29 Bảng 3.9 : Hiểu biết của sinh viên về những thần kinh bị tổn thương trong bệnh phong ..... Trực khuẩn này tác động chủ yếu vào da, thần kinh ngoại vi nhưng trong vài thể bệnh của M.le
Trang 1***
ĐỖ THỊ THẢO
KHẢO SÁT KIẾN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG
ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VỀ BỆNH PHONG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
Khoá 2009 – 2015
Chuyên ngành: Da Liễu
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS.NGUYỄN HỮU SÁU
HÀ NỘI – 2015
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới :
Ban Giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội, Ban Giám đốc bệnh viện Da Liễu Trung Ương , phòng Quản lý đào tạo Đại học trường Đại học Y Hà Nội
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn Hữu Sáu, Thầy đã tận tình chỉ bảo và dìu dắt tôi trong quá trình nghiên cứu và tôi cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn tới PGS.TS.Lê Trần Ngoan, giảng viên bộ môn Y Học Lao Động, Thầy đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cám ơn các thầy, cô trong Hội Đồng chấm luận văn, những người đã đánh giá công trình nghiên cứu của tôi một cách công minh Mọi ý kiến đóng góp của các thầy, cô sẽ là bài học quý giá, là hành trang cho tôi trên con đường nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cám ơn tất cả các bạn sinh viên trường Đại Học Y
Hà Nội, đặc biệt là các bạn sinh viên Y4, Y5, Y6, những người đã nhiệt tình tham gia nghiên cứu và giúp đỡ tôi hoàn thành nghiên cứu này
Cuối cùng, tôi gửi lời biết ơn tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn
ở bên cạnh tôi, chăm sóc, giúp đỡ về mặt tinh thần để tôi có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ nghiên cứu khoa học của mình
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2015
ĐỖ THỊ THẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
“Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của nhóm nghiên cứu chúng tôi Các số liệu, kết quả trong khoá luận là hoàn toàn trung thực và chưa được cá nhân, tổ chức công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào”
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2015
ĐỖ THỊ THẢO
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I TỔNG QUAN 3
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH PHONG 3
1.2 DỊCH TỄ HỌC 3
1.2.1.Vi khuẩn mycobacterium Leprae 3
1.2.2 Nguồn nhiễm khuẩn 4
1.2.3 Đường truyền bệnh 4
1.2.4 Vật chủ trung gian 4
1.2.5 Đường xâm nhập vào cơ thể 4
1.2.6 Cơ thể cảm thụ 5
1.3 BỆNH HỌC VÀ LÂM SÀNG 5
1.3.1 Thời gian ủ bệnh 5
1.3.2 Triệu chứng sớm 5
1.3.3 Phân loại 5
1.3.4 Triệu chứng lâm sàng 7
1.4 TỔN THƯƠNG CÁC CƠ QUAN TRONG BỆNH PHONG 10
1.4.1 Thương tổn thần kinh trong bệnh phong 10
1.4.2 Tổn thương mắt 12
1.4.3 Tổn thương xương 12
1.4.4 Tổn thương các cơ quan khác 13
1.5 PHẢN ỨNG PHONG 13
1.5.1 Phản ứng phong loại 1 ( phản ứng đảo ngược ) 14
1.5.2 Phản ứng phong loại 2 ( phản ứng hồng ban nút ) 14
1.6 CÁC DỊ HÌNH TÀN TẬT TRONG BỆNH PHONG 15
1.7 CHẨN ĐOÁN BỆNH PHONG 16
1.7.1 Chẩn đoán xác định 16
1.7.2 Chẩn đoán phân biệt 16
1.8 ĐIỀU TRỊ 17
1.8.1 Tiến triển bình thường của bệnh phong nếu không được điều trị 17 Thể phong cần điều trị 17
1.8.2 Điều trị 17
1.9 DỰ PHÒNG 19
1.10 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH PHONG 19
1.10.1 Thế giới 19
1.10.2 Việt Nam 19
CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu 21
Trang 52.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu: 22
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.2.1 Kỹ thuật thu thập số liệu: 22
2.2.2 Phương pháp thu thập 23
2.2.3 Xử lý số liệu 23
2.2.4 Khía cạnh đạo đức của đề tài 24
2.2.5 Hạn chế trong nghiên cứu 24
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ BỆNH PHONG 26
3.1.1 Kiến thức của sinh viên về bệnh phong 26
3.1.2 Thái độ của sinh viên đối với bệnh nhân phong 33
và người nhà của họ 33
3.2 Ý KIẾN CỦA SINH VIÊN VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY BỆNH PHONG 34
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 36
4.1.KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ BỆNH PHONG 36
4.1.1 Kiến thức của sinh viên về bệnh phong 36
4.1.2 Thái độ của sinh viên đối với bệnh nhân phong 48
và người nhà của họ 48
4.2.Ý KIẾN CỦA SINH VIÊN VỀ CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY BỆNH PHONG 51
4.2.1 Mức độ cần thiết khi đưa bệnh phong vào chương trình giảng dạy 51 4.2.2 Khả năng hiểu bài khi nghe giảng của sinh viên 52
4.2.3 Thời gian giảng lý thuyết 53
4.2.4 Thời gian giảng lâm sàng 53
KẾT LUẬN 55
KIẾN NGHỊ 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 1 BỘ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 60
PHỤ LỤC 2 67
Trang 6nghiên cứu )
7 M.tubeculosis Mycoacterium tubeculosis
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 : Đặc điểm của sinh viên được khảo sát 25
Bảng 3.2 : Hiểu biết của sinh viên về tên vi khuẩn gây bệnh phong 26
Bảng 3.3 : Hiểu biết của sinh viên về đặc điểm của vi khuẩn gây bệnh phong 26 Bảng 3.4 : Hiểu biết của sinh viên về ổ phát triển của vi khuẩn gây bệnh phong 27
Bảng 3.5 : Hiểu biết của sinh viên về đường lây bệnh của vi khuẩn gây bệnh phong 27
Bảng 3.6 : Hiểu biết của sinh viên về khả năng lây bệnh của vi khuẩn gây bệnh phong 28
Bảng 3.7 : Hiểu biết của sinh viên về biểu hiện sớm của bệnh phong 28
Bảng 3.8 : Hiểu biết của sinh viên về cơ quan hay bị tổn thương nhất trong bệnh phong 29
Bảng 3.9 : Hiểu biết của sinh viên về những thần kinh bị tổn thương trong bệnh phong 29
Bảng 3.10 : Hiểu biết của sinh viên về nguyên nhân gây ra tàn tật trong bệnh phong 30
Bảng 3.11 : Hiểu biết của sinh viên về khả năng khỏi của bệnh phong 30
Bảng 3.12 : Hiểu biết của sinh viên về phác đồ điều trị bệnh phong 31
Bảng 3.13 : Hiểu biết của sinh viên về thời gian điều trị bệnh phong 31
Bảng 3.14 : Hiểu biết của sinh viên về nơi điều trị bệnh nhân phong 32
Bảng 3.15 : Hiểu biết của sinh viên về việc cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân phong 32
Bảng 3.16 : Hiểu biết chung của sinh viên về bệnh phong 33
Bảng 3.17 : Thái độ của sinh viên với bệnh nhân phong và người nhà của họ33 Bảng 3.18 : Ý kiến của sinh viên về mức độ cần thiết khi đưa bệnh phong vào chương trình giảng dạy 34
Bảng 3.19 : Mức độ hiểu bài khi nghe giảng của sinh viên 34
Bảng 3.20 : Ý kiến của sinh viên về thời lượng giảng lý thuyết và lâm sàng về bệnh phong 35
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh phong là bệnh nhiễm khuẩn mạn tính gây ra bởi Mycobacterium Leprae Trực khuẩn này tác động chủ yếu vào da, thần kinh ngoại vi nhưng
trong vài thể bệnh của M.leprae có thể thấy ở nhiều nơi như niêm mạc đường
hô hấp trên, cơ trơn, cơ vân, tủy xương, gan, lách, hạch…[ 1 ] [ 2 ] [10 ] [12 ]
Tuy là một bệnh truyền nhiễm nhưng bệnh phong có tính chất lây bệnh thấp, không gây chết người như lao, sốt rét…nhưng nếu bệnh không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì sẽ nhiễm vào dây thần kinh gây tổn thương thần kinh dẫn đến các dị hình, các tàn tật sau này [ 1 ] [15 ]
Sự nghiêm trọng của bệnh phong so với các bệnh khác không thể chỉ tính bằng tỷ lệ lưu hành mà còn phải xét đến thời gian kéo dài của bệnh, nhưng tàn tật mà nó gây ra, sự tàn tật này không chỉ ảnh hưởng đến bản thân bệnh nhân, đến công việc hàng ngày của bệnh nhân mà còn gây nên những nhận thức không đúng về bệnh, khiến bệnh nhân phong phải sống trong sự kỳ thị, xa lánh của gia đình và xã hội Chính những ghánh nặng bệnh tật mà bệnh nhân phải chịu đựng cùng với những thành kiến lâu đời của xã hội đã khiến bệnh nhân phong có một cuộc sống vô cùng cùng cực
Trong số tất cả các bệnh mà chúng ta được biết thì chưa có bệnh nào lại bị xã hội kỳ thị đến vậy, cũng chưa có bệnh nào mà lại gây ảnh hưởng nhiều đến thế cho bệnh nhân và gia đình của họ Sự lo lắng đó có thể theo đuổi họ đến suốt cuộc đời, ảnh hưởng tới không những công việc của họ mà cả những sinh hoạt hàng ngày, những giao tiếp xã hội thường ngày nhất Nhưng hiện nay tình hình đó đang dần được cải thiện tuy nhiên những thành kiến vẫn còn ở một mức độ nào đó mà chúng ta không thấy có ở những bệnh nhân khác
Để bệnh nhân phong có một cuộc sống tốt hơn, ngoài việc quan tâm đến công tác phát hiện sớm và điều trị bệnh phong, chúng ta cần quan tâm và đẩy mạnh
Trang 9hơn nữa công tác truyền thông, giáo dục về bệnh nhằm giúp cho người dân có nhận thức đúng về bệnh, tránh những quan niệm, thái độ sai lầm với bệnh nhân phong và gia đình của họ Muốn đạt được điều đó, trước hết những lực lượng y tế hiện nay và sau này, đặc biệt là sinh viên y khoa cần có kiến thức vững vàng, thái độ đúng đắn và thực hành thật tốt về bệnh phong để có thể mang những kiến thức đó đi tuyên truyền cho người dân và xã hội
Ở Việt Nam đã có rất nhiều các nghiên cứu về bệnh phong [9] [11] [13] [15].Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào về hiểu biết, thái độ, thực hành của sinh viên y khoa đối với bệnh nhân phong Để khảo sát về vấn đề này cũng như để làm sáng tỏ hơn về sự khác biệt giữa sinh viên chưa được học qua bộ môn da liễu (sinh viên Y4) với sinh viên đã học qua bộ môn da liễu (sinh viên
Y5, Y6) Chúng tôi thực hiện đề tài sau: KHẢO SÁT KIẾN THỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VỀ BỆNH PHONG Nhằm
Trang 10CHƯƠNG I TỔNG QUAN
1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH PHONG
Bệnh phong là bệnh nhiễm khuẩn mạn tính gây nên bởi Mycobacterium Leprae (hay còn được gọi là trực khuẩn Hansen), là bệnh toàn thân nhưng nổi bật là tổn thương da và thần kinh Bệnh có tính chất lây lan qua đường da niêm mạc bị xây xát [1] [14] nhưng khả năng lây yếu và chậm Bệnh phong chủ yếu lưu hành ở một số nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Hiện nay bệnh còn lưu hành với tỷ lệ cao ở một số tỉnh ở miền Trung – Tây Nguyên [5] [9] Nước ta đã loại trừ được bệnh phong ở cấp quốc gia tuy nhiên chưa loại trừ được ở cấp tỉnh.[14] [12]
1.2 DỊCH TỄ HỌC
1.2.1 Vi khuẩn mycobacterium Leprae [1] [13] [18]
M.leprae hay trực khuẩn Hansen được Hansen tìm ra năm 1873, đến
năm 1874 ông công bố nghiên cứu này tuy nhiên phải đến năm 1909 thì nghiên cứu của ông mới được công nhận [1] [7]
M.leprae là một Schizomycete thuộc bộ acti – nomycetales và thuộc họ
Mycobacteriacea Có dạng hình gậy thẳng hoặc hơi cong, kháng cồn kháng toan dài từ 1 – 8µm rộng 0.2 – 0.5 µm Các đầu có thể nhọn hay cùn nhụt
Thời gian thế hệ của M.leprae là 2 tuần, đun sôi có thể giết được M.leprae,
khi ra ngoài cơ thể sống được từ 1 – 7 ngày.[1] [7] [8]
Cho đến nay vẫn chưa nuôi cấy được M.leprae trên môi trường nhân tạo Vào những năm 1868 – 1875, Profita và Gaguina đã tiêm M.leprae vào
cơ thể người nhưng cũng không ai bị nhiễm Những nghiên cứu tương tự của Hansen vào năm 1879, của Arning năm 1884 và của Monritz năm 1916 cũng cho kết quả tương tự [3] [8]
Trang 111.2.2 Nguồn nhiễm khuẩn
Người bị bệnh phong là nguồn nhiễm khuẩn chủ yếu ngoài ra có thể là loài Armadillo hoang dại, vượn, khỉ Mangabey [1] [8] Trong đó những bệnh nhân bị phong u hoặc phong u lưỡng dạng có dương tính với vi khuẩn học là nguồn lây mạnh nhất Vi khuẩn có thể được bài tiết qua nước bọt, nước mũi, dịch rỉ từ những vết loét trên da, bã nhờn, mồ hôi, sữa…Ngoài ra các ca không phải phong u hoặc âm tính với vi khuẩn học thì ít có vai trò làm nguồn lây nhiễm
1.2.3 Đường truyền bệnh [ 2 ] [ 3 ] [ 7 ]
Phần lớn mọi người đều thừa nhận rằng bệnh phong có tính nhiễm khuẩn cao nhưng tính gây bệnh thấp hay nói cách khác nó là bệnh truyền nhiễm yếu, chậm Vì tới nay vẫn chưa gây bệnh được trên thực nghiệm nên con đường lây truyền bệnh phong vẫn còn là những giả thuyết, có giả thuyết cho rằng bệnh phong lây qua đường hô hấp, cũng có giả thuyết cho rằng bệnh phong lây qua đường tiêu hóa…tuy nhiên cho tới nay giả thuyết bệnh phong lây qua da niêm mạc bị xây xát được ủng hộ hơn cả.[8]
Qua những nghiên cứu người ta thấy rằng tỷ lệ mắc bệnh ở người tiếp xúc cao gấp 4 lần so với những người không tiếp xúc, người tiếp xúc trong nhà cao gấp 10 lần so với người thường và tỷ lệ đó có thể tăng gấp 2 nếu trong 1 hộ gia đình có nhiều bệnh nhân phong u.[3] [8]
1.2.5 Đường xâm nhập vào cơ thể [1]
- Chủ yếu là qua da niêm mạc bị xây xát
Trang 121.2.6 Cơ thể cảm thụ [1] [9] [12]
1.2.6.1 Theo lứa tuổi
- Trẻ em dễ mắc bệnh phong hơn người lớn
1.2.6.2 Theo giới tính
- Nam / nữ = 2 lần
1.2.6.3 Các nhân tố khác
- Sự mẫn cảm của từng cá thể
- Chủng tộc : Một số chủng tộc mẫn cảm hơn với bệnh phong
- Khí hậu : Hay gặp ở các nước nhiệt đới, có nhiều mưa hàng năm
- Chế độ ăn : ít liên quan đến phát sinh bệnh mà liên quan chủ yếu đến việc thuyên giảm bệnh trong khi tiếp nhận điều trị Một chế độ ăn toàn diện, đầy đủ có thể giảm được những độc hại của các loại thuốc trong quá trình điều trị
1.3.3.1 Phân loại Madrit [1] [10]
- Thể I : Thể vô định, tức giai đoạn sớm của bệnh
- Thể T: Thể củ
- Thể B : Thể trung gian
- Thể L : thể u (hay còn gọi là thể ác tính)
1.3.3.2 Phân loại theo vi trùng [3] [10]
Để tiện lợi cho điều trị người ta chia ra thể ít vi trùng và thể nhiều vi trùng
Trang 13- Nhóm ít vi khuẩn (Pauci Bacilary – PB), nhóm này vi khuẩn học âm tính, thường là những bệnh nhân thể I và thể T
- Nhóm nhiều vi khuẩn (MultiBaucilary – MB), nhóm này dương tính với vi khuẩn học, thường gặp là những bệnh nhân thể B và L
1.3.3.3 Phân loại Ridley và Jopling [1] [10] [13]
Miễn dịch trong bệnh phong là miễn dịch qua trung gian tế bào
Phân loại theo miễn dịch của bệnh phong, trong đó có các thể phong sau:
- TT: Thể củ cực, thể ít vi khuẩn nhất và ứng với miễn dịch qua trung gian tế bào của cơ thể là mạnh nhất
- BT: Thể lưỡng dạng củ, là thể có miễn dịch qua trung gian tế bào thấp hơn thể TT
- BB: Lưỡng dạng thực sự, là thể có miễn dịch qua trung gian tế bào thấp hơn thể BT nhưng cao hơn BL
- BL: Thể lưỡng dạng u, là thể có miễn dịch qua trung gian tế bào thấp hơn BB nhưng cao hơn thể LL
- LL: Phong u, là thể có nhiều vi khuẩn nhất và ứng với nó là đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào là thấp nhất
LL BL BB BT TT
Hình 1: Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào của các thể phong
Trang 141.3.4 Triệu chứng lâm sàng
1.3.4.1 Phong củ (TT) [7] [10]
- Là thể phong mà trong đó đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào là mạnh nhất và thường âm tính về vi khuẩn học
- Thương tổn da vắng mặt và thường mắc bệnh phong thuần túy Thường xảy
ra ở chỗ mát nhất đó là những thần kinh nằm gần mặt da như thần kinh giữa, thần kinh trụ, thần kinh quay, thần kinh mác chung, thần kinh chày sau…-> mất cảm giác , yếu cơ
- Nếu sức đề kháng của bệnh nhân không đủ để giữ vi khuẩn phong ở trong dây thần kinh, trực khuẩn sẽ ra ngoài da gây nên những u hạt dạng củ, hủy hoại các nang lông, bã nhờn, tuyến mồ hôi trong thương tổn
- Trực khuẩn khó tìm thấy ở thương tổn da nhưng ở các hạch ngoại vi, cơ vân, thần kinh ngoại biên có thể dễ thấy hơn
- Triệu chứng lâm sàng:
Thương tổn da ít chỉ có 2 – 3 thương tổn, kích thước thường dưới 10cm
Không đối xứng, có giảm sắc trên da, màu thẫm, hồng, dễ nhìn thấy,
bờ rõ, ở dạng dát hoặc hơi nhô lên ở bờ
Có các củ nhỏ hoặc lớn
Dây thần kinh thường to ra: trực khuẩn phong ưa thích dây thần kinh theo thứ tự: thần kinh trụ ngay trên rãnh mỏm khuỷu, rồi tới dây thần kinh chày sau phía sau mắt cá trong, dây thần kinh mác chung trong
hố khoeo và gần chỗ lượn quanh cổ xương mác, thần kinh quay, thần kinh mặt, thần kinh giữa…cùng với triệu chứng dây thần kinh to ra
đó là các triệu chứng của kiến bò, tê bì, mất cảm giác, yếu cơ, liệt…
Đặc điểm của phong củ là sự ổn định của bệnh, không có sự gieo rắc
và lan cục bộ, ít xảy ra phản ứng và khuynh hướng khỏi tự phát, điều
Trang 15trị kịp thời sẽ hạn chế được các thương tổn thần kinh
Các dát này thường không mất cảm giác, không có rụng lông và tóc
- Thời kỳ tiến triển, da nhô cao lên, dầy lên rõ ở mặt, đặc biệt ở trán, thùy tai, lông mày, mũi và 2 bên má Da dầy lên phát triển thành các nếp gấp sệ xuống tạo nên ‘ BỘ MẶT SƯ TỬ ‘.Đến lúc này da mất cảm giác, giảm tiết mồ hôi,
sự tăng tiết mồ hôi nơi không bị bệnh sẽ bù lại đặc biệt là ở nách
- Tổn hại thần kinh trong phong u thường diễn ra muộn
- Phong u không có sự thuyên giảm tự nhiên, không có sự đảo ngược về phía
củ, không gặp phản ứng loại 1, thường gặp phản ứng loại 2 ( phản ứng kháng nguyên – kháng thể ) Nguyên nhân tử vong trong thể phong u: suy thận, nhiễm khuẩn cấp, nhiễm khuẩn máu, nhiễm khuẩn sinh mủ tại những nơi mất cảm giác, lao…
1.3.4.3 Phong lưỡng dạng (BB)
- Là sự pha trộn giữa phong u và phong củ
Trang 16- Thương tổn da nhiều nhưng không nhiều bằng phong u với đặc điểm : các dát thay đổi về kích cỡ và hình dáng, một số giới hạn rõ, một số giới hạn không rõ
- Dây thần kinh thường bị nhiễm bệnh theo một mẫu không cân đối
- Các biểu hiện xâm nhiễm của trực khuẩn phong vào niêm mạc mũi, mắt, xương và tinh hoàn hiếm thấy
- Là thể phong bất ổn, sự cân bằng giữa miễn dịch và trực khuẩn phong chỉ là mỏng manh, tạm thời bởi vậy dễ dẫn tới sự lấn át của 1 trong 2 yếu tố tạo nên tính thay đổi của thể bệnh này
- Hay gặp phản ứng phong loại 1(phản ứng đảo ngược)
1.3.4.4 Phong lưỡng dạng củ (BT)
Thương tổn da giống như phong củ nhưng luôn có biểu hiện là bệnh không được kìm lại Đặc điểm của tổn thương da : Bờ tổn thương có thể một phần thay đổi dần, không thấy ranh giới rõ với vùng da bình thường, có thể có các thương tổn vệ tinh nhỏ, số lượng thương tổn thường nhiều hơn phong củ, các tổn thương này mất cảm giác Dây thần kinh cũng bị tổn hại nhiều hơn trong phong củ
Mất cảm giác không cân đối tuyệt đối
Dây thần kinh to sớm hơn so với phong u
Trang 17- 3/4 khỏi tự phát, 1/4 có thể trở thành bất cứ thể phong nào
1.4 TỔN THƯƠNG CÁC CƠ QUAN TRONG BỆNH PHONG
1.4.1 Thương tổn thần kinh trong bệnh phong [ 2] [4]
- Vi khuẩn M.leprae là loại vi khuẩn có ái tính cao với hệ thần kinh và chúng
thường gây tổn thường ở dây thần kinh ngoại vi là nơi có nhiệt độ thấp, chúng không có mặt ở thần kinh trung ương Bởi vậy thương tổn sớm nhất trong bệnh phong đó chính là thương tổn thần kinh, bệnh nhân thường phàn nàn về cảm giác tê bì, kiến bò, buồn buồn, hoặc giảm cảm giác nóng lạnh ở các vùng
da trên cơ thể
- Thương tổn thần kinh bao gồm cả thần kinh vận động, thần kinh cảm giác và thần kinh thực vật Với thần kinh vận động, ở chi trên hay gặp tổn thương dây thần kinh trụ, thần kinh giữa, thần kinh quay Ở chi dưới hay gặp tổn thương dây thần kinh mác chung, dây thần kinh chày sau (dây hông khoeo ngoài) ở mặt hay gặp với nhánh gò má của thần kinh mặt hoặc toàn bộ dây thần kinh mặt Hậu quả của các tổn thương dây thần kinh vận động này dẫn tới bệnh nhân bị yếu chi, liệt chi, teo cơ Tuy nhiên tổn thương thần kinh vận động thường đến muộn hơn thần kinh cảm giác
- Thương tổn thần kinh cảm giác:
Thường gặp với tất cả các dây thần kinh vừa nêu trên phần vận động
Đây là tổn thương sớm và thường gặp nhất
Trang 18 Là một trong các dấu hiệu để phát hiện sớm bệnh nhân bị bệnh phong
Điều trị và can thiệp sớm trong giai đoạn này bệnh nhân có thể khỏi hoàn toàn
Bệnh nhân thường mất cảm giác nóng lạnh trước sau đó mất cảm giác sờ mó và cuối cùng là mất cảm giác đau
- Thương tổn thần kinh thực vật:
Tổn thương thần kinh thực vật gây nên giảm tiết mồ hôi dẫn tới khô
da, đây là một điều kiện thuận lợi cho những nhiễm khuẩn khác và hậu quả là những tàn tật sau này mà bệnh nhân phải ghánh chịu
Da cũng là một trong các cơ quan tham gia vào hoạt động điều hòa thân nhiệt cho cơ thể, khi da khô hoạt động này bị ảnh hưởng đáng
kể
- Tổn hại thần kinh trong bệnh phong hay gặp ở những đợt phản ứng phong trong quá trình bị bệnh Phản ứng đảo ngược ở phong lưỡng dạng là phản ứng nguy hiểm nhất cho liệt thần kinh Trong thể phong củ thường có ít dây thần kinh bị liên quan bởi vậy hay gây liệt cục bộ và chọn lọc nhưng một khi đã bị thì rất nặng và cũng rất khó để hồi phục Trong phong u có nhiều dây thần kinh bị liên quan nhưng quá trình tổn thương này diễn ra chậm chạp nếu phát hiện sớm và uống thuốc kịp thời thì khỏi hoàn toàn, không để lại di chứng gì
về thần kinh Trong phong lưỡng dạng cũng gây tổn thương nhiều dây thần kinh và khả năng tổn hại cũng rất cao
- Lâm sàng:
Mất cảm giác tại nơi thương tổn da: thường đặc trưng cho phong củ
và lưỡng dạng, phong u và bất định thường không mất cảm giác mà chỉ giảm cảm giác
Mất cảm giác vùng: một vùng theo giải phẫu đường đi của dây thần
Trang 19kinh bị mất cảm giác, phong củ thường chỉ 1 dây thần kinh bị nhiễm bệnh, phong lưỡng dạng có nhiều dây thần kinh bị nhiễm, phong u cũng có nhiều dây thần kinh bị nhiễm và thường đối xứng
Mất cảm giác kiểu tất tay tất chân: là kiểu mất cảm giác toàn bộ bàn tay bàn chân, khi phát triển đầy đủ nó lan rộng lên tới khuỷu tay, đầu gối và hiếm khi vượt quá khu vực này Mất cảm giác loại này không theo thứ tự phân bố của dây thần kinh riêng biệt mà gây ra bởi sự hủy hoại của nhiều nhánh da nhỏ của thần kinh cảm giác, thường gặp
ở phong u và gần u, mất cảm giác loại này không bao giờ hồi phục
Khi tổn thương dây vận động sẽ có biểu hiện liệt, yếu, teo cơ
Tổn hại thần kinh thực vật gây giảm tiết mồ hôi mà biểu hiện lâm sàng có thể thăm khám được đó là da khô và dễ nhiễm khuẩn
Đặc biệt có thể gặp apxe thần kinh, hay gặp ở phong củ, gặp ở nam nhiều hơn nữ và điều trị cũng dẫn lưu mủ như các loại apxe khác
1.4.2 Tổn thương mắt [1] [2] [4]
- Tổn thương mắt gặp trọng bệnh phong được gây nên bởi hai cơ chế:
Cơ chế trực tiếp: Do sự có mặt của trực khuẩn Hansen trong mắt gây tổn thương các cấu trúc của mắt
Cơ chế gián tiếp : Do vi khuẩn M.leprae gây tổn thương dây V, dây
VII gây hở mi, khô mắt hậu quả là mù
1.4.3 Tổn thương xương [ 1 ] [ 2 ] [ 4 ]
- Thường là hậu quả của tổn thương thần kinh, có các cơ chế gây tổn thương sau:
Do tác động trực tiếp của M.leprae trong xương
Do hậu quả của tổn thương thần kinh cảm giác -> dễ chấn thương và nhiễm khuẩn Mặt khác khi thần kinh bị hỏng dẫn tới cơ chế tự sửa chữa và thay thế tổ chức xương bị giảm sút
Trang 20 Do liệt vận động dẫn tới giảm sử dụng các chi -> loãng xương
- Hay gặp nhất là với các xương bàn tay bàn chân, tuy nhiên cũng có gặp những biến đổi ở thần kinh sọ Đó là teo gai mũi trước gây xẹp mũi, teo mỏm
ổ răng ở xương hàm gây mất răng cửa trên, cả hai biến đổi này được đặt tên là
“BỘ MẶT PHONG”
1.4.4 Tổn thương các cơ quan khác [1] [2] [4]
- Tổn thương phủ tạng: gan, lách, hạch, tủy xương, sinh dục đều có thể bị tổn thương
- Tổn thương mũi: Có thể gây nên xẹp sống mũi, hẹp lỗ mũi, tịt hoàn toàn hai
lỗ mũi gây giọng nói mũi
- Tổn thương thanh quản: mất giọng, khàn tiếng, giọng the thé
Trang 211.5.1 Phản ứng phong loại 1 (phản ứng đảo ngược)
- Gây ra do sự tăng khả năng của hệ thống miễn dịch của bệnh nhân chống lại
M.leprae Nó là một phản ứng quá mẫn do phản ứng quá mức của hệ miễn
dịch cơ thể Thường gặp ở phong lưỡng dạng BT, BB, BL và cực đại ở BB Không gặp ở phong thể LL, TT
- Phản ứng thường cực kỳ nghiêm trọng, biểu hiện lâm sàng là các tổn thương
da sưng nhanh, rất đau nhất là khi sờ vào, nhiều thương tổn mới có thể xuất hiện
- Dây thần kinh: nhiều dây thần kinh bị liên can, sưng lên đau, mềm, tiếp theo
là tổn hại thần kinh lan rộng ảnh hưởng tới chức năng vận động và có thể gây liệt nhanh chóng
- Toàn thân: sốt, khó chịu, phù lan rộng đặc biệt ở bàn tay, bàn chân, mặt
1.5.2 Phản ứng phong loại 2 (phản ứng hồng ban nút)
- Hiện nay đa số tán thành quan điểm hồng ban nút phong là mô hình phản ứng dị ứng với các độc tố của vi khuẩn do dòng máu mang tới
- Như vậy nó là một rối loạn của miễn dịch dịch thể và có thể được coi như một biểu hiện lâm sàng của hiện tượng Arthus
- Chỉ số vi khuẩn học càng cao thì càng nhiều khả năng gây nên phản ứng loại
2
- Biểu hiện lâm sàng chủ yếu là ở da với đặc điểm : chủ yếu là ban đỏ, hòn xuất hiện ở mặt, tay, đùi, và các phần khác của cơ thể như bụng, ngực, lưng, màu đỏ tím nhiều cỡ to nhỏ khác nhau và thường tăng cảm giác Nếu phản ứng nhẹ thì thương tổn sẽ mất đi sau vài ngày, thường không sốt Nếu phản ứng nặng thương tổn xuất hiện liên tiếp ngày nọ sang ngày kia, đợt này qua đợt khác có thể ở khắp cơ thể nhưng nặng nhất vẫn là ở mặt và các chi, chúng
có thể hợp với nhau thành mảng dưới da và loét, có thể kèm sốt 39- 40 độ, toàn thân mệt mỏi khó chịu, chán ăn Ngoài ra có thể có biển hiện sưng đau
Trang 22thần kinh nhẹ và thường không gây mất chức năng thần kinh nhanh chóng như phản ứng loại 1, đôi khi gặp viêm mống mắt, viêm tinh hoàn gây vô sinh, sưng đau hạch bạch huyết, viêm khớp, viêm cầu thận cấp
1.6 CÁC DỊ HÌNH TÀN TẬT TRONG BỆNH PHONG [ 8] [15] [16] [19]
- Nguyên nhân gây dị hình có nguyên nhân sơ phát và thứ phát:
Nguyên nhân sơ phát: tổn hại trực tiếp do hoạt tính cuả vi khuẩn và tổn hại gây ra bởi đáp ứng của tổ chức trước sự xâm lăng của vi khuẩn
Thứ phát: do sự mất cảm giác, liệt vận động dẫn tới không tiếp nhận đúng các kích thích từ môi trường như nóng, lạnh, đau…gây sưng phù, nhiễm khuẩn, hoại tử -> cụt dần từng ngón tay, ngón chân
Trang 231.7 CHẨN ĐOÁN BỆNH PHONG [1] [2 ] [4] [7] [10] [19]
1.7.1 Chẩn đoán xác định
- Dựa vào triệu chứng lâm sàng đã nêu ở trên
- Xét nghiệm tìm trực khuẩn Hansen ở dịch mũi, ở da
- Để chẩn đoán bệnh phong người ta làm xét nghiệm tìm trực khuẩn Hansen ở
da và niêm mạc mũi gọi là kích phết rạch da (Slit skin smear) cách làm như sau : sát khuẩn vùng da tổn thương nghi ngờ, căng da nhẹ, dùng dao sắc rạch nhẹ 1 đường dài khoảng 0,5 - 0,7 mm sâu đến chân bì, dùng lưỡi dao gạt nhẹ lớp mỏng tổ chức phết lên phiến kính, cố định, nhuộm ziehl đọc kính hiển vi tìm trực khuẩn Hansen, băng vết thương lại Phản ứng Mitxuda giúp tiên lượng thể củ, thể u Đánh giá tiên lượng thể bệnh thường (+) tính trong phong
củ, (-) tính trong thể phong u
1.7.2 Chẩn đoán phân biệt
- Phong u tổn thương là ban đỏ mảng cộp thường ở mặt mũi, trán tai có thể nhầm với dị ứng thuốc, chẩn đoán cần nghĩ đến bệnh phong thử cảm giác đau
và làm xét nghiệm tìm trực khuẩn Hansen
- Phong củ cần chẩn đoán phân biệt với bệnh nấm hắc lào vì cùng có đám mảng đỏ, có bờ viền, giới hạn rõ nhưng trong bệnh phong củ đám mảng đỏ ở
bờ là củ sẩn nhỏ, mất cảm giác đau và xét nghiệm tìm trực khuẩn Hansen dương tính, còn trong nấm hắc lào đám mảng đỏ hình đa cung, bờ viền rõ, bờ
có mụn nước, ngứa Xét nghiệm nấm (+) tính
Trang 241.8 ĐIỀU TRỊ [1] [2] [3] [7] [9] [11] [18] [19]
1.8.1 Tiến triển bình thường của bệnh phong nếu không được điều trị
Thể phong cần điều trị
Đường vi khuẩn vào cơ thể phong u
Nhiễm khuẩn ẩn lâm sàng phonglưỡng dạng
Phong bất định
- Xu hướng thế giới là xoá bỏ khu điều trị phong
- Điều trị như các bệnh nhân khác tại bệnh viện
- Đường lối chống phong của Việt Nam là " điều trị tại gia đình", thanh toán bệnh phong từng vùng
- Đa hoá trị liệu (Multidrug therapy) thay thế trị liệu đơn hoá trị liệu (DDS đơn thuần) để tránh nhờn thuốc, kháng thuốc
Trang 25- Phòng chống tàn phế, phục hồi chức năng bằng chăm sóc hướng dẫn cách tập luyện chăm sóc da để tránh tàn phế, điều trị sớm bằng vật lý trị liệu, chương trình giày dép cho bệnh nhân phong
- Công tác tuyên truyền nâng cao hiểu biết trong nhân dân về bệnh phong, xoá
bỏ thành kiến với bệnh phong, công tác quản lý hồ sơ chữa bệnh
1.8.2.2 Điều trị cụ thể
- Đa hoá trị liệu là chủ trương của tổ chức y tế thế giơí thay thế trị liệu đơn độc DDS sinh ra kháng thuốc, để đảm bảo chữa khỏi bệnh Phác đồ của tổ chức y tế y thế giới 1982
- Nhiều vi khuẩn (MB)
Rifampicin 300 mg x 2 viên (600 mg/ tháng lần , có kiểm tra)
Clofazimin 100 mg x 3 viên (300 mg/ tháng 1 lần có kiểm tra)
Clofazimin 50 mg / ngày tự uống
Thời gian 6 tháng sau đó ngừng thuốc theo dõi 3 năm
DDS Dapson (Diamino diphenyl sulfon) rẻ tiền, có tác dụng diệt khuẩn, dùng đường uống, dễ sử dụng Rifampicin (Rimactan, rifadin) diệt vi khuẩn nhanh, cắt đứt lây lan nhanh chóng
Clofazimin (lamprene B663) có tác dụng diệt khuẩn, tác dụng phụ là làm sẫm màu da vùng có ánh sáng chiếu vào
Ethionamit và prothionamit
Trang 26- Theo dõi phát hiện, điều trị sớm
- Chưa sản xuất thành công vắc xin phòng bệnh phong
1.10 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH PHONG
1.10.1 Thế giới
Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về điều trị, chẩn đoán sớm
về bệnh phong cũng như các loại hình tàn tật và cách phòng chống
Tuy nhiên vẫn chưa thấy có nghiên cứu nào về hiểu biết, thái độ, thực hành của sinh viên y khoa đối với bệnh nhân phong
1.10.2 Việt Nam
Như chúng ta đã biệt bệnh phong là một bệnh không nguy hiểm nếu chúng ta phát hiện và điều trị sớm bệnh nhân có thể có một cuộc sống hoàn toàn như bình thường Nhưng tại sao khi nói tới bệnh phong lại là nỗi lo sợ của bệnh nhân và người nhà của họ Đó là do những thành kiến từ lâu đời về bệnh phong vẫn chưa thực sự được xóa bỏ, bệnh nhân bị phong thường bị xa lánh và kỳ thị, họ không thể có cuộc sống được như một người bình thường nếu như hiểu biết của mọi người dân về bệnh phong vẫn chưa được đầy đủ và chính xác Như vậy vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta không chỉ điều trị bệnh phong đơn thuần mà chúng ta cũng cần phải chú trọng tới công tác tư vấn,
Trang 27công tác xã hội, tâm lý nhằm giúp bệnh nhân phong có một cuộc sống khỏe mạnh bình thường
Ở Việt Nam tuy đã có rất nhiều những nghiên cứu về lâm sàng cũng như điều trị bệnh phong [9] [12] [13] và những kết quả đó đã được áp dụng
để giúp giảm tỷ lệ mắc, giảm ghánh nặng bệnh phong ở nước ta một cách đáng kể như nghiên cứu của Vũ Triệu An, Phan Thu Anh, Nguyễn Kim Minh,
Tạ Thị Mến năm 1988 “ Thử tác dụng của Interleukin 2 trên tế bào hình thành hoa hồng ở bệnh phong thể ác tính “, hoặc nghiên cứu của Phạm Thị Lan năm
1993 “ Sơ bộ đánh giá kết quả điều trị bệnh phong bằng đa hóa trị liệu ở một
số tỉnh miền bắc 1983- 1992 “ hay nghiên cứu của Ngô xuân Nguyệt, Nguyễn Thị Quỳnh về “ Đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh phong của quận Hai Bà Trưng “ Và cũng có những nghiên cứu để khảo sát hiểu biết, thái độ, thực hành của người dân về bệnh phong [5] [6] như nghiên cứu của Nguyễn Sỹ Hóa, Đào Văn Dũng năm 2001 về “ Nhận thức về bệnh phong cả người dân ở
2 làng phong thuộc tỉnh Gia Lai “, hay nghiên cứu của Trần Văn Tiến năm
2012 về “ Thực trạng kiến thức, thái độ của người dân về bệnh phong ở 2 tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận “.Từ đó để có các kế hoạch hành động, tuyên truyền và giáo dục giúp người dân nhận thức đúng về bệnh tránh những hiểm lầm và sự kỳ thị đối với bệnh nhân phong và gia đình của họ Muốn để người dân có nhận thức đúng thì các cán bộ y tế, các sinh viên của các trường đại học, cao đẳng cũng phải có kiến thức đúng về bệnh để sẵn sàng tư vấn khi cần thiết Cho tới nay vẫn chưa có nghiên cứu nào thống kê được tỷ lệ hiểu biết đúng, thái độ về bệnh phong trong ngành y, trong sinh viên y Thiết nghĩ vấn đề này cần được quan tâm nhiều hơn nữa
Trang 28CHƯƠNG II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
*) Đối tượng tham gia nghiên cứu gồm tổng số: 300 sinh viên trường Đại Học Y Hà Nội
*) Bao gồm: Sinh viên Y4: 100 sinh viên
Sinh viên Y5: 100 sinh viên
Sinh viên Y6: 100 sinh viên
2.1.1 Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
*) Sinh viên tham gia nghiên cứu có đủ các tiêu chuẩn sau:
- Với sinh viên Y4:
Chưa được học qua bộ môn da liễu
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Hợp tác trong quá trình trả lời nghiên cứu
- Với sinh viên Y5:
Đã học qua bộ môn da liễu
Đủ điều kiện được thi lâm sàng da liễu (không nghỉ quá 2 buổi học lâm sàng)
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Hợp tác trong quá trình trả lời nghiên cứu
- Với sinh viên Y6:
Đã được học qua bộ môn da liễu năm thứ 5
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Hợp tác trong quá trình trả lời nghiên cứu
Trang 292.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu
- Những sinh viên Y4 bị lưu bang từ những khóa trên xuống đã được học qua bộ môn da liễu
- Những sinh viên Y5, Y6 nghỉ quá nhiều buổi học lâm sàng (nghỉ trên 2 buổi) và không đủ điều kiện để dự thi lâm sàng
- Những sinh viên không hợp tác trong quá trình trả lời nghiên cứu
2.1.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
1.3.1 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại trường Đại Học Y Hà Nội
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu bắt đầu từ tháng 11 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, Điều tra kiến thức dựa trên bộ câu hỏi
2.2.1 Kỹ thuật thu thập số liệu:
Các bước tiến hành
Bước 1: Lập phiếu điều tra dựa theo các nội dung:
- Kiến thức về bệnh phong:
+ Căn nguyên gây bệnh
+ Đường lây truyền của vi khuẩn
Trang 30+ Thái độ của sinh viên đối với bệnh nhân phong
+ Thái độ của sinh viên đối với người nhà bệnh nhân phong
- Ý kiến đối với chương trình giảng dạy bệnh phong:
+ Mức độ cần thiết khi đưa bài giảng bệnh phong vào chương trình học + Khả năng truyền đạt của giảng viên
+ Thời lượng giảng lâm sàng
+ Thời lượng giảng lý thuyết
Bước 2: Điều tra thử trước 10 người
Bước 3: Chỉnh sửa lại bộ câu hỏi cho phù hợp
Bước 4: Tiến hành điều tra:
- Các đối tượng đủ điều kiện tham gia nghiên cứu được phát bộ câu hỏi
- Hướng dẫn cách điền bộ câu hỏi
- Sinh viên tự điền trong thời gian 20 – 25 phút
- Thu thập số liệu
- Xử lý số liệu
Bước 5: cách đánh giá điểm
- Với các câu hỏi về kiến thức của sinh viên, mỗi câu chỉ có 1 đáp án đúng nhất
- Với các câu hỏi về thái độ của sinh viên với bệnh phong, không đánh giá điểm mà chỉ thống kê xem thái độ của sinh viên đã đúng chưa
- Với ý kiến đề xuất của sinh viên với chương trình giảng dạy bệnh phong cũng không đánh giá điểm mà chỉ mang tính chất thống kê lại
Trang 31- Kết quả được thể hiện dưới dạng: Giá trị trung bình, tỉ lệ phần trăm (%)
- Sử dụng test χ2 để so sánh sự khác nhau giữa hai tỉ lệ %
- Sử dụng test T–Student để so sánh sự khác nhau giữa hai giá trị trung bình
- Kết quả nghiên cứu được coi là có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05
- Sử dụng tỷ suất chênh (OR) để đánh giá sự khác biệt giữa các câu trả lời của các khối sinh viên
2.2.4 Khía cạnh đạo đức của đề tài
- Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu
- Trước khi làm nghiên cứu phải giải thích rõ ràng về mục đích và yêu cầu của nghiên cứu
- Các thông tin được thu thập chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu không sử dụng cho mục đích khác
- Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật
2.2.5 Hạn chế trong nghiên cứu
- Chưa nghiên cứu được hết các sinh viên trong một khối và tất cả các khối sinh viên từ Y1 đến Y6
Trang 32
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Bệnh phong là bệnh nhiễm khuẩn mạn tính gây nên bởi Mycobacterium Leprae Đây Là căn bệnh đã có từ rất lâu và cho đến nay chúng ta vẫn chưa thể loại trừ được căn bệnh này Có thể nói bệnh phong là một trong những căn bệnh rất đặc biệt, không chỉ bởi đặc điểm bệnh học hay căn nguyên của bệnh
mà còn bởi sự kỳ thị, xa lánh của xã hội đối với bệnh nhân phong Để cải thiện tình trạng này, công tác tuyên truyền, giáo dục về bệnh đã rất phát triển không chỉ tại cộng đồng mà ngay tại các trường y khoa trên cả nước Kết quả thu được khi nghiên cứu trên 100 sinh viên Y4, 100 sinh viên Y5 và 100 sinh viên Y6 trường Đại Học Y Hà Nội về bệnh phong cho kết quả như sau:
Bảng 3.1 Đặc điểm của sinh viên được khảo sát
Trang 333.1 KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ CỦA SINH VIÊN VỀ BỆNH PHONG
3.1.1 Kiến thức của sinh viên về bệnh phong
3.1.1.1 Hiểu biết của sinh viên về căn nguyên gây bệnh phong
Bảng 3.2: Hiểu biết của sinh viên về tên vi khuẩn gây bệnh phong
0.42
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 là 95%, cao hơn so với khối Y4 là 78% Có sự khác biệt giữa khối Y4 so với khối Y5 – Y6 với OR <
1 và tỷ lệ trên có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
Bảng 3.3: Hiểu biết của sinh viên về đặc điểm của vi khuẩn gây bệnh
0.45
Trang 34
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 là 93% cao hơn hẳn so với khối Y4 74% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có
ý nghĩa thống kê với P < 0.05
3.1.1.2 Hiểu biết của sinh viên về ổ tồn tại của vi khuẩn gây bệnh phong Bảng 3.4: Hiểu biết của sinh viên về ổ tồn tại của vi khuẩn gây bệnh
1.05
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 về ổ phát triển của vi khuẩn gây bệnh phong là 71.5%, sinh viên Y4 là 61% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1 và sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P > 0.05
3.1.1.3 Hiểu biết của sinh viên về khả năng lây và biểu hiện sớm của bệnh Bảng 3.5: Hiểu biết của sinh viên về đường lây bệnh của vi khuẩn gây bệnh phong
1.65
Trang 35Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của khối sinh viên Y4 và khối Y5 – Y6 về đường lây bệnh của vi khuẩn phong là 87%, 90% Tỷ lệ này có sự khác biệt với OR
< 1 Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với P > 0.05
Bảng 3.6: Hiểu biết của sinh viên về khả năng lây bệnh của vi khuẩn gây bệnh phong
0.18
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 về khả năng lây bệnh của
vi khuẩn phong là 97% cao hơn so với sinh viên Y4 là 69% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
Bảng 3.7: Hiểu biết của sinh viên về biểu hiện sớm của bệnh phong
0.21
Trang 36Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 về biểu hiện sớm của bệnh phong là 93.5% cao hơn so với sinh viên Y4 là 60% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
3.1.1.4 Hiểu biết của sinh viên về bệnh học của bệnh phong
Bảng 3.8: Hiểu biết của sinh viên về cơ quan hay bị tổn thương nhất
1.83
Trang 37Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y4 về những thần kinh bị tổn thương trong bệnh phong là 54% , khối sinh viên Y5 – Y6 là 50.5% Tỷ lệ trên không có sự khác biệt với OR > 1
Bảng 3.10: Hiểu biết của sinh viên về nguyên nhân gây ra tàn tật trong bệnh phong
0.3
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y4 về nguyên nhân gây tàn tật trong bệnh phong là 81% thấp hơn so với sinh viên Y5 – Y6 là 97.5% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
Bảng 3.11: Hiểu biết của sinh viên về khả năng khỏi của bệnh phong
0.88
Trang 38Nhận xét:Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 về khả năng khỏi của bệnh phong là 67% cao hơn so với sinh viên Y4 là 52% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
3.1.1.5 Hiểu biết của sinh viên về điều trị bệnh phong
Bảng 3.12 Hiểu biết của sinh viên về phác đồ điều trị bệnh phong
0.82
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y5 – Y6 về phác đồ điều trị bệnh phong là 97.5% cao hơn so với sinh viên Y4 là 81% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
Bảng 3.13: Hiểu biết của sinh viên về thời gian điều trị bệnh phong
0.4
Trang 39Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y4 về thời gian điều trị bệnh phong rất thấp 17% sinh viên Y5 – Y6 trả lời đúng cao hơn so với Y4 tuy nhiên tỷ lệ này cũng thấp 48% (dưới 50%) Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
Bảng 3.14: Hiểu biết của sinh viên về nơi điều trị bệnh nhân phong
0.42
Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y4 về nơi điều trị bệnh phong rất thấp chỉ có 9%, sinh viên Y5 – Y6 trả lời tốt hơn tuy nhiên tỷ lệ này cũng rất thấp 31.5% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
Bảng 3.15: Hiểu biết của sinh viên về việc cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân phong
0.71
Trang 40Nhận xét: Tỷ lệ trả lời đúng của sinh viên Y4 về chế độ cấp thuốc điều trị cho bệnh nhân phong là 81% thấp hơn so với sinh viên Y5 – Y6 là 93% Tỷ lệ trên có sự khác biệt với OR < 1, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P < 0.05
3.1.1.6 Kiến thức chung của sinh viên về bệnh phong
Bảng 3.16: Hiểu biết chung của sinh viên về bệnh phong
Khối sinh viên Giá trị trung bình(tính
thang điểm 100) Giá trị P
P2(Y5 và Y6) < 0.05 P3(Y4 và Y6) < 0.05
Với người nhà
Với bệnh nhân
Với người nhà
Với bệnh nhân
Với người nhà
Với bệnh nhân
Với người nhà