tế bào khác là mDC, đại thực bào, nguyên bào sợi, và tế bào nội mô, dẫn tới việc sản xuất các cytokin và các chemokin là những yếu tố làm tăng phản ứng viêm đặc hiệu trong vảy nến Đáng chú ý, IL-17 còn kích thích nguyên bào sợi và mDCs tăng sản xuất IL-6, là yếu tố quan trọng trong quá trình biệt hóa từ tế bào T thành phenotyp Th17 IL-17 cũng kích thích tế bào mCDs và đại thực bào sản xuất TNF- và IL-1 [51]

Trang 19

1.2.5.3 Ảnh hưởng hệ thống

Nồng độ IL-17 trong máu bệnh nhân vảy nến cao hơn đáng kể so với trong máu người khỏe mạnh Điều này có thể giải thích những biểu hiện của bệnh viêm hệ thống ở bệnh nhân vảy nến IL-17 cũng được cho là yếu tố trung gian quan trọng trong viêm mạch máu mãn tính của bệnh xơ vữa động mạch, góp phần làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch ở bệnh nhân vảy nến Tuy nhiên, vai trò chính xác của IL-17 trong xơ vữa động mạch còn nhiều tranh cãi [51]

Hình 1.3: Sơ đồ mô tả cơ chế tác dụng của IL-17

1.2.6 Một số nghiên cứu về IL-17

Năm 2005 tác giả Ozer Arican và cộng sự đã nghiên cứu trên 30 bệnh nhân vảy nến và 30 người khỏe mạnh đã cho thấy nồng độ IL-17 tăng không

có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân vảy nến tuy nhiên lại liên quan đến mức độ nặng của bệnh [15]

Trang 20

Năm 2009 tác giả Almakhzangy và cộng sự nghiên cứu trên 30 bệnh nhân vảy nến thể mảng và 30 người khỏe mạnh ở Ai Cập đã cho thấy nồng độ IL-17 tăng cao có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân vảy nến tuy nhiên lại không liên quan đến mức độ nặng của bệnh [18]

Năm 2010 với nghiên cứu có cỡ mẫu lớn trên 122 bệnh nhân vảy nến và

78 người khỏe mạnh ở Nhật Bản của Takahashi và cộng sự đã chỉ ra rằng nồng độ IL17 tăng cao có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân vảy nến đồng thời có liên quan đến mức độ nặng của bệnh [19]

Năm 2010 tác giả Yan và cộng sự đã nghiên cứu và chỉ ra rằng nồng độ IL17 tăng cao có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân vảy nến thể giọt so với các thể khác, tuy nhiên ông nghiên cứu trên số lượng bệnh nhân tương đối ít với cỡ mẫu 24 [54]

Năm 2012 tác giả Yilmaz và cộng sự đã nghiên cứu trên 70 bệnh nhân vảy nến và 50 người khỏe mạnh ở Thổ Nhĩ Kỳ đã cho thấy nồng độ IL17 cao hơn ở nhóm bệnh nhân vảy nến tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống

kê Tuy nhiên ông và cộng sự phát hiện thấy nồng độ IL-17 tăng cao có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân vảy nến thể mủ Hơn nữa nồng dộ IL-17 có liên quan đến chỉ số PASI [16]

Năm 2013 tác giả Anna Mychalak Stoma cùng cộng sự nghiên cứu trên

60 bệnh nhân vảy nến và 30 người khỏe mạnh ở Ba Lan cũng chỉ ra rằng nồng độ IL-17 tăng cao nhưng không có ý nghĩa thống kê ở bệnh nhân vảy nến Tuy nhiên nồng độ IL-17 có liên quan đến mức độ nặng của bệnh [17] Năm 2015 tác giả Phan Huy Thục nghiên cứu trên 72 bệnh nhân vảy nến thể thông thường và 44 người khỏe mạnh đã chỉ ra rằng nồng độ IL-17 tăng cao có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân vảy nến và có liên quan đến mức

độ nặng của bệnh [20]

Trang 21

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Tất cả bệnh nhân vảy nến thể đặc biệt bao gồm: đỏ da toàn thân do vảy nến và vảy nến thể mủ toàn thân (không lấy các bệnh nhân vảy nến thể mủ khu trú), mới chẩn đoán chưa được điều trị gì hoặc đã ngừng điều trị các thuốc đường toàn thân ≥ 1 tháng, đến khám tại Bệnh viện Da liễu Trung ương

từ tháng 10/2014 đến tháng 9/2015

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân:

 Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

 Bệnh nhân bị các bệnh mãn tính như: hen phế quản, viêm khớp dạng thấp, viêm cột sống dính khớp, viêm đại tràng mạn tính, xơ vữa động mạch, bệnh lý gan thận, bệnh lý tự miễn

 Bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính như viêm mủ trên da, viêm họng cấp, viêm kết mạc…

 Bệnh nhân đang dùng các thuốc đường toàn thân hoặc mới dừng các thuốc này trong vòng 1 tháng

 Vảy nến thể mủ khu trú

2.1.3 Tiêu chuẩn lựa chọn nhóm chứng

Lựa chọn nhóm chứng là những người khỏe mạnh không mắc bất cứ bệnh lý nào toàn thân cũng như ngoài da

2.2 Địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Da liễu Trung ương

Trang 22

2.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2014- 9/2015

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Thiết kế nghiên cứu

α/2 1

S Z

n  

Trong đó:

S: Độ lệch chuẩn

X: Giá trị trung bình từ nghiên cứu trước hoặc nghiên cứu thử

: Mức sai lệch tương đối giữa tham số mẫu và tham số quần thể

- Đối với vảy nến thể mủ toàn thân chúng tôi chọn X = 14,9; S = 10,6 theo nghiên cứu của Yilmaz và cộng sự năm 2012 [16]; chọn  = 0,3 Thay số vào ta được n =21,6 Chúng tôi chọn n = 30

- Đối với đỏ da toàn thân do vảy nến do chưa có nghiên cứu nào trước đây nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu thăm dò trên đối tượng 8 bệnh nhân được kết quả X = 5,21; S = 2,60, chọn  = 0,3 Thay số vào công thức được n

= 10,6 Chúng tôi chọn n = 30

- Đối với nhóm chứng người khỏe mạnh chúng tôi chọn X = 4,4; S = 4,1 theo nghiên cứu của Yilmaz và cộng sự năm 2012 [16]; chọn  = 0,3 Thay số được n = 27,2 Chúng tôi chọn n = 30

Trang 23

2.4.3 Tiến hành nghiên cứu

2.4.3.1 Khám và lập hồ sơ bệnh án cho nhóm bệnh nhân

Bệnh nhân được hỏi bệnh và khám bệnh dựa vào các chỉ tiêu sau:

- Triệu chứng đầu tiên

- Mùa bị bệnh nặng nhất trong năm

- Nhiệt độ

- Đánh giá triệu chứng ngứa

- Đánh giá triệu chứng đau

- Hỏi về tiền sử dùng thuốc và điều trị trước đây: loại thuốc, thời gian dùng, liều lượng

Trang 24

- Đánh giá mức độ nặng của bệnh ở bệnh nhân vảy nến thể mủ

Khoảng 50%

diện tích cơ thể

Một phần diện tích cơ thể Không

Trang 25

Mức độ nhẹ: 0-2 điểm

Mức độ vừa: 3-6 điểm

Mức độ nặng: 7-10 điểm

2.4.3.2 Tiến hành lưu mẫu huyết thanh

Cả nhóm bệnh nhân và nhóm chứng đều được lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng khi bệnh nhân chưa ăn gì Sau đó mẫu máu được quay li tâm để tách huyết thanh Huyết thanh được bảo quản ở tủ lạnh với nhiệt độ - 800C cho đến khi tiến hành định lượng nồng độ IL-17

2.4.3.3 Tiến hành định lượng nồng độ IL17 trong máu

- Phương pháp định lượng ELISA

- Bộ kit làm xét nghiệm của hãng Abcam, từ nước Mỹ, xác định được IL-17

- Cơ chế của phản ứng:

 Đây là phản ứng ELISA Sandwich

 Cơ chế dự trên sự kết hợp của phản ứng kháng nguyên kháng thể , trong các kháng thể có kháng thể gắn enzym Khi có phản ứng xảy

ra giữa kháng nguyên và kháng thể enzym được giải phóng biến đổi cơ chất thành chất tạo màu

 Kháng thể 0 kháng kháng nguyên cần xác định được gắn cố định vào đáy giếng

 Khi nhỏ mẫu xét nghiệm vào, ủ ở nhiệt độ phòng để kháng nguyên

sẽ gắn với kháng thể 0

 Rửa từng giếng, sau đó nhỏ dung dịch chứa kháng thể 1 kháng kháng nguyên vào giếng Ủ ở nhiệt độ phòng để kháng thể này sẽ gắn với kháng nguyên ở vị trí khác

 Hút rửa từng giếng, sau đó nhỏ dung dịch chứa kháng thể 2, đây là

Trang 26

kháng thể kháng lại kháng thể 1 và có gắn enzym Khi kháng nguyên kết hợp kháng thể enzym sẽ được gải phóng

 Hút từng giếng, nhỏ thêm dung dịch cơ chất vào, enzym sẽ biến đổi

cơ chất làm cho dung dịch có màu

 Dùng máy đo quang phổ để xác định lượng cơ chất bị biến đổi qua

đó xác định được lượng kháng nguyên tương ứng

Hình 2.1: Mô hình mô tả cơ chế của phản ứng ELISA sandwich

- Quy trình định lượng IL-17 bằng phương pháp ELISA

 Chuẩn bị các nguyên vật liệu, thuốc thử để ở nhiệt độ phòng, để thuốc nghỉ không tạo bọt trong lọ

 Xác định số giếng cần sử dụng

 Nhỏ 100 µl các mẫu chuẩnvào giếng tương ứng, nhỏ 100 µl huyết thanh bệnh nhân hoặc nhóm chứng vào từng giếng còn lại

 Đậy bìa và ủ 2 giờ ở nhiệt độ phòng

 Bỏ bìa đậy và rửa theo các bước sau:

 Hút hết chất lỏng trong từng giếng

 Thêm 300 µl dung dịch rửa Buffer vào mỗi giếng

 Hút hết chất lỏng trong từng giếng bỏ đi

 Lặp lại quá trình rửa như trên 3 lần

Trang 27

 Nhỏ 50 µl dung dịch Biotinylated anti IL-17 vào mỗi giếng, đậy bìa và ủ trong 1 giờ

 Bỏ bìa đậy và rửa theo các bước rửa như trên

 Nhỏ 100 µl dung dịch Streptavidin – HRD vào mỗi giếng, đậy và

ủ 30 phút

 Bỏ bìa đậy và rửa theo các bước rửa trên

 Nhỏ 100 µl dung dịch cơ chất Chromogen TMB vào mỗi giếng

và ủ trong tối trong 5 – 15 phút bằng cách đậy giấy nhôm

 Nhỏ 100 µl dung dịch ngừng phản ứng Stop Reagent vào mỗi giếng

 Đọc kết quả bằng máy quang phổ kế, sử dụng bước sóng 450 nm (đọc kết quả ngay lập tức hoặc đọc trong vòng 1 giờ nếu bảo quản giếng ở 2-80 C trong tối)

- Đánh giá kết quả

 Dựa vào kết quả OD và nồng độ IL-17 của các mẫu chuẩn lập được phương trình: y = 68,40 x – 4,505 (R2 = 0,9801) Trong đó: y: là nồng độ IL-17, x: là kết quả OD ở mỗi giếng

 Dựa vào phương trình trên ta tính được kết quả nồng độ IL-17 tương ứng với các mẫu huyết thanh

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

 Số liệu được mã hóa và xử lý theo chương trình SPSS 16.0

 Các số liệu định lượng được biểu hiện dưới dạng: X ± SD

 Các số liệu định tính được biểu hiện dưới dạng tỷ lệ phần trăm

 Kiểm định so sánh:

 Đối với biến định tính sử dụng test so sánh 2 Trong trường hợp mẫu nhỏ hơn 5 thì sử dụng test 2 có hiệu chỉnh Fisher

Trang 28

 Đối với biến định lượng so sánh các giá trị bằng T test

 Các so sánh có ý nghĩa thống kê với p<0,05

 Đánh giá mối tương quan giữa các biến định lượng sử dụng hệ số tương quan Pearson đối với biến phân bố chuẩn, sử dụng hệ số tương quan spearman đối với biến phân bố không chuẩn

2.6 Cách khống chế sai số trong nghiên cứu

 Công cụ thu thập thông tin thiết kế phù hợp mục tiêu nghiên cứu

 Chúng tôi trực tiếp thu thập thông tin

 Đánh giá cận lâm sàng dựa trên các xét nghiệm chuẩn đã được Bộ

Y tế thông qua

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

 Nghiên cứu được tiến hành với sự đồng ý của cán bộ y tế tại đơn

 Nồng độ IL-17 trong máu phản ánh không chính xác mức độ hoạt động của bệnh bằng nồng độ IL-17 ở da

Trang 29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm lâm sàng và các yếu tố liên quan của vảy nến thể đặc biệt

3.1.1 Các yếu tố liên quan đến vảy nến

a Tỷ lệ phân bố nam nữ

Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ phân bố nam nữ ở bệnh nhân vảy nến

Ở vảy nến thể mủ toàn thân, tỷ lệ bệnh nhân nam và nữ là như nhau đều chiếm 50% Trong khi đó, ở đỏ da toàn thân do vảy nến tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 83, 3% cao hơn rất nhiều bệnh nhân nữ chiếm 16,7% Nếu tính trên tổng số bệnh nhân thì tỷ lệ bệnh nhân nam chiếm 66,7% còn bệnh nhân nữ chiếm 33,3%

Trang 30

b Tỷ lệ phân bố theo tuổi

Biểu đồ 3.2: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

Các bệnh nhân phân bố rải rác từ dưới 1 tuổi đến trên 70 tuổi trong đó 2 nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm từ 40-49 tuổi và nhóm từ 50-59 tuổi

và đều chiếm 25%, tiếp đến là nhóm từ 30-39 tuổi chiếm 13,3% Nhóm có tỷ

lệ thấp nhất là nhóm trên 70 tuổi chiếm 5%

c Tỷ lệ phân bố theo tuổi khởi phát

Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ phân bố theo tuổi khởi phát

Tuổi khởi phát bệnh của các bệnh nhân phân bố ở tất cả mọi lứa tuổi, trong đó 2 nhóm tuổi có tỷ lệ khởi phát bệnh cao nhất là nhóm tuổi 31-40 tuổi chiếm 21,70% và nhóm dưới 10 tuổi chiếm 20 % Trong đó nhóm khởi phát trước 40 tuổi chiếm 70,1% Nhóm bệnh nhân khởi phát muộn trên 40 tuổi chiếm 29,9%

Trang 31

d Phân bố theo thời gian bị bệnh

Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo thời gian bị bệnh

bị bệnh từ 21-25 năm chiếm 3,3%

Trang 32

e Phân bố theo nghề nghiệp

Biểu đồ 3.4: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp

Trong số các nghề nghiệp của các bệnh nhân, nghề lao động chân tay chiếm tỷ lệ lớn nhất với 33%, tiếp đến nhóm nghề lao động trí óc chiếm 32% còn các nghề khác chiếm 23%, còn trẻ nhỏ chiếm 12%

Trang 33

có nguyên nhân khởi phát trong đó nguyên nhân hàng đầu là thuốc nam chiếm 30% cao hơn rất nhiều so với nguyên nhân dùng thuốc corticoid chiếm 3,3%

và stress chiếm 6,7%

Trang 34

h Tiền sử gia đình có người bị vảy nến

Bảng 3.4: Phân bố theo tiền sử gia đình có người bị vảy nến

Trang 35

Nhìn chung, vị trí khởi phát chiếm chủ yếu là ở vị trí da đầu với 63,3% Trong đó, ở bệnh nhân VNTM vùng da đầu chiếm 46,7% tiếp đến là đến vùng khác chiếm 43,3% còn vùng tì đè chỉ chiếm 10% Ở bệnh nhân ĐDTT do vảy nến vị trí da đầu chiếm tỷ lệ rất cao với 80% tiếp đến là vùng tì đè chiếm 13,3% còn vùng khác chỉ chiến 6,7%

b.Triệu chứng cơ năng

Bảng 3.6: Phân bố triệu chứng cơ năng

c Triệu chứng toàn thân

Bảng 3.7: Phân bố các triệu chứng toàn thân

Trang 36

Ở bệnh nhân vảy nến thể mủ toàn thân triệu chứng sốt hay gặp nhất với

tỷ lệ 63,3%, triệu chứng phù ít gặp hơn với 20% trong khi đó ở bệnh nhân đỏ

da toàn thân do vảy nến triệu chứng phù lại hay gặp hơn với tỷ lệ 31% cao hơn so với tỷ lệ bệnh nhân có sốt với 10%

Đa số bệnh nhân có tổn thương móng với tỷ lệ chiếm tới 81,7% trong

đó ở bệnh nhân ĐDTT do vảy nến có 90% bệnh nhân có tổn thương móng còn ở bệnh nhân VNTM có 73,3% Số bệnh nhân có tổn thương khớp thì ít gặp hơn chiếm khoảng 10% trong đó 13,3% bệnh nhân VNTM có tổn thương khớp còn bệnh nhân ĐDTT do vảy nến chỉ có 6,7% Tổn thương niêm mạc chỉ gặp ở bệnh nhân VNTM với 13,3% trong đó tất cả bệnh nhân đều bị lưỡi hình bản đồ

Trang 37

e Các rối loạn về máu

Bảng 3.9: Tỷ lệ các rối loạn về máu

Trang 38

f Phân loại theo thời điểm khởi phát

Bảng 3.10: Phân loại bệnh nhân theo thời điểm khởi phát

g Phân loại mức độ nặng của bệnh nhân vảy nến thể mủ toàn thân Bảng 3.11: Phân loại bệnh nhân vảy nến thể mủ theo mức độ nặng của bệnh

Trang 39

h Phân loại bệnh nhân vảy nến thể mủ theo mức độ tổn thương da

Bảng 3.12: Phân loại bệnh nhân vảy nến thể mủ theo mức độ tổn thương da

3.2 Thay đổi của nồng độ IL-17 trong máu và mối liên quan với mức độ bệnh

3.2.1 Sự thay đổi nồng độ Il-17 trong máu

a Sự thay đổi nồng độ IL-17 theo tuổi ở nhóm chứng

Nồng độ IL-17 trung bình (pg/ml)

Biểu đồ 3.5: Sự thay đổi nồng độ IL-17 theo tuổi ở nhóm chứng

Nồng độ IL-17 trung bình ở nhóm < 30 tuổi là 5,89 ± 4,43, ở nhóm

30-39 tuổi là: 6,27 ± 4,34 và ở nhóm ≥ 40 tuổi là: 5,29 ± 3,41 Nồng độ này khác nhau không có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi với p> 0,05 Điều này

chứng tỏ nồng độ IL-17 trong máu không liên quan đến độ tuổi

Trang 40

b Sự thay đổi nồng độ IL-17 theo giới ở nhóm chứng

Bảng 3.13: Sự thay đổi nồng độ IL-17 theo giới ở nhóm chứng

c So sánh đặc điểm tuổi giới giữa nhóm chứng và nhóm bệnh

Ngày đăng: 10/03/2018, 13:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w