1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu áp dụng thang điểm oswestry đánh giá hiệu quả điều trị đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm

59 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 841,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này không phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội thực tế của Việt Nam, người dân chưa có đủ kinh phí để có thể mua một số vật dụng trong chỉ tiêu như: lái xe, ném bóng...Mặt khác, the

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đau cột sống thắt lưng (CSTL) là hiện tượng đau cấp tính hoặc mạn tính

ở vùng từ ngang sống L1 đến ngang đĩa đệm L5- S1[1], trong đó thoát vị đĩa đệm(TVĐĐ) chiếm tới 75% nguyên nhân gây nên đau cột sống thắt lưng [2] Theo Nguyễn Văn Thạch bệnh xảy ra ở khoảng 30% dân số, hay gặp ở lứa tuổi 20-50, độ tuổi lao động Vì thế,đau CSTL gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất lao động, chất lượng cuộc sống người bệnh và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi phí chăm sóc sức khỏe [3]

Ngày nay, việc chẩn đoán và điều trị bệnh lý đau CSTL đã đạt nhiều tiến

bộ vượt bậc đạt hiểu quả cao về kinh tế cũng như sức khỏe cho người bệnh Tuy nhiên, việc đánh giá mức độ bệnh trên lâm sàng còn nhiều khó khăn và chưa thống nhất Trên thế giới đã sử dụng rất nhiều thang điểm để đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân TVĐĐ CSTL như: Owestry, JOA, Quebec, Ronald- Morris…Trong đó, thang điểm Oswestry Low Back Pain Disability Questionaire được dùng để đánh giá ảnh hưởng của đau CSTL đến sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân và nhiều tác giả sử dụng để đánh giá như: Andrew J Hahne, Ford và cộng sự (2010)[4], Allison R.Gagne và Scott M Hanson(2010)[5]…thấy bệnh nhân cải thiện rõ rệt về chỉ số Oswestry, và những tiện ích khi sử dụng bộ câu hỏi theo dõi và đánh giá bệnh nhân Tuy nhiên, ở Việt Nam trong phạm vi thực hành điều dưỡng chưa có nghiên cứu nào sử dụng bộ câu hỏi Oswestry Low Back Pain Disability Questionaire để đánh giá thực trạng đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày của bệnh nhân Vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề

tài: “Nghiên cứu áp dụng thang điểm Oswestry đánh giá hiệu quả điều trị đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm” với hai mục tiêu:

Trang 2

1 Đánh giá thực trạng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ bằng thang điểm Oewestry

2 Đánh giá hiệu quả điều trị bằng sự cải thiện thang điểm Oswetry

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1.Đặc điểm giải phẫu vùng thắt lưng.[6][7]

Đoạn CSTL gồm 5 đốt sống,4 đĩa đệm ( L1- L2; L2- L3; L3- L4; L4- L5)

và 2 đĩa đệm chuyển đoạn( T12- L1; L5- S1) Đây là nơi chịu tải 80% trọng lượng cơ thể, và có tầm hoạt động rộng theo mọi hướng

Trang 4

Hình 1.1: Các đốt sống thắt lưng.[8]

1.1.1 Cấu tạo đốt sống thắt lưng [9]

Mỗi đốt sống thắt lưng gồm các phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, mỏm đốt sống và lỗ đốt sống:

Thân đốt sống: Là phần lớn nhất của đốt sống hình trụ dẹt, có hai mặt

gian đốt sống và một vành chung quanh Thân đốt sống có kích thước tăng dần từ đốt trên đến đốt dưới, phù hợp với sự tăng trọng lượng từng phần cơ thể và lực tác động lên các đốt phía dưới

Trang 5

Cung đốt sống:Có hình móng ngựa, ở phía sau thân đốt sống,cùng với

thân đốt sống giớ hạn lên lỗ đốt sống Cung đốt sống gồm hai phần: phần trước dính với thân đốt sống gọi là cuống, phần mảnh đốt sống sau gọi làmảnh đốt sống

Các mỏm đốt sống:Đi từ cung đốt sống đi ra, mỗi cung đốt sống có

mỏm ngang, mỏm diện khớp và mỏm gai

Lỗ đốt sống: Nằm ở giữa thân đốt sống ở phía trước và cung đốt sống ở

phía sau Các lỗ đốt sống khi chồng nên nhau tạo nên ống sống

Hình 1.2:Các thành phần của đốt sống[8]

1.1.2 Đặc điểm đĩa đệm thắt lưng- ngang đốt sống

Vùng CSTLgồm 4 đĩa đệm và 2 đĩa đệm chuyển đoạn.Chiều cao đĩa đệm thắt lưng ở phía trước lớn hơn phía sau nên đĩa đệm có hình dáng hình thang

ở bình diện thẳng đứng dọc Do vậy đĩa đệm khi chưa thoái hóa hoặc thoát vị

sẽ tạo cho cột sống thắt lưng có độ cong sinh lý ưỡn ra trước Ngoài việc tạo dáng cho cột sống, đĩa đệm còn có khả năng hấp thu,phân tán và dẫn truyền làm giảm nhẹ các chấn động trọng tải theo dọc trục cột sống

Trang 6

Đĩa đệm hình thấu kính lồi hai mặt, gồm ba phần: Nhân nhầy, vòng sợi

và hai tấm sụn

Nhân nhầy: Nhân nhày có hình thấu kính hai mặt lồi nằm trong vòng

sợi.Nó không nằm giữa trung tâm thân đốt sống mà nằm hơi ở sau.Nhân nhày chứa chừng 70% tới 80% nước,tỷ lệ này giảm dần theo tuổi.Hình dạng của nhân nhầy có thể thay đổi được và cùng với khả năng chịu nén và giãn của vòng sợi, điều này cho phép hình dạng toàn bộ đĩa đệm thay đổi, giúp đốt sống này chuyển động trên đốt sống kia

Vòng sợi: Gồm nhiều vòng sơ sụn đồng tâm, được cấu tạo bằng những

sợi chun rất chắc và đàn hồi, đan ngoặc với nhau theo kiểu xoắn ốc.Phía sau

và sau bên, vòng sợi mỏng và chỉ gồm một số ít những bó sợi tương đối mảnh,nên đây là “ điểm yếu nhất của vòng sợi” Đó là một yếu làm cho nhân lồi về phía sau nhiều hơn [9]

Tấm sụn: Tấm sụn là phần dính sát mặt đốt sống và ôm lấy nhân nhày

đĩa đệm

Hình 1.3: Cấu trúc đĩa đệm [9]

1.2.Chức năng sinh lý của đĩa đệm

Trang 7

Đĩa đệm được coi như chiếc “ lò xo sinh học” có tác dụng ‘giảm xóc’, tức là làm giảm bớt lực chấn động từ các hoạt động như mang vác, chạy nhảy…

Đĩa đệm có tính ưa nước rất cao, có tính đàn hồi và khả năng căng phồng rất lớn nên khi có vật chấn động mạnh đĩa đệm sẽ bị ép lại, lực chấn động đó

sẽ bị phát tán và bị hấp thu Nhờ vậy mà xương cột sống, tủy sống, não bộ được bảo vệ

Ngoài ra khi đĩa đệm bị chèn ép ở tư thế thẳng nhân nhày sẽ bị hạ thấp chiều cao, bị chèn ép bè ra các hướng khi trọng tải đè ép mất đi nhân nhầy đĩa đệm trở lại về hình dáng ban đầu [10]

1.3 Cơ chế bệnh sinh của đau thần kinh tọa do TVĐĐ

Tổ chức đĩa đệm phải đảm bảo thích nghi về cơ học lớn, đồng thời nó lại chịu áp lực cao thường xuyên trong khi đĩa đệm lại được nuôi dưỡng do đó các đĩa đệm thắt lưng sớm bị loạn dưỡng và thoái hóa tổ chức Hầu hết trọng lượng phần trên cơ thể dồn hết vào hai đĩa đệm L4- L5 và L5- S1, do đó TVĐĐ hay xảy ra ở vị trí này [11], [12]

Đĩa đệm thoái hóa đã hình thành đã hình thành một tình trạng dễ bị tổn thương bất cứ lúc nào Khi đĩa đệm bị thoái hóa ở một mức độ nhất định, TVĐĐ dễ hình thành nhất sau một động tác đột ngột ở tư thế sai hoặc bất lợi của cuộc sống thắt lưng như quá trình ưỡn hay gù, khuân vác vật nặng hay một chấn thương bất kỳ có thể gây đứt rách vòng sợi đĩa đệm, nhân nhày chuyển dịch ra khỏi danh giới bình thường và hình thành TVĐĐ [13], [14]

Từ đó sẽ gây sự xung đột đĩa- rễ thần trên đường đi của dây thần kinh tọa hoặc gây nên hiện tượng viêm vô khuẩn ngoài màng cứng làm cho dây, rễ thần kinh bị viêm dẫn đến bệnh đau thần kinh tọa [13] [15]

1.4 Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng của TVĐĐ CSTL được biểu hiện bằng 2 hội chứng: hội chứng cột sống và hội chứng rễ thần kinh [12], [16]

Trang 8

1.4.1 Hội chứng cột sống:

Đau cột sống thắt lưng, đau có tính chất cơ học với đặc điểm: đau tăng lên khi ho, hắt hơi, thay đổi tư thế, tăng lên lúc nửa đêm về sáng, giảm khi được nghỉ ngơi

Các biến dạng cột sống: Trong TVĐĐ CSTL với hai tiệu chứng: mất đường cong sinh lý và vẹo CSTL là hay gặp hơn cả

Có điểm đau cột sống và cạnh cột sống thắt lưng: rất phổ biến, tương ứng với các đoạn vận động bệnh lý và là điểm xuất hiện nhiều điểm đau của

 Đau lan theo dọc đường đi của thần kinh chi phối

 Rối loạn cảm giác đau lan dọc theo dải cảm giác

 Teo cơ do thần kinh chi phối bị chèn ép

 Giảm hoặc mất phản xạ gân xương

1.4.3 Cận lâm sàng

Chụp cộng hưởng: Là phương pháp đang được áp dụng nhiều nhất để chẩn đoán xác định TVĐĐ Phương pháp này an toàn, có độ chính xác cao nên có thể biết vị trí và mức độ thoát vị đĩa đệm

Ngoài ra, trên lâm sàng còn sử dụng các phương pháp khác như: Chụp X- Quang, chụp cắt lớp vi tính, chụp bao rễ thần kinh…

1.5 Các biện pháp điều trị ĐCSTL do TVĐĐ

Điều trị đau CSTL cần nhiều phương thức theo đa trị liệu, phối hợp giữa dùng thuốc và không dùng thuốc, Các phương pháp không dùng thuốc bao

Trang 9

gồm: VLTL, vận động trị liệu…Các biện pháp ngoại khoa chỉ sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt

1.5.1 Nội khoa

1.5.1.1 Chế độ vận động và thể dục điều trị

Trong giai đoạn cấp tính, người bệnh cần nghỉ ngơi tại gường là nguyên tắc quan trọng đầu tiên của điều trị nội khoa.Thời gian điều trị là từ 5- 7 ngày hoặc lâu hơn [2] [18]

Sau thời gian cấp tính, cần thiết phải thực hiện thể dục điều trị.Mục đích cải thiện chức năng các khối cơ giữ tư thế cho CSTL, chống teo cơ và phục hồi sự dẫn truyền thần kinh cơ ở chi dưới [15], [19]

1.5.1.2 Dùng thuốc

Thường dùng các thuốc chống viêm giam đau không steroid được chỉ định trong thời kỳ cấp và trong đợt tái phát Có thể sử dụng các thuốc an thần, giãn cơ nhẹ, và các vitamin nhóm B liều cao, hoặc phong bế tại chỗ bằng các thuốc tê: Novocain 2%, Lidocain 3%

Ngoài ra, có thể sử dụng corticoid trong trường hợp các thuốc giảm đau thông thường không có hiệu quả [20], [21]

1.5.2 Vật lý trị liệu- Phục hồi chức năng

Điều trị vật lý trị liệu- Phục hồi chức năng cho bệnh nhân đau CSTL do TVĐĐ bao gồm các phương thức nhiệt tri liệu, điện trị liệu, siêu âm trị liệu,

di động khớp, sử dụng áo nẹp cột sống, kéo dãn cột sống, khích thích điện, điều trị bằng các bài tập McKenzie, William, kèm theo những hướng dẫn, giáo dục bệnh nhân tư thế đúng trong lao động, sinh hoạt, tập luyện [22] Các bài tập CSTL: bao gồm các bài tập như bài tập duỗi cột sốngMcKenzie, bài tập cột sống thắt lưng William…Trong điều trị đau thần kinh tọa do TVĐĐ, bài tập cột sống đóng vai trò quan trọng, nó không chỉ đạt được mục đích giảm đau, làm mạch cơ, tái tạo tính linh hoạt của đơn vị vân

Trang 10

động cột sống,phục hồi tầm vận động cột sống, phục hồi tầm vận động CSTL

mà còn có tác dụng phòng ngừa tái phát Bài tập CSTL có thể điều trị riêng biệt hoặc phối hợp với các phương pháp khác [22], [23]…

1.5.3 Các phương pháp điều trị can thiệp tối thiểu [24]

 Phương pháp tiêu nhân nhày đĩa đệm

 Phương pháp tiêm máu tự thân

 Phương pháp giảm áp đĩa đệm bằng Laser qua da

 Phương pháp điều trị bằng sóng radio

 Phương pháp điều trị phẫu thuật

Thang điểm đau VASlà thang điểm được sử dụng khá rộng rãi, đánh giá chủ quan của bệnh nhân về các triệu chứng đau của mình [24] Ưu điểm là dễ đánh giá, đánh giá nhanh, thuận tiện và cho kết quả tốt, có thể sử dụng để theo dõi, đánh giá tại nhiều thời điểm khác nhau, cả giai đoạn cấp và mạn Tuy nhiên, nhược điểm của thang điểm VAS là chỉ đánh giá được một triệu chứng đau của người bệnh,trong khi đó không đánh giá được mức độ nặng, hiệu quả điều trị hay tiến triển bệnh cần phải theo dõi và các chỉ số lâm sàng khác

Trang 11

Thang điểm Quebec gồm 20 chỉ tiêu hoạt động hằng ngày, để bệnh nhân lựa chọn và trả lời như: ra khỏi gường, lái xe, leo cầu thang, đi tất,cọ nhà tắm, ném bóng, trải ga gường…[26] (phụ lục 1) Các hoạt động này thường chỉ được thực hiện khi bệnh nhân ở tại nhà của mình và khi gia đình có đủ các vật dụng, thiết bị như trong chỉ tiêu Điều này không phù hợp với điều kiện kinh

tế xã hội thực tế của Việt Nam, người dân chưa có đủ kinh phí để có thể mua một số vật dụng trong chỉ tiêu như: lái xe, ném bóng Mặt khác, theo nghiên cứu của Kopec, Schoppink và cộng sự (1996) chỉ rathang điểm Quebec có giá trị lượng giá lâm sàng thoát vị đĩa đệm ở giai đoạn mạn tính, ít có giá trị ở giai đoạn cấp tính [27].Vì thế sử dụng thang điểm Quebec để đánh giá mức độ nặng tại Việt Nam và khi bệnh nhân đang điều trị nội trú sẽ có những hạn chế nhất định

Thang điểm JOA bao gồm 14 tiêu chí đánh giá bao gồm cả triệu chứng chủ quan và khách quan như: triệu chứng về đau lưng, hạn chế các động tác cúi, xoay trở người linh hoạt, leo cầu thang, hạn chế các thói quen sinh hoạt, ngồi…[28] ( phụ lục 2) bao gồm cả triệu chứng chủ quan và khác quan.Theo các nghiên cứu của Vitzthum, Azimi, và Willan thì thang điểm JOA phù hợp đánh giá bệnh nhân cấp tính và đánh giá mức độ phục hồi của bệnh nhân sau phẫu thuật [29]

Thang điểm AM4 do giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Văn Chương đề xuất( phụ lục 3) bao gồm 11 tiêu chí trong đó có 9/11 tiêu chí là khách quan bao gồm: Đau khi nghỉ ngơi, đau có tính chất cơ học, cong sinh lý cột sống thắt lưng, dấu hiệu lasegue, chỉ số Schober, các điểm đau Valleix, dấu hiệu bấm chuông, teo cơ…Và 2/11 tiêu chí chủ quan là: đau khi nghỉ ngơi, cảm giác nông Sự kết hợp này đảm bảo cho việc đánh giá không mang tính áp đặt của người thầy thuốc nhưng cũng không lệ thuộc vào cảm giác chủ quan của bệnh nhân, cách tính điểm và mức độ để đánh giá các tiêu chí cũng khá đơn giản, dễ thực

Trang 12

hiện.Thang điểm AM4 phù hợp đánh giá giai đoạn cấp và đánh giá kết quả giai đoạn gần [30] Tuy nhiên thang điểm này hiện tại chưa được áp dụng rộng rãi, hiện tại mới đước áp dụng đánh giá mức độ nặng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại bệnh viện 103 và chỉ có bác sỹ điều trị mới có thể đánh giá bệnh nhân bằng thang điểm AM4

Thang điểm Oswetry là một thang điểm lâm sàng được sử dụng rộng rãi nhất để lượng giá độ nặng bênh nhân ĐCSTL do TVĐĐ được giới thiệu bởi O” Brien vào năm 1976 [31], thang điểm Oswetry đã chứng minh được những tiện lợi khi sử dụng và lợi ích khi dùng để đánh giá bệnh nhân Thang điểm bao gồm 10 chỉ tiêu sinh hoạt cơ bản hằng ngày như: mức độ đau tại thời điểm kiểm tra, tự chăm sóc cá nhân, đi bộ, đứng, ngủ, sinh hoạt tình dục, hoạt động xã hội, du lịch…[31] ( phụ lục 4) Đây là những hoạt động cơ bản trong sinh hoạt hàng ngày vì vậy bệnh nhân khi được hỏi sẽ trả lời dễ dàng, không phải giải thích nhiều, cách đánh giá, phân loại mức độ nặng ĐCSTL do TVĐĐ.Mặt khác cả bác sỹ điều trị và điều dưỡng viên đều có thể đánh giá bệnh nhân bằng thang điểm.Thang điểm Oswetry phù hợp đánh giá bệnh nhân

cả giai đoạn cấp và mạn tính [32]

Theo nghiên cứu Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Minh Thu (2013) [30] cho thấy các thang Oswetry, JOA, Quebec, AM4…có tỷ lệ phù hợp cao và có giá trị tương đương nhau trong đánh giá mức độ nặng bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng.Và dựa vào các nhận định, phân tích, đánh giá như trên Chúng tôi quyết định lựa chọn thang điểm Oswetry để tiến hành nghiên cứu này

Trang 14

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 63 bệnh nhân được chẩn đoán ĐCSTL do TVĐĐ đến khám và điều trị nội trú tai khoa Cơ Xương Khớp và trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai,

từ 10/ 2014 - 4/2015

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định đau cột sống thắt lưng đo TVĐĐ

- Bệnh nhân đồng ý và tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ

Không chọn bệnh nhân có các đặc điểm sau vào nghiên cứu:

- Bệnh nhân có TVĐĐ CSTL có kèm theo các bệnh lý khác vùng thắt lưng như u, viêm, nhiễm khuẩn…

- Bệnh nhân có bệnh lý toàn thân phối hợp như bệnh cấp tính, nhiễm trùng nặng, bénh suy gan,suy thận nặng

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu, mô tả cắt ngang, tiến cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu: 63 bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên vào nghiên cứu

2.2.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Dùng thuốc:

 Dùng thuốctheo y lệnh của bác sĩ

Trang 15

 Bệnh nhân tập PHCN và VLTL theo chỉ định của bác sĩ

- Sơ đồ nghiên cứu:

BỆNH NHÂN ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN ĐCSTL DO TVĐĐ

(N= 63)

Đánh giá bệnh nhân trước và sau điều trị bằng thang điểm Oswetry

Khởi phát đau Bệnh nhân vào viện Sau điều trị 2 tuần

Đánh giá thực trạng bệnh nhân đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm bằng thang điểm Oswetry và hiệu quả điều trị

bằng sự cải thiện thang điểm Oswetry

Kết luận

Trang 16

2.3 Các bước nghiên cứu

2.3.1 Thời gian theo dõi đánh giá

 Lần 1 : Thời điểm bệnh nhân khởi phát đau

 Lần 2: Tại thời điểm bệnh nhân vào viện

 Lần 3: Sau khi bệnh nhân được điều trị 2 tuần

- Thời gian mắc bênh

- Hoàn cảnh khởi phát: sau chấn thương, lao động nặng, vận động sai tư thế hay xuất hiện tự nhiên

- Đánh giá đặc điểm lâm sàng bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ bằng thang điểm Oswetry

2.3.3 Mục tiêu 1: Thực trạng của bệnh nhân đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm bằng thang điểm Oswetry

- Lựa chọn bộ câu hỏi ‘ OSWETRY LOW BACK PAIN DISABILITY QUESTIONAIRE” để đánh giá sự cải thiện mức độ linh hoạt và hoạt động của CSTL trong sinh hoạt hằng ngày [34]

- Đánh giá gồm 10 hoạt động ( phụ lục)

- Cách tính điểm Oswetry như sau: Với mỗi tiêu chí cho điểm tăng dần

từ 0 đến 5 điểm

- Điểm thực tế: Là tổng các tiêu chí được chọn

- Điểm lý thuyết: số điểm tối đa của mỗi tiêu chí × số tiêu chí được chọn

- Điểm Oswetry (%) ═ ( Điểm thực tế/ điểm lý thuyết) × 100%

Trang 17

- Phân bố số câu hỏi bệnh nhân trả lời

- Số câu hỏi bệnh nhân trả lời trung bình tại 3 thời điểm

- Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm khởi phát đau, bệnh nhân mới vào viện và sau điều trị 2 tuần

2.3.4.Mục tiêu 2: Đánh giá hiệu quả điều tri ĐCSTL do TVĐĐ bằng thang điểm Oswetry

- So sánh sự cải thiện điểm số TB Oswetry và phân loại mức độ nặng ĐCSTL do TVĐĐ tại các thời điểm

2.4 Xử lý số liệu:

 Các số liệu nghiên cứu được phân tích xử lý trên máy tính theo chương trình SPSS 16.0 trong đó sử dụng các thuật toán thống kê y học như: tính tỷ lệ

%, tính giá trị trung bình, T Test…

 Sự khác khác biệt có ý nghĩa thông kê được quy ước là p< 0,05

2.5 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

 Đây là những nghiên cứu hoàn toàn nhằm mục đích chăm sóc và đem lại chất lượng dịch vụ y tế tốt nhất cho người bệnh

 Các đối tượng nghiên cứu đều được hỏi ý kiến, đồng ý và tự nguyện tham gia vào nghiên cứu

 Các thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật, chỉ sử dụng thông tin bệnh nhân trong nghiên cứu

 Nghiên cứu được hội đồng khoa học thông qua và phê chuẩn

Trang 18

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo độ tuổi

Nhận xét: Dựa vào biểu đồ ta thấy, bệnh nhân trong độ tuổi lao động

có 40 bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 69,8% Trong đó độ tuổi 50- 59 chiếm

tỷ lệ cao nhất 31,7%

3.1.2 Đặc điểm về giới

Trang 19

Biểu đồ 3.2.Phân bố bệnh nhân theo giới

Nhận xét: Dựavào biểu đồ ta thấy, bệnh nhân nữ giới chiếm tỷ lệ 55,6%

cao hơn so với nam giới là 44,4%

Trang 20

Nhận xét: Trong 63 bệnh nhân nghiên cứu thì tỷ lệ bệnh nhân mắc bệnh

trên 6 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất 42,9%; bệnh nhân mắc bệnh < 1 tháng chiếm tỷ lệ thấp nhất chiếm 12,7%

3.1.5 Hoàn cảnh khởi phát thoát vị đĩa đệm

Bảng 3.3 Hoàn cảnh khởi phát thoát vị đĩa đệm

Nhận xét: Hoàn cảnh khởi phát của bệnh nhân chủ yếu là xuất hiện tự

nhiên và sau lao động nặng chiếm 49,2% và 47,6%; bệnh nhân khởi phát sau chấn thương chiếm tỷ lệ rất thấp 3,2%

3.2 Thực trạng đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm bằng thang điểm Oswetry

3.2.1 Thực trạng đau cột sống thắt lưng do thoát vị đĩa đệm bằng thang điểm Oswetry tại thời điểm khởi phát đau

Bảng 3.4.Thực trạng lấm sàng bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm

khởi phát đau bằng thang điểm Oswetry

STT Chức năng sinh hoạt Điểm TB

1 Mức độ đau tại thời điểm kiểm tra 4,38 ± 0,88

Trang 21

11 Tổng 85,19 ± 11,82

Nhận xét:Điểm TB Oswetry cao nhất là sinh hoạt tình dục 4,41 ± 1,01; điểm

TB Oswetry thấp nhất là ngủ với điểm TB là 3,98 ± 0,98; điểm trung bình Oswetry của cả nhóm là 85,19 ± 11,82 ở mức độ bệnh nhân hạn chế hầu hết các chỉ tiêu sinh hoạt hằng ngày

3.2.2.Thực trạng lâm sàng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm bệnh nhân vào viện bằng thang điểm Oswetry

Bảng 3.5.Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời

điểm bệnh nhân vào viện bằng thang điểm Oswetry

STT Chức năng sinh hoạt Điểm TB

1 Mức độ đau tại thời điểm kiểm tra 2,63 ± 1,00

Nhận xét: Điểm TB Oswetry cao nhất là tự chăm sóc cá nhân 3,05±

1,16; điểm TB Oswetry thấp nhất là ngủ với điểm TB là 2,37± 0,9 Điểm TB Oswetry là 51,6± 13,2 đạt mức độ khá, bệnh nhân hạn chế một số chỉ tiêu sinh hoạt hàng ngày

3.2.3 Thực trạng lâm sàng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm bệnh nhân điều trị được 2 tuần bằng thang điểm Oswetry

Trang 22

Bảng 3.6.Thực trạng lâm sàng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm bệnh nhân điều trị được 2 tuầnbằng thang điểm Oswetry

STT Chức năng sinh hoạt Điểm TB

1 Mức độ đau tại thời điểm

Trang 23

3.2.4.Phân bố sự lựa chọn các tiêu chí của bệnh nhân tại 3 thời điểm nghiên cứu

Bảng 3.7 Sự phân bố sự lựa chọn các tiêu chí của bệnh nhân

tại 3 thời điểm

Mức độ Khởi phát Vào viện Sau 2 tuần

Nhận xét:

- Tại cả 3 thời điểm nghiên cứu với 10 tiêu chí chức năng sinh hoạt hàng ngày, bệnh nhân trả lời 7 tiêu chí đầu đạt 100%, tiếp đến là hoạt động xã hội đạt 49,2 %; tiêu chí sinh hoạt tình dục trả lời đạt 41,3%; tiêu chí trả lời ít nhất

là đi du lịch đạt 0%

Trang 24

3.2.5 So sánh điểm Oswetry tại các thời điểm nghiên cứu khi trả lời 7 chỉ tiêu đầu với trả lời 10 tiêu chí

Bảng 3.8 So sánh điểm Oswetry khi trả lời 7 tiêu chí đầu với 10 tiêu chí tại

Sau 2 tuần điều trị 26,51 ± 15,1 22,44 ± 15,8

Nhận xét: Khi so sánh điểm TB Oswetry tại 3 thời điểm nghiên cứu khi bệnh nhân trả lời 7 tiêu chí đầu và cả 10 tiêu chí kết quả cho thấy không có sự khác biệt với P> 0,05

3.3 Đánh giá hiệu quả điều trị bằng thang sự cải thiện thang điểm Oswetry

 Phân loại mức độ nặng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm khởi phát đau

Bảng 3.9 Phân loại các mức độ tại thời điểm khởi phát đau

Trang 25

Nhận xét: Tại thời điểm khởi phát đau, bệnh nhân ở mức độ rất kém có 47

bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhất 74,6%; không có bệnh nhân nào ở mức độ tốt

Nhận xét: Tại thời điểm bệnh nhân nhân nhập viện bệnh nhân ở mức độ

trung bình có 42 bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là 66,6%; không có bệnh nhân nào ở mức độ tốt và chỉ có 1 bệnh nhân ở mức độ rất kém chiếm 1,6%

 Phân loại mức độ nặng của bệnh nhân ĐCSTL do TVĐĐ tại thời điểm khởi phát đau điểm bệnh nhân điều trị 2 tuần

Bảng 3.11 Phân loại các mức độ tại thời điểm bệnh nhân điều trị sau 2 tuần

Trang 26

Nhận xét: Tại thời điểm bệnh nhân điều trị được 2 tuần thì bệnh nhân

đạt mức độ tốt có 28 bệnh nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,4%, không còn bệnh nhân nào ở mức độ kém và rất kém

 Sự cải thiện điểm số trung bình Oswetry trong nghiên cứu

Biểu đồ 3.3 Sự cải thiện điểm số Oswetry tại các thời điểm nghiên

cứu

Nhận xét: Dựa vào biêu đồ ta thấy điểm số TB Oswetry tại các thời

điểm nghiên cứu có sự cải thiện rõ rệt, có ý nghĩa thống kê với P<0, 05

Trang 28

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN

4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

4.1.1 Tuổi

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 51,2 tuổi Tuổi trung bình trong các nghiên cứu của Porchet FC là 58 [16]; Davis RA là 42 [17]; Đinh Tăng Tuệ năm 2013 là 47,23 [24]; Nguyễn Văn Hải năm 2007 là 44,6 [33] Như vậy, so với các nghiên cứu trên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi là tương đối phù hợp

Về độ tuổi, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng bệnh gặp chủ yếu ở độ tuổi lao động, trong nghiên cứu này của chúng tôi, lứa tuổi lao động từ 30- 59

có 40 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 69,8%; trong đó tập trung nhiều nhất ở nhóm tuổi 50- 59 (chiếm 31,7%) Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi tương tự nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoài khác: Nghiên cứu của Andrenson G.J.B [34]; Nguyễn Vũ [23] Sở dĩ thoát vị đĩa đệm hay gặp ở độ tuổi này do thường xuyên có vận động cơ học, vận động chịu tải trọng, nên phải chịu nhiều tác động cơ học của chấn thương, vi chấn, cùng các yếu tố nghề nghiệp, sức ép công việc, các vấn đề về kinh tế, xã hội, quá trình thoái hóa và lão hóa tự nhiên là những nguyên nhân chính gây ra tình trạng đau cột sống thắt lưng Từ kết quả nghiên cứu này chúng ta nên có những chương trình khám sàng lọc phát hiện sớm, đồng thời có những tư vấn phòng tránh ĐCSTL do TVĐĐ cho những người trong độ tuổi lao động và những người

có yếu tố nguy cơ

4.1.2 Giới

Trang 29

Nhìn chung, tại các thời điểm, địa điểm nghiên cứu khác nhau thì tỷ lệ giới tính có sự khác nhau Các nghiên cứu thường cho rằng tỷ lệ nam nhiều hơn nữ, và chênh lệch không nhiều về giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ nữ giới chiếm nhiều hơn, chiếm 55,6% Kết quả của chúng tôi phù hợp so với nghiên cứu của các tác giả Hà Hồng Hà (2009) là 64,7% [35].Tỷ lệ này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương (2003) nữ chiếm 60% [36]

Nghiên cứu của chúng tôi, có 35 bệnh nhân là nữ, trong đó nữ có độ tuổi trên 45 tuổi là 25 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 71,5% Đây là độ tuổi tiền mãn kinh

và mãn kinh, có những thay đổi về nội tiết tố gây loãng xương và thoái hóa đĩa đệm Mặt khác ở Việt Nam, đối tượng này vẫn là lao động chính trong gia đình, do vậy có nguy cơ thoát vị đĩa đệm cao Vì vậy, cần có các biện pháp giáo dục, hỗ trợ và các biên pháp phòng ngừa hữu hiệu cho nhóm đối tượng này để giảm tỷ lệ mắc bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống

4.1.3 Nghề nghiệp

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nghề nghiệp của bệnh nhân được xếp làm hai nhóm đó là người lao động nặng bao gồm: công nhân, nông dân hoặc người mang vác, bưng bê hoặc thường xuyên làm việc nặng khác, nhóm lao động nhẹ bao gồm: cán bộ hưu, giáo viên, nhân viên văn phòng…Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhóm bệnh nhân thuộc nhóm lao động nặng là 46 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 73%, nhóm bệnh nhân lao động nhẹ là 17 bệnh nhân, chiếm

tỷ lệ 23 bệnh nhân Kết quả này tương đối phù hợp với nhóm bệnh nhân lao động nặng trong nghiên cứu của Đinh Tăng Tuệ (2013) là 65% [24]; Đặng Thị Xuân Liễu (2005) 67,5% [37]; Phan Thị Hạnh (2009) 58,3% [38] Điều này cho phép ta nhận định rằng ở Việt Nam người lao động chân tay chiếm tỷ lệ lớn, hơn nữa lao động nặng , mang vác nặng thường xuyên làm tăng thêm áp lực, dễ gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng Những người mà tư thế sinh hoạt, lao

Ngày đăng: 10/03/2018, 13:35

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w