Đại học Quốc gia Hà Nội Khoa Sư phạm Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định Hoàng Văn Chính Luận văn ThS..
Trang 1Đại học Quốc gia Hà Nội Khoa Sư phạm
Các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự
học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng
Công nghiệp Nam Định
Hoàng Văn Chính Luận văn ThS Giáo dục học
Hà Nội 2008
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, đất nước ta đang thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giáo dục- đào tạo có vai trò rất quan trọng là đào tạo cho xã hội nguồn nhân lực có chất lượng “vừa hồng, vừa chuyên” như lời Bác Hồ dạy : “cách học tập: lấy tự học làm cốt” Nghị quyết TW 4 (khoá 7) đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục và đào tạo là phải “ khuyến khích tự học”, “áp dụng những phương pháp
giáo dục sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề” Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quộc lần thứ IX cũng nêu: “ Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện
để phát huy nguồn lực con người- yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững ” Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục thực hiện “ chuẩn hoá, hiện đại hoá”, phát huy tư duy khoa học và sáng
tạo, năng lục tự nghiên cứu của sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện
học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng các hình
Trang 2thức chính quy và không chính quy, thực hiên tốt công tác xã hội hoá giáo dục để
cả nước trở thành xã hội học tập
Tinh thần các nghị quyết của Đảng về giáo dục- đào tạo đã được thể chế hoá trong Luật giáo dục Điều 24- Luật giáo dục năm 1998, điều 28 Luật giáo dục sửa đổi năm 2005 chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo cho người học, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn
học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ
năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm đem lại niềm vui hứng thú học tập cho người học” Ngày 20/4/1999 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT có chỉ thị 15/1999/CT cho các trường sư phạm, trong đó có nêu vấn đề: “Đổi mới phương pháp giảng dậy và học tập, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên Người thầy giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức, điều khiển, định hướng quá trình dạy học, còn người học giữ vai trò chủ động trong quá trình học tập tiếp thu
kiến thức và tham gia nghiên cứu khoa học Có ý thức xây dựng thói quen tự học,
tự nghiên cứu giáo trình, tài liệu, gắn lý thuyết với thực hành, phát huy tính tích
cực, sáng tạo, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
Trong dự thảo đề án: Xây dựng xã hội học tập ở Việt nam, do Bộ Giáo dục
và Đào tạo phối hợp với hội khuyến học Việt Nam soạn thảo theo công văn số 167/ VPCP ngày 27/10/2003 của văn phòng Chính phủ, có đoạn viết: “ Cốt lõi của sự học là “ con người ham muốn học và biết cách tự học” Phát huy nội lực của người học bằng tự học, tự rèn luyện lập thân, lập nghiệp Dạy cho người học biết cách tự tìm, tự tạo việc làm sau khi ra trường tiếp tục vừa làm, vừa học, thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của công nghệ và thực tế sản xuất Triển khai nhiều hình thức cho người lớn tuổi và trẻ em thất học ở bên ngoài nhà trường cũng được học và tự học thường xuyên liên tục, suốt đời Động viên, khuyến khích, hỗ trợ
Trang 3cho mọi người tự học ” Như vậy tự học là một tư tưởng lớn trong chiến lược phát triển giáo dục & đào tạo ở nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Quản lí giáo dục nói chung, quản lí dạy học nói riêng có nội dung cốt lõi là quản lí các hoạt động của nhà trường, trong đó có hoạt động dạy học
Dạy học là quá trình tương tác hoạt động giữ người dạy và người học, trong
đó người dạy thực hiện những tác động nhằm gây ảnh hưởng đến người học, trong
và bằng cách đó hình thành và phát triển hoạt động học- tự học cho người học
Như vậy, quản lí hoạt động dạy học xét đến cùng là nhằm giúp cho người học, học có kết quả và hiệu quả cao Điều đó cũng có nghĩa, phải quản lí được hoạt động tự học của họ, hình thành và phát triển cho người học năng lực tự học
Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định nói riêng và các trường đào tạo nghề trong tỉnh nói chung đang trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học Theo đó mục tiêu cần đạt được của nhà trường là phải biết dạy cho học sinh, sinh viên biết cách học Phương pháp giáo dục, thường xuyên phải phát huy vai trò chủ động, khai thác kinh nghiệm của người học, coi việc bồi dưỡng năng lực tự học, sử dụng phương tiện hiện đại và công nghệ thông tin để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học
Quản lý hoạt động dạy và học nói chung, quản lý việc tự học của sinh viên nói riêng có vai trò rất quan trọng Việc phát triển năng lực tự học cho sinh viên sẽ góp phần tích cực cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định
Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tôi chọn đề tài: “Các biện pháp quản
lý nhằm tăng cường hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định” làm đề tài luận văn tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 4Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy học ngoại ngữ ở trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm tăng cường
hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trong trường
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lí hoạt động học tập ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng
Công nghiệp Nam Định
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
4.Giả thuyết nghiên cứu
Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hợp lý, khả thi để tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định sẽ từng bước nâng cao chất lượng dạy học môn học và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo của trường
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý dạy học và quản lý hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên
- Nghiên cứu thực trạng về hoạt động tự học và quản lý hoạt động tự học Ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định hiện nay
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm tăng cường hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
6 Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên nội trú Trường Cao đẳng Công nghiệp Nam Định
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 57.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống những vấn đề về lý luận có liên quan đến nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài qua sách, báo và các tài liệu tham khảo
7.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+ Phương pháp điều tra: sử dụng mẫu phiếu điều tra với sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lý để nắm được về thực trạng tự học của sinh viên, về công tác quản lý
hoạt động tự học của trường
+ Thống kê, phân tích tổng hợp, sử dụng số liệu sau điều tra
+ Các phương pháp hỗ trợ: trao đổi, phỏng vấn với sinh viên, giáo viên và
cán bộ quản lý
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn được trình bày theo ba chương
+ Chương 1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
+ Chương 2 Thực trạng công tác quản lí hoạt động tự học ngoại ngữ của sinh viên trường Cao đẳng Công nghiệp Nam định
+ Chương 3 Biện pháp quản lí nhằm tăng cường hoạt động tự học ngoại ngữ của
sinh viên trường Cao Đẳng Công Nghiệp Nam định
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC NGOẠI NGỮ CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ giữa thế kỷ 18 , cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, khoa
học quản lí cũng phát triển, xuất hiện các học thuyết, các trường phái quản lí mới
Chẳng hạn, Fredrick Winslow Taylor (1856- 1915) với thuyết quản lí khoa học;
Henry Fayol (1841-1925) với thuyết quản lí hành chính; Mary Parker Follet (1868-
1933), Elton Mayor (1880-1949) thiên về trường phái quản lí theo quan hệ con
người; G.B Watson (1878-1958); Douglas Hugo Munsterberge (1683-1916);
Abraham Maslow (1908-1970); Douglas Mc.Gregor (1906-1964) với thuyết quản
lí theo hành vi Về thuyết quản lí tổ chức, phải kể đến Chester Irving Barnard
(1886-1961) Về các thuyết văn hoá quản lí có thuyết Z của William Ouchi, và đại
biểu của trào lưu này còn phải kể đến Thomas J Peters, Robert H Waterman,
Trên nền tảng khoa học quản lí chung, khoa học quản lí giáo dục trên thế giới và
Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể
Cũng từ giữa thế kỷ 18 này, trên thế giới đã xuất hiện những công trình về
thực tiễn hoạt động giáo dục của K Raumer (1842, Đức), về cải cách giáo dục của
R H Quych (1868, Mỹ) Từ giữa và cuối thế kỷ 19, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên
cứu những vấn đề cụ thể về giáo dục, trong đó đề cập tới quản lí giáo dục như
K.Ker, A.Lavrôxki, M.I Calinin, N.K Crupxcaia, A.X Makarencô
Ở Việt Nam, một số tư tưởng, quan điểm về giáo dục cũng đã được các
nhà nghiên cứu đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình như Ngô Sĩ
Liên (TK 15), Lê Quí Đôn (TK 18) Trong nửa đầu thế kỷ 19, Phan Huy Chú đã
nghiên cứu chi tiết, có hệ thống về công việc điều hành, tổ chức thi cử trong giáo
dục Từ 1945, sau cách mạng tháng 8 thành công, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt
động sư phạm đã đề cập tới quản lí giáo dục, đặc biệt như Hồ Chủ Tịch trong “ Tư
Trang 7tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã có một hệ thống các bài viết, bài nói về giáo dục
Tiếp theo đó, có những tổng kết lí luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển, quản lí giáo dục theo một số giai đoạn như Nguyễn Văn Huyên với cuốn “ Quá trình 16 năm xây dựng giáo dục - Hà nội, 1961”, Nguyễn Khánh Toàn với “20 năm xây dựng giáo dục - Hà nội, 1965”, Nguyễn Lân với “Lịch sử giáo dục thế giới - Hà nội, 1958”,
Trưởng thành, lớn mạnh theo sự phát triển kinh tế - xã hội, khoa học quản lí giáo dục Việt nam dần dần hoàn thiện, tiếp cận với thế giới Trong quá trình đó, xuất hiện nhiều nhà quản lí giáo dục như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Phúc, Lê Sơn,
Vào cuối thế kỷ 20, bước sang đầu thế kỷ 21, xuất hiện những nhà nghiên cứu kết hợp với thực tiễn giáo dục ở Việt nam với những yếu tố hiện đại như Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay”, “ Quản lí giáo dục- nhiệm vụ và phương hướng”, NXB Đại học - Hà nội, 1996; Nguyễn Quốc Chí- Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Bài giảng Cơ sở khoa học quản lí ”, Hà nội 1996/2004; Nguyễn Văn Lê với “ Khoa học quản lí”, 1994; Bùi Văn Quân “động lực học tập và tạo động lực học tập”, Tạp chí giáo dục, tháng 12/2005 Trang 47 “Quản lý giáo dục”, NXB giáo dục, 2007
Nghiên cứu quản lý hoạt động tự học của sinh viên nói chung đã được thực hiện trong một số nghiên cứu luận văn thạc sĩ QLGD Theo hướng nghiên cứu này,
có thể kể đến một số công trình như: “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình” của tác giả Đỗ Thị Lan Hương; “Một
số biện pháp tăng cường quản lí nâng cao chất lượng dạy học môn ngoại ngữ ở trung tâm Đào tạo bồi dưỡng cán bộ trường Đại học Hải Phòng” của tác giả Nguyễn Phương Lan Rõ ràng, những nghiên cứu về quản lý tự học của sinh viên cao đẳng, đặc biệt là quản lí hoạt động tự học ngoại ngữ nhằm tăng cường năng lực
Trang 8tự học cho sinh viên cao đẳng tuy đã được nhiều người quan tâm, song vẫn còn nhiều hạn chế
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Tự học
Thông thường, tự học được hiểu là tự mình học lấy cho mình Tuy nhiên, chuyện tự học đề cập ở đây không phải chỉ được hiểu một cách đơn giản như vậy
Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi
cả cơ bắp, cùng các phẩm chất, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi,…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình”
Giáo sư Vũ Văn Tảo nhận định: “Sự học dù dưới dạng nào, tại trường lớp hoặc ngoài trường lớp, có người thầy hướng dẫn hoặc không có thầy, có sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật, của công nghệ thông tin hoặc chưa, đều phải có sự tự học… Học là một quá trình trong đó chủ thể tự biến đổi mình, tự làm phong phú mình bằng cách thu lượm và xử lý thông tin từ môi trường sống xung quanh mình”
Nhà giáo dục John Lubbock nói: “Cái gì ta tự học được thì mới thực là của
ta, hơn những cái người khác dạy cho ta”
Tự học là nội lực của người học, là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân người học Có tự học mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề, nhờ đó mới có tư duy sáng tạo Tự học là quá trình tích cực, tự giác chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học Nhờ có tự học, người học mới thực sự nắm vững tri thức, làm chủ tri thức và vận dụng những tri thức đó vào thực tiễn cuộc sống Tự học có thể tóm tắt lại như sau: Trò học, cốt lõi là tự học, học cách
Trang 9học, cách tư duy Thầy dạy cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy Tác động dạy của người thầy là ngoại lực đối với sự phát triển của người học Theo quy luật phát triển của sự vật, ngoại lực dù quan trọng đến đâu, lợi hại đến mấy cũng chỉ là nhân
tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện Nội lực mới là nhân tố quyết định sự phát triển của bản thân sự vật Sự vật đó phát triển đến trình độ cao khi nội lực và ngoại lực cộng hưởng được với nhau
Hoạt động tự học là công việc mà mọi người có thể tiến hành ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách và với mọi nội dung Nói như giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn
là thực hiện “5 mọi” trong học tập
Khi bàn về vấn đề tự học, nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười có ghi trong thư gửi “Hội thảo khoa học nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo” ngày 06/01/1998 như sau: “Tự học, tự đào tạo là con đường phát triển suốt cuộc đời mỗi con người trong điều kiện kinh tế – xã hội nước ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của con người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành tự giáo dục Quy mô giáo dục được mở rộng khi có phong trào toàn dân tự học”
Hoạt động tự học diễn ra với ba hình thức sau:
- Hình thức thứ nhất: Có sách, có tài liệu, người học tự tìm kiếm tri thức để
thoả mãn nhu cầu nâng cao, mở rộng hiểu biết của riêng mình, bổ sung, mở rộng kiến thức ngoài chương trình đào tạo của nhà trường Đây là tự học ở mức độ cao
- Hình thức thứ hai: Có sách, có tài liệu, và có thêm người thầy ở xa hướng
dẫn tự học thông qua các phương tiện viễn thông Hướng dẫn tự học từ xa là hướng dẫn tư duy trong việc chiếm lĩnh kiến thức Đây là tự học có hướng dẫn
- Hình thức thứ ba: Có sách, có tài liệu, có thầy trực tiếp hướng dẫn một số
tiết trong ngày, trong tuần Tự học diễn ra dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn cụ thể trước
Trang 10của thầy và chịu sự kiểm tra kết quả sau tự học Đây là hình thức trực tiếp có thầy trên lớp và về nhà tự học theo hướng dẫn
Trong đề tài này, căn cứ vào mục đích và phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ
đề cập đến hoạt động tự học theo hình thức thứ ba
1.2.2 Sinh viên
Trong tiếng Pháp, từ “étudiant” (sinh viên) được cấu thành từ từ gốc
“étude” (học tập, nghiên cứu) Trong tiếng Anh, từ “student” (sinh viên) được cấu thành từ, từ gốc “study” (học tập, nghiên cứu) Như vậy, sinh viên là những người gắn liền với công việc học tập và nghiên cứu
Về trình độ văn hoá, sinh viên là những người đã tốt nghiệp bậc học trung học phổ thông và có đủ điều kiện để học tiếp các cấp học cao hơn như cao đẳng, đại học
Hầu hết sinh viên ở độ tuổi từ 18 đến 22, đang trưởng thành về nhận thức
xã hội, tinh thần và đạo đức, bắt đầu hình thành nhân cách và những phẩm chất nghề nghiệp Sinh viên sống có niềm tin, có lý tưởng, có ước mơ cao đẹp, có hoài bão cho tương lai, có tình cảm nghĩa vụ, tinh thần trách nhiệm, khát vọng được cống hiến Họ có tính độc lập sáng tạo, có nguyện vọng tự khẳng định mình và mong muốn xã hội đánh giá đúng mình Sinh viên là lứa tuổi có thể lực đang phát triển khoẻ mạnh, trí tuệ tiếp thu nhanh, nhạy bén, ham học hỏi và tìm tòi cái mới
Bên cạnh những điểm mạnh trên đây, sinh viên cũng thường bộc lộ một số nhược điểm Họ mới rời ghế nhà trường phổ thông, chưa từng trải, có ít kinh nghiệm trong cuộc sống, tiếp thu các yếu tố bên ngoài không chọn lọc kỹ, khi có tác động của ngoại cảnh thì dễ bị ảnh hưởng Hơn nữa, sau kỳ thi tuyển sinh căng thẳng, những sinh viên không xác định đúng mục đích, động cơ học tập dễ có tư tưởng “xả hơi”, học hành chểnh mảng, thậm chí chơi bời quá đà dẫn đến sa ngã Vì vậy, nhà trường cần có những biện pháp quản lý, giáo dục, định hướng cho sinh viên để họ tránh những lệch lạc trong cuộc sống cũng như học tập