Phương pháp Millard là một phương pháp được các phẫu thuật viên ưa sử dụng vì nhiều ưu điểm như giấu sẹo vào đường tự nhiên như gờ nhân trung, nền mũi, có khả năng cuộn tròn cánh mũi tốt
Trang 1Đánh giá kết quả tạo hình khe hở môi một bên toàn bộ bằng phương
pháp Millard cải tiến kết hợp tạo hình mũi thì đầu
ĐẶT VẤN ĐỀ
Khe hở môi (KHM) và khe hở vòm miệng (KHVM) là những loại dị tật bẩm sinh rất phổ biến vùng hàm mặt Thống kê trên thế giới cũng như ở Việt Nam tỷ lệ này thay đổi trong khoảng 1/700 - 1/1000, tùy theo vùng địa lý và dân tộc [1], [2], [3], [4] Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới năm 2000, trong khoảng 2 phút sẽ có một trẻ sinh ra bị dị tật khe hở môi hoặc khe hở vòm miệng [5] Nghiên cứu của tác giả James A.O năm 2009 tại Mỹ trong 3.989.527 trẻ sơ sinh, tỷ lệ trẻ bị KHM là 0,09% [6] Ở Việt Nam, tình hình trẻ em bị KHM, KHVM chiếm tỷ lệ 0,1 - 0,2% trẻ sơ sinh [7]
Bên cạnh những thay đổi về cấu trúc giải phẫu tại chỗ như môi, mũi, cung hàm, cung răng, khe hở môi, khe hở vòm miệng bẩm sinh còn ảnh hưởng rất lớn đến chức năng (phát âm, ăn uống), sức khỏe và tâm lý của trẻ [8], [9] Do đó, việc điều trị toàn diện cho bệnh nhân bị khe hở môi, vòm miệng bẩm sinh cần có sự phối hợp của nhiều chuyên khoa như phẫu thuật hàm mặt, phẫu thuật tạo hình, nắn chỉnh răng, tai mũi họng, nhi khoa, bác sỹ dạy phát âm [7], [10], [11], [12]
Qua nhiều giai đoạn lịch sử, cùng với việc phát triển của chuyên ngành phẫu thuật tạo hình thì có nhiều phương pháp tạo hình KHM được đề xuất và ngày càng hoàn thiện Ở Việt Nam, nhờ sự phát triển khoa học kỹ thuật và hợp tác quốc tế, kết quả phẫu thuật ngày càng được nâng cao và hoàn thiện Phương pháp Millard là một phương pháp được các phẫu thuật viên ưa sử dụng vì nhiều ưu điểm như giấu sẹo vào đường tự nhiên như gờ nhân trung, nền mũi, có khả năng cuộn tròn cánh mũi tốt [13], [14] Tuy nhiên phương pháp Millard cũng có nhược điểm như không bù được chiều cao da môi, sẹo co kéo sau phẫu thuật làm hếch cung Cupidon lên trên [15] Để giải quyết nhược
Trang 2điểm, phương pháp Millard đã được cải tiến như sử dụng đường rạch nhỏ ở chân vách mũi nhằm làm tăng chiều cao môi bên khe hở, vạt tam giác nhỏ ở viền da làn môi đỏ nhằm làm tăng chiều dài và cắt ngang hướng co của sẹo [13], [16]
Bên cạnh đó, việc tạo hình mũi thì đầu cùng tạo hình môi đã được nhiều phẫu thuật viên quan tâm Tuy nhiên, trong các nghiên cứu ở Việt Nam trước đây, không phải tất cả đối tượng nghiên cứu đều được tạo hình mũi thì đầu, và các phương pháp tạo hình mũi vẫn còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng phẫu thuật viên Ngoài ra, việc đánh giá kết quả điều trị tạo hình môi mũi cũng cần một thang điểm chi tiết về các tổn thương thứ phát sau phẫu thuật Một trong những thang điểm được sử dụng rộng rãi trên thế giới là thang điểm Mortier [17] Thang điểm này đã đưa ra chi tiết từng hình thái tổn thương của môi và mũi sau phẫu thuật, từ đó giúp các nhà phẫu thuật đánh giá kết quả phẫu thuật chi tiết và chính xác hơn [17], [18] Các hình thái tổn thương môi mũi sau phẫu thuật sẽ phản ánh các lỗi trong phẫu thuật, đặc biệt các giúp phát hiện các lỗi hay gặp Từ đó, bác sỹ phẫu thuật sẽ tìm ra các phương án khắc phục nhằm đạt được các mục tiêu sau phẫu thuật tạo hình môi mũi
Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Đánh giá kết quả tạo hình khe hở môi một bên toàn bộ bằng phương pháp Millard cải tiến kết hợp tạo hình mũi thì đầu” với hai mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân khe hở môi một bên toàn bộ tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2014 - 2015
2 Đánh giá kết quả tạo hình bằng phương pháp Millard cải tiến kết hợp tạo hình mũi thì đầu ở bệnh nhân khe hở môi một bên toàn bộ
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đặc điểm môi - mũi
1.1.1 Giải phẫu môi mũi bình thường
1.1.1.1 Giải phẫu môi bình thường
Môi bao gồm môi trên và môi dưới, nằm ở tầng mặt dưới Giới hạn của môi: phía trên là sàn mũi, rãnh mũi - má giới hạn hai bên, phía dưới là rãnh cằm Cấu tạo môi trên có ba lớp: da môi (môi trắng), cơ môi và niêm mạc môi đỏ [19], [20]
- Da môi: che phủ mặt trước Môi trên ở giữa có lõm nhân trung, ngăn cách với phần da còn lại là hai gờ nhân trung Da môi trên quyết định chiều cao môi trên
- Niêm mạc môi đỏ: ngăn cách với da môi bởi đường viền môi Đường viền môi trên cong lõm ở giữa tạo nên cung Cupidon Một trong những mục tiêu thẩm mỹ là phục hồi được sự liên tục của đường viền môi và
sự cân đối của cung Cupidon
Niêm mạc môi đỏ được chia làm 2 phần
+ Niêm mạc môi khô: ở giữa là củ môi (mấu lồi môi), thon dần về phía mép môi
+ Niêm mạc môi ướt: liên tiếp với niêm mạc miệng, dưới niêm mạc môi là các tuyến nước bọt phụ nằm rải rác Trên đường giữa, niêm mạc môi tạo nên nếp gấp gọi là phanh môi
- Cơ môi: chủ yếu là cơ vòng môi Cơ vòng môi bao gồm hai bó:
+ Bó ngang: xuất phát từ góc miệng, chạy ngang, bắt chéo với bên đối diện ở đường giữa
+ Bó chéo: chạy từ góc miệng bám tận vào gai mũi trước
Trang 4Để phục hồi tốt hình thể môi sau phẫu thuật cần phục hồi lại tốt cả 2
bó cơ này
Ngoài ra môi trên còn có sự tham gia của các cơ
+ Cơ mũi: gồm phần ngang và phần cánh mũi
+ Cơ nâng môi trên - cánh mũi: kết hợp với cơ vòng môi có vai trò kéo và nâng cánh mũi ra ngoài lên hai bên má Trong trường hợp khe hở môi thì vai trò của cơ này tăng lên, nó sẽ co kéo gây biến dạng môi trên và cánh mũi
Động mạch nuôi dưỡng chính cho môi là động mạch vòng môi, nó tách
Trang 51.1.1.2 Giải phẫu mũi bình thường
Mũi nằm ở tầng giữa mặt Cấu tạo mũi gồm một khung xương sụn bao phủ bên ngoài bởi da và cơ Mũi liên tục với trán phía trên tại gốc mũi Từ gốc mũi tới đỉnh mũi là một gờ tròn gọi là sống mũi Đỉnh mũi là phần nhô cao nhất, là phần giao nhau của hai cánh mũi và trụ mũi Hai bên phía dưới đỉnh mũi là hai lỗ mũi trước, được ngăn cách bởi vách mũi Ngăn cách giữa
mũi và má là rãnh mũi - má
Cấu tạo của tháp mũi gồm 2 phần chính [19], [21]
- Khung xương mũi: cố định, được cấu tạo bởi hai xương chính mũi gắn với nhau ở giữa sống mũi, gai mũi xương trán và mỏm trán của xương hàm trên
- Khung sụn mũi: phần di động phía dưới, bao gồm:
+ Sụn vách ngăn mũi: thẳng đứng, chạy dọc giữa mũi, chia khoang mũi thành hai buồng
+ Sụn cánh mũi: gồm hai sụn hai bên áp lưng vào nhau cùng với sụn vách mũi tạo nên trụ mũi Mỗi sụn cánh mũi có hai phần: cột giữa và cột bên Phần liên tục giữa cột bên và cột giữa tạo nên điểm lồi nhất của đỉnh mũi Cột bên uốn cong sang hai bên đóng vai trò quan trọng tạo nên hình thể ngoài của mũi Cơ nâng môi trên cánh mũi và cơ mũi bám vào phần thấp của cột bên cánh mũi
Động mạch cấp máu cho mũi là: các nhánh mũi của động mạch mặt, nhánh lưng mũi của động mạch mắt, nhánh dưới ổ mắt của động mạch hàm trên
Thần kinh chi phối cảm giác cho mũi là hai nhánh của dây thần kinh V: nhánh trán mi của dây V1, và nhánh dưới ổ mắt của dây V2
Trang 6Hình 1.2: Giải phẫu cơ môi mũi bình thường [21]
1.1.2 Phôi thai học quá trình hình thành môi - vòm miệng
1.1.2.1 Phôi thai học quá trình hình thành môi - vòm miệng tiên phát [7]
Sự phát triển của môi bắt đầu vào đầu tuần thứ tư (ngày 28) của phôi Ở cực đầu của phôi là nụ mũi trán, bên dưới nụ có một khe lớn đó là miệng
nguyên thuỷ, nụ hàm trên và nụ hàm dưới
Nụ mũi trán sau này sẽ hình thành ba nụ: ở hai bên là nụ mũi ngoài, ở giữa là nụ mũi trong Sự phân chia nụ mũi trán thành các nụ mũi là do sự có mặt của màng khứu giác Nụ mũi trong cũng được chia đôi bởi rãnh mũi trán
Hiện tượng dính các thành biểu bì của các nụ và sự hàn gắn các nụ với nhau trong quá trình trung bì hoá hình thành nên môi, mũi, vòm miệng tiên phát
- Nụ mũi ngoài: giới hạn bên ngoài của màng khứu giác, hình thành nên cánh mũi và phía bên của mũi
- Nụ mũi trong: giới hạn bên trong của màng khứu giác, hình thành nên sống mũi và trụ mũi
- Nụ hàm trên: hình thành nên môi trên và phần trên của má
- Nụ hàm dưới: hình thành nên môi dưới, cằm và phần dưới của má
Cơ mũi (Phần ngang)
Cơ mũi (Phần cánh mũi)
Cơ nâng môi trên
Cơ vòng môi
Cơ cánh mũi
Cơ hạ vách ngăn mũi
Trang 71.1.2.2 Phôi thai học quá trình thành vòm miệng thứ phát [7]
Sau lỗ mũi tiên phát, một nụ từ vùng giữa của trần hốc miệng và từ thành sau của vách ngăn mũi tiên phát sẽ phát triển để hình thành vách ngăn
mũi thứ phát
Hai nụ ngang trước gọi là nụ khẩu cái
Hai nụ ngang sau là nụ chân bướm hàm
Những nụ này dính với nhau ở đường giữa theo thứ tự từ trước ra sau, sau đó quá trình trung bì hoá để hình thành vòm miệng thứ phát
1.1.3 Thay đổi giải phẫu khe hở môi trên một bên toàn bộ
Những thay đổi hình thể ngoài của môi: da và niêm mạc môi mất
liên tục toàn bộ, bị kéo lệch sang vị trí khác và kéo theo cả phần da và niêm mạc mũi [16], [22], [23]
- Co kéo phần da của môi: các bó cơ vòng môi không liên tục, dẫn đến
sự co kéo vùng da môi ở hai bên bờ khe hở Da môi ở bờ trong và bờ ngoài khe hở đều giảm về kích thước, chiều cao
- Ở bờ trong khe hở, chiều cao nhân trung ngắn
- Cung Cupidon bị gián đoạn sau khi vượt qua điểm giữa nhân trung ở bờ trong khe hở, cung Cupidon còn khoảng 1/3 chiều dài, còn lại một trụ nhân trung và điểm thấp nhất
- Niêm mạc ở hai bên bờ khe hở: độ rộng làn môi đỏ bờ trong khe hở bị thiếu, ở bờ ngoài khe hở bình thường, hoặc tăng nhẹ so với bên lành
Những thay đổi về cơ [24]
- Thay đổi vị trí bám tận của cơ vòng môi Ở bờ trong khe hở các bó cơ vòng môi bám ngược lên trên vào chân trụ mũi và gai mũi trước, ở bờ ngoài khe hở các bó cơ vòng môi trên bám vào chân cánh mũi
- Thiểu sản phần cơ ở vùng nhân trung phía bờ trong khe hở, trong khi
đó ở bờ ngoài khe hở các cơ phát triển lớn hơn bờ trong
Trang 8- Cơ ngang mũi chạy từ trên xuống dưới, vắt qua chân cánh mũi bên khe
hở và bám lạc chỗ vào chân cánh mũi Sự phát triển của cơ ngang mũi
sẽ kéo cánh mũi làm cánh mũi bị xẹp Cùng với sự bám lạc chỗ của cơ vòng môi và cơ ngang mũi tạo nên những biến đổi hình thái của môi, lỗ mũi bên khe hở bị mở rộng
Hình 1.3: Thay đổi cơ vòng môi ở khe hở môi [24]
Những biến đổi của mũi [24]
- Đỉnh mũi lệch về phía khe hở
- Lỗ mũi bên khe hở hẹp
- Cánh mũi xẹp, bị đẩy ra ngoài Sụn cánh mũi bị xoắn vặn, thiểu sản Chân cánh mũi bị kéo thấp xuống
- Trụ mũi bị ngắn, lệch về phía khe hở
Trong trường hợp khe hở môi một bên toàn bộ có kèm khe hở vòm sẽ
có sự thông khoang miệng với hốc mũi Xương hàm trên hai bên khe hở bị biến dạng: xương hàm ở bờ trong khe hở xoay ra ngoài và ra trước, phần xương hàm ở bờ ngoài khe hở ở vị trí lùi ra sau
Trang 9Hình 1.4: Biến dạng sụn cánh mũi ở khe hở môi một bên toàn bộ [25] 1.1.4 Cơ chế hình thành khe hở môi - vòm miệng
Để giải thích cơ chế bệnh sinh KHM-VM, người ta dùng thuyết nụ mầm của Rathke (1832), Dursy (1869), và His (1888) Về sau các tác giả Victor Veau (1930), Fleishman (1915), Politzer (1935) bổ sung thêm thuyết tường chìm
1.1.4.1 Thuyết "Nụ mầm" giải thích quá trình hình thành môi và vòm miệng
do các nụ mặt giáp dính với nhau Dưới tác động của các yếu tố ngoại lai hoặc nội tại làm cho quá trình trung bì hóa không xảy ra giữa các nụ mặt nên chúng không giáp dính với nhau sẽ tạo thành các khe hở [7], [14]
Trang 10Sau đó nụ trán chia làm hai nụ gọi là nụ mũi phải và nụ mũi trái, mỗi
nụ mũi phải và trái lại chia thành hai nụ mũi trong và mũi ngoài cách nhau bởi rãnh khứu
Những nụ hàm trên phát triển về phía đường giữa với nụ mũi trong vốn dài hơn nụ mũi ngoài và làm cho rãnh khứu hẹp lại thành lỗ mũi
Hai nụ mũi trong bên phải và bên trái dính nhau ở đường giữa
Như vậy, môi trên đã hình thành bởi sự giáp dính của các nụ hàm trên + mũi trong + mũi trong + hàm trên
Hai nụ hàm dưới gắn với nhau ở đường giữa và nụ hàm trên gắn với nụ hàm dưới, như vậy hốc miệng đã hoàn thành
Nụ hàm trên dính với nụ mũi trong tạo thành môi trên và xương ổ răng trước lỗ khẩu cái trước (lỗ răng cửa) Nếu nụ hàm trên không dính với nụ mũi trong sẽ tạo nên khe hở môi trên
Nếu nụ hàm trên không dính với nụ mũi trong một bên sẽ hình thành khe hở môi một bên
* Khe hở vòm miệng
Vào tuần lễ thứ 8 của bào thai, khi bào thai 30mm hình thành vòm miệng thứ phát Ở thành vòm miệng nguyên thủy chồi ra 5 nụ: 1 nụ đứng dọc từ giữa nụ trán rủ xuống tạo thành vách ngăn mũi, 2 nụ ngang trước gọi là nụ khẩu cái từ hai nụ hàm trên phát triển vào giữa và dính với nhau, 2 nụ ngang sau gọi là
nụ chân bướm khẩu cái phát triển vào giữa nối với nhau và dính với hai nụ ngang trước tạo thành vòm miệng, chia hốc miệng nguyên thủy thành hốc mũi
và hốc miệng Nụ dọc giữa phát triển xuống dưới liền với nụ ngang trước và nụ ngang sau ở đường giữa chia hốc mũi thành hai hốc bên phải và bên trái
Khe hở vòm miệng hình thành là do nụ ngang trước và nụ ngang sau bên phải hay bên trái không dính với nhau, có thể một phần hoặc toàn bộ
Trang 111.1.4.2 Thuyết tường chìm [7]
Thuyết “tường chìm” cho rằng: môi trên không phải được tạo bởi các
nụ mặt mà ở mỗi bên ổ miệng và hốc mũi nguyên thuỷ có một bức tường dựng đứng của tổ chức ngoại bì (để hình thành hàm ếch tiên phát) Vào tuần
lễ thứ 3 của thời kỳ bào thai, bức tường này bị chọc thủng bởi tổ chức trung bì phát triển Sự phát triển không đầy đủ của tổ chức trung bì sẽ phát sinh khe hở môi một bên hoặc hai bên
1.1.5 Phân loại khe hở môi - vòm miệng
Từ trước đến nay, nhiều tác giả đưa ra cách phân loại khe hở môi - vòm miệng dựa trên những cơ sở nhất định
1.1.5.1 Phân loại theo tổn thương giải phẫu [7], [14], [18]
Veau năm 1931 đã đề nghị một phân loại chia thành 4 nhóm
- Nhóm I: Khe hở chỉ có ở vòm miệng mềm
- Nhóm II: Khe hở vòm miệng mềm và vòm miệng cứng không vượt quá lỗ răng cửa
- Nhóm III: Khe hở môi-vòm miệng toàn bộ một bên
- Nhóm IV: Khe hở môi-vòm miệng toàn bộ hai bên
1.1.5.2 Phân loại theo phôi thai học [7], [14], [26], [27]
Kernahan và Stark năm 1958 phân loại dựa trên lỗ răng cửa chia ranh giới giữa vòm miệng tiên phát gồm môi, cung hàm và vòm miệng thứ phát gồm vòm miệng cứng và vòm miệng mềm
Trang 12 Khe hở tiên phát: gồm khe hở môi và khe hở cung hàm
- Khe hở môi:
+ Độ I: Khuyết môi đỏ, các bộ phận khác bình thường
+ Độ II: Khe hở tới ½ da môi, cơ vòng môi không bị chia hoàn toàn, cánh mũi không hoặc biến dạng rất ít, cung hàm bình thường + Độ III: Khe hở đến nền mũi, thường gọi là KHM toàn bộ, cánh mũi biến dạng, cung hàm không bị ảnh hưởng
- Khe hở cung hàm:
+ Độ I: Có vết hằn ở cung răng cửa hàm trên
+ Độ II: Có khe hở vùng ổ răng
+ Độ III: Khe hở đến lỗ răng cửa
Khe hở thứ phát
- Khe hở vòm miệng mềm
+ Độ I: Khe hở lưỡi gà
+ Độ II: Khe hở lưỡi gà và 1/3 vòm miệng mềm
+ Độ III: Khe hở vòm miệng mềm toàn bộ
- Khe hở vòm miệng cứng
+ Độ I: Khe hở đến 1/3 sau vòm miệng cứng
+ Độ II: Khe hở đến 2/3 sau vòm miệng cứng
+ Độ III: Khe hở đến lỗ răng cửa
Khe hở phối hợp: gồm cả khe hở môi và vòm miệng một hoặc hai bên
Năm 1971 Kernahan đưa ra một sơ đồ phân loại và chia độ có tính chất biểu tượng và dễ nhìn hơn theo hình chữ Y
Trang 13Hình 1.5: Sơ đồ chữ Y của Kernahan [7]
- 1 và 4 tương ứng với môi
- 2 và 5 tương ứng với xương ổ răng
- 3 và 6 tương ứng với cung hàm trước lỗ răng cửa
- 7 và 8 tương ứng với vòm miệng cứng
- 9 tương ứng với vòm miệng mềm
Trên cơ sở sơ đồ chữ Y của Kernahan, Millard (1977) đã đưa ra sơ đồ hình chữ Y cải tiến, sơ đồ này mô tả thêm về những ảnh hưởng của khe hở môi lên nền mũi và cánh mũi
Hình 1.6: Sơ đồ chữ Y cải tiến của Millard [7]
Trang 141.2 Lịch sử các phương pháp tạo hình môi mũi
1.2.1 Lịch sử các phương pháp tạo hình môi trên thế giới
Phẫu thuật tạo hình khe hở môi vòm miệng bẩm sinh không ngừng cải tiến qua nhiều thế kỷ với nhiều phương pháp khác nhau Nhiều phẫu thuật viên trên thế giới đã dày công nghiên cứu, sáng tạo và cải tiến nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau, các đường rạch cũng thay đổi từ đường thẳng, đường cong đến đường zich zắc, các loại vạt từ vạt tam giác, tứ giác đến vạt xoay đẩy, vạt hình chữ “z” [28]
Đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu và đề xuất nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau như phương pháp Veau, Barsky, Le Mesurier, Tennisson, Millard Chúng tôi chỉ nhắc đến một số tác giả tiêu biểu như là những điểm mốc của lịch sử phẫu thuật khe hở môi từ thế kỷ 19 đến nay
Năm 1844, Mirault sử dụng vạt có cả da ở môi ngoài khâu vào môi trong để làm tăng chiều cao của môi
J Wolff (1870) đã đề ra nguyên tắc phục hồi cơ vòng môi
Rose (1891) và Thompson (1912) đã trình bày kỹ thuật rạch da dọc hai bên bờ khe hở và khâu trực tiếp hai bờ khe hở vào với nhau Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng cho khe hở môi màng hay khe hở môi không toàn bộ, không thể áp dụng cho khe hở rộng, và sẹo thẳng dễ kéo hếch làn môi đỏ và ngắn chiều cao da môi
Victor Veau (1938) đã rạch tách rời ngách tiền đình hai bên khỏi xương hàm và ông là người đầu tiên nói rõ cần phục hồi ba lớp niêm mạc, cơ, da, đặc biệt chú trọng việc khâu phục hồi các cơ
Le Mesurier (1944) trên cơ sở phương pháp của Hangedorn đã đưa ra phương pháp dùng vạt tứ giác từ phần môi bệnh để chèn vào vùng nhân trung phía bên môi lành nhằm làm tăng chiều cao môi Tuy nhiên phương pháp này tác động nhiều vào vùng nhân trung, gây sẹo xấu, nên hiện nay ít được sử dụng
Trang 15Hình 1.7: Tạo hình môi bằng vạt tứ giác (Le Mesurier) [7]
Tennison (1952) đã sử dụng vạt tam giác từ phần môi bệnh để chèn vào phần môi bên lành Phương pháp này đơn giản và ít xâm phạm nhân trung hơn phương pháp Mesurier, tăng chiều cao môi hiệu quả Tuy nhiên vẫn không giấu được sẹo vào các đường tự nhiên, tính thẩm mỹ chưa cao Hiện nay phương pháp này vẫn được một số phẫu thuật viên sử dụng, đặc biệt trong trường hợp khe hở môi không toàn bộ [29], [30], [31], [32]
Hình 1.8: Tạo hình môi bằng vạt tam giác (Tennison) [33]
Năm 1957, Ralph Millard đã mô tả kỹ thuật vạt xoay - đẩy cổ điển, sử dụng hai vạt da cơ từ hai phần môi chuyển chỗ cho nhau dựa trên cơ sở vạt chữ “Z” Kỹ thuật sử dụng vạt xoay đẩy bao gồm một vạt xoay từ bờ trong
Trang 16khe hở ra ngoài và một vạt đẩy từ bờ ngoài khe hở vào trong Những thay đổi
đó của ông đã làm thay đổi việc sữa chữa khe hở môi về sau này Đây có thể được coi là một kỹ thuật quan trọng nhất liên quan đến phẫu thuật tạo hình khe hở môi Phương pháp Millard có ưu điểm là giấu được sẹo vào các đường
tự nhiên như nhân trung, nền mũi vì vậy kết quả phẫu thuật có tính thẩm mỹ hơn các phương pháp phẫu thuật khác
Hình 1.9: Phương pháp Millard (cổ điển) [24]
Tuy nhiên, phương pháp Millard cổ điển có nhược điểm là khả năng tăng chiều cao môi chưa hiệu quả, khi sẹo co kéo có thể gây hếch cung Cupidon Vì vậy, tác giả đã cải tiến cho phương pháp của mình vào năm
1964 với đường rạch “back-cut” ở chân vách mũi Năm 1968, tác giả cải tiến lần hai với việc tạo vạt tam giác nhỏ ở đường viền môi trắng và môi đỏ nhằm mục đích làm tăng chiều dài và cắt ngang hướng co của sẹo [13], [13], [34], [35], [36], [37]
Anstassov Y năm 2003, Kenneth E.S năm 2005, Rajanikanth năm 2012
và nhiều tác giả khác trên thế giới hiện nay sử dụng phương pháp Millard cải tiến để phẫu thuật cho bệnh nhân khe hở môi [16], [18], [38], [39]
Trang 171.2.2 Lịch sử các phương pháp tạo hình môi ở Việt Nam
Phẫu thuật khe hở môi đã được thực hiện tại Việt Nam bắt đầu từ năm
1956 ở khoa Răng Hàm Mặt bệnh viện Việt Đức và viện quân Y 108 Cho tới nay, nhiều phương pháp phẫu thuật đã được áp dụng, nhiều bệnh viện đã tiến hành các phẫu thuật khe hở môi và thu được kết quả tốt, như bộ môn phẫu thuật hàm mặt thuộc Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt tại bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương
Võ Thế Quang - Nguyễn Văn Thụ đã mổ khe hở môi theo phương pháp của Veau - Rosenthal vào những năm 1956 - 1958 Năm 1959 mổ ca đầu tiên theo phương pháp Tennison, năm 1960 mổ bệnh nhân đầu tiên theo phương pháp Le Mesurier Đến năm 1961, Võ Thế Quang là người đầu tiên dùng phương pháp Millard để phẫu thuật cho bệnh nhân khe hở môi
Năm 1962, Nguyễn Khắc Giảng và Nguyễn Văn Thụ đã cải tiến đường rạch và tạo thêm khe chêm cho phương pháp Le Mesurier
Năm 1981, Mai Đình Hưng áp dụng các phương pháp Trauner, Asension có cải biên để mổ cho những trường hợp KHM một bên rộng
Năm 1994, tác giả Nguyễn Viết Sơn áp dụng phương pháp Millard trong phẫu thuật khe hở môi một bên toàn bộ [40]
Năm 1995, tác giả Phạm Như Hoa ứng dụng phương pháp Millard cải tiến trong phẫu thuật khe hở một bên [41]
Năm 2009, tác giả Nguyễn Văn Minh ứng dụng tạo hình chữ Z ở trên đường viền da - môi đỏ trong phương pháp Millard mổ khe hở môi một bên toàn bộ [42]
Năm 2013, tác giả Trần Phương Bình ứng dụng phương pháp Millard cải tiến trong phẫu thuật khe hở môi một bên toàn bộ [43]
Cho đến nay, nhiều phẫu thuật viên ở Việt Nam thường dùng phương pháp Millard cải tiến để phẫu thuật cho bệnh nhân khe hở môi
Trang 181.2.3 Lịch sử phẫu thuật tạo hình mũi thì đầu ở trẻ khe hở môi một bên toàn bộ trên thế giới
Trước đây, việc tạo hình mũi thì đầu cùng với tạo hình môi được ít phẫu thuật viên quan tâm Khi các kỹ thuật tạo hình môi phát triển, các phẫu thuật viên cũng dần quan tâm tới việc tạo hình mũi thì đầu
Nhiều kỹ thuật tạo hình mũi thì đầu được sử dụng Tuy nhiên, mỗi kỹ thuật đều có ưu nhược điểm riêng, chưa có kỹ thuật nào có tính ưu việt hoàn toàn
Năm 1931, Joseph giới thiệu kỹ thuật tạo hình mũi hở với đường rạch qua trụ mũi để tạo hình mũi Kỹ thuật này được phát triển bởi Berkeley, tác giả sử dụng đường rạch qua trụ mũi, mở rộng qua viền lỗ mũi đến nếp mũi môi
Hiện nay, kỹ thuật này tiếp tục được một số nhà phẫu thuật sử dụng Tuy nhiên, kỹ thuật có nhược điểm lớn là để lại sẹo rõ và không tiếp cận và chỉnh được phần thấp của sụn cánh mũi
Năm 1953, Erich mô tả kỹ thuật được rạch qua 2 vòm lỗ mũi để nâng sụn cánh mũi bên khe hở cao ngang bên lành và khâu 2 vòm mũi với nhau
Năm 1967, kế thừa phương pháp tạo hình mũi trên, Bardach đưa phương pháp tạo hình mũi hở với đường rạch qua trụ mũi và vòm mũi 2 bên:
Trang 19Hình 1.10: Phương pháp tạo hình mũi của Bardach [24]
Phương pháp trên giúp các nhà phẫu thuật tiếp cận với toàn bộ sụn mũi để tạo hình Tuy nhiên nhược điểm là gây sẹo xấu, cần nhiều đường rạch, gây mất nhiều tổ chức sụn mũi, ảnh hưởng tới sự phát triển sụn mũi
Năm 1999, Kenneth E.S giới thiệu phương pháp tạo hình mũi thì đầu với các bước: [44]
- Đóng nền mũi
- Bóc tách điểm bám sai cơ ngang mũi, cơ vòng môi
- Bóc tách sụn cánh mũi và trụ mũi
- Khâu định hướng tạo hình lại trụ mũi, sụn cánh mũi
Phương pháp này được sử dụng rộng rãi và cho kết quả khả quan về thẩm
mỹ Việc bóc tách sụn cánh mũi bên khe hở không ảnh hưởng đến sự phát triển của sụn về sau và việc khâu phục hồi sụn cánh mũi vào đúng vị trí giải phẫu giúp sụn cánh mũi phát triển một cách bình thường hơn [45], [46], [47], [48]
Năm 2012, Rajanikanth áp dụng phương pháp Millard cải tiến kết hợp phương pháp tạo hình mũi thì đầu của tác giả Kenneth E.S ở bệnh nhân khe
hở môi một bên toàn bộ cho kết quả tốt 85% [38]
Trang 201.2.4 Lịch sử phẫu thuật tạo hình mũi thì đầu ở trẻ khe hở môi một bên toàn bộ ở Việt Nam
Việc tạo hình mũi thì đầu cùng tạo hình môi ở trẻ khe hở môi một bên toàn bộ ở Việt Nam chưa được quan tâm nhiều
Hiện nay, nhiều bác sỹ phẫu thuật quan tâm nhiều hơn việc tạo hình mũi thì đầu, phương pháp tạo hình mũi của tác giả Kenneth E.S được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, vẫn chưa có một nghiên cứu nào tại Việt Nam đánh giá kết quả của phương pháp tạo hình mũi thì đầu này
1.3 Nội dung phương pháp Millard cải tiến
Phương pháp Millard là phương pháp tạo hình chữ “Z” hay còn gọi là phương pháp vạt xoay đẩy được công bố năm 1957, kỹ thuật sử dụng vạt xoay đẩy bao gồm một vạt xoay từ bờ trong khe hở ra ngoài và một vạt đẩy từ
bờ ngoài khe hở vào trong [13]
Hình 1.11: Phương pháp Millard (cổ điển) [33]
Năm 1964, tác giả cải tiến thêm đường rạch “back-cut” ở chân vách mũi với mục đích hạ thấp thêm đỉnh cung cupidon bên môi bệnh và khâu kéo dài vách mũi [13]
Vạt xoay
Vạt đẩy
Trang 21Hình 1.12: Phương pháp Millard thêm đường Back-cut [7]
Năm 1968, tác giả cải tiến với việc tạo vạt tam giác nhỏ ở viền da làn môi
đỏ nhằm mục đích làm tăng chiều dài và cắt ngang hướng co của sẹo [13]
Hình 1.13: Phương pháp Millard vạt chèn tam giác [37]
Trang 22Góc vạt tam giác: Khi chiều dài của chữ Z được xác định, chiều dài cần thu được sau tạo hình hoàn toàn phụ thuộc vào độ lớn của góc vạt tam giác Khi góc này đạt 30 độ, chiều dài thu thêm trên lý thuyết là 25%, nếu tăng lên
60 độ, chiều dài tăng thêm 75%
Chiều dài của các đường rạch da: kích thước của đường rạch da của chữ
Z, đặc biệt đường rạch trung tâm quyết định chiều dài thực tế sau khi tạo hình
Chỉ định tạo hình vạt chữ Z nhằm mục đích:
+ Điều chỉnh sẹo nhờ khả năng thay đổi hướng sẹo theo nếp nhăn tự nhiên + Điều trị sự co kéo, co ngắn bằng đặc tính tăng độ dài vùng trung tâm Trong nghiên cứu này, việc dùng vạt chữ Z nhằm:
+ Làm tăng chiều cao môi bên khe hở
+ Phòng ngừa sẹo co kéo làm kéo hớt làn môi đỏ lên trên
Hình 1.14: Tạo hình chữ Z [50]
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Các bệnh nhân khe hở môi một bên toàn bộ được phẫu thuật bằng phương pháp Millard cải tiến và tạo hình mũi thì đầu tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội từ 6/2014 đến 10/2015
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
Tất cả bệnh nhân bị dị tật bẩm sinh khe hở môi một bên toàn bộ có đủ các tiêu chuẩn sau:
- Đủ tiêu chuẩn gây mê nội khí quản
- Các kết quả xét nghiệm sinh hoá, huyết học trong giới hạn bình thường
- Có khả năng theo dõi tái khám
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
Những bệnh nhân ở xa, tái khám khó, không đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn trên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng không đối chứng
Trang 242.2.2 Cỡ mẫu
2 2
2 1
) 1 (
d
p p
- d = 12% Thay vào công thức tính cỡ mẫu ta có n = 34
Trong nghiên cứu, chúng tôi có 35 bệnh nhân
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu chủ đích với tất cả những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn vào điều trị tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội từ tháng 6/2014 đến 10/2015 được PGS TS Lê Văn Sơn phẫu thuật
2.2.4 Kỹ thuật thu thập thông tin trước mổ
2.2.4.1 Phỏng vấn trực tiếp người nhà chăm sóc bệnh nhân: Theo mẫu bệnh
án nghiên cứu
2.2.4.2 Khám lâm sàng, đánh giá trước mổ
- Chuẩn bị phương tiện, dụng cụ
- Khám lâm sàng
- Chụp ảnh bệnh nhân [51], [52]
+ Tư thế đầu bệnh nhân:
Bệnh nhân phải nhìn thẳng ra phía trước, thẳng đầu, thấy được 2 tai
Trang 25Hình 2.1: Yêu cầu tư thế bệnh nhân [43]
Hình 2.2: Yêu cầu tư thế bệnh nhân [43]
+ Xác định vị trí chuẩn của đầu trước khi chụp:
Đường liên nhĩ: Đường ngang trên khuôn mặt, chạm vào điểm trên của cả 2 tai Đường này phải song song với mặt phẳng sàn
Đường thẳng song song với mặt phẳng Frankfort: điểm trên tai đến góc mắt Đường này phải song song với mặt phẳng sàn
Hình 2.3: Tư thế đầu [43]
Trang 26+ Chụp ảnh mặt thẳng trước mổ:
Đường từ bờ ngoài góc mắt đến đỉnh tai song song với mặt phẳng Frankfort
Vị trí đầu đối xứng (thấy được 2 tai trong hình)
Toàn bộ đầu được hiển thị: từ đỉnh đầu đến chân cổ và 2 tai
Hình ảnh rõ ràng, tập trung
+ Chụp ảnh mặt thẳng ngửa 45 độ trước mổ:
Nhìn rõ lỗ mũi để đánh giá sự đối xứng của mũi
Miệng hơi mở để xem được ranh giới môi khô môi ướt
Vị trí đầu đối xứng (thấy được 2 tai)
- Quy định cắt ảnh [51], [52]
+ Hình ảnh mặt thẳng cắt theo chiều dọc từ bờ dưới ổ mắt đến điểm thấp nhất của cằm Chiều ngang cắt từ góc bên ngoài của mỗi mắt + Hình ảnh mặt thẳng ngửa 45 độ: cắt theo chiều dọc từ đỉnh mũi đến giữa cằm Hình ảnh chiều ngang cắt từ góc bên ngoài của mỗi mắt
Hình 2.4: Tư thế bệnh nhân [43]
- Đánh giá trước mổ theo các biến số nghiên cứu sau:
+ Đánh giá mức độ nặng của khe hở theo thang điểm Mortier [17]
Trang 27Hình 2.5: Sơ đồ tính điểm mức độ nặng của khe hở [17]
Bảng 2.1 Phân loại mức độ nặng của khe hở
+ Đánh giá biến dạng môi [42], [43], [53]
Đánh giá mức độ chênh lệch chiều cao nhân trung
Đánh dấu điểm: điểm thấp nhất, cao nhất của cung Cupidon bên lành (điểm 1, 2), điểm 3 đối diện với 2 qua điểm 1
Cách đo: Đặt thước song song với đường nối qua hai đồng tử qua điểm 2, đo khoảng cách từ điểm 3 đến đường thẳng này
Chia làm hai nhóm:
Nhóm 1: chiều cao nhân trung chênh lệch ≥ 4mm
Nhóm 2: chiều cao nhân trung chênh lệch < 4mm
Lệch vách ngăn Biến dạng cánh mũi Sai vị trí chân cánh mũi Khe hở môi
Mấu tiền hàm Khe hở cung hàm
Trụ mũi ngắn Thiểu sản nhân trung
Khe hở vòm
Trang 28+ Đánh giá biến dạng mũi: dựa trên độ doãng rộng, xoắn vặn của cánh mũi, chia làm hai nhóm [42], [43], [53]:
Cánh mũi biến dạng nhiều: vừa bè thấp, doãng rộng, xoắn vặn
Cánh mũi biến dạng ít: bè thấp, doãng rộng
+ Đánh giá mức độ biến dạng trụ mũi:
Độ biến dạng của trụ mũi được đo bằng giá trị của góc tạo bởi trục giữa của mặt (đường thẳng vuông góc với đường nối hai đồng tử) và đường thẳng
đi qua chính giữa trụ mũi [8], [43]
Hình 2.6: Kỹ thuật đo độ lệch trụ mũi [8]
- Các tổn thương phối hợp kèm theo
Khe hở môi toàn bộ còn cầu da, khe hở cung răng, khe hở vòm miệng, các dị tật bẩm sinh khác
2.2.5 Phương pháp phẫu thuật Millard cải tiến kết hợp tạo hình mũi thì đầu
Bước 1: Chuẩn bị bệnh nhân
Bước 2: Đánh dấu các điểm mốc và đường rạch theo phương pháp Millard cải tiến [13]
Hình 2.7: Các điểm mốc giải phẫu khe hở môi [54]
Trang 29Bảng 2.2 Các điểm đánh dấu theo phương pháp Millard cải tiến
Điểm 1: điểm thấp nhất của cung
Điểm 2: điểm cao nhất của cung
Cupidon bên môi lành
Điểm 8: điểm cao nhất của cung Cupidon bờ ngoài khe hở môi Điểm 3: điểm cao nhất của cung
Cupidon bờ trong khe hở môi
Điểm 9: giới hạn đường rạch ở bờ ngoài khe hở
Điểm 4: chân cánh mũi bên lành Điểm 10: chân cánh mũi bên môi bệnh
Điểm 5: điểm giữa trụ mũi Điểm 11: điểm giao giữa rãnh mũi má
và rãnh chân cánh mũi Điểm 6: khoé mép bên môi lành
Trong đó các khoảng cách
1 - 2 = 1 - 3
2 - 6 = 7 - 8
3 - 5 = 8 - 9
Bước 3: Tiêm thuốc tê có chất co mạch
Bước 4: Tiến hành phẫu thuật theo phương pháp Millard cải tiến kết hợp tạo hình mũi thì đầu [13], [44], [45], [48], [55], [56]
- Rạch da, bóc tách, giải phóng vị trí bám sai của cơ
* Ở bờ trong khe hở:
Rạch tạo vạt chữ C, bóc tách nâng vạt chữ C để bộc lộ cơ vòng môi bên dưới Bóc tách giải phóng cơ vòng môi khỏi tổ chức dưới da và niêm mạc miệng Giải phóng cơ vòng môi khỏi chỗ bám vào gai mũi trước và chân trụ mũi Niêm mạc ở bờ trong khe hở được giữ lại để tạo nên niêm mạc ngách hành lang
Trang 30* Ở bờ ngoài khe hở:
Từ gốc chân cánh mũi, thực hiện rạch da vòng theo rãnh cánh mũi và một đường rạch từ đó đến điểm cao nhất của cung Cupidon Bóc tách dưới da
và niêm mạc giải phóng cơ, và giải phóng khỏi chỗ bám sai của cơ ngang mũi
và cơ vòng môi vào chân cánh mũi Niêm mạc ở bờ ngoài khe hở được xoay vào trong khâu đóng với niêm mạc mũi tạo nền mũi Rạch đường giảm căng ở niêm mạc ngách hành lang ở bờ ngoài khe hở
Hình 2.8: Các đường rạch tạo vạt [54]
Hình 2.9: Rạch bóc tách cơ vòng môi [44]
Hình 2.10: Bóc tách giải phóng cơ vòng môi [33]
Trang 31+ Bóc tách giải phóng điểm bám sai cơ vòng môi ở chân cánh mũi, bóc tách điểm bám sai của sụn cánh mũi
Hình 2.11: Bóc tách giải phóng sụn cánh mũi [44]
Bước 5: Khâu đóng
Thực hiện khâu đóng theo đúng trình tự các lớp từ lớp niêm mạc, lớp cơ
và ngoài cùng là khâu da
- Phục hồi nền mũi
Vạt niêm mạc ở bờ ngoài khe hở được khâu với niêm mạc mũi tạo nền mũi Phục hồi nền mũi nếu quá rộng, sử dụng vạt niêm mạc ở bờ ngoài khe hở xoay lên tạo thành niêm mạc nền mũi phía trong [57] Ngoài ra, chúng tôi rạch đường giảm căng vị trí niêm mạc ngách tiền đình bờ ngoài khe hở để khâu đóng tạo hình nền mũi
Trang 32Hình 2.12: Khâu phục hồi nền mũi [44]
- Phục hồi cơ vòng môi
Hình 2.13: Khâu phục hồi cơ vòng môi [44]
- Tạo hình chữ Z ở bờ trên đường viền da - môi đỏ
Ở bờ trong khe hở, thực hiện đường rạch khoảng 2mm ngay trên đường viền da - môi đỏ, đường rạch chếch lên trên 45 độ Ở bờ ngoài khe hở, đường rạch cách đường viền da - môi đỏ 2mm, đường rạch chếch 45 độ, dài 2mm, song song với đường rạch ở bờ trong Xoay hai vạt tam giác, khâu đóng
Hình 2.14: Tạo hình môi theo Millard kết hợp với tạo hình chữ Z [28]
Trang 33- Khâu da theo các điểm mốc đã được đánh dấu sau khi thực hiện đường rạch tạo hình chữ Z
- Khâu tạo hình mũi:
Khâu trụ mũi qua sụn vách ngăn đính vào đỉnh mũi bên phía đối diện và khâu định hướng sụn cánh mũi qua da trên cánh mũi về đúng vị trí giải phẫu
Hình 2.15: Khâu tạo hình mũi [44]
2.2.6 Theo dõi và đánh giá kết quả sau phẫu thuật
2.2.6.1 Đánh giá kết quả sau mổ 1 tuần:
Trang 342.2.6.2 Đánh giá kết quả sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng
- Khám lâm sàng
- Chụp ảnh mặt thẳng và mặt thẳng ngửa 45 độ sau mổ 1, 3, 6 tháng
- Đánh giá kết quả sau phẫu thuật
+ Các tiêu chuẩn hình thái môi mũi sau phẫu thuật theo phương pháp Millard cải tiến và tạo hình mũi thì đầu ở bệnh nhân khe hở môi một bên toàn bộ
Làn môi đỏ: Giới hạn bờ tự do của môi phải là đường cong liên tục không bị lõm, lồi Đường môi đỏ phải liên tục và nằm ở ranh giới môi khô môi ướt
Ngách tiền đình: Cân đối 2 bên
Môi trắng: Khoảng cách từ chân cánh mũi đến đường trắng phải cân đối cũng như góc tạo bởi môi da và đường viền môi phải cân đối
Cơ vòng môi không thiểu sản
Hình thể nhân trung cân đối: Hai điểm cao nhất của cung Cupidon phải nằm trên một đường song song với đường nối qua hai đồng tử, phải có sự liên tục của viền da môi đỏ
Sẹo: Sẹo dãn thẩm mỹ, giấu sẹo tốt
Lỗ mũi: Độ rộng lỗ mũi 2 bên cân đối
Trụ mũi: Trụ mũi nằm ở đường giữa mặt, hình thể hài hòa
Cánh mũi: Cánh mũi cuộn đều, cân xứng hài hòa 2 bên
Lỗ rò, tổn khuyết thứ phát: Không có lỗ rò và tổn khuyết thứ phát + Đánh giá kết quả sau phẫu thuật theo thang điểm Mortier [17]
Thang điểm Mortier đưa ra hình thái môi mũi cần được chỉnh sửa sau phẫu thuật và chấm điểm theo độ khó của phẫu thuật chỉnh sửa các hình thái này Mức độ khó của phẫu thuật chỉnh sửa càng cao thì điểm càng cao [17], [18], [38]
Trang 35Bảng 2.3 Thang điểm Mortier [17]
Đường viền môi không đều
Hình thể nhân
trung
Cung Cupidon và nhân trung
Trang 36Nền mũi
Trụ mũi
Cánh mũi
Trang 37Bảng 2.4 Đánh giá kết quả sau phẫu thuật [17], [18], [38]
2.3 Các sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Phẫu thuật viên có kinh nghiệm trong phẫu thuật khe hở môi vòm, thống nhất phương pháp phẫu thuật tạo hình môi mũi theo phương pháp Millard cải tiến và tạo hình mũi thì đầu
- Thống nhất kĩ thuật đánh giá theo tiêu chuẩn đánh giá trước và sau phẫu thuật
2.4 Phân tích số liệu
- Thu thập số liệu: qua khám lâm sàng, đánh giá trước phẫu thuật, kết quả sau phẫu thuật
- Nhập số liệu và phân tích số liệu: sử dụng phần mềm SPSS 16.0
2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này khi:
- Được hội đồng chấm đề cương của Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt – Trường Đại học Y Hà Nội thông qua
- Chúng tôi giải thích đầy đủ cho gia đình bệnh nhân về mục đích, yêu cầu
và nội dung của nghiên cứu, ưu nhược điểm của phương pháp điều trị Sau
đó những gia đình bệnh nhân nào tự nguyện hợp tác tham gia sẽ đưa vào nghiên cứu
- Bệnh nhân nghiên cứu sau phẫu thuật đều được theo dõi và tái khám định kỳ
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Qua nghiên cứu trên 35 bệnh nhân khe hở môi một bên toàn bộ tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2014 – 2015 được phẫu thuật tạo hình bằng phương pháp Millard cải tiến kết hợp tạo hình mũi thì đầu, chúng tôi thu được các kết quả như sau:
3.1 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân khe hở môi một bên toàn bộ tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội năm 2014 - 2015
3.1.1 Tỷ lệ phân bố theo giới
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới
Nhận xét:
- Tỷ lệ nam có khe hở môi toàn bộ một bên nhiều hơn nữ
- Trong đó tỷ lệ nam chiếm 74%, nữ chiếm 26%
Trang 39Tuổi bé nhất (tháng)
Nhận xét:
- Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong nghiên cứu là: 5,8 ± 2,1 tháng
- Trong đó, bệnh nhân lớn tuổi nhất là 16 tháng và bé tuổi nhất là 4 tháng
Trang 403.1.4 Tỷ lệ bệnh nhân khe hở môi theo độ nặng khe hở
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ bệnh nhân khe hở môi theo độ nặng khe hở
Nhận xét:
- Tỷ lệ bệnh nhân trong nhóm mức độ nặng chiếm nhiều nhất 66%
- Tỷ lệ bệnh nhân trong nhóm mức độ trung bình chiếm 34%
- Không có bệnh nhân thuộc nhóm mức độ nhẹ
66% (23/35)
34% (12/35)
0
Nặng Trung bình Nhẹ