Nội dung nghiên cứu của đề tài được chia làm ba phần như sau:Chương I: Các vấn đề chung về xuất khẩu sản phẩm dệt mayChương II: Thực trạng xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường Hàn Quốc của công ty cổ Phần May Bắc GiangChương III: Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường Hàn Quốc của công ty cổ Phần May Bắc Giang.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO, môi trường kinh doanh quốc tế được
mở rộng tạo cho chúng ta nhiều cơ hội nhưng cũng không ít những khó khăn, tháchthức cho quá trình phát triến Dưới tác động của hội nhập thương mại quốc tế, hoạtđộng xuất nhập khẩu sản phẩm dệt may của chúng ta không ngừng phát triến và đónggóp một phần không nhỏ vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Với lợi thế về xuất khẩu sản phẩm dệt may, vấn đề thâm nhập và phát triến cácthị trường mới có dung lượng thị trường lớn đang đặt ra cho các doanh nghiệp dệtmay Việt Nam những khó khăn và thách thức Hàng dệt may Việt Nam đã có mặt vàdần củng cố vị trí của mình tại các thị hường lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản Tuy nhiênhàng dệt may Việt Nam đang gặp những khó khăn không nhỏ trong việc đẩy mạnhlượng hàng xuất khẩu và để tìm được lối ra cho bài toán thị trường tiêu thụ
Tiềm năng họp tác kinh tế - thương mại giữa Việt Nam và Hàn Quốc rất to lớn,cùng với việc ký kết hiệp định song phương, quan hệ thương mại Việt Nam- HànQuốc đã bước sang trang mới Vì vậy việc xem xét khả năng thâm nhập và đẩy mạnhxuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị hường Hàn Quốc đã trở lên rất cầnthiết
Công ty Cổ Phần May Bắc Giang là một trong những doanh nghiệp uy tíntrong xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường Hàn Quốc, trong bước chuyểnmình, từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may, công ty xác địnhHàn Quốc là thị trường mục tiêu và có rất nhiều tiềm năng cho phát triển Trong quáhình thực tập tại công ty, em thấy cần thiết phải có những biện pháp cụ thể nhằm đẩy
Trang 2mạnh hoạt động xuất khẩu sản phẩm dệt may của công ty sang thị trường Hàn Quốcnhất là trong bối cảnh hiện nay
Xuất phát từ ý tưởng đó, cùng với những kiến thức được trang bị ở nhà truờng
và những thông tin thực tế thu nhập được trong thời gian thực tập, em đã quyết định
lựa chọn đề tài: “Các giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị
trường Hàn Quốc của công ty cổ Phần May Bắc Giang” làm đề tài cho chuyên đề
thực tập tốt nghiệp của mình
2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập hung vào hoạt động xuất khẩu của mộtdoanh nghiệp bao gồm nhiều khâu từ khâu điều ha thị trường nước ngoài, quảng básản phẩm, tìm và lựa chọn đối tác xuất khẩu, đàm phán, ký kết, thực hiện họp đồng,đánh giá hoạt động xuất khẩu và các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩucủa doanh nghiệp
3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài được chia làm ba phần như sau:
Chương I: Các vấn đề chung về xuất khẩu sản phẩm dệt may
Chương II: Thực trạng xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị trường Hàn Quốc
của công ty cổ Phần May Bắc Giang
Chương III: Các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm dệt may sang thị
trường Hàn Quốc của công ty cổ Phần May Bắc Giang.
Trang 34 Phạm vi nghiền cứu và phương pháp nghiền cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động xuất khẩu sản phẩm dệt may sang
thị truờng Hàn Quốc của công ty cổ Phần May Bắc Giang
Phuơng pháp nghiên cứu của đề tài: Trong đề tài này em sử dụng phuơng phápthống kê số liệu để phân tích, đánh giá thực trạng xuất khẩu sản phẩm dệt may củacông ty trong thời gian qua, kết họp với biện pháp tổng họp dữ liệu, phân tích thịtruờng và dự báo từ đó đua ra những biện pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh hoạt độngxuất khẩu hàng dệt may sang thị truờng Hàn Quốc của công ty Cổ Phần May BắcGiang
Trong khả năng có thể em đã rất cố gắng để hoàn thiệu đề tài này, tuy nhiên
do hạn chế về mặt thời gian cũng nhu nguồn tài liệu lên chắc chắn bài viết này sẽ cònnhiều thiếu sót, rất mong nhận đuợc lời nhận xét, đánh giá của các thầy cô để bài viếtcủa em đuợc hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐÈ CHUNG VÈ XUẤT KHẨU SẢN PHẨM DẸT MAY
I CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XUẤT
1 CÁC KHÁI NIỆM VÊ XUẤT KHAU
xuất khẩu là một hoạt động kinh doanh thu lợi bằng cách bán sản phẩm hoặc
dịch vụ ra thị truờng nuớc ngoài nhằm thu ngoại tệ
Thuơng mại quốc tế nói chung và xuất khẩu nói riêng là quá trình hao đổihàng hoá giữa các nuớc thông qua buôn bán nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.Trao đổi hàng hóa phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa những nguời sản xuất kinhdoanh hàng hoá riêng biệt của các quốc gia Xuất khẩu tạo điều kiện cho các nuớctham gia và phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế và làm giàu cho đất nuớc
Trang 4Xuất khẩu đã đuợc thừa nhận là một hoạt động rất cơ bản của hoạt động kinh
tế đối ngoại, là phuơng tiện thúc đẩy nền kinh tế phát triển Việc mở rộng xuất khẩu
để tăng thu nhập ngoại tệ cho đất nuớc và cho nhu cầu nhập khẩu phục vụ cho sựphát triển kinh tế là một mục tiêu quan trọng nhất của chính sách thuơng mại Nhànuớc đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế huớng theo xuấtkhẩu, khuyến khích khu vực tu nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết việc làm vàtăng thu ngoai tệ cho đất nuớc
Hoạt động xuất khẩu diễn ra hên mọi lĩnh vực, mọi điều kiện kinh tế, từ xuất
khẩu hàng hoá tiêu dung đến xuất khẩu tu liệu sản xuất, từ máy móc thiết bị cho đếncác máy móc công nghệ kĩ thuật cao, từ hàng hoá hữu hình đến hàng hoá vô hình Tất
cả đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho các quốc gia tham gia
Hàng hoá xuất khẩu đuợc hiểu gắn với khái niệm thuơng mại hàng hoá theo
quy uớc của Liên Họp Quốc và WTO là những sản phẩm hàng hoá hữu hình đuợc sảnxuất hay gia công tại các cơ sở sản xuẩt, gia công và các khu chế xuât với mục đích
để tiêu thụ tại thị truờng nuớc ngoài đi qua Hải Quan Hàng hoá tạm nhập tái xuấtcũng đuợc coi là hàng hoá xuất khẩu Hàng hoá xuất khẩu là hàng hóa khác biệt sovới hàng hoá tiêu dùng trong nuớc Những hàng hóa xuất khẩu phải đáp ứng đuợcyêu cầu của nguời tiêu dùng tại nuớc nhập khẩu Chất luợng phải đáp ứng đuợc cácthông số về tiêu dùng, kĩ thuật và môi truờng, đặc biệt tính cạnh tranh cao ở nuớcnguời nhập khẩu
Thị trường xuất khẩu hàng hoá là tập họp người mua và người bán có quyết
định khác nhau trao đổi với nhau để xác định giá cả, sản lượng hàng hoá mua bán,chất lượng hàng hoá và các điều kiện mua bán khác theo hợp đồng, thanh toán chủyếu bằng ngoại tệ mạnh và phải làm thủ tục Hải Quan qua biên giới Thị trường xuấtkhẩu hàng hoá bao hàm cả thị trường xuất khẩu trực tiếp( nước tiêu dùng cuối cùng)
Trang 5và thị trường xuất khẩu hàng hoá gián tiếp( xuất khẩu qua hung gian) Thị trườngxuất khẩu hàng hoá không chỉ giới hạn ở những thị trường nước ngoài, thị trườngtrong nước trong nhiều trường hợp là xuất khẩu tại chỗ( nhất là đối với các ngànhxuất khẩu dịch vụ như: Du lịch, tài chính ngân hàng, bảo hiểm ) đối với hàng hoáxuất khẩu từ các khu chế xuất của Việt Nam vào chính thị trường Việt Nam khi đó thịtrường nội địa có thế coi là thị trường xuất khẩu hàng hoá đối với hàng hoá của cáckhu chế xuất
Phát triển thị trường xuất khẩu là mở rộng các thị trường cho xuất khẩu
hàng hoá của một nước bao gồm cả phát triến theo chiều rộng và phát triển theo chiềusâu
Phát triển theo chiều rộng là phát triển về số lượng khách hàng có cùng loạinhu cầu đế bán nhiều hơn một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó Đồng thời còn baogồm cả việc phát triến về mặt không gian và phạm vi địa lý Đó là việc đòi hỏi khôngngừng nghiên cứu xu thế biến động của thế giới, các thị trường nước ngoài để tiếnhành thâm nhập vào các thị trường đó
Phát triển theo chiều sâu là phát triển thị trường về chất bao gồm như: Nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đưa ra thị trường những loại sản phẩm, dịch vụ
có chất xám cao Phát triển theo chiều sâu có thể thực hiện theo cách cắt lóp phânđoạn thị trường để thoả mãn nhu cầu muôn hình muôn vẻ của khách hàng
2 Nội dung cơ bản của hoạt động xuất khẩu
Hoạt động xuất khẩu nó không chỉ là một hành vi buôn bán đơn lẻ mà là cảmột hệ thống các quan hệ mua bán phức tạp có tổ chức bên trong và bên ngoài nhằmmục đích lợi nhuận, thúc đẩy hàng hoá sản xuất phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế,
ổn định và nâng cao mức sống của nhân dân Mặt khác hoạt động này dễ đem lại hiệuquả đột biến nhung cũng có thể lại gây ra thiệt hại lớn vì nó phải đối đầu với một hệ
Trang 6thống kinh tế khác từ bên ngoài mà các chủ thể trong nuớc tham gia xuất khẩu trongnuớc tham gia xuất khẩu không dễ dàng khống chế đựơc Vì vậy tất cả các doanhnghiệp dù đã có kinh nghiệm hay bắt đầu tham gia vào kinh doanh đều phải tuân thủmột cách nghiêm túc các công đoạn của nó, Hoạt động xuất khẩu đuợc thực hiện vớinhỉều khâu từ: nghiên cứu tiếp cận thị truờng, lập phuơng án kinh doanh, quảng cáođàm phán và kí hợp đồng xuất khẩu, thực hiện hợp đồng xuất khẩu đến giải quyếtkhiếu nại nếu có Tất cả đều phải đuợc nghiên cứu k ỹ luỡng và phải đặt trong mốiliên hệ lẫn nhau, tranh thủ nắm bắt những lợi thế nhằm đảm bảo hoạt động kinhdoanh đạt hiệu quả cao
2.1 Nghiên cứu tiếp cận thị trường
Đây là bước quan trọng, quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp tạimột thị hường nhất định Ngiên cứu tiếp cận thị trường giúp các nhà kinh doanh cóđầy đủ các thông tin cần thiết từ đó mới có thể đưa ra được các quyết định chính xác,kịp thời Hoạt động nghiên cứu thị trường xuất khẩu về cơ bản bao gồm những nộidung sau:
2.1.1 Nghiên cứu nhu cầu về sản phẩm hàng hoá mà doanh nghiệp có thể cung ứng
Việc nghiên cứu nhằm giải đáp các vấn đề về: Nhu cầu của thị trường, thị hiếutiêu dùng, khả năng và các nguồn cung cấp chủ yếu của các đối thủ cạnh hanh Từ đóxác định được khả năng cạnh hanh của doanh nghiệp mình trên thị trường Chúng tacần phải làm rõ tình hình tiêu thụ của thị hường, của các loại hàng hoá khác nhau này
và đặc biệt là nghiên cứu các đặc điểm của các loại hàng hoá bán chạy trên thị trườngnhằm chủ động thích ứng với nhu cầu thị trường, mở rộng xuất khẩu Một yếu tốquan trọng nữa cần phải xem xét là tìm hiểu giá trị thương phẩm của hàng hoá, chu kìsống của sản phẩm( là tiến trình phát triển của việc tiêu thụ một mặt hàng bao gồm
Trang 7bốn giai đoạn: Thâm nhập - Phát triển - Bão hoà - Thoái hào) Việc xuất khẩu nhữngmặt hàng đang ở hai giai đoạn đầu gặp nhiều thuận lợi nhất còn ở hai giai đoạn saugặp nhiều khó khăn hơn Tuy nhiên khi có mặt hàng đang ở giai đoạn Thoái trào tavẫn có thế đẩy mạnh được xuất khẩu nhờ các biện pháp xúc tiến tiêu thụ, cải tiến hệthống tiêu thụ, giảm giá
2.1.2 Nghiên cứu dung luợng thị truờng
Nghiên cứu dung lượng thị trường là việc nghiên cứu về khối lượng hàng hoá
mà thị trường có thế tiêu thụ hoặc giao dịch đế có thế nhập khẩu trong một thời giannhất định Nghiên cứu dung lượng thị trường cần xác định nhu cầu thị trường, khảnăng sản xuất tại chỗ, triển vọng thay đổi dung lượng, khả năng và các nguồn cungcấp chủ yếu của các đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở phân tích, người ta làm thànhbảng cân đối nhu cầu về từng mặt hàng Bảng đó có các số liệu về sản xuát, nhậpkhẩu, xuất khẩu, dự trữ, diễn biến nhu cầu của khả năng cung cấp Từ đó rút ra nhucầu xuất khẩu của công ty vào thị trường đó
Các nhân tố làm dung lượng thị trường thay đổi có thể chia thành ba nhóm cănbản dựa vào thời gian ảnh hưởng của nó tới thị trường
Nhóm I: Các nhân tố làm cho dung lượng thị trường có tính chu kì như: sự vậnđộng của tình hình kinh tế các nước trên thế giới, nhất là các nước có nhu cầu nhậpkhẩu hàng hoá mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, tính thời vụ trong quá trìnhsản xuất và luu thông hàng hoá
Nhóm II: Các nhân tố ảnh huởng lâu dài đến sự biến đổi của dung luợng thịtruờng nhu: Tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ, các biện pháp, chế độ chính sáchcủa nhà nuớc, thị hiếu tập quán của nguời tiêu dùng
Nhóm III: Các nhân tố ảnh huởng tạm thời đến thị truờng nhu hiện tuợng đầu
cơ trên thị truờng, bão lũ, hạn hán
Trang 8Việc nắm đuợc dung luợng thị trường giúp cho nhà kinh doanh cân nhắc để raquyết định kịp thời, chính xác, nhanh chóng chóp được thời cơ giao dịch nhằm đạthiệu quả cao
2.1.3 Nghiên cứu các hình thức và biện pháp tiêu thụ hàng hoá
Nghiên cứu để biết điều kiện về chính trị, thương mại của nước đó, các mốiquan hệ và các điều kiện hiệp định thương mại của chính phủ nước khác, hệ thốngpháp luật và các biện pháp điều hoà xuất khẩu, biểu thuế quan hàng hoá xuất khẩu,việc tham gia của nước đó vào các khối chính trị, các tổ chức kinh tế thế giới, luậtngoại hối, các chế độ tín dụng và các biện pháp cơ chế xuất nhập khẩu
2.1.4 Nghiên cứu giá cả hàng hoá và mạng luói kênh phân phối trên thị truờng
Trong buôn bán quốc tế giá cả hàng hoá là một vấn đề phức tạp do buôn bándiễn ra ở các khu vực khác nhau với thời gian dài và vận chuyển qua nhiều nước vớicác thủ tục và chính sách thuế khác nhau Để thích ứng với các biến động của thịtrường, các nhà kinh doanh phải thực hiện việc định giá linh hoạt phù họp với khảnăng và mục đích của doanh nghiệp Thông thường việc định giá dựa trên ba căn cứsau: Gía thành cộng chi phí khác, sức mua của người tiêu dùng và nhu cầu của họ, giá
cả của đối thủ cạnh tranh Nghiên cứu giá cả là một khâu rất quan trọng trong hoạtđộng xuất khẩu hàng hoá, là chiến luợc uu tiên hàng đầu vì nó ảnh huởng trực tiếpđến khối luợng tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp
Nghiên cứu mạng luới kênh phân phối của thị truờng là nghiên cứu để lựachọn hệ thống kênh phân phối phù hợp với loại hàng hoá của doanh nghiệp nhằm vàođối tuợng khách hàng nhất định
Trang 92.1.5 Nghiên cứu lựa chọn đối tác kỉnh doanh
Kết quả xuất khẩu phụ thuộc vào thuơng nhân cụ thể mà doanh nghiệp lựachọn vì vậy cần phải làm rõ: Thái độ chính trị của đối tác, Triết lý kinh doanh, Khảnăng vốn và cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính, uy tín, mối quan hệ của họ hên thuơngtruờng, những nguời chịu hách nhiệm thay mặt đế kinh doanh và phạm vi của họ đốivới nghĩa vụ công ty
Nhu vậy việc nghiên cứu tiếp cận thị truờng giúp cho doanh nghiệp xuât khẩuthu thập đuợc những thông tin cần thiết về thị truờng từ đó doanh nghiệp có thể chủđộng nắm bắt thời cơ, lựa chọn đuợc phuơng thức thanh toán và những điều kiện giaodịch thích họp
2.2 Lập phương án kỉnh doanh
Trên cơ sở kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường,doanh nghiệp kinh doanh quốc tế bắt đầu lập phương án kinh doanh, bao gồm cácbước sau:
Đánh giá tình hình thị trường: Trong bước này người lập phương án rút ranhững nét tống quát về tình hình thị trường, phân tích những khó khăn và thuận lợitrong kinh doanh xuất khẩu
Chọn mặt hàng, thời cơ và phong thức xuất khẩu: Sự lựa chọn này chỉ có tínhthuyết phục hên cơ sở phân tích tình hình có liên quan
Đe ra mục tiêu: Những mục tiêu đề ra trong một phuơng án kinh doanh xuấtkhẩu bao giờ cũng là mục tiêu cụ thể nhu: Doanh số bán hàng, giá bán, phát triến thịtruờng ở những thị truờng nào, tăng thị phần
Đe ra biện pháp thực hiện: Những biện pháp thực hiện này là công cụ để đạttới mục tiêu đề ra Những biện pháp có thể là: Đầu tu sản xuất, nâng cao chất luợng
Trang 101 0
sản phẩm, cải tiến bao bì, đẩy mạnh quảng cáo, lập chi nhánh ở nuớc ngoài, mở rộngmạng luới đại lý
Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của việc xuất khẩu: Các chỉ tiêu đánh giá chủyếu là: Tỷ suất ngoại tệ, chỉ tiêu thời gian hoà vốn, chỉ tiêu điểm hoà vốn
2.3 Quảng cáo đàm phán ký kết họp đồng xuất khẩu.
Sau khi nghiên cứu tiếp cận thị trường, lập phương án kinh doanh để chuẩn bịcho những giao dịch xuất khẩu các doanh nghiệp bắt đầu tiến hành tiếp xúc với kháchhàng bằng biện pháp quảng cáo
2.3.1 Quảng cáo
Quảng cáo là công cụ giao tiếp nhìn/ nghe - nhìn thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng Quảng cáo nhằm tới công chúng, những người có ảnh hưởng,các nhà phân phối, các khách hàng công nghiệp với mục đích là làm cho biết, làmcho thích, làm cho mua sản phẩm
Những nội dung chủ yếu của quảng cáo là: phẩm chất của hàng hoá, côngdụng của hàng hoá, phương pháp sử dụng và bảo quản hàng hoá, đặc điểm của hànghoá đó, điều kiện mua bán và giá cả, địa điểm bán hoặc nơi trưng bày, địa chỉ củađơn vị nhập khẩu hoặc cơ quan đại diện cho đơn vị đó, cách thức gửi dơn đặthàng.Các phương thức quảng cáo chủ yếu là thông báo qua báo chí, tập san, các loại
ấn phẩm, phát thanh, truyền hình, mạng Internet, điện ảnh, quảng cáo ngoài trời,tham gia các hội chợ hiến lãm
Công tác quảng cáo tuyên truyền càng tốt thì càng thúc đẩy xuất khẩu, mởrộng thị hường tiêu thụ, đẩy nhanh tốc độ và quy mô xuất khẩu Việc quảng cáo cầnphải chú ý tới:
+ Các mục tiêu quảng cáo: Được thể hiện dưới dạng định lượng( khối lượngbán, thị phần) hoặc dưới dạng định tính( hình ảnh, sáng tạo, tiếng tăm) Chẳng hạn,
Trang 11để làm cho biết đến một sản phẩm, một nhãn hiệu, những đặc tính của sản phẩm, giátrị sử dụng của nó, giá cả của sản phẩm, làm cho thích một sản phẩm, một nhãn hiệu,một doanh nghiệp và làm cho họ hành động như kích thích họ đến xem sản phẩm,mua sản phẩm, tác động đến hành vi của họ
+ Lựa chọn phương tiện quảng cáo: Mỗi phương tiện quảng cáo có những ưuđiểm và nhược điểm riêng, và do vậy nó phù hợp với từng mục tiêu quảng cáo khácnhau Việc lựa chọn phương tiện quảng cáo phải tính đến các chỉ tiêu côngchúng( lượng độc giả, khán thính giả của phương tiện) và công chúng hữu ích( lượngđộc giả, khán thích giả thuộc khách hàng mục tiêu)
2.3.2 Đàm phán kí kết họp đồng xuất khẩu
Đàm phán là việc trao đối với nhau các điều kiện mua bán giữa nhà sản xuất
và khách hàng để đi đến ký kết hợp đồng xuất khẩu Thông thường có những hìnhthức sau: Đàm phán qua thư tín, đàm phán qua điện thoại, đàm phán bằng cách gặp
gỡ hực tiếp Đàm phán được thực hiện qua các bước:
+ Chào hàng: Để có thể tiến tới ký kết một họp đồng xuất khẩu, người xuấtkhẩu phải đưa ra một bảng chào giá với bên mua mà trong đó có ghi rõ điều kiện giaodịch cụ thể Đây là việc nhà xuất khẩu thể hiện rõ ý định của mình là bán hàng, là lời
đề nghị kí kết họp đồng, nếu việc mua bán xuất phát từ phía người mua thì có thể hỏigiá hoặc đặt hàng Trong chào hàng, người ta ghi rõ: Tên hàng, quy cách phẩm chất,
số lượng, giá cả, điều kiện giao hàng, điều kiện thanh toán
+ Hoàn giá( mặc cả): Là khi người nhận được lời chào hàng không chấp nhậnmức giá chào hàng mà đưa ra mức giá mới đế thương lượng
+ Chấp nhận: Là sự đồng ý hoàn toàn tất cả mọi điều kiện mà phía bên kia đưa
ra, khi đó họp đồng mới xác lập Một chấp thuận nếu muốn có hiệu lực về pháp luậtcần đảm bảo các điều kiện sau: Phải được chính người nhận giá chấp nhận, phải đồng
Trang 121 2
ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của đơn chào hàng, Phải chấp nhận trong thờigian hiệu lực của lời chào hàng, chấp nhận phải được truyền đạt đến người phát ra đềnghị
Xác nhận: Hai bên mua bán đã thống nhất thoả thuận với nhau điều kiện giaodịch, có kí cẩn thận ghi lại mọi điều kiện đã thoả thuận gửi cho bên kia, đó là vănkiện xác nhận Xác nhận thường được lập thành hai bản, bên kí nhận hước rồi đưacho bên kia, bên kia ký xong giữ lại một bản và gửi hả lại một bản Kết quả của cuộcđàm phán sẽ dẫn tới việc kí kết họp đồng xuất nhập khẩu là căn cứ pháp lý chothương vụ giữa các bên
2.4 Thực hiện họp đồng xuất khẩu
Sau khi hợp đồng được kí kết thì doanh nghiệp phải thực hiện theo các quyđịnh trong họp đồng Tiến hành sắp xếp những công việc phải làm ghi thành bảngbiểu theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng, kịp thời ghi những diễn biến, những vănbản phát đi và nhận được để xử lý và giải quyết cụ thể
Sau khi ký kết họp đồng, cần xác định rõ trách nhiệm, nội dung và trình tựcông việc cần làm, cố gắng không để xảy ra sai sót, tránh gây thiệt hại Điều đặc biệtcần lưu ý là tất cả những sai sót đều là cơ sở phát sinh khiếu nại và làm giảm uy tíncủa nhà xuất khẩu
Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu:
+ Xin giấy phép xuất khẩu: Đây là vấn đề quan trọng đầu tiên về mặt pháp lý
để tiến hành các khâu khác trong quá trình xuất khẩu hàng hoá Với xu hướng mởrộng quan hệ họp tác quốc tế, nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị sảnxuất kinh doanh, làm hàng xuất khẩu, và xuất khẩu những mặt hàng nhà nước khôngcấm và hạn chế
Trang 13+ Chuẩn bị hàng xuất khẩu: Bao gồm các công việc như: Tổ chức sản xuất,thu gom hàng xuất khẩu trên cơ sở đàm phán kí kết họp đồng; Thực hiện đóng góihàng hóa xuất khẩu, kẻ ký mã hiệu bên ngoài bao bì nhằm thông báo những chi tiếtcần thiết cho việc giao nhận, bốc dỡ và bảo quản hàng hoá
+ Uỷ thác thuê tàu: Trong quá trình thực hiện họp đồng xuất khẩu, việc thuêchở hàng dựa vào căn cứ như: Điều khoản của hợp đồng, đặc điểm hàng hoá xuấtkhẩu, Điều kiện vận tải Nếu điều kiện giao hàng của họp đồng là CIF hoặc CFR thìđơn vị xuất khẩu phải thuê tàu biển để giao hàng
+ Kiểm nghiệm hàng hoá xuất khẩu: Thực chất là kiểm tra số lượng và chấtlượng hàng hoá xuất khẩu Kiểm nghiệm hàng hoá xuất khẩu khẩu nhằm mục đích:Đảm bảo quyền lợi cho khách hàng, Ngăn chặn kịp thời những hậu quả xấu, phânđịnh hách nhiệm của các khẩu trong sản xuất, bảo đảm uy tín cho nhà xuất khẩu trongquan hệ buôn bán Kiểm nghiệm hàng hoá phải được thực hiện ở hai cấp là cơ sở vàcửa khẩu
+ Làm thủ tục Hải Quan: Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để xuấtkhẩu hoặc nhập khẩu đều phải làm thủ tục Hải Quan Đây là một công cụ để quản lýhành vi buốn bán theo pháp luật của nhà nuớc để ngăn chặn xuất khẩu lậu qua biêngiới, để kiểm tra giấy tờ thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu
+ Giao hàng lên tàu: Phần lớn số hàng xuất khẩu đuợc vận chuyển bằng đuờngbiển, đuờng sắt, bằng container Tuỳ thuộc vào phuơng tiện chuyên chở hàng hoá màchủ hàng phải làm những công việc khác nhau Nếu vận chuyển bằng đuờng biển,chủ hàng phải căn cứ vào chi tiết hàng xuất khẩu để lập bảng đăng kí hàng chuyênchở cho nguời vận tải để lấy hồ sơ xếp hàng, bố trí phuơng tiện đua hàng vào cảng,xếp lên tàu, lấy biên lai thuyền phó và đổi tên biên lai thuyền phó lấy vận đơn đuờngbiển
Trang 141 4
+ Mua bảo hiểm: Chuyên chở hàng hoá trong thuơng mại quốc tế gặp rấtnhiều rủi ro, tổn thất nhất do vậy để giảm thiểu đuợc rủi ro nên mua bảo hiểm chohàng ho á
+ Thủ tục thanh toán: Tuỳ theo phuơng thức thanh toán hai bên đã thoả thuậntrong hợp đồng mà buớc này đuợc tiến hành theo những cách khác nhau Có thếthanh toán theo các phuơng thức nhu: Tín dụng thu( LC), Bằng điện chuyếntiền( TT), Thanh toán nhờ thu( DP) Mỗi phuơng thức thanh toán có một uu, nhuợcđiểm khác nhau Tuỳ thuộc vào các quy định thanh toán, mối quan hệ giữa các bên sẽlựa chọn một phuơng thức thanh toán phù họp
2.5 Giải quyết khiếu nại nếu có
Trong trường họp có phát sinh khiếu nại thì hai bên có thể tự thoả thuận dànxếp hoặc đưa vụ việc ra cơ quan họng tài hay toà án kinh tế để giải quyết
Tuỳ thuộc vào từng họp đồng mà cán bộ xuất khẩu phải thực hiện các nghĩa
vụ khác nhau Trình tự nghiệp vụ không cố định Từng khâu nghiệp vụ cụ thể có thể
là nghĩa vụ của người bán hay người mua phụ thuộc vào các quy định điều kiện cơ sởgiao hàng ghi trong họp đồng mua bán hàng hoá đã kí kết
3 Các hình thức xuất khẩu
Hiện nay trên thế giới có nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau với nhiều biếntướng của nó Nhìn chung co 6 hình thức xuất khẩu chủ yếu sau:
Xuất khẩu trực tiếp: Là việc nhà sản xuất trực tiếp tiến hành các giao dịch
với khách hàng nước ngoài thông qua các tố chức của mình Là việc xuât khẩu cáchàng hoá và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị khácsau đó xuất khẩu những sản phẩm đó ra nước ngoài thông qua các tổ chức của mình
Hình thức này có ưu điếm là lợi nhuận thu được của các đơn vị kinh doanhthường cao hơn các hình thức khác Với vai trò là người bán hàng hực tiếp doanh
Trang 15nghiệp có thể nâng cao uy tín của mình thông qua quy cách và phẩm chất hàng hoá,tiếp cận thị trường và nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của khách hàng Bên cạnh đóxuất khẩu trực tiếp còn giúp doanh nghiệp giảm được chi phí hung gian, có nhiềuđiều kiện để thâm nhập thị trường, chủ động trong việc sản xuất và xuất khẩu hànghoá, Tuy vậy hình thức này đòi hỏi doanh nghiệp phải ứng trước một lượng vốn khálớn để sản xuất, thu mua hoặc có thể gặp rất nhiều khó khản, rủi ro như: Không xuấtđược hàng, không thu mua được hàng, bị thanh toán chậm hay do thay đổi tỷ giá, lạmphát
Xuất khẩu uỷ thác: Trong hình thức này các doanh nghiệp kinh doanh hàng
xuất khẩu đứng ra đóng vai trò là trung gian xuất khẩu, làm thay cho các đơn vị sảnxuất những thủ tục cần thiết để xuất khẩu hàng và hưởng phần trăm theo giá trị hàngxuất khẩu đã được thoả thuận Xuất khẩu uỷ thác được tiến hành trong trường họpmột doanh nghiệp có hàng hoá muốn xuất khẩu nhưng không có chức năng xuất khẩuhoặc không có đủ điều kiện để tiến hành xuất khẩu
Hình thức này có uu điểm là mức độ rủi ro thấp, nguời đứng ra xuất khẩukhông phải là nguời chịu trách nhiệm cuối cùng, đặc biệt là không cần vốn đẻ muahàng Tuy nhiên hình thức xuất khẩu này đòi hỏi rất nhiều thủ tục xuất và nhập khẩu,
do đó để thực hiện tốt hình thức này các doanh nghiệp cần phải có những các bộ kinhdoanh có kinh nghiệm về nghiệp vụ xuất nhập khẩu Bên cạnh đó khi thực hiện theophuơng thức uỷ thác thì lợi nhuận bị phân chia, mất sự liên hệ hực tiếp với thị truờng,thông tin chậm, đôi khi còn thiếu chính xác Do đó nên sử dụng phuơng thức xuấtkhẩu này trong các truờng họp khi cần thiết nhu: Khi thâm nhập vào thị trường mới,khi tung ra sản phẩm mới
Buôn bán đối lưu: Là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hoá, trong đó
xuất khẩu kết họp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng
Trang 161 6
hàng giao dịch đi có giá trị tương ứng với lượng hàng nhận về Với phương thức này,mục đích của xuất khẩu không phải nhằm thu về một khoản ngoại tệ mà là nhằm thu
về một lượng hàng hoá có giá trị tương đương Buôn bán đối lưu có các loại hìnhnhư: Hàng đổi hàng, trao đổi bù trừ, mua đối lưu, chuyển nợ, mua lại sản phẩm
Ưu điểm của phương pháp này là tránh được rủi ro về tỷ giá hối đoái do khôngphải giao dịch bằng tiền Tuy nhiên có nhược điếm là khó tìm được nguồn hàngtương đương với hàng mình đã trao đối về mặt hàng cũng như giá cả, đồng thờikhông thu về ngoại tệ mà thu về hàng hoá cho nên quá hình trao đối chậm hơn
Tạm nhập tái xuất: Là việc xuất khẩu những hàng hoá mà trước đây đã nhập
khẩu về nhưng vẫn chưa tiến hành các hoạt động chế biến Muc đích của việc tái xuấtkhẩu là mua rẻ hàng hoá ở nuớc này sau đó bán đắt ở nuớc khác và thu số ngoại tệlớn hơn số vốn bỏ ra Giao dịch này luôn thu hút ba nuớc tham gia là: Nuớc xuấtkhẩu- nuớc nhập khẩu- nuớc tái xuất khẩu
ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là cho phép thu lợi nhuận cao mà khôngphải tổ chức sản xuất, đầu tu vào nhà xuởng, máy móc thiết bị Tuy nhiên Hình thứctạm nhập tái xuất này đặt ra đòi hỏi là các doanh nghiệp phải có kinh nghiệm kinhdoanh, am hiếu thị truờng và giá cả, có nhiều bạn hàng ở nuớc ngoài để kết nối cácmối quan hệ giữa họ
Xuất khẩu tại chỗ: Là hình thức mà hàng và dịch vụ có thể chua vuợt ra
ngoài biên giới quốc gia nhung ý nghĩa kinh tế của nó cũng giống nhu hoạt động xuấtkhẩu Đó là việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho các đoàn ngoại giao, khách dulịch quốc tế
Hình thức xuất khẩu này đang đuợc phổ biến và có khá nhiều uu điểm nhu:Giảm đuợc chi phí vận chuyển, độ rủi ro thấp, có thể đạt hiệu quả kinh tế cao do giảmbớt chi phí bao bì, đóng gói, bảo quản, thời gian thu hồi vốn nhanh Tuy nhiên nó
Trang 17cũng bộc lộ nhuợc điếm nhu: Không tạo điều kiện đế doanh nghiệp có thế hiếu thêm
về thị trường nước ngoài từ đó phát hiến rộng hơn thị trường của mình
Gia công xuất khẩu: Là một hình thức kinh doanh theo đó một bên nhập
nguyên vật liệu hoặc bán thành phẩm( bên nhân gia công) của bên kia( bên đặt giacông) để chế biến thành phẩm rồi giao lại cho bên đặt gia công và nhận tiền gia công
Ưu điếm của hình thức này là giúp bên nhận gia công tạo công ăn việc làm cho ngườilao động, nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất Đối vớinước đặt gia công cũng được hưởng lợi vì họ tân dụng được nguồn nhân công với giá
rẻ cũng như tận dụng được nguồn nguyên liệu sẳn có của bên nhận gia công Tuynhiên nhược điểm của hình thức này là bên nhận gia công sẽ bị động, chất lượng sảnphẩm cũng không đều
4 Vai trò của xuất khẩu
Xuất khẩu hàng hóa có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tếcủa các nước Xét với các nước đang phát hiển như Việt Nam thì vai trò của nó càngđược thể hiện rõ nét trong việc thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá đất nước và
góp phần vào giải quyết các vấn đề xã hội về cơ bản vai trò của xuất khẩu thể hiện ở
các nội dung sau:
4.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nước.
Công nghiệp hoá đất nước theo những bước đi thích họp là con đường tất yếu
để khắc phục tình trạng nghèo và chậm phát triển của nước ta Để công nghiệp hoáđất nước trong một thời gian ngắn, đòi hỏi phải có số vốn rất lớn để nhập khẩu máymóc, thiết bị, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến
Nguồn vốn để nhập khẩu có thể được hình thành từ các nguồn như: Xuất khẩuhàng hoá, đầu tư nước ngoài, vay, viện trợ, thu từ hoạt động dịch vụ Tuy nhiên
Trang 181 8
nguồn vốn quan họng nhất để nhập khẩu, công nghiệp hoá đất nước là xuất khẩu.Xuất khẩu quyết định quy mô và tốc độ tăng của nhập khẩu
Ở nước ta, thời kì 1986-1990 nguồn thu về xuất khẩu hàng hoá đảm bảo trên75% nhu cầu ngoại tệ cho nhập khẩu, tương tự thời kì 1991-1995 là 66% và 1996-
2000 là 50%
Trong tương lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng lên Nhưng mọi lúc cơ hội đầu
tư và vay nợ của nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi khi các chủ đầu tư
và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu- nguồn vốn chủ yếu để trả nợ- hởthành hiện thực
4.2 Xuất khẩu đóng góp vào việc chuyển dịch cơ cấu kỉnh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển
Cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới đã và đang thay đổi vô cùng mạnh
mẽ Đó là thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại Sự chuyểndịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá phù họp với xu huớng phát hiểncủa kinh tế thế giới là tất yếu đối với nuớc ta
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyểndịch cơ cấu kinh tế
Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vuợtquá nhu cầu nội địa Trong truờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển nhunuớc ta, sản xuất về cơ bản còn chua đủ tiêu dùng nếu chỉ thụ động chờ ở sự “ thừara” của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng truởng chậm chạp Sản xuất
và sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ rất chậm chạp
Hai là, coi thị truờng và đặc biệt thị truờng thế giới là huớng quan họng để tổchức sản xuất Quan điểm thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị truờng thế
Trang 19giới để tổ chức sản xuất Điều đó có tác dụng tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát hiển Sự tác động này đến sản xuất thế hiện ở:
+ Xuất khẩu tào điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.Chẳng hạn, khi phát hiển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo cơ hội cho việc phát triểnngành sản xuất nguyên liệu nhu bông, sợi hay thuốc nhuộm, công nghiệp tạomẫu Sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu, dầu thựcvật, chè có thể sẽ kéo theo sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo thiết bị phục
+ Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh hanh trênthị truờng thế giới về giá cả, chất luợng Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi chúng ta phải tổchức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi đuợc với thị truờng
+ Xuất khẩu còn đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiệncông việc quản trị sản xuất kinh doanh, thúc đẩy sản xuất mở rộng thị truờng
Trang 202 0
4.3 Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết việc làm và cải thiện đòi sống của nhân dân
Tác động của xuất khẩu đến việc làm và đời sống bao gồm rất nhiều mặt.Truớc hết sản xuất, chế biến và dịch vụ hàng xuất khẩu đang trực tiếp là nơi thu húthàng triệu lao động vào làm việc và có thu nhập không thấp
Xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập khẩu vật phẩm tiêu dùng thiết yếuphục vụ hực tiếp đời sống và đáp ứng ngày càng một phong phú thêm nhu cầu tiêudùng của nhân dân
Quan trọng hơn cả là việc xuất khẩu tác động trực tiếp đến sản xuất, làm cho
cả quy mô lẫn tốc độ sản xuất tăng lên, các ngành nghề cũ đuợc khôi phục, ngànhnghề mới ra đời, sự phân công lao động mới đòi hỏi lao động đuợc sử dụng nhiềuhơn, năng suất lao động cao và đời sống nhân dân đuợc cải thiện
4.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kỉnh tế đối ngoại của nước ta
Chúng ta thấy rõ xuất khẩu và các quan hệ kinh tế đối ngoại có tác động qualại phụ thuộc lẫn nhau Có thể hoạt động xuất khẩu có sớm hơn các hoạt động kinh tếđối ngoại khác và tạo điều kiện thúc đẩy các quan hệ này phát hiển Chẳng hạn, xuấtkhẩu và công nghệ sản xuất hàng xuất khẩu thúc đẩy quan hệ tín dụng, đầu tư, mởrộng vận tải quốc tế Mặt khác, chính các quan hệ kinh tế đối ngoại chúng ta vừa kểlại tạo tiền đề cho mở rộng xuất khẩu
Tóm lại, đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lược để pháttriển kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá đất nước
Trang 21II CÁC VẤN ĐÊ CHUNG VÊ XUẤT KHAU SẢN PHAM DỆT MAY Ở VIỆT NAM
Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may hiện nay được tiến hành ở hầu hết cácnước trên thế giới, đặc biệt là ở những nước có lợi thế về nhân lực và nguyên liệu.Hoạt động xuất khẩu này mang lại những lợi ích rất lớn, đặc biệt là với một nướcđang phát triến như nước ta
1 Khái quát chung về ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điếm của nền công nghiệpViệt Nam, là ngành sản xuất mũi nhọn, có tiềm lực phát triển khá
So với nhiều ngành khác, ngành dệt may ở Việt Nam là ngành có nhiều điềukiện thuân lợi đế phát triến, Từ khi đối mới, ngành công nghiệp dệt may khôngngừng phát hiển cả về quy mô, năng lực sản xuất, trình độ công nghệ trang thiết bị,
và ngày một tăng nhanh về sô luợng, chất luợng sản phẩm Cho đến nay, sản phẩmdệt may Việt Nam đã đáp ứng đuợc phần lớn nhu cầu trong nuớc và có khả năng xuấtkhẩu lớn sang các thị trường khó tính như: EU Nhật Bản , Bắc Mỹ Việc xuất khẩuhàng dệt may đã đem lại một khoản ngoại tệ rất đáng kể để đổi mới và nâng cấp toàn
bộ hang thiết bị công nghệ của ngành dệt may Bên cạnh đó ngành dệt may còn gópphần quan trọng giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cao cho người lao động, tạo
sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
Sản phẩm của ngành dệt may bao gồm các sản phẩm của ngành dệt như: Vảicác loại, sợi cotton, tơ PES, sợi POY sợi PTY, sản phẩm dệt kim, khăn bông, chỉ, tơtằm, áo len Và các sản phẩm của ngành may như: Bông tấm( vải không dệt), phụliệu may(áo, bao bì) Theo thống kê đánh giá của các chuyên gia thì trình độ côngnghệ của ngành dệt Việt Nam còn lạc hậu hơn so với các nước tiên tiến trong khu vựckhoảng 10-15 năm Ngành may của chúng ta mới chỉ chú trọng đầu tư vào sản xuấtmột số mặt hàng đơn giản, mặt hàng dễ làm và dễ thu lợi nhuận như: Áo Jacket, áo sơ
Trang 222 2
mi nam, sơ mi nữ Công nghệ sản xuát những mặt hàng kỹ thuật cao, chất lượng caovẫn còn bị bỏ trống
Nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, người Việt Nam lại cótruyền thống cần cù sáng tạo Mặt khác giá cả sinh hoạt thấp, chi phí lao động hạ, tạođiều kiện thuận lợi cho hàng dệt may có ưu thế cạnh tranh Đặc điểm của ngành dệtmay không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, quay vòng vốn nhanh, đội ngũ công nhân lànhnghề có thể sản xuất được những sản phẩm chất lượng cao nếu được đào tạo tốt
Việt Nam còn có vị trí địa lý và cửa khẩu rất thuận lợi cho việc chuyên chởhàng hoá bằng đuờng biến nên giảm đuợc chi phí vận tải Bên cạnh đó Việt Nam nằmtrong khu vực các nuớc xuất khẩu lớn hàng dệt may nhu: Trung Quốc, Hồng Kông,Đài Loan nên ngành công nghiệp dệt may Việt Nam đang là một thị truờng hấp dẫnđối với các nhà đầu tu nuớc ngoài Nhu vậy có thể nói, phát triển ngành dệt may ViệtNam là phát huy tối đa những lợi thế hiện nay để phát triển kinh tế, thực hiện thànhcông mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nuớc
Tuy nhiên nếu phân tích sâu hơn thì ngành dệt may Việt Nam vẫn còn rấtthiếu nhiều yếu tố cho sự phát triển bên vững, điển hình là công nghiệp phụ trợ củaViệt Nam chua phát triển tuơng xứng Do thiếu công nghiệp phụ trợ nên ngành dệtmay Việt Nam gần nhu phụ thuộc vào thị truờng thế giới cả về xuất khẩu lẫn nhậpkhẩu Cho đến thời điểm này gần 100% máy móc thiết bị, phụ tùng, 100% xơ sợi hoáhọc, 90% bông xơ thiên nhiên, 70% vải các loại, 67% sợi dệt chủ yếu nhập về từ Mỹ;Các loại phụ liệu nhu: Chỉ may, khoá kéo, mex dựng cũng phải nhập khẩu từ 30%-70% tổng nhu cầu Đây là một trong những điểm yếu nhất làm hạn chế khả năng cạnhhanh quốc tế của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam so với các nuớc xuất khẩu dệtmay hên thế giới
Trang 232 Các phương thức xuất khẩu sản phẩm dệt may
Hoạt động xuất khẩu hàng dệt may ở Việt Nam thực hiên qua ba phương thứcchủ yếu sau:
Thứ nhất là phương thức gia công xuất khẩu: Theo phương thức này các
khách hàng nước ngoài( Bên đặt gia công) chịu hách nhiệm cung cấp toàn bộ nguyênphụ liệu dệt may cho Việt Nam( bên nhận gia công) theo định mức tiêu hao nguyênliệu Còn các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thì tiến hành sản xuất để giao lại sảnphẩm và nhận được tiền công theo họp đồng đã thoả thuận từ trước
Hiện nay có tới hơn 70% các doanh nghiệp dệt may Việt Nam tham gia vàolĩnh vực gia công xuất khẩu và đạt trên 70% kim ngạch xuất khẩu của toàn ngành
Tuy đã đạt được những kết quả tốt nhưng hình thức xuất khẩu này cũng bộc lộnhững nhược điếm như:
+ Kim ngạch xuất khẩu tuy lớn nhưng thực tế các doanh nghiệp Việt Nam chỉđược hưởng một phần nhỏ trong số đó tức là chỉ nhận được phí gia công Nhiềudoanh nghiệp vì muốn giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, không muốnmáy móc để không mà đã ký kết những hợp đồng mà phí gia công rất rẻ, làm xáo trộnmặt bằng phí gia công và gây tranh chấp với khách hàng giữa các công ty trong nước
+ Các doanh nghiệp dệt may trong nước phụ thuộc rất nhiều vào bên đặt giacông nước ngoài về: Nguyên phụ liệu, thị hường, giá bán sản phẩm, mẫu mã, nhãnhiệu Chính vì thế có nhiều trường họp khi không nhận được họp đồng gia công thìtất cả máy móc ngừng hoạt động, công nhân không có việc làm; hay có những trườnghợp bên đặt gia công đưa máy móc trang thiết bị lạc hậu sang Việt Nam dẫn đến tìnhtrạng công nhân làm việc mệt nhọc, môi trường bị ô nhiễm Bên cạnh đó hình ảnhmang thương hiệu Việt Nam rất ít xuất hiện trên thị trường thế giới mặc dù sản phẩmsản phẩm sản xuất ở Việt Nam được xuất khẩu đi rất nhiều nước Điều đó dẫn tới tình
Trang 242 4
hạng là các doanh nghiệp dệt may Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi muốn mởrộng thị hường bởi vì thị trường chủ yếu là do bên nước ngoài nắm giữ
+ Ở trong nước tình hình cạnh tranh trong gia công ngày càng gay gắt làm chogiá gia công ngày càng sụt giảm, hậu quả là hiệu quả kinh doanh gia công thấp, thunhập của người công nhân ngày càng giảm sút dẫn tới các hiện tượng tiêu cực như:
Bỏ việc, đình công
Trước tình hình đó đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may trong nước phải có sựchuyển đổi hình thức xuất khẩu để có thể khắc phục những bất cập đang gặp phải vàphát hiển hơn nữa ngành dệt may Việt Nam đó chính là hình thức xuất khẩu trực tiếp
Thứ hai là phương thức xuất khẩu trực tiếp hay còn gọi là “tự doanh” hay
“mua đứt bán đoạn” Có ba loại xuất khẩu trực tiếp sau:
+ Loại 1: Doanh nghiệp trong nước mua nguyên vật liệu đầu vào để tiến hànhsản xuất, gia công Tuy nhiên từ vấn đề nhà cung cấp lẫn chủng loại nguyên vật liệu
mà doanh nghiệp mua vào đều do khách hàng nước ngoài chỉ định Do đó theophương thức xuất khẩu này cả rủi ro về sản xuất lẫn rủi ro về Marketing đều do ngườimua nước ngoài gánh chịu
+ Loại 2: Doanh nghiệp trong nước nhận mẫu hàng từ người mua nước ngoài,dựa trên những mẫu này, họ sản xuất sản phẩm tương tự, sử dụng nguyên phụ liệu do
họ tự mua mà không có gợi ý hay cam kết gì của người mua từ trước Nếu mẫu tươngứng được chấp nhận, họ sẽ nhận được đơn đặt hàng may mặc dựa hên những quycách của sản phẩm mẫu đã sản xuất
+ Loại 3: Doanh nghiệp trong nước tiến hành sản xuất hàng may mặc dựa trênthiết kế riêng của khách hàng Không có cam kết từ trước dưới bất kì hình thức nào từphía người mua nước ngoài Doanh nghiệp trong nước sản xuất mẫu hàng may mặc
và đưa ra giới thiệu với khách hàng tiềm năng Sau đó họ sẽ nhận được những đơn
Trang 25đặt hàng từ phía khách hàng nếu như sản phẩm của các doanh nghiệp đó đáp ứngđược nhu cầu của khách hàng Các doanh nghiệp hoạt động theo phương thức nàyhoặc phải có thương hiệu riêng hoặc phải sản xuất hàng may mặc theo những thươnghiệu đã được đăng kí với thiết kế riêng của họ Hình thức này tạo khả năng lớn nhất
để tăng giá trị gia tăng, tuy nhiên rủi ro cả về sản xuất lẫn thị trường lại là rất lớn
Như vậy việc xuất khẩu hàng hoá theo phương thức xuất khẩu trực tiếp manglại hiểu quả cao hơn rất nhiều so với phương thức gia công, giảm được các chi phítrung gian và mang lại sự chủ động cho các doanh nghiệp Đây cũng là phương thứcchiến lược của ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2000- 2010 Hiện nayphương thức này mới chỉ chiếm trên 20% kim ngạch xuất khẩu hàng năm Các doanhnghiệp Việt Nam đang cố gắng để tăng dần tỷ trọng của phương thức xuất khẩu này.Tuy nhiên xuất khẩu theo phương thức này dễ xảy ra những rủi ro, sai lầm khi kinhdoanh hên các thị trường mới, do đó muốn xuất khẩu có hiệu quả cần phải nghiêncứu thị trường, tìm hiếu khách hàng và hàng hoá hên thị trường mà doanh nghiệpmuốn kinh doanh Điều này rất khó cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiệnnay Song trong thời gian tới chúng ta sẽ khắc phục những khó khản và từng bướcchuyển đổi xuất khẩu hàng dệt may theo phương thức xuất khẩu này
Thứ ba là phương thức xuất khẩu gián tiếp: Đây là việc nhà sản xuất thông
qua dịch vụ của các tổ chức độc lập hay là các trung gian đặt ngay tại nước xuất khẩu
để tiến hành xuất khẩu các sản phẩm của mình ra nước ngoài Hình thức xuất khẩunày có khá nhiều ưu điểm và rất phù họp với những doanh nghiệp mới tham gia thịhường Các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi phương thứcxuất khẩu này
Trang 262 6
3 Các thị trường xuất khẩu sản phẩm dệt may của Việt Nam
Thị hường xuất khẩu của sản phẩm dệt may Việt Nam là hai khu vực thịtrường đó là thị trường có hạn ngạch và thị trường không có hạn ngạch Thị trường cóhạn ngạch đó là: EU, Canada, Thố nhĩ kỳ Và thị trường không hạn ngạch như: NhậtBản, Mỹ, thị trường SNG và Đông Âu, các nước trong khu vực châu Á như: HànQuốc, Đài Loan, Hồng Kông
Các thị trường xuất khẩu lớn hàng may mặc của Việt Nam phải kể dến đó làthị trường Mỹ( chiếm khoảng 55% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007, tốc độ tăngtrưởng đều hàng năm) Thứ hai là thị hường EU với nhu cầu hàng dệt may khá đadạng và các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều bạn hàng quen thuộc trên thị trườngnày Đứng thứ ba là thị trường Nhật Bản, một thị trường đang mở ra nhiều cơ hội tốtcho việc xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam Hiện Hàn Quốc đang đứng ở vị tríthứ mười trong danh sách các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam
4 Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với phát triển kỉnh tế ở Việt Nam
Vai trò của xuất khẩu hàng dệt may đối với nền kinh tế nước ta là rất lớn vàđược thể hiện qua các mặt sau:
Trang 27Xuất khẩu hàng dệt may tạo ra nguồn ngoại tê lớn để phát triển đất nuớc Đã
từ nhiều năm nay, hàng dệt may luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, vàtrong mấy năm gần đây kim ngạch xuất khẩu dệt may luôn đứng ở vị hí thứ hai saudầu khí thậm chí có lúc còn vuợt cả dầu khí trở thành ngành có kim ngạch xuất khẩulớn nhất cả nuớc, đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế đất nuớc.Tạo ra một luợng ngoại tệ lớn để đầu tu vào hang thiết bị máy móc và xây dựng cơ sở
hạ tầng của đất nuớc
Khi ngành xuất khẩu hàng dệt may phát triển nó sẽ kéo theo sự phát triển củarất nhiều ngành có liên quan Truớc hết là sự phát triển của các ngành công nghiệpsản xuất nguyên phụ liệu nhu: Bông, vải sợi, rồi đến các ngành công nghiệp: In,nhuộm, sản xuất nhựa polyme để bao gói, hoàn thiện sản phẩm, sản xuất giấy để phục
vụ cho việc cắt xén, tạo bản mẫu hay các thùng bia Carton để gói sản phẩm Hơnnữa, khi ngành công nghiệp này phát triến ngày càng cao thì đòi hỏi càng nhiềunhững máy móc thiết bị tiên tiến để phục vụ việc sản xuất ra những sản phẩm có chấtluợng cao và giảm bớt những chi phí cho phế liệu, phế phẩm Từ đó kéo theo sự pháttriển của các ngành cơ khí, chế tạo máy phát triển.Rồi tiếp là sự phát triển của ngànhvận tải để phục vụ cho việc xuất khẩu các sản phẩm dệt may ra thị truờng thế giới
Xuất khẩu hàng dệt may phát hiển còn góp phần vào việc giải quyết công ănviệc làm và cải thiện đời sống của nhân dân Trong số các ngành công nghiệp thìngành dệt may là một trong những ngành tạo ra nhiều công ăn việc làm cho nguời laođộng nhất Khi ngành dệt may xuất khẩu phát triển thì nhu cầu về lao động sẽ tănglên Nhu vậy vô hình chung nó đã có vai trò giải quyết việc làm cho rất nhiều laođộng Doanh thu xuất khẩu của các doanh nghiệp tăng lên sẽ làm tăng thu nhập củangười lao động từ đó góp phần vào ổn định tình hình kinh tế xã hội, tạo môi trườngthuận lợi cho phát hiển kinh tế xã hội
Trang 28Xuất khẩu hàng dệt may còn tạo điều kiện mở rộng và thúc đẩy các quan hệkinh tế đối ngoại và quảng bá thương hiệu của mặt hàng này trên thế giới Thông quacác mối quan hệ với các bạn hàng quốc tế, chúng ta có thể tranh thủ sự giúp đỡ của
họ, khai thác thông tin từ họ, giúp cho việc quảng bá thương hiệu hàng dệt may ViệtNam được thực hiện có hiệu quả hơn
5 Các yếu tế tác đông đến hoat đông xuất khẩu dêt may ở Viêt Nam
5.1 Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Đây là tổng họp các yếu tố thuộc về môi trường bên ngoài có tác động đến hoạtđộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu.Các yếu tố này có cả những cơ hội tốt cho sự phát triển của doanh nghiệp và cảnhững thách thức khó khăn mà đòi hỏi các doanh nghiệp phải vượt qua
Xét về những cơ hội thuận lợi cho phát triển dệt may trước hết ta phải nói
đến vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế Hội nhập quốc tế tạo khả năng mở rộng thịtrường ra nước ngoài trên cơ sở các hiệp định thương mại đã được kí kết, tạo môitrường đầu tư hấp dẫn, có hiệu quả Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang vốn và côngnghệ vào nước ta, sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của chúng ta để làm ra cácsản phẩm và xuất ra các thị trường khu vực và thế giới Đây là cơ hội để ngành dệtmay huy động và sử dụng vốn có hiệu quả hơn Sự đầu tư nước ngoài vào Việt Namgiúp ngành dệt may có thế tranh thủ được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nướcnhằm phát hiển năng lực kỹ thuật công nghệ của chính ngành mình và của cả quốcgia
Tiếp đó là những chính sách của nhà nước nhằm bảo hộ, khuyến khích sự pháttriển của ngành dệt may xuất khẩu Các chính sách được đưa ra nhằm hỗ trợ mởmang sản xuất hàng xuất khẩu với những chi phí thấp, tạo điều kiện cho người xuấtkhẩu có thể cạnh tranh trên thị hường quốc tế Có thể nói đến các chính sách như:
Trang 29Nhóm chính sách và biện pháp liên quan đến tổ chức nguồn hàng, cải biến cơ cấuxuất khẩu, Nhóm chính sách và biện pháp tài chính, hay nhóm chính sách và biệnpháp liên quan đến thể chế- tổ chức.
Bên cạnh đó chúng ta cũng còn có những thuận lợi về nguồn lao động dồi dào,chi phí lao động rẻ Điều này đóng vai trò rất quan trọng và đặc biệt là tạo ra được lợithế cho ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Xét về những thách thức: Thách thức trước hết là sự cạnh hanh gay gắt của
các nước xuất khẩu hàng dệt may hiện nay Đó là Trung Quốc với ưu thế phong phú
về chủng loại hàng hoá giá rẻ, đó là Hàn Quốc, Ãn Độ, Đài Loan những nước xuấtkhẩu lớn và có sẵn thị trường tiêu thụ Tuy họ có giá nhân công cao hơn nhưng nhờ
họ có ưu thế tự túc được nguồn nguyên liệu vải và các phụ liệu may chất lượng caonên đã góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, tạo lên nhiều nhãn hiệu uy tín
Thách thức thứ hai là tính phức tạp của hệ thống luật quốc tế cũng như nhữngđòi hỏi khắt khe về hàng dệt may xuất khẩu đối với các nước đang phát triến nhưViệt Nam
Thách thức thứ ba là sự quản lý chồng chéo của các bộ phận hữu quan đối vớingành dệt may khiến cho cơ cấu tổ chức thiếu năng động, dễ tuột mất những cơ hộitốt cho sự phát triển
Như vậy đối với nền kinh tế nói chung và dệt may xuất khẩu nói riêng, chúng
ta cần phải có những biện pháp nhằm tận dụng những cơ hội, đương đầu với tháchthức để có thể đưa ngành dệt may xuất khẩu của chúng ta phát triển nhanh và hiệuquả hơn trong khung cảnh nền kinh tế mở như hiện nay
Trang 305.2 Các yếu tế về nội bộ ngành dệt may xuất khẩu
Khó khăn:
Thứ nhất là các yếu tố nguyên phụ liệu đầu vào phục vụ cho hoạt động sảnxuất sản phẩm Ta nhận thấy ở Việt Nam yếu tố này chưa đáp ứng được yêu cầu thậmchí còn gây ra những rào cản cho việc phát triến của các doanh nghiêp sản xuất hàngdệt may xuất khẩu Cụ thể như:
Vải cho ngành dệt may chưa đáp ứng được yêu cầu sản xuất Đây là nguyênnhân chủ yếu làm cho chúng ta không chủ động được nguồn vải phục vụ cho xuấtkhẩu Hiện nay chúng ta phải nhập khẩu đến gần 75% trong tổng lượng vải Điều nàydẫn đến giá thành sản xuất tằng, tỷ suất lợị nhuận vốn đã thấp nay còn thấp hơn Tốc
độ phát hiển qua nhanh của ngành may khiến cho người em “dêt” chạy hụt hơi màkhoảng cách vẫn ngày càng bị kéo xa
Công nghiệp phụ trợ còn kém, thiếu sự đồng bộ dẫn đến tình trạng gây nhiềurào cản cho việc phát triển sản xuất sản phẩm dệt may xuất khẩu như: Làm gia tăngchí phí sản xuất, giảm chất lượng sản phẩm Từ đó dẫn đến giảm tính cạnh tranh
Công tác Marketing, nghiên cứu thị trường,phát triến sản phẩm mới, mẫu mãđộc đáo chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức Chính những điều này đãdẫn đến: Giá thành sản phẩm thấp, gặp khó khăn khi xuất khẩu sang thị trường nướcngoài( có tình huống là hàng xuất đi nhưng lại bị trả lại do chưa nghiên cứu kĩ nhữngquy định của nước nhập khẩu về bao bì, nhãn mác ) như vậy dẫn đến lợi nhuậntrong hoạt động xuất khẩu hàng dệt may thấp
Sự liên kết giữa các doanh nghiệp chưa thực sự tốt, từ đó dẫn đến sự cạnhtranh lớn giữa các doanh nghiệp với nhau Điều đó tạo ra những rào cản cho sự pháttriến của các doanh nghiệp và không tạo ra sức mạnh tống họp của toàn ngành để cóthể hỗ trợ lẫn nhau thắng thế trên hường quốc tế
Trang 31Thuận lợi
Việt Nam đã lọt vào Top 10 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng may mặclớn nhất thế giới điều này sẽ tạo ra môi trường sôi động cho sự phát triển của toànngành
Các doanh nghiệp đã chủ động hơn trong cả nhận thức và hành động đế nângcao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh như: Công tác cổ phần hoá, đa dạng cácngành nghề kinh doanh, phát triển quan hệ họp tác quốc tế, xúc tiến thương mại, xâydựng thương hiệu- thời trang hoá ngành dệt may, đào tạo nguồn nhân lực cho ngànhdệt may đang được các doanh nghiệp chú ý thực hiện Nhiều dự án mở rộng sản xuất,
mở rộng nguồn cung ứng nguyên vật liệu phục vụ ngành dệt may cũng đang đượcthực hiện
6 Xu hướng phát triển của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam
Năm 2007, giá trị sản xuất công nghiệp của ngành Dệt May tăng 17,9% so vớinăm 2006 Các sản phẩm chủ yếu đều tăng như: Sợi toàn bộ ước tăng 11%; Vải lụathành phẩm ước tăng 8,9%; Sản phẩm quần áo dệt kim ước tăng 8,8%; Sản phẩmquần áo may sẵn ước tăng 12,6% Riêng xuất khẩu, tăng 34,5% so với năm 2006, lànăm ngành Dệt May có tốc độ phát triển cao nhất, kỷ lục trong 5 năm gần đây Trong
đó, 3 thị trường quan trọng nhất là Hoa Kỳ chiếm tới 56% tổng kim ngạch xuất khẩuhàng dệt may, tăng 32%; tiếp đó là thị trường EU chiếm 18%, tăng khoảng 20% vàthị hường Nhật Bản chiếm 9%, tăng khoảng
12% Việt Nam đã lọt vào Top 10 nước và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng may mặclớn nhất thế giới, trong đó Dệt đứng thứ 16 và May đứng thứ 10
Bên cạnh khai thác tối đa các thị trường lớn, truyền thống, các doanh nghiệp dệtmay đã có nhiều nỗ lực trong việc đa dạng thị trường, mở rộng thị hường mới, nên
Trang 32phần lớn các thị trường đều có mức tăng trưởng và tăng trưởng cao như: Thố Nhĩ Kỳtăng trên 500%, Nam Phi tăng trên 400%, Achentina tăng hơn 60%, Canada tăng hơn35%
Năm 2008 và những năm tiếp theo, các nước xuất khẩu hàng dệt may châu á lớnnhư Trung Quốc đang đi vào chiến lược nâng cao đẳng cấp, chất lượng Đặc biệt,Trung Quốc lại được bãi bỏ hạn ngạch xuất khẩu vào đầu năm 2008 ở thị trường EU
và đầu năm 2009 ở thị trường Hoa Kỳ Còn các nước châu á khác như ấn Độ,Pakistan, Bangladesh, Srilanka, Campuchia cũng đang tăng tốc xuất khẩu, với thamvọng nhân đôi kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2006-2010 Do đó, ngành DệtMay Việt Nam sẽ gặp thêm rất nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh, đặc biệt làxuất khẩu
Hướng tới lấy xuất khẩu làm mục tiêu phát hiển, mở rộng thị trường xuất khẩuđồng thời phát triển tối đa thị trường nội địa Ngày 10/03/2008 tai quyết đinh QĐ36/2008QĐTTG Thủ Tướng chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển ngànhcông nghiệp dệt may Việt Nam đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 với nhữngmục tiêu sau:
+ Giai đoạn 2008-2010, ngành dệt may tăng trưởng sản xuất hàng năm từ 18%, tăng trưởng xuất khẩu đạt 20%
16-+ Giai đoạn 2011-2020, tăng hưởng sản xuất hàng năm từ 12-14% tăng trưởngxuất khẩu đạt 15%
+ Doanh thu toàn ngành đến năm 2010 đạt 14,8 tỷ USD, tăng lên 22,5 tỷ USDvào năm 2015 và lên 31 tỷ USD vào năm 2020( trong đó xuất khẩu đạt 25 tỷ USD)
Trong năm 2008 ngành dệt may Việt Nam đặt ra kế hoạch nhu sau:
Trang 33+ Kim ngạch xuất khẩu là 9,5 tỷ USD tăng 21,8% so với uớc thực hiện Trong
đó dự kiến: Thị truờng Mỹ đạt 5,3-5,5 tỷ USD; thị truờng EU đạt 1,6-1,8 tỷ USD; Thịtruờng Nhật Bản đạt 800 hiệu USD Cụ thể các mặt hàng xuất khẩu nhu sau:
+ Sợi toàn bộ là 100.000 tấn, tăng 8,7% so với uớc thực hiện năm 2007 + Vải lụa thành phẩm là 683 triệu m2, tăng 9,1% so với uớc thực hiện năm
III KHÁI QUÁT CHUNG VÊ THỊ TRƯỜNG HÀN QUỐC
1 Quan hệ thương mại Việt Nam- Hàn Quốc
Kể tò khi hai nước Việt Nam và Hàn Quốc thiết lập quan hệ ngoại giao, quan
hệ kinh tế, thương mại và sự họp tác giữa hai nước hên nhiều lĩnh vực đã có bước phát triển đáng kể Hàn Quốc trở thành bạn mậu dịch lớn của Việt Nam Có các mốc
sự kiện quan họng trong quan hệ thương mại giữa hai nước như sau: Ngày
20/04/1992 Hai bên kí thoả thuận trao đối văn phòng liên lạc giữa hai nước
Ngày 22/12/1992 ký tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao cấp đại sứ.Cùng ngày Hàn Quốc khai trương đại sứ quán tại Hà Nội
Trang 34Ngày 19/11/1993 Hàn Quốc khai hương tổng lãnh sự quán tại TPHCM Hai nước đã thành lập Uỷ Ban liên Chính Phủ về họp tác kinh tế và khoa học kỹ thuật Việt Nam- Hàn Quốc để thúc đẩy hợp tác kinh tế song phương.
Hai bên kí nhiều hiệp định quan trọng như: Hiệp định họp tác kinh tế- khoahọc kỹ thuật(03/1992), hiệp định thương mại(05/1993) Hiệp định khuyến khích vàbảo hộ đầu tư- sửa đổi(09/2003)
Một số mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Hàn Quốc là: Các loạiHải Sản, giầy dép, cao su thiên nhiên và sản phẩm từ cao su thiên nhiên, than, sắn,nguyên phụ liệu dệt may( sợi tổng họp, sợi cotton, vải, sợi tơ tằm, vải lanh, vải thêuren, phụ liệu khác), đồ nội thất, hàng thủ công mỹ nghệ
Một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Hàn Quốc cũng khá lớn như:Vải, nguyên phụ liệu dệt may, da, sắt thép, xăng dầu, hàng may sẵn, ô tô các loại, sợi,hoá chất, thuốc nhuộm
2 Đặc điểm của ngành Dệt May Hàn Quốc
2.1 Tình hình sản xuất hàng dệt may
Xuất phát điểm là một quốc gia nghèo về tài nguyên thiên nhiên lại bị chiếntranh tàn phá nặng nề nhưng trong hơn ba thập kỉ qua Hàn Quốc đã đạt được tốc độtăng trưởng cao và bền vững Quá trình phát triển kinh tế Hàn Quốc có nhiều điểmđáng chú ý nhưng điểm quan trọng nhất là xuất khẩu đóng vai trò chủ đạo trong quátrình công nghiệp hoá
Từ lâu Hàn Quốc đã cho rằng Dệt May là ngành công nghiệp quan trọng Vàonăm 1920 ngành Dệt May chiếm 12% giá trị sản xuất của ngành công nghiệp chếbiến và chỉ đứng thứ ba sau hai ngành thực phẩm và hoá chất Cơ cấu ngành Dệt MayHàn Quốc có thể chia ra làm ba ngành nhỏ sau:
Trang 35Thứ nhất là ngành công nghiệp sợi tổng họp: Hàn Quốc là nước thiếu sợi bông
do đó các thành viên của hiệp hội sợi nhân tạo Hàn Quốc luân luân mở rộng năng lựcsản xuất, công nghệ kéo sợi cũng được đầu tư thích đáng
Thứ hai là ngành công nghiệp dệt Kim: số lượng tăng khá nhanh vào nhữngnăm cuối của thập kỉ 80, mức tăng trung bình hàng năm khoảng 14% Do tính chấtcạnh tranh của hàng Dệt May ngày càng gay gắt trên thị trường quốc tế, chủ yếu làsản phẩm Dệt May từ các nước đang phát triển đã có tác động tiêu cực đến ngành DệtMay của Hàn Quốc
Thứ ba là ngành công nghiệp may: Đây là ngành có thế mạnh của Hàn Quốc.Những sản phẩm của ngành may có thiết kế độc đáo, đa dạng đáp ứng được nhu cầucủa rất nhiều người tiêu dùng không chỉ trong giới hạn phạm vi đất nước Hàn Quốc
mà còn hên cả thế giới
Công nghiệp Dệt May chiếm vị trí xứng đáng trong nền kinh tế Hàn Quốc.Trong suất thập kỉ 70 đến đầu thập kỷ 90 lao động trong ngành dệt may chiếm 5%tổng số lao động trong toàn bộ nghành công nghiệp và chiếm 1/4 lực lượng lao độngtrong các ngành công nghiệp chế biến Tỷ trọng của ngành dệt may trong toàn bộngành công nghiệp luôn ở mức 5% trong suất cả thời kì Hàng dệt may của Hàn Quốc
đã xuất khẩu sang hầu hết các nước thuộc tổ chức họp tác kinh tế và pháttriển( OECD) và Châu Á Giá trị xuất khẩu hàng dệt may chiếm 29,5% kim ngạchxuất khẩu của Hàn Quốc Hàng dệt may Hàn Quốc có khả năng cạnh tranh cao
2.2 Xu hướng thay đổi trong ngành dệt may Hàn Quốc
Sự thay đổi xu hướng tiêu dùng hàng may mặc cùng với sự cạnh hanh trongngành dệt may đã làm thay đổi cấu trúc của ngành kinh doanh này Việc tái cơ cấungành tập hung vào hai hướng đó là sát nhập và tổ chức lại các công ty bằng cách tìm
Trang 36nguồn cung ứng từ nước ngoài, tập trung vào cải tiến thiết kế sản phẩm và hoạt độngMarketing.
Rất nhiều các công ty sản xuất quần áo và sản phẩm dệt sợi sau khi tổ chức lại
đã chuyển từ công ty sản xuất sang công ty tiếp thị tiêu dùng Những công ty này đãchuyển một phần sản xuất của họ ra nước ngoài hoặc tìm kiếm các nhà thầu nướcngoài đặc biệt là Mêhicô và các nước CBI( Caribean Basin Initiative) Điều này chophép họ có thể cung cấp sản phẩm với giá cạnh tranh và có khả năng phản ứng nhanhvới những thay đối trong nhu cầu tiêu dùng
Các công ty bán lẻ trở thành các công ty sản xuất quần áo và các công ty sảnxuất quần áo trở thành các công ty bán lẻ là một xu hướng phổ biến trong những nămgần đây Xu hướng này đã tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm bớt trunggian Các công ty sản xuất và công ty bán lẻ hội nhập với nhau sẽ giúp họ kiểm soáttoàn bộ quá trình, bao gồm các yếu tố chất lượng, thời gian và khả năng cung ứnghàng hoá
Sự quan tâm đến những loại quần áo có gắn thương hiệu của đối tượng thanhthiếu niên Hàn Quốc là một tín hiệu tốt đối với những công ty tiếp thị thương hiệu.Ngoài các thương hiệu do các công ty sản xuất quần áo đã tạo dựng được từ trước,những thương hiệu riêng của từng công ty bán lẻ độc quyền đã trở nên ngày càngquen thuộc và tạo đuợc sự tín nhiệm của khách hàng nhờ vào sự hỗ trợ của nhữnghoạt động Marketing và thủ pháp định giá cao Nguời tiêu dùng ngày càng quen vớicác thuơng hiệu mang tính quốc gia với sự ổn định về chất luợng và điều này đã tạo
sự phát triển nhanh chóng của các thuơng hiệu riêng Xu huớng này có ảnh huởng rấtlớn đến khả năng cạnh tranh của hàng nhập khẩu, đặc biệt đối với hàng của nhữngnhà cung ứng mới tham gia vào thị truờng này
Trang 37Sự thay đổi công nghệ đã giúp cho các nhà sản xuất quần áo nâng cao cácchuơng trình phản ứng nhanh Khả năng phản ứng là yếu tố vô cùng quan họng đếcạnh hanh trong điều kiện thị truờng thay đối nhanh chóng hiện nay Điếm quan họngcủa chuơng trình này là phát triến sản phẩm kịp thời và đáp ứng nhanh nhu cầu củathị truờng Chuơng trình này gắn chặt với việc thiết kế, dự trữ, các nhà cung ứng, bộphận cắt may và hệ thống phân phối để giảm thiểu sự không hiệu quả và trì trệ trongquá hình phản ứng với nhu cầu của thị truờng.
Tuy nhiên, sự họp nhất các nhà bán lẻ đã ảnh huởng tới những nhà sản xuấtquần áo, đó là làm chuyển dịch vai hò khống chế ngành Vai trò này đã chuyển nhữngnhà sản xuất lớn sang những nhà bán lẻ lớn hơn và có khả năng chi phối mạnh hơn.Khoảng hai phần ba luợng hàng quần áo hiện nay đuợc bán qua 12 tập đoàn bán lẻchính duới các hình thức: Cửa hàng bách hoá, cửa hàng liên chuỗi, cửa hàng bán hạgiá Trong khi đó số luợng các mạng luới bán lẻ mạnh của các nhà sản xuất và cungứng nuớc ngoài còn rất hạn chế, vì vậy buộc họ phải chấp nhận áp lực của các tậpđoàn bán lẻ hên thị truờng Hàn Quốc là phải giảm giá Việc này dẫn đến sự cạnhtrnah ngày càng gay gắt giữa các nhà sản xuất trong nuớc và các nhà cung cấp nuớcngoài
Những thay đổi trong ngành sản xuất dệt may của Hàn Quốc vừa tạo ra nhữngthuận lợi nhung cũng gây khó khăn cho các công ty nuớc ngoài muốn bán sản phẩmtrcn thị truờng Hàn Quốc Những khu vực có chi phí nhân công thấp sẽ có cơ hội họptác với các công ty sản xuất và bán lẻ của Hàn Quốc để gia công hoặc bán hàng.Những công ty thiết lập đuợc quan hệ bạn hàng tốt với các công ty này của Hàn Quốcthì sẽ có những thuận lợi to lớn do có sự hỗ trợ thông tin liên quan đến thị truờng nhờ
đó sản phẩm của họ có thể đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị truờng Tuy nhiên những
Trang 38công ty này sẽ phải phụ thuộc nhiều hơn vào các công ty của Hàn Quốc trong việcphân phối sản phẩm.
3 Nhập khẩu hàng dệt may của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn trên thế giới Côngnghiệp dệt may Hàn Quốc càng phát triển thì nhu cầu nhập khẩu sản phẩm dệt maycàng tăng để đáp ứng cho cả nhu cầu về sản xuất lẫn tiêu dùng của đất nước
Các nước xuất khẩu sản phẩm dệt may của Hàn Quốc có thể kể đến như:Trung Quốc, Ản Độ, Việt Nam Trong các năm qua Trung Quốc là nước xuất khẩusản phẩm dệt may lớn nhất vào thị trường này Tuy nhiên thời gian gần đây, kimngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang thị trường Hàn Quốc có xu hướng giảm do chiphí và giá cả sản phẩm dệt may của Trung Quốc tăng cao Bên cạnh đó kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này có xu hướng tăng mạnh Các nhà đầu tưHàn Quốc đang tìm kiếm cơ hội kinh doanh trcn thị trường dệt may Việt Nam
Các mặt hàng dệt may nhập khẩu lớn nhất vào thị hường Hàn Quốc có thể kểđến: Bông, vải, áo Jacket, áo khoác, váy, sơ mi Trong đó sản lượng nhập khẩu bông
tự nhiên chiếm tới 80% tổng giá trị kim ngạch
4 Hệ thống các nhà sản xuất và phân phối hàng dệt may tại Hàn Quốc
4.1 về kĩ nghệ bán lẻ
Kĩ nghệ bán lẻ trên thị trường Hàn Quốc bao gồm các hình thức sau:
+ Các công ty chuyên doanh( speciality store) mô hình hoạt động là hệ thốngcác cửa hàng chuyên về một nhóm sản phẩm có chất lượng cao, những thương hiệunổi tiếng và giá rất cao
Trang 39+ Công ty siêu thị( department store): Mô hình hoạt động với hệ thống bán lẻtổng họp hàng tiêu dùng, trong đó chủ yếu là quần áo và dụng cụ gia đình
Công ty bán lẻ quốc gia( Chainstore or National account): Mô hình công tyhoạt động với các cửa hàng chuyên bán quần áo, dày dép, đồ trang sức được tổchức thành mạng lưới rộng khắp toàn quốc
Công ty siêu thị bình dân( Discount store): mô hình công ty này được tố chứctương tự như loại hình công ty siêu thị nhưng quy mô rất lớn với doanh số bán hàngcũng rất lớn vì nó phục vụ cho mọi tầng lóp đại chúng
Công ty bán hàng giảm giá( Off- price- store): Mô hình tố chức tương tự nhưloại siêu thị bình dân nói trên nhưng giá rẻ hơn
Công ty bán hàng qua bưu điện, Tivi, Catalogue, Internet: Là mô hình tổ chứcgiới thiệu sản phẩm qua Catalogue, quảng cáo, tờ rơi, qua truyền hình, Internet Quacác phương tiện này họ nhận đơn đặt hàng và giao hàng hoá tại nhà
Các cửa hàng bán lẻ khác bao gồm: Cửa hàng dụng cụ thể thao, tặng phẩm,
du lịch, câu lạc bộ Trong đó đáng chú ý là hệ thống cửa hàng và sạp bán lẻ của ngườiTrung Quốc, Ãn Độ, Mehico và cả người Hàn Quốc, thường những hàng hoá nàyđược bán với giá rất rẻ do hàng không có nhãn hiệu nổi tiếng hoặc hàng được nhậpthẳng từ các nguồn giá rẻ từ các nước châu Á, Nam Mỹ dưới dạng không bao bì và cóthế được trang hí thêm tại chỗ
4.2 Xét về thị phần theo phương thức bán hàng dệt may.
Hệ thống các cửa hàng chuyên doanh chiếm 40%
Các cửa hàng bán với số lượng lớn chiếm 10%
Trang 40Hệ thống các cửa hàng bách hoá chiếm 20%
Hệ thống các cửa hàng mạng lưới chiếm 25%
+ Các cửa hàng giá rẻ chiếm 5%
+ Bán qua Catalogue và Internet chiếm 10%
+ Bán qua các cửa hàng giới thiệu sản phẩm chiếm 5%
5 Đặc điểm tiêu dùng hàng dệt may trên thị trường Hàn Quốc
5.1 Mức chi tiêu cho tiêu dùng hàng dệt may.
Nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng ổn định trong thời gian qua đã giúp duy trìmức chi tiêu cho sản phẩm may mặc ở mức cao, bên cạnh đó mức chi tiêu cho nhữngsản phẩm may mặc thông thường cũng giảm không đáng kế Đó là dấu hiệu tốt,không gây tâm lý lo sợ cho các nhà sản xuất hàng dệt may Hàn Quốc và các nhà xuấtkhẩu những sản phẩm này vào thị trường Hàn Quốc
5.2 Đặc điểm nhân khẩu học ảnh hưởng đến tiêu dùng hàng dệt may.
Lứa tuổi từ 1-14 tuổi chiếm khoảng 21% tổng dân số Hàn Quốc( số liệu năm2007) Đối với các đối tượng tiêu dùng thuộc lứa tuổi này thì nhu cầu về sản phẩmdệt may đòi hỏi chất lượng phải tốt, đa dạng về kiểu dáng, mẫu mã và đặc điểm thiết
kế không đòi hỏi quá phức tạp
Lứa tuổi từ 15-64 tuổi chiếm khoảng 72% tổng dân số Hàn Quốc Lứa tuổinày là đối tượng tiêu dùng hàng may mặc lớn nhất ở Hàn Quốc Ta có thể phân chiađối tượng này thành hai xu hướng tiêu dùng như sau: