1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khảo sát bệnh tai mũi họng thường gặp của công nhân xí nghiệp hầm lò mỏ than 35 tổng công ty than đông bắc

96 415 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau này do sự phát triển sớm của kinh tế và sự tiến bộ của khoa học công nghệ, nên môi trường lao động ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngành khai thác than ở Việt Nam có từ thời Pháp thuộc đầu thế kỷ XIX đến nay Nó là một ngành công nghiệp quan trọng vì than là nguyên liệu cung cấp cho nhiều ngành nghề công nghiệp quan trọng khác như: điện, xi măng, luyện kim … và xuất khẩu, đồng thời giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn lao động và dịch vụ

Ngành khai thác mỏ đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân

ở Việt Nam, đóng góp 10-12% tổng sản phẩm quốc nội và tạo công ăn việc làm cho hơn 400.000 người trong đó gần 140 nghìn lao động đang hoạt động trong ngành khai thác than - khoáng sản, trong đó có tới gần 70% làm việc tại các mỏ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh [1] Quảng Ninh là nơi có trữ lượng than lớn, tập trung và có sản lượng than lớn nhất cả nước

Tuy nhiên khai thác mỏ là ngành lao động nặng nhọc, độc hại nguy hiểm chứa đựng nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Người lao động phải làm việc dưới hầm sâu, chật hẹp, gò bó, tối tăm, thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ gây nên các bệnh nghề nghiệp và bệnh liên quan đến nghề nghiệp như bụi than, đá, kim loại (cadimi, man gan ), phóng xạ; bùn nước ứ đọng, tiếng ồn, rung chuyển và các loại hơi khí độc CH4, CO, CO2, TNT…[2] ,[ 3]

Công nghệ khai thác than hầm lò của nước ta còn lạc hậu, bán cơ giới, lao động chân tay là phổ biến chiếm tới 80% thiếu điều kiện để tiếp nhận và đổi mới công nghệ, thiết bị cũ kĩ lạc hậu và không đồng bộ, việc khai thác than ngày càng khó khăn do xuống sâu

Kết quả nghiên cứu và kiểm tra môi trường của Viện y học lao động và

vệ sinh môi trường và Trung tâm y tế lao động tỉnh Quảng Ninh cho thấy môi trường lao động trong các mỏ than đặc biệt là hầm lò bị ô nhiễm rõ, một số chỉ số vượt tiêu chuẩn vệ sinh như: độ ẩm, tiếng ồn, tốc độ gió, bụi than [4]

Môi trường lao động độc hại kết hợp với những yếu tố hạn chế trong quy trình lao động như: tư thế lao động gò bó, đường hầm ẩm ướt … làm ảnh

Trang 2

hưởng tới năng suất lao động và sức khỏe người lao động Mặc dù các mỏ đã

có những biện pháp như áp dụng cải tiến công nghệ và trang bị bảo hộ lao động nhưng tình hình nhiễm bệnh nói chung và bệnh tai mũi họng nói riêng vẫn là vấn đề rất cần quan tâm Tỷ lệ bệnh trong công nhân ngành than còn rất cao: Bệnh bụi phổi 3 - 4%, viêm phế quản 7%, bệnh ngoài da 20%, đặc biệt là bệnh tai mũi họng chiếm 60 - 70% [5]

Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi đối với công nhân ngành than Tổng công ty than Đông Bắc cũng đã áp dụng nhiều biện pháp an toàn bảo hộ lao động để hạn chế ảnh hưởng của MTLĐ độc hại tới người lao động và tích cực chăm sóc sức khỏe cho công nhân, ưu tiên khám chữa bệnh cho công nhân Hàng năm công ty tổ chức khám sức khỏe định kì 02 lần trong một năm nhằm phát hiện bệnh và quản lý sức khỏe công nhân tốt hơn Một số bệnh xếp trong danh mục bệnh nghề nghiệp như là bệnh bụi phổi được quan tâm phát hiện và giải quyết chế độ cho người lao động Tuy nhiên việc đánh giá điều tra tình hình bệnh tai mũi họng cũng như đánh giá ảnh hưởng của MTLĐ độc hại tới bệnh tai-mũi-họng nơi tiếp xúc đầu tiên với các yếu tố bên ngoài của đường hô hấp và tiêu hóa chưa được cụ thể và đầy đủ

Để thiết thực trong việc góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động, công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho công nhân ngành than việc đánh giá MTLĐ và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe công nhân, bệnh nghề nghiệp và các bệnh thường gặp là cần thiết Từ nhận thức chung đó chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: "Khảo sát bệnh Tai Mũi Họng thường gặp của công

nhân xí nghiệp hầm lò mỏ than 35 – Tổng công ty than Đông Bắc", với hai

mục tiêu cụ thể sau:

1 Xác định tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng thường gặp qua thăm khám lâm sàng và nội soi của công nhân xí ngiệp than hầm lò 35 – Tổng công ty than Đông Bắc năm 2014

2 Đề xuất một số biện pháp phòng bệnh bệnh tai mũi họng qua đối chiếu tỷ lệ mắc bệnh và yếu tố môi trường lao động

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH TAI MŨI HỌNG VÀ YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TRONG LAO ĐỘNG CÔNG NGHIỆP TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.1.1 Trên thế giới

Ngay từ thời cổ xưa đã có các tài liệu viết về bệnh VMX với các triệu chứng như: Chảy mũi, ngạt tắc mũi, kém ngửi ở những người thợ mỏ, lao động trong môi trường có nồng độ bụi cao Sau này do sự phát triển sớm của kinh tế

và sự tiến bộ của khoa học công nghệ, nên môi trường lao động ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động đã được các nhà khoa học đặc biệt quan tâm tới thế

kỷ XVI qua các công trình nghiên cứu, nhiều tác giả trên thế giới như cũng đều nhận thấy có mối liên quan rất mật thiết giữa các triệu chứng bệnh đường hô hấp như chảy mũi, ngạt tắc mũi, kém ngửi, chảy mũi với môi trường lao động bị ô nhiễm bụi và hơi khí độc, các tác giả đều có nhận định bụi và hơi khí độc là nguyên nhân gây nên các triệu chứng này [6] ,[ 7]

Năm 1928 Coilis và Gikchrist đã phân tích về cái chết của 426 người lao động bốc rỡ than lên tàu thủy dọc các cảng Penarth, Cardiff ở miền Nam xứ Wales thuộc vương quốc Anh nhận thấy sự tổn thương của đường

hô hấp khi tiếp xúc với bụi than [8]

Năm 1968, Wicken đã nhận định tình trạng bệnh viêm mũi xoang và viêm phế quản ở Anh là do ô nhiễm không khí nặng có nguồn gốc từ các khu công nghiệp và có liên quan đến sự tử vong của 58 nghìn nam giới và

18 nghìn nữ giới tử vong do bệnh này [9]

Năm 1993, Hội đồng nghiên cứu y học Ấn Độ và Trung tâm nghiên cứu phát triển quốc tế Canađa đã tiến hành nghiên cứu khu vực khai thác than ở tây Bengal Ấn Độ theo thực tế nhận thấy các triệu chứng đường hô

Trang 4

hấp mạn tính ở những người làm việc dưới hầm lò là 31,3% cao hơn hẳn những người làm việc trên bề mặt ở mỏ than (17,0%) [10]

Năm 1998, theo WHO ước tính số mới mắc các bệnh nghề nghiệp do phơi nhiễm với những yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc hàng năm khoảng

160 triệu trường hợp, trong đó 30 - 40% dẫn đến bệnh mạn tính và khoảng 10% sẽ dẫn đến tàn tật Bên cạnh đó còn có khoảng 270 triệu trường hợp tai nạn lao động mà phần lớn là ngành liên quan đến hóa chất độc hại [11]

1.1.2 Trong nước

Trong môi trường lao động của công nhân than hầm lò là rất nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm Các yếu tố vi khí hậu, bụi và khí độc trong lò phối hợp tác động gây ảnh hưởng tới sức khỏe, bệnh lý của công nhân Đến nay vẫn chưa có con số đánh giá toàn diện về tình trạng mắc bệnh tai mũi họng của công nhân ngành than

Trong nước đã có nhiều công trình nghiên cứu về các bệnh lý đường hô hấp và ảnh hưởng của môi trường lao động độc hại Trong các trường hợp đó đều thấy tỷ lệ bệnh mũi xoang chiếm tỷ lệ cao nhất trong các nhóm bệnh

Năm 1998, Nguyễn Ngọc Anh đã tiến hành điều tra đặc điểm bệnh bụi phổi -silic trong công nhân khai thác than ở Thái Nguyên cho thấy môi trường ô nhiễm bụi nghiêm trọng, nồng độ bụi toàn phần và bụi hô hấp đều vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần [2]

Năm 1998, Nguyễn Khắc Hải và cộng sự đã điều tra khảo sát tình hình ô nhiễm môi trường lao động ở một số xí nghiệp quốc phòng điển hình có công nghệ mới, biện pháp khắc phục [12] Trong đó đã nghiên cứu các xí nghiệp hóa chất, vật liệu xây dựng, xí nghiệp dệt may, cho thấy tỷ lệ bệnh tai mũi họng rất cao có nơi lên đến 65,6%

Trang 5

Vũ Trường Phong (1999) nghiên cứu bệnh tai mũi họng ở 215 công nhân nhà máy đóng tàu Sông Cấm và vận tải thủy 3 cho thấy bệnh TMH 68.48%, viêm họng 44.28%, viêm mũi xoang 15.4%, viêm amydan 6.5% [13]

Nguyễn Quốc Tiến, Trần Văn Tập (2000) nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe công nhân công ty sứ Thái Bình của 228 công nhân thấy rằng: Môi trường nhiệt độ 37 ± 7°C, độ ẩm 72%, tốc độ gió 0.35m/s và bụi 11.2mg/m3 tỷ lệ bệnh tai mũi họng là 49.12% [14]

Năm 2001, Phạm Văn Tổ đã tiến hành nghiên cứu môi trường lao động và tình trạng bệnh lý phổi phế quản của công nhân khai thác than Quảng Ninh Cho thấy TCVSCP của môi trường lao động không đảm bảo dẫn đến các bệnh lý đường hô hấp [15]

Năm 2001, Trần Ngọc Lan trong báo cáo hội nghị Y học lao động và

Vệ sinh môi trường toàn quốc về công nhân có thâm niên tiếp xúc với bụi amiăng cho thấy tỷ lệ công nhân viêm mũi họng chiếm 55,48% [16]

Vũ Thành Khoa (2001) qua nghiên cứu 1148 công nhân mỏ than Thống Nhất – Quảng Ninh cho thấy nhiệt độ không cao hơn bên ngoài, độ

ẩm cao rõ rệt 96%, tốc độ gió dưới 1m/s, bụi 1757 ± 379 hạt/cm3 tỷ lệ mắc bệnh TMH là 68.7% [5]

Năm 2004, Trần Văn Tuấn và cộng sự đã nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của công nhân công ty than Đông Bắc, trong đó cơ cấu bệnh tật cho thấy bệnh mũi xoang chiếm tỷ lệ cao nhất 45,59% [17]

Năm 2009, Lê Thanh Hải thực hiện nghiên cứu bệnh viêm mũi xoang mạn tính ở công nhân luyện thép Thái Nguyên và đánh giá biện pháp can thiệp, đã nói lên đặc điểm môi trường lao động ngành thép ảnh hưởng đến mũi xoang và công dụng của dàn rửa mũi [18]

Trang 6

1.2 ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG LAO ĐỘNG VÀ QUI TRÌNH SẢN XUẤT TRONG MỎ THAN HẦM LÒ

1.2.1 Ảnh hưởng của môi trường khai thác than tới bệnh TMH

Chất ô nhiễm trong khai thác than rất đa dạng và phát sinh từ nhiều nguồn vật chất nên nó có nhiều tính chất khác nhau Các dạng vật chất có thể

là rắn (than đá, cát, khoáng ) là hơi khí độc (CO, CO2, NO ) những dạng chất ô nhiễm này trong thực tế thường kết hợp với nhau, hình thành dạng khí rung hoặc mây bụi trong môi trường không khí nơi sản xuất [3] ,[ 19] ,[ 20]

1.2.2 Tác hại của bụi than

Bụi than là một loại nguyên liệu hóa thạch, thành phần chính của bụi than là các bon có tính chất rắn, trơ và sắc, có kích thước khác nhau Các hạt bụi gây tác hại ở đường hô hấp trên ảnh hưởng trực tiếp đến mũi xoang, các hạt bụi này nằm trong dải kích thước 2m < D ≤ 30m Những hạt bụi lớn

10 - 30m bị giữ ở khoang mũi họng, 90% các hạt bụi trên 30m không vượt qua được mũi nhờ lông mũi, chất tiết Nếu thở bằng mũi, chỉ dưới 50% các hạt bụi < 5m vào đường hô hấp và các phế quản rồi kết dính vào nhau ở đó, chỉ có 1 - 2% vào tới phế nang Khi cơ thể phải thở hít không khí có nồng độ bụi cao, bụi sẽ ngưng đọng lại trong niêm mạc mũi xoang làm khô lớp nhày của niêm mạc, làm cho các tế bào nhày ở đây phải tăng tiết dịch, ngoài ra các hạt bụi sắc nhọn và trong lượng cao có thể phá hủy lớp màng nhày của

hệ thống lông nhày hốc mũi, xâm nhập xuống lớp dưới có thể gây tổn thương niêm mạc tạo điều kiện cho các vi khuẩn dễ dàng xâm nhập vào gây nên các đợt VMX cấp bùng phát [3] ,[ 15]

1.2.3 Tác hại của hơi khí độc

Đối với các chất khí như SO2, CO, CO2,… khi vào đường hô hấp gặp nước trong dịch nhày ở niêm mạc MX nó sẽ chuyển thành các dạng axit

Trang 7

kích thích gây tổn thương niêm mạc [3] Các triệu chứng xuất hiện sớm khi tiếp xúc với SO2 là: viêm màng kết hợp, viêm mũi, viêm họng, thanh quản,

co thắt phế quản Tiếp xúc với nồng độ SO2 cao gây tổn thương sâu ở niêm mạc, gây co thắt phế quản không hồi phục Nhiễm độc SO2 mạn tính thường bị rối loạn chức năng hô hấp

1.2.4 Tác hại của vi khí hậu vị trí làm việc khắc nghiệt

Điều kiện làm việc trong môi trường bao gồm các yếu tố: nhiệt độ, không khí, độ ẩm không khí, tốc độ chuyển động không khí và cường độ bức

xạ nhiệt Khi các yếu tố này vượt quá tiêu chuẩn cho phép sẽ tác động đến chức năng sinh lý của vùng tai mũi họng, dẫn đến sự quá tải chức năng của niêm mạc vùng tai mũi họng nhất là niêm mạc mũi xoang [3] ,[ 15]

1.2.5 Các vi sinh vật gây bệnh

Không khí trong môi trường hầm lò có các vi khuẩn, virus, ký sinh trùng và nấm Trong hầm lò ẩm ướt, thông khí kém, công tác vệ sinh không tốt đó là môi trường thuận lọi cho các loại vi sinh vật phát triển nhất là các

vi khuẩn Gr(-) vầ nấm mốc [21] Những tác động của yếu tố môi trường đến niêm mạc đường hô hấp kết hợp với nhiễm khuẩn làm cho tỷ lệ mắc bệnh tăng cao

Giải quyết tình trạng tắc nghẽn ở phức hợp lỗ ngách là cơ sở lý luận của điều trị VMXMT và cũng là căn cứ để xây dựng các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu nguy cơ gây bệnh [22]

Trang 8

1.2.7 Quy trình sản xuất mỏ than

Qui trình khai thác của hầm lò gồm có nhiều khâu: Đào lò chuẩn bị, đào lò khai thác, bắn mìn phá hỏa, vận chuyển than bằng băng chuyển, tời trục và bằng tàu điện Bên cạnh đó còn có các đơn vị phụ trợ như: Cơ điện, cơ khí, thông gió

Dây chuyền sản xuất có thể xếp thành nhóm

Khoan nổ mìn

Chống lò

Đào lò

Thu gom vận chuyển than

Phân loại chế biến than Sản xuất được chia làm ba ca, mỗi ca làm 08 giờ có nghỉ giữa trưa ½ giờ, một tuần đổi ca một lần

1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ GIẢI PHẪU SINH LÝ TMH

1.3.1 Một số điểm về giải phẫu và sinh lý Tai Mũi Họng

TMH là những hốc nằm sâu trong vùng đầu cổ Các hốc này được bao bọc ngoài bởi xương như các xoang mặt, mũi, tai và xương chủm, bởi sụn như Thanh quản, bởi cơ màng như Họng Các hốc này được bao bọc ngoài bởi xương như các xoang mặt, mũi, tai và xương chũm, bởi sụn như Thanh quản, bởi cơ màng như Họng Bên trong được lót một lớp niêm mạc, phần lớn

là niêm mạc trụ có lông chuyển (niêm mạc đường hô hấp) như mũi xoang, tai

và các tế bào xương chũm, trừ họng và phần tiền đình thanh quản là lát tầng Lớp niêm mạc này được chi phối bởi hệ thống mạch máu và thần kinh rất phong phú Do đặc điểm như vậy nên bệnh lý TMH chủ yếu là bệnh lý của niêm mạc, bệnh lý niêm mạc là dễ bị tái phát nhất là ở cơ địa dị ứng, trẻ em

Những đặc điểm giải phẫu ứng dụng, sinh - bệnh lý hệ thống lông chuyển - niêm dịch hòm nhĩ – vòi và nhất là sự giống nhau về nguyên lý điều

Trang 9

trị giữa VTGƯD và VX đưa ta đến nhận xét là hòm nhĩ hai bên cũng giống

như hệ thống xoang phụ của mũi: hệ thống xoang cạnh vòm Hai hệ thống

xoang này có cùng một nơi đổ là vòm mũi họng (VMH) vì vậy có thể coi vòm họng là vùng đại phức hợp lỗ ngách và nguyên nhân, sinh bệnh học của hai hệ thống xoang này giống như nhau, sự khác biệt chỉ ở mức độ, số lượng xoang

bị bệnh và triệu chứng biếu hiện ở mỗi hệ thống xoang riêng biệt [22]

Hình 1.1 Vòm mũi họng [23]

1.3.2 Giải phẫu và sinh lý Tai

1.3.2.1 Giải phẫu Tai

Tai gồm 3 phần: tai ngoài, tai giữa và tai trong

+ Tai ngoài:

Vành tai: có khung sụn, trừ phần dưới chỉ có lớp mỡ và da gọi là dái tai Khung sụn có các nếp lồi lõm tạo thành các gờ, hõm

Ống tai ngoài: đi từ cửa ống tai ngoài đến hòm nhĩ, phía vành tai ngoài

là ống sụn, trong là ống xương Đoạn sụn và xương tạo thành khuỷu hướng ra trước và xuống dưới Lớp da có nhiều tuyến tiết nhầy

Trang 10

+ Tai giữa:

Hòm nhĩ, vòi nhĩ và các xoang chũm

Hòm nhĩ: giống như một hình trống dẹt Bộ phận chủ yếu trong hòm nhĩ

là tiểu cốt Hòm nhĩ được chia thành hai tầng Tầng trên gọi là tầng thượng nhĩ chứa tiểu cốt, tầng dưới gọi là trung nhĩ là một hốc rỗng chứa không khí, thông trực tiếp với vòi nhĩ Hòm nhĩ có sáu thành:

Thành ngoài: phía trên là tầng thượng nhĩ, phần dưới là màng nhĩ hình bầu dục

Thành trong: có đoạn nằm ngang của ống Fallope, phần trên là thành trong của thượng nhĩ có gờ ống bán khuyên ngoài, nằm ngay trên ống Fallope Ở mặt này có hai cửa sổ: cửa sổ bầu dục ở phía sau và trên, cửa sổ tròn ở phía sau và dưới

Thành sau: phần trên của thành sau là ống thông hang, nối liền hang chũm với hòm nhĩ, phần dưới thành sau là tường dây VII ngăn cách hòm nhĩ với xương chũm

Thành trước: thông với lỗ vòi nhĩ (Eustachi), ở trẻ em lỗ vòi luôn mở thông với vòm mũi họng

Thành trên: hay là trần nhĩ ngăn cách hòm nhĩ với hố não giữa Ở trẻ em đường khớp trai đá bị hở nên viêm tai giữa dễ bị viêm màng não

Thành dưới: vịnh tĩnh mạch cảnh

Vòi nhĩ (Eustachi): là một ống nhỏ nối liền hòm nhĩ với thành bên vòm mũi họng, được lát bằng lớp niêm mạc, phía trên liên tiếp với niêm mạc hòm nhĩ, phía dưới với niêm mạc vòm mũi họng Lỗ vòi phía dưới luôn đóng kín, chỉ mở do cơ bao hàm hầu co lại (khi nuốt), quanh lỗ vòi có tổ chức lympho gọi là amiđan vòi (A Gerlach)

Xương chũm: là một xương nhỏ ở phía dưới bên của hệ xương thái dương, phía sau ống tai ngoài

Trang 11

+ Tai trong:

Nằm trong xương đá, đi từ hòm nhĩ tới lỗ ống tai trong

Gồm 2 phần là mê nhĩ xương bao bọc bên ngoài và mê nhĩ màng ở trong

Mê nhĩ xương: gồm tiền đình và ốc tai

Tiền đình thông với tai giữa bởi cửa sổ bầu dục ở phía trước, có ống bán khuyên nằm theo ba bình diện không gian

Ốc tai giống như hình con ốc có hai vòng xoắn rưỡi, được chia thành hai vịn: là vịn tiền đình thông với tiền đình và vịn nhĩ thông với hòm nhĩ bởi cửa

sổ tròn, nó đựơc bịt kín bởi màng nhĩ phụ

Mê nhĩ màng: ốc tai màng và hai túi cầu nang, soan nang, ống nội dịch

và 3 ống bán khuyên màng

1.3.2.2 Sinh lý tai

* Tai có hai chức năng nghe và thăng bằng

+ Chức năng nghe

- Sinh lý truyền âm

Tai ngoài: vành tai thu và định hướng sóng âm, ống tai truyền sóng âm tới màng nhĩ

Tai giữa: dẫn truyền và khuyếch đại cường độ âm thanh (vòi nhĩ, màng nhĩ, chuỗi xương con)

- Sinh lý tiếp âm

Điện thế liên tục: do có sự khác biệt về thành phần của Na+ và K+ trong nội và ngoại dịch

Điện thế hoạt động: do sự di chuyển của nội dịch, sự rung động của các

tế bào lông

Luồng thần kinh: luồng thần kinh tập hợp các điện thế chuyển theo dây VIII lên vỏ não

Trang 12

+ Chức năng thăng bằng

- Thăng bằng vận động

Do các ống bán khuyên, khi thay đổi tư thế đầu làm nội dịch nằm trong ống bán khuyên di chuyển gây kích thích tế bào thần kinh ở mào bán khuyên tạo nên luồng thần kinh

- Thăng bằng tĩnh tại

Tuỳ theo tư thế bất động (khi nằm hoặc ngồi ), các hạt thạch nhĩ đè lên

tế bào thần kinh ở bãi thạch nhĩ tạo lên luồng thần kinh Các luồng thần kinh được thần kinh tiền đình đưa đến các trung tâm ở não tạo nên các phản xạ điều chỉnh thăng bằng của cơ thể

Trang 13

+ Đoạn bướm, có lỗ thông xoang bướm đổ vào hố mũi Đoạn này là phần rộng nhất của vòm mũi, rộng khoảng 6-7mm

- Thành dưới là nền mũi: Dài khoảng 5cm, làm vòm ổ miệng Được tạo nên 2/3 trước là mảnh khẩu cái của xương hàm trên và 1/3 sau bởi mảnh ngành xương khẩu cái [26]

- Thành ngoài là vách mũi xoang: Được tạo nên bởi khối bên xương sàng, xương hàm trên, xương lệ, xương khẩu và chân bướm (cánh trong) Là thành quan trọng và có cấu trúc phức tạp nhất Thành ngoài hốc mũi có ba cuốn mũi trên, giữa và dưới kích thước không đều nhau

+ Xương cuốn mũi trên: là một sản phẩm của xương sàng

+ Xương cuốn mũi giữa: Phía trước cuốn giữa gắn với mái trán sàng ở cao qua rễ đứng, ngay giữa chỗ tiếp nối giữa mảnh sàng và phần ngang xương trán Phía sau tiếp liền với khối mê đạo sàng và hố bướm - khẩu cái Mảnh nền của cuốn giữa bám vào khối bên xương sàng là vách phân cách hai hệ thống xoang sàng trước và sau [27]

+ Xương cuốn mũi dưới một xương độc lập, dài khoảng 4cm, nằm dọc theo chiều trước - sau

Mỗi cuốn mũi có phàn thành bên nằm dưới gọi là ngách mũi hay khe mũi Như vậy ở thành bên luôn có ba ngách mũi:

+ Ngách mũi trên: là khe hẹp giữa xoang sàng sau và cuốn trên Các lỗ của sàng sau và xoang bướm đổ vào khe trên

Trang 14

+ Ngách mũi giữa: Giới hạn bởi cuốn giữa ở trong và khối bên xương sàng ở ngoài Ngách mũi giữa có ba phần lồi lên lần lượt từ trước ra sau là đê mũi, mỏm móc và bóng sàng Xoang hàm, xoang trán và các tế bào xoang sàng trước thông vào đây, các cấu trúc này tạo nên đơn vị lỗ thông ngách

"phức hợp lỗ thông mũi xoang" Là nơi rất quan trọng trong cơ chế bệnh sinh viêm xoang cũng như trong phẫu thuật nội soi mũi xoang

+ Ngách mũi dưới: Được tạo nên thành trong xoang hàm trên và cuốn dưới Lỗ thông của ống lê tỵ mở ra ngách mũi dưới

- Thành trong là vách ngăn mũi: Vách ngăn mũi là thành trong của hai

hố mũi Cấu tạo gồm phần trước là sụn vách mũi Phần sau gồm xương lá mía

ở dưới và mảnh thẳng đứng xương sàng ở trên vách ngăn có thể lệch, vẹo hoặc có mào, có gai cản trở hô hấp và sự dẫn lưu mũi xoang

Hình 1.3 Sơ đồ giải phẫu – chức năng hố mũi – niêm mạc mũi [28]

Trang 15

* Xoang hàm: Xoang hàm là xoang lớn nhất trong số các xoang cạnh mũi và nằm trong thân xương hàm trên có hình tháp đồng dạng với xương hàm trên gồm đáy, đỉnh và ba mặt Đáy xoang hàm giáp ranh với hố mũi, tạo nên thành bên hố mũi Đỉnh xoang hàm ở về phía xương gò má Mặt trước là mặt má, có lỗ dưới ổ mắt và hố nanh Mặt trên là mặt ổ mắt, cấu tạo sàn ổ mắt Mặt sau liên quan đến hố chân bướm hàm [22] ,[ 27] ,[ 29]

Hình 1.4 Xoang hàm và các cấu trúc liên quan [28]

* Xoang trán: Là hốc rỗng nằm trong xương trán ngay trên hố mũi có vách xương ngăn đôi thành hai xoang trán Kích thước không đều nhau các kích thước trung bình của chúng là: cao 3,2cm; rộng 2,6cm; sâu 1,8cm Mỗi xoang mở rộng lên trên, phần trong của lông mày và ra sau vào phần trong của trần ổ mắt [22] ,[ 27] ,[ 29]

Lỗ của mỗi xoang trán tường mở vào phần trước của ngách mũi giữa tương ứng tại phếu sàng bởi ống mũi trán Nó có thể mở vào ở trong khe bán nguyệt [30]

Trang 16

* Xoang sàng: Gồm nhiều xoang nhỏ gọi là các tế bào sàng, trung bình từ 8-10 tế bào mỗi bên Số lượng tế bào sàng có thể thay đổi theo từng người và ngay trên một người số lượng hai bên có khi cũng khác nhau Các tế bào sàng nằm trong khối bên xương sàng nhưng đôi khi nằm cả các xương lân cận như tế bào trán, sàng hàm và sàng bướm Xoang sàng cũng có theernawmf vào xương cuốn mũi giữa ở 4 - 12% số người tạo nên bóng khí cuốn mũi giữa [22] ,[ 27] ,[ 29] ,[ 31] Mảnh nền cuốn giữa chia các tế bào sàng thành hai nhóm

- Nhóm sàng trước: Còn gọi là các xoang của ngách mũi giữa số lượng từ 4 - 18 tế bào và đều đổ thông vào các ngách mũi giữa Nhóm ở trước nhất là tế bào đê mũi và là thành phần nằm gần ống lệ và túi lệ Các

tế bào trước cũng có thể phát triển ở dưới của ổ mắt và được gọi là các tế bào sàng ổ mũi Haller [29]

- Nhóm sàng sau: Các tế bào sàng sau có từ 1 - 7 tế bào, nằm ở phần sau của khối bên xương sàng có thể xâm lấn vào xoang bướm Tế bào sàng sau Oondi đôi khi lấn sâu vào lòng xoang bướm Các tế bào sàng sau có lỗ thông đổ vào ngách mũi trên hoặc ngách trên cùng [32]

* Xoang bướm: Là hốc xương nằm trong xương bướm và có một vách xương ngăn mỏng chia thành hai xoang bướm không đều nhau Kích thước trung bình của các xoang là: Cao 2 cm; rộng ngang 1,8 cm; chiều trước cao 2,1 cm Lỗ của mỗi xoang bướm nằm ở phần cao của thành trước của xoang và mở vào ngách bướm sàng tương ứng ở lúc sinh, các xoang chỉ là những khoang nhỏ, và sự phát triển của chúng chỉ hoàn chỉnh sau tuổi dậy thì [22] ,[ 27] ,[ 29]

1.3.3.3 Niêm mạc mũi xoang

Lớp biểu mô phủ toàn bộ mũi xoang là biểu mô đường hô hấp, biểu mô trụ giá tầng có lông chuyền Do vậy bệnh lý từ phần mũi có thể lan sang phần xoang và ngược lại Qua kính hiển vi điện tử có thể thấy cấu trúc niêm mạc

Trang 17

mũi xoang bao gồm: Phủ lên lớp biểu mô là lớp màng nhầy rồi đến lớp biểu

mô bao gồm tế bào trụ Dưới lớp niêm mạc là mô liên kết có các tế bào tuyến Shunt mao mạch và các tế bào thần kinh tiết dịch Trên màng đáy có nhiều tế bào hình tam giác, mảnh nhỏ li ty, chúng có khả năng phát triển để thay thế các tế bào bị tróc do sinh lý và bệnh lý [33]

1.3.3.4 Sinh lý chức năng mũi xoang

Mũi xoang là cửa ngõ đầu tiên của đường thở, có tác dụng gia tăng khả năng bảo vệ đường hô hấp dưới Điều hòa kích thước đường thở, lọc bụi, làm

ẩm, làm ẩm không khí và khiếu giác [34] ,[ 35]

* Chức năng hô hấp

Là chức năng cơ bản của mũi xoang ở thì hít vào, không khí tập trung

ở đầu cuốn dưới và giữa, tạo thành luồng khí đi dọc hành lang của các ngách cuốn, một phần nhỏ không khí lướt qua khe khứu ở thì thở ra, dưới cuốn cũng tạo ra các luồng khí khi chúng đi qua ngách cuốn mũi [34] ,[ 36]

* Chức năng bảo vệ

- Chức năng làm sạch: Không khí thở hít vào có các bụi, vật lạ hữu cơ và

vô cơ, các hơi, khí hóa chất, có độ pH toan hoặc kiềm cao, các vi sinh vật như virus, vi khuẩn, nấm [35] ,[ 36] Mũi có chức năng lọc khí để làm sạch khí thở hít vào với mức tối đa bảo vệ cho cơ thể, cho đường hô hấp dưới [37] ,[ 38]

- Bắt giữ: Một phần bùi bị lông mũi bắt giữ ngay tại cửa mũi và đẩy ra cửa mũi trước Các bụi có kích thước trên 5 um theo luồng khí đập vào vách ngăn, cuốn mũi, khe mũi Cấu trúc các cuốn mũi tạo thành các chuyển động xoáy có vai trò bắt giữ các hạt bụi ngay tại mũi Các hạt có kích thước nhỏ hơn 5 um khi luồng khí chạm vào các cuốn mũi thì đổi hướng và chuyển động rối, tiếp xúc với lông nhày phủ trên niêm mạc mũi, 95% các hạt này bị giữ lại trong lớp nhày này [39]

Trang 18

- Trung hòa các hóa chất: Trong không khí có thể có các hóa chất như H2S04, HN03, N02, S02, C0,… bị chất nhày keo (gel) chứa rất nhiều mucin

có phân tử lượng lớn bắt giữ Dưới lớp nhày keo là lớp dung dịch keo (sol), nhờ có sự luân chuyển giữa hai lớp này nên các hóa chất sẽ được trung hòa trong lớp dịch để trở nên vô hại

- Điều hòa pH: Không khí hít vào có nồng độ kiềm hoặc toan sẽ tạo phản ứng nhạy cảm của lớp dịch nhày Làm chuyển dạng nhày sang dịch hay ngược lại nên làm thay đổi nhanh chóng độ pH để trở về pH-7

- Vô hiệu hóa virus, vi khuẩn: Nhờ lớp dịch nhày chứa nhiều globutin miễn dịch nên nó có khả năng vô hiệu hóa các virus hay vi khuẩn bị bắt giữ lại và trung hòa các độc tố [40]

- Chức năng làm ẩm: Trong điều kiện bình thường, đặc biệt là lúc nghỉ, ở người khỏe mạnh thì đường thở sinh lý duy nhất là qua mũi [41] Trong mũi

có các cuốn mũi, ngách mũi làm cho diện tích tiếp xúc của niêm mạc mũi với không khí tăng lên nhiều lần, nhờ hệ thống mao mạch phong phú nên không khí đến mũi được sưởi ấm trước khi vào phổi [34] ,[ 42]

Chức năng làm ấm: Khi không khí được hít vào sẽ tạo thành nhiều luồng nhỏ đi luồn lách và xoáy trong hốc mũi xoang, giữa các cuốn mũi và ngách mũi, gọi là chuyển động xoáy Proetz [34] Trong chuyển động này, không khí được tiếp xúc với dịch mũi xoang chứa đến 95% nước Tất cả những dịch này thông qua hệ thống niêm mạc mũi xoang làm ấm không khí thở vào đến mức gần như bão hòa (độ ẩm từ 95 - 100%) Sự làm ấm không khí vào phổi đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động bình thường của bộ máy hô hấp, đặc biệt là đảm bảo cho hoạt động của hệ thống lông nhầy đường hô hấp dưới [43]

Trang 19

* Chức năng dẫn lưu

Đây là chức năng sinh lý quan trọng nhất của niêm mạc mũi xoang, sự dẫn lưu này rất phức tạp dựa trên cấu trúc giải phẫu và cấu trúc mô học của niêm mạc mũi xoang, nó chịu tác động từ tác nhân dẫn đến thay đổi quá trình dẫn lưu [40] ,[ 42]

Sinh lý dẫn lưu bình thường của mũi xoang nhờ sự phối hợp của 2 chức năng tiết dịch và vận chuyển của tế bào lông Điều này lại phụ thuộc vào số lượng và tính chất của dịch tiết, phụ thuộc vào hoạt động của lông chuyền, tình trạng của lỗ thông mũi xoang và vùng phễu sàng [44] ,[ 45]

Luồng khí thở qua mũi cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc vận chuyển niêm dịch vì áp lực thở cũng tạo ra sức hút do sự hình thành áp lực ấm vùng phức hợp lỗ ngách, mà áp lực này giúp cho sự vận chuyển niêm dịch dễ dàng từ trong xoang ra ngoài hốc mũi

* Dẫn lưu xoang hàm:

Sự vận chuyển của dịch tiết bắt đầu từ đáy xoang rồi lan ra xung quanh lên các thành xoang theo kiểu hình thành xao, quá trình vận chuyển có lúc nhanh lúc chậm gọi là sự vận chuyển niêm dịch tích cực [33]

* Dẫn lưu xoang trán:

Có đặc điểm vận chuyển niêm dịch riêng biệt, Niêm dịch bắt đầu vận chuyển từ thành trong của xoang là vách ngăn xoang, đi lên phía trên rồi lại đi dọc theo trán của xoang trên, ra phía sau và ra phía ngoài Sau đó niêm dịch đi dọc theo thành trước và thành sau của xoang trán để cùng hội tụ về lỗ thông của xoang trán dọc theo thành bên của lỗ này

Tuy nhiên không phải tất cả niêm dịch đều thoát ra khỏi xoang sau khi đi một vòng quanh xoang trán, chỉ có một phần niêm dịch là thoát ra khỏi xoang Sau khi kết thúc một vòng vận chuyển quanh xoang trán, phần còn lại đi qua

Trang 20

lỗ thông của xoang trán đến thành trong của xoang để tiếp tục lặp lại chu trình vận chuyển niêm dịch trong xoang [46]

* Dẫn lưu xoang sàng:

Phụ thuộc vào vị trí của lỗ thông xoang, nếu như tế bào sàng có lỗ thông nằm ở đáy thì các niêm dịch sẽ vận chuyển theo đường thẳng xuống lỗ thông xoang Còn trường hợp xoang sàng có lỗ thông cao nằm trên thành của xoang thì niêm dịch được vận chuyển đi xuống vùng đáy rồi đi lên để đỏ vào

lỗ thông của xoang Các tế bào sàng trước sẽ đổ dịch tiết vào ngách mũi giữa, các tế bào sàng sau thì đổ dịch tiết vào ngách mũi giữa, các tế bào sàng sau thì

đổ dịch tiết vào ngách mũi giữa, các tế bào sàng sau thì đổ dịch tietsv vào ngách mũi trên [43] ,[ 47]

* Dẫn lưu xoang bướm:

Sự vận chuyển niêm dịch trong xoang bướm tùy thuộc vào lỗ thông của xoang Thông thường niêm dịch vận chuyển theo đường xoáy là lỗ thông của xoang bướm, niêm dịch đi xuống phía dưới để đổ vào ngách sàng - bướm [26]

* Dẫn lưu trên vách mũi xoang:

Niêm dịch được dẫn lưu từ hai nguồn chính đổ về cửa mũi sau:

- Dịch tiết từ nhóm xoang trước: xoang hàm, xoang trtán và các tế bào sàng trước tập trung lại ở phễu sàng Từ vùng này dịch tiết đi dọc theo mặt trong cuốn dưới để đến vùng nẹp trước loa vòi

- Dịch tiết từ nhóm xoang sau: xoang sàng sau và xoang bướm đổ ra rồi

tụ lại owr ngách sàng – bướm [31] ,[ 32] Từ đây dịch tiết được vận chuyển đến nẹp sau loa vòi

* Dẫn lưu trên vách ngăn:

Dịch tiết trên vách ngăn mũi được vận chuyển gần như theo chiều đứng dọc từ trên xuống đến sàn mũi Từ sàn mũi dịch tiết được vận chuyển ra phía

Trang 21

sau để hội tụ với con đường vận chuyển niêm dịch trên vách mũi xoang của nhóm xoang trước để đổ xuống qua phần trước của loa vòi [42] ,[ 46]

* Dẫn lưu niêm dịch trong hốc mũi:

Trong hốc mũi, niêm dịch được dẫn lưu trên vách mũi xoang và vách ngăn mũi Đích của quá trình dẫn lưu trong hốc mũi là cửa mũi sau

Hình 1.5 Sơ đồ vận chuyển niêm dịch của hệ thống xoang [28]

1.3.4 Giải phẫu và sinh lý Họng

Họng là ngã tư đầu vào của đường ăn và đường thở: thức ăn từ miệng qua họng - thực quản xuống dạ dày và khí thở từ mũi qua họng, thanh khí phế quản đến nhu mô phổi Họng là cơ quan hình ống, ống họng Đó là ống xơ -

cơ và niêm mạc nằm trước cột sống cổ đi từ nền sọ đến ngang mức đốt sống

cổ (C6), tương đương với bờ dưới sụn nhẫn ở phía trước

Họng được chia làm 3 tầng, nhưng chỉ là sự phân chia ảo, không có mô hoặc màng ngăn cách thực sự Từ trên xuống dưới 3 tầng của họng là:

Trang 22

1.3.4.1 Họng mũi

- Giải phẫu:

Là phần mũi của họng nằm sau hố mũi và trên màn hầu bao gồm:

Hình 1.6 Họng miệng [23]

+ Vòm họng: tận trên cùng, kín, trông tựa như nóc nhà vòm nên được gọi

là vòm họng Nằm ngay dưới thân xương bướm và dưới nền của xương chẩm

+ Thành trước - lỗ mũi sau:

Thành trước của họng mũi là 2 lỗ mũi sau, qua đây họng thông qua mũi + Thành bên - lỗ hầu của vòi nhĩ (lỗ vòi)

Từ đuôi cuốn dưới đi ra phía bên sau khoảng 1 cm ngang mức khẩu cái cứng là lỗ hầu của vòi nhĩ và gọi tắt là lỗ vòi Lỗ vòi là chỗ để thông ra họng của vòi nhĩ Tận cùng thành bên có ngách hầu gọi là hố Rosenmuller

+ Thành sau: là phần niêm mạc trải dọc từ nền xương chẩm xuống đến cung trước đốt đôi

Trang 23

Amiđan họng còn gọi là hạnh nhân hầu hoặc amiđan Luschka Ở trẻ nhỏ có mô Lympho khá lớn nằm ở vòm họng, phát triển dần về thành sau có thể đến hố Rosenmuller và gọi là amiđan họng

+ Thành dưới - Màn hầu mềm: Thành dưới không phải là một thành ngăn cách thực sự, mà là một thành quy ước (ảo) Chỉ có phía trước mặt trên màn hầu mềm tạo nên phần trước sàn họng mũi và chỉ ở đây có sự ngăn cách thực sự họng mũi và họng miệng

Niêm mạc họng mũi: là một phần của niêm mạc đường thở có biểu mô lông chuyển trụ giả tầng Biểu mô lót che phủ suốt bề mặt họng mũi cho đến ngang mức bờ dưới màn hầu Biểu mô hô hấp họng mũi chứa nhiều tế bào Goblet tiết nhầy Các tuyến tiết nằm sâu dưới niêm mạc có các ống tiết xuyên qua biểu mô ra bề mặt và chế tiết chất nhầy, thanh dịch hoặc hỗn hợp cả hai

+ Thành trước: có màn hầu, eo họng và thung lũng thanh thiệt

+ Thành sau: là lớp có niêm mạc tiếp nối với thành sau họng mũi ở phía trên và nằm trước đốt sống cổ C2 – C4

+ Hai thành bên:

Mỗi bên có 2 nếp niêm mạc đi từ màn hầu xuống thành bên gọi là trụ trước và trụ sau amiđan Hai trụ giới hạn một khoảng tam giác gọi là hố amiđan chứa khối mô lympho amiđan khẩu cái [48] ,[ 49]

Trang 24

1.3.4.3 Họng thanh quản

- Giải phẫu: là phần thanh quản của họng nằm sau thanh quản, Họng thanh quản là phần thấp nhất của họng tiếp nối với thực quản nên gọi là hạ họng, nằm trước đốt sống cổ C3-C6, đi từ xương móng đến sụn nhẫn Họng thanh quản bao gồm: thành trước, thành sau và 2 thành bên

Hình 1.7 Họng thanh quản [23]

+ Thành trước - Lối vào thanh quản

Thành trước họng thanh quản chính là mặt sau thanh quản và là nơi họng mở thông vào thanh quản Lối vào thanh quản nằm chếch có ranh giới trước và trên là phần trên thanh thiệt, sau là sụn nhẫn và bên là nếp phễu - thanh thiệt

+ Thành sau: là lớp mang niêm mạc liên tục từ họng miệng xuống, nằm trước đốt sống cổ C3-C4-C5-C6 cách biệt với cột sống cổ bởi lớp mô liên kết lỏng lẻo gọi là khoảng sau họng

Trang 25

+ Hai thành bên xoang lê:

Thành bên hạ họng cùng với thanh quản ở giữa tạo nên máng họng – thanh quản được gọi là xoang lê Cơ nhẫn họng bao quanh, tạo nên cơ thắt trên thực quản (để đóng kín miệng thực quản)

3 phần này thông thương với nhau, niêm mạc đồng nhất có hệ thống bạch huyết liên quan với nhau (vòng Waldeyer) tạo thành phức hợp lò viêm cũng như sự lan tràn các yếu tố viêm nhiễm Điều này giải thích các nhiễm trùng hô hấp dưới (viêm phế quản, viêm phổi…) bắt đầu từ họng

Niêm mạc họng miệng và họng thanh quản: thuộc niêm mạc đường ăn, chịu sự đè ép, cọ sát của thức ăn đi qua, là biểu mô vẩy lát sừng không sừng hóa Một cấu trúc đặc biệt nằm dưới biểu mô là tấm mô liên kết chứa nhiều sợi đàn hồi [50] ,[ 51]

bộ phận trong họng và miệng khuyếch đại, điều chỉnh và tạo thành các âm vị,

âm tiết, thành tiếng nói Phát âm - nghe – ngôn ngữ là quá trình liên hệ hữu cơ

Trang 26

1.4 CÁC PHƯƠNG PHÁP THĂM KHÁM TMH

1.4.1 Hỏi bệnh

Hỏi bệnh là phương pháp đầu tiên và rất cần thiết để phát hiện, khai thác các triệu chứng cơ năng, triệu chứng lân cận và toàn thân, thời gian mắc bệnh [22]

1.4.2 Khám thường bằng đèn Clar

Soi mũi trước với đèn Clar ít có vai trò quan trọng trong chẩn đoán VMXMT Tuy nhiên cần khám mũi trước trên tất cả các bệnh nhân nghi ngờ VMXMT vì nó đơn giản, dễ làm và để loại trừ vẹo vách ngăn, polyp to, hoặc các khối u trong mũi [52]

1.4.3 Khám nội soi

Dùng các ống soi cứng của Hopkins phóng

đại qua màn hình quan sát đánh giá hốc mũi là

một biện pháp vô cùng giá trị trong chẩn đoán các

bệnh mũi xoang [22] ,[ 28]

Ống nội soi Hopkins có thể khám chi tiết

những khe, ngách của mũi mà không thể nào quan

sát được với đèn Clar soi mũi trước hay sau Có

thể vào ngách mũi giữa quan sát xoang sàng

trước, vùng phức hợp lỗ ngách Cho phép tiếp cận

tổn thương hơn và tạo thuận lợi cho các xét

nghiệm khác như: Vi trùng học, mô học, tế bào

học, và quan sát được vận chuyển dịch nhày cũng

như tình trạng lỗ thông xoang

Camera nội soi Tai - Mũi - Họng model XEROK XR - 250

Theo Stamberger nội soi chẩn đoán giúp phát hiện những thay đổi bệnh lý bị che dấu dưới khám bằng đèn Clar, thậm chí kính hiển vi, trợ

Trang 27

giúp cho việc quyết định điều trị liệu pháp toàn thân hay tại chỗ, giúp quyết định chỉ định phẫu thuật

Phù nề NM, polyn, chảy dịch, vảy mũi và tắc nghẽn vùng phức hợp

lỗ ngách là các tổn thương trên nội soi chủ yếu của VMXMT

1.5 MỘT SỐ BỆNH VIÊM TAI MŨI HỌNG THƯỜNG GẶP

H1 Viêm OTN

H2 Viêm tai giữa cấp

H3 Viên tai giữa mạn

H13 Viêm thanh quản cấp

H14 Viêm thanh quản mạn

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Là những công nhân lao động trong hầm lò tại công ty than 35 – Tổng công ty than Đông Bắc

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu và MTLĐ

Các công nhân đang công tác trong công ty, có danh sách khám sức khỏe định kỳ Được chọn vào 2 nhóm

Nhóm nghiên cứu: Gồm các công nhân đang lao động trong hầm lò, không phân biệt lứa tuổi Số công nhân này thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với các yếu tố độc hại trong lò Thời gian làm trong lò ít nhất là 6 tháng từ lúc bắt đầu vào làm việc

Nhóm so sánh: Gồm các công nhân lao động ở phòng ban ngoài lò Không tiếp xúc trực tiếp với môi trường khai than trong hầm lò Không phân biệt lứa tuổi

Các chỉ số về MTLĐ trong và ngoài hầm lò

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Chúng tôi loại khỏi mẫu nghiên cứu

+ Những CN đã có thời gian lao động trong hầm lò nay chuyển ra ngoài +Những công nhân thay đổi vị trí làm việc giữa các lò

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Chọn mẫu nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu:

Trang 29

2 2 1

2 2 2 1 1 1 )

2 / 1 ( 2 1

) (

] 1 ( ) 1 ( [ )

1 ( 2 [

p p

p p p p Z p p Z

n n

n1: Cỡ mẫu nghiên cứu cho nhóm công nhân trong lò

n2: Cỡ mẫu nghiên cứu cho nhóm công nhân ngoài lò

p1: Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng cho nhóm công nhân trong lò (ước lượng

2.2.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu

* Thu thập số liệu sức khỏe TMH khi mới vào tuyển dụng làm việc

* Nghiên cứu các bệnh viêm tai mũi họng thông thường theo mã số sau:

H1 Viêm OTN

H2 Viêm tai giữa cấp

H3 Viên tai giữa mạn

Trang 30

H9 Viêm họng cấp

H10 Viêm họng mạn

H11 Viêm A cấp

H12 Viêm A mạn

H13 Viêm thanh quản

H14 Viêm thanh quản mạn

Tiêu chuẩn chẩn đoán: xem phụ lục 2

* Đo các thông số, chỉ số về các yếu tố môi trường:

- Vi khí hậu vị trí làm việc

- Bụi trong môi trường lao động

- Hơi khí độc trong môi trường lao động

2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu

- Chúng tôi lấy số liệu đo MTLĐ của mỏ

- Trực tiếp tham gia cùng đoàn vệ sinh dịch tễ

Trang 31

- Lấy mẫu ở các công trường trong hầm lò và ngoài lò Tổng mẫu là 7 địa điểm khác nhau và sau tính trung bình các chỉ số thành 2 nhóm trong lò và ngoài lò

* Tổ chức khám sức khỏe

Phương tiện nghiên cứu

+ Dụng cụ khám Tai mũi họng thông thường

+ Bộ khám nội soi Tai mũi họng: Nguồn sáng Halogen 250W; Camera

độ phân giải 700 TVL; có chức năng cân bằng trắng; màn hình y khoa chuyên dụng; Các ống nội soi đạt tiêu chuẩn Châu Âu

- Khám chuyên khoa tai mũi họng: Các bác sĩ chuyên khoa tai mũi họng

đã được tập huấn từ trước

- Các chuyên khoa khác: Các bác sỹ của đoàn khám sức khỏe bệnh viện

2.2.5 Địa điểm thời gian nghiên cứu

Công ty khai thác than 35 – Tổng công ty Đông Bắc Thời gian khám bệnh tháng 05/2014

* Đặc điểm chung về mỏ than 35

Trang 32

Mỏ than 35 được thành lập từ năm 1965 Ban đầu khai thác mỏ than lộ thiên rải rác tại khu Tây Bắc Ngã Hai và khu vực Mông Dương Sau đó khai thác chủ yếu tại 3 mỏ tại Tây Bắc Ngã Hai, Tây Bắc Khe Chàm và Tây Nam Khe Tam Ba mỏ này là mỏ khai thác than của công ty

Sản lượng hàng năm của công ty đạt 460 ngàn tấn than các loại Thời điểm cao nhất sản lượng tới 600 ngàn tấn than Tổng số cán bộ công nhân của công ty có khoảng 1530 người

* Công tác y tế lao động và phòng bệnh của mỏ than

Công ty tổ chức KSK định kỳ cho cán bộ công nhân lao động hàn năm 2 lần Kiểm tra môi trường lao động định kỳ

Kiểm tra an toàn lao động trong lò

Áp dụng một số biện pháp phòng hộ cá nhân:

+ Bảo hộ lao động: Mũ, khẩu trang, quần áo, giày ủng, găng tay …

+ Phương tiện tắm rửa khi hết ca

Trang 33

Số liệu (Về môi trường và sức khỏe) được xử lý trên máy vi tính, phần mềm SPSS với các test thống kê thường xuyên trong y tế

- Tính tỷ lệ % bệnh

- Tính tỷ suất hiện mắc giữa nhóm công nhân trong và ngoài lò

2.2.7 Khống chế sai số trong nghiên cứu

Hạn chế sai số trong đo đạc môi trường lao động

- Máy đo đảm bảo chuẩn

2.2.8 Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu

Giữ bí mật thông tin về môi trường và bệnh

Được sự đồng ý, tự nguyện của người tham gia nghiên cứu và lãnh đạo mỏ

Các thành viên nghiên cứu phải khách quan, trung thực

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 KẾT QUẢ KHÁM BỆNH TẠI CÔNG TY THAN 35

Bảng 3.1 Kết quả khám bệnh tại công ty than 35

Công trường

Bệnh

Trong lò (n=985)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Ta thấy các bệnh về đường hô hấp và da liễu của nhóm công nhân trong

lò cao hơn rõ rệt so với ngoài lò: Bệnh TMH 43,1% so với 37,7%; viêm phế quản 6,4% so với 4,1%

Trong các nhóm bệnh ta thấy tỷ lệ mắc bệnh RHM là cao nhất với trong

lò và ngoài lò

Tỷ lệ mắc bệnh TMH của công nhân trong lò và ngoài lò là khác nhau 43,1% và 30,3%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p <0,05

Trang 35

3.1.1 Tình hình bệnh tai mũi họng chung

Bảng 3.2 Tỷ lệ mắc bệnh tai mũi họng của công nhân

khi bắt đầu làm việc

Bệnh Công trường

Trang 36

Bảng 3.4 Tình hình mắc bệnh tai mũi họng của công nhân

Công trường

Bệnh

Trong lò (n=985)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Tai 64 6,5 7 5,7 72 6,5 0,14 >0,05 Mũi 305 31,0 13 10,7 318 28,7 21,9 <0,05 Họng 393 39,8 24 13,9 410 37,6 31,1 <0,05 Nhận xét:

Ta thấy bệnh viêm mũi họng là chủ yếu của công nhân mỏ than với viêm họng chiếm 37,6% và 28,7% bệnh về mũi, bệnh tai chiếm số lượng ít 6,5%

3.1.2 Tình hình mắc bệnh tai của công nhân

3.1.2.1 Triệu chứng cơ năng về tai

Bảng 3.5 Triệu chứng về tai

TT Triệu chứng

Trong lò (n=985)

Ngoài lò (n=122)

Tần số Tỷ lệ

(%) Tần số

Tỷ lệ (%)

Trang 37

3.1.2.2 Triệu chứng thực thể về tai

Bảng 3.6 Triệu chứng thực thể về tai

Trong lò (n=985)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Triệu chứng thực thể hay gặp là da ống tai nề đỏ chiếm tỷ lệ 3,8% trong

lò và 3,2% ngoài lò Triệu chứng nhầy mủ ống tai trong lò 2,3% và ngoài lò 0,8% sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê p>0,05

Trang 38

3.1.2.3 Tình hình mắc các bệnh tai thông thường

Bảng 3.7 Tình hình mắc bệnh tai

Trong lò (n=985)

Ngoài lò (n=122)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

3.1.3 Tình hình mắc bệnh mũi xoang

3.1.3.1 Triệu chứng cơ năng mũi xoang

Bảng 3.8 Triệu chứng cơ năng bệnh mũi xoang

TT Triệu chứng

Trong lò (n=985)

Ngoài lò (n=122)

χ² p

Tần số Tỷ lệ

(%) Tần số

Tỷ lệ (%)

Trang 39

Nhận xét:

Triệu chứng cơ năng thường gặp của công nhân trong lò và ngoài lò là ngạt tắc mũi 29,1% và 8,1%; hắt hơi ngứa mũi 17,4% và 3,2%; khịt mũi 26,9% và 9,0% sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05;

Triệu chứng chảy dịch mũi 12,2% và 9,0%; ảnh hưởng ngửi 0,7% và 0,8%; nhức đầu 3,6% và 2,4% của CN trong lò và ngoài lò tuy có sự khác biệt nhưng không có ý nghĩ thống kê p>0,05%

3.1.3.2 Triệu chứng thực thể mũi xoang

Bảng 3.9 Triệu chứng thực thể bệnh mũi xoang

Trong lò (n=985)

Ngoài lò (n=122)

χ² p

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

1 Cuốn dưới quá phát 237 24,0 4 3,2 27,8 <0,05

2 Dị hình vách ngăn 47 4,7 5 4,1 0,55 >0,05

3 Polyp khe giữa 19 1,9 2 1,6 0,05 >0,05

4 Niêm mạc thoái hóa 21 2,1 3 2,4 0,05 >0,05

5 Xuất tiết nhầy mủ sàn mũi 162 16,4 7 5,7 9,62 <0,05

6 Nhầy mủ cửa mũi sau 83 8,4 9 7,3 0,15 >0,05Nhận xét:

Triệu chứng cuốn dưới quá phát, xuất tiết dịch sàn mũi của nhóm trong

lò so với ngoài lò lần lượt là 24,0%% và 3,2%; 16,4% và 5,7% sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p< 0,05

Triệu chứng xuất nhầy của mũi sau, niêm mạc thoái hóa, polyp mũi của

CN trong lò và ngoài lò lần lượt là 16,4% và 5,7%; 8,4% và 7,3%;1,9% và 1,6% tuy có sự chênh lệch nhưng không có ý nghĩa thống kê

Trang 40

3.1.3.3.Tình hình mắc bệnh mũi xoang thông thường

Bảng 3.10 Tình hình mắc bệnh mũi xoang

TT Triệu chứng

Trong lò (n=985)

Tần

số

Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ hay gặp nhất là viêm mũi xoang mạn

Tỷ lệ mắc bệnh viêm mũi xoang mạn chiếm tỷ lệ cao 19,0% so với 4,9% Viêm mũi dị ứng trong lò và ngoài lò là 16,8% và 0,8% sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê p<0,05

Viêm mũi cấp gặp 10% với trong lò và 1,6% ngoài lò sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê p>0,05

Ngày đăng: 10/03/2018, 11:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Minh Chuẩn (2012). " Tổng kết ngành than Việt Nam 2012 và triển khai nhiệm vụ 2013". Báo cáo hội nghị tổng kết năm 2012.Tập đoàn công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết ngành than Việt Nam 2012 và triển khai nhiệm vụ 2013
Tác giả: Lê Minh Chuẩn
Năm: 2012
2. Nguyễn Ngọc Anh (2001). "Đặc điểm bệnh bụi phổi – Sillic trong công nhân khai thác than ở Thái Nguyên", Hội nghị khoa học Y học toàn quốc lần thứ V , NXB Y học.Tr: 333-341 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm bệnh bụi phổi – Sillic trong công nhân khai thác than ở Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: NXB Y học.Tr: 333-341
Năm: 2001
3. Lê Trung (2001). " Các bệnh hô hấp nghề nghiệp", Nhà xuất bản Y học Hà Nội. Tr: 116-205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bệnh hô hấp nghề nghiệp
Tác giả: Lê Trung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội. Tr: 116-205
Năm: 2001
4. Nguyễn Bá Chẳng , Vũ Quang Thiện ( 1998). "Tình hình môi trường lao động vùng mỏ Quảng Ninh ". Hội nghị khoa học Y học lao động toàn quốc lần thứ ba. Tr: 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình môi trường lao động vùng mỏ Quảng Ninh
5. Vũ Thành Khoa (2002). Nghiên cứu tình hình bệnh viêm mũi họng trong công nhân hầm lò mỏ than Thống Nhất – Quảng Ninh, Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình bệnh viêm mũi họng trong công nhân hầm lò mỏ than Thống Nhất – Quảng Ninh
Tác giả: Vũ Thành Khoa
Năm: 2002
6. Jolanta Walusiak (2006). " Occupational upper airway disease". Reprinted from Current Opinion in Allergy and Clinical Immunology, 6,1–6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational upper airway disease
Tác giả: Jolanta Walusiak
Năm: 2006
7. Huỳnh Khắc Cường và cộng sự (2006). "Bệnh hô hấp trên nghề nghiệp", Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh mũi xoang. Tr: 159-166 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh hô hấp trên nghề nghiệp
Tác giả: Huỳnh Khắc Cường và cộng sự
Năm: 2006
8. Collis E, Gilchrist J (1952). " History of lung diseases of coal miners in Great Britain". The university of Glasgow. p: 208-220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: History of lung diseases of coal miners in Great Britain
Tác giả: Collis E, Gilchrist J
Năm: 1952
9. Walusiak Jolanta (2006). "Occupational upper airway diseases". Reprinted from Current Opinion in Allergy and Clinical Immunology:vol. 6. p:1-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational upper airway diseases
Tác giả: Walusiak Jolanta
Năm: 2006
10. Debasish S, Zakir H (1995). "Occupational diseases and their determinants a study of coal mine workers in west Bengal".Management and Labour study, Rabindra Bharati university: p. 2-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Occupational diseases and their determinants a study of coal mine workers in west Bengal
Tác giả: Debasish S, Zakir H
Năm: 1995
13. Vũ Trường Phong (1998). Ảnh hưởng tiếng ồn công nghiệp đến sức nghe của công nhân nhà máy đóng tàu Sông Cấm và công ty vận tải thủy 3, Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng tiếng ồn công nghiệp đến sức nghe của công nhân nhà máy đóng tàu Sông Cấm và công ty vận tải thủy 3
Tác giả: Vũ Trường Phong
Năm: 1998
16. Trần Ngọc Lan (2001). "Góp phần nghiên cứu mối liên quan giữa tiếp xúc Amiang và tình hình bệnh đường hô hấp ở công nhân sản xuất tấm lợp fibro xi măng". Báo cáo Hội nghị Y học lao động và vệ sinh môi trường toàn quốc lần thứ IV. Viện y học lao động: Tr: 211-212 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu mối liên quan giữa tiếp xúc Amiang và tình hình bệnh đường hô hấp ở công nhân sản xuất tấm lợp fibro xi măng
Tác giả: Trần Ngọc Lan
Năm: 2001
17. Trần Văn Tuấn (2004). "Nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của công ty than Đông Bắc". Hội nghị quốc tế Y học lao động và vệ sinh môi trường.NXB Y học. Tr: 519-523 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm bệnh tật của công ty than Đông Bắc
Tác giả: Trần Văn Tuấn
Nhà XB: NXB Y học. Tr: 519-523
Năm: 2004
18. Lê Thanh Hải (2009). Nghiên cứu bệnh VMXMT ở công nhân luyện thép Thái Nguyên và đánh giá biện pháp can thiệp, Luận văn tiến sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu bệnh VMXMT ở công nhân luyện thép Thái Nguyên và đánh giá biện pháp can thiệp
Tác giả: Lê Thanh Hải
Năm: 2009
19. Đỗ Hàm (2007). Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp, NXB Lao động – Xã hội. Tr: 159-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vệ sinh lao động và bệnh nghề nghiệp
Tác giả: Đỗ Hàm
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội. Tr: 159-164
Năm: 2007
20. Trương Việt Dũng (1997). Bụi trong sản xuất và các bệnh do bụi NXB Y học Hà Nội, Vệ sinh môi trường dịch tễ - tập I. Tr: 461-473 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bụi trong sản xuất và các bệnh do bụi NXB Y học Hà Nội
Tác giả: Trương Việt Dũng
Nhà XB: NXB Y học Hà Nội
Năm: 1997
21. Trần Thị Liên (1999). Môi trường lao động và bệnh nấm da ở công nhân mỏ than Mạo Khê- Vàng Danh, Luận văn thạc sỹ, Trường đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Môi trường lao động và bệnh nấm da ở công nhân mỏ than Mạo Khê- Vàng Danh
Tác giả: Trần Thị Liên
Năm: 1999
22. Nguyễn Tấn Phong (1998). Phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật nội soi chức năng mũi xoang
Tác giả: Nguyễn Tấn Phong
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 1998
23. Nguyễn Thị Ngọc Dinh (2004). Lâm Sàng Tai Mũi Họng, Nhà xuất bản Y học Hà Nội. Tr: 131- 223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lâm Sàng Tai Mũi Họng
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Dinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội. Tr: 131- 223
Năm: 2004
24. Nguyễn Tấn Phong (2009). Phẫu thuật nội soi chức năng tai giữa, Nhà xuất bản Y Học, Hà Nội. Tr: 7-207 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phẫu thuật nội soi chức năng tai giữa
Tác giả: Nguyễn Tấn Phong
Nhà XB: Nhà xuất bản Y Học
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w