Để đánh giá được tác động của lạm phát đến nền kinh tế, rồi từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp, chúng ta cần đo lường lạm phát.Tỷ lệ lạm phát hàng năm được xác định bằng tỷ lệ thay
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Tiền tệ từ lâu đã trở thành vật ngang giá chung của các hàng hoá dịch vụ Các giao dịchbuôn bán ở hầu hết mọi nơi trên thế giới đều sử dụng tiền và tiền tệ gắn liền với quan hệ lợi ích.Thực tế này minh chứng cho vai trò quan trọng của tiền tệ trong nền kinh tế của các quốc giacũng như toàn thế giới Nó được đặc trưng bởi sức mua; khi sức mua thay đổi hay lạm phát xuấthiện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của mọi người, từ các tổ chức, cá nhân cho tới các chínhphủ Do vậy, lạm phát là đối tượng nghiên cứu của các nhà kinh tế học từ nhiều năm nay
Lạm phát là một vấn đề hết sức nghiêm trọng đối với các hoạt động kinh tế-chính trị-xãhội không chỉ ở Việt Nam mà hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm Lạm phát là mộttrong những chỉ tiêu đánh giá trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia nhưng cũng là một trởngại lớn nhất trong công cuộc phát triển đất nước Việc xem xét, đánh giá, nghiên cứu nhằmmục đích tìm ra nguyên nhân dẫn đến lạm phát và tìm cách khắc phục nó như thế nào là vô cùngcần thiết
Lý thuyết về lạm phát đã khá phát triển nhưng việc làm thế nào vận dụng các biện pháp
để kiểm soát chúng có hiệu quả đối với mỗi nền kinh tế vẫn luôn là vấn đề phức tạp
Để hiểu rõ bản chất của lạm phát, tác hại cũng như tác động của nó và những biện phápkiềm chế lạm phát ở nước ta, chúng ta cần hiểu rõ những khái niệm cơ bản về lạm phát, nguyênnhân gây ra lạm phát cũng như cách khắc phục lạm phát… Được sự hướng dẫn của thầy giáo -Thạc sỹ Lê Bảo và qua tham khảo một số sách báo tài liệu, em xin đưa ra một vài suy nghĩ với
mong muốn tìm hiểu và vận dụng tốt hơn những lý luận về “lạm phát và tình hình lạm phát ở Việt Nam trong những năm gần đây” Trong bài viết sẽ không thể tránh khỏi những sai sót, em
mong các thầy cô bỏ qua và đóng góp ý kiến để em có thể hiểu sâu hơn vấn đề này Em xin chânthành cám ơn
Trang 2I NHỮNG NÉT KHÁI QUÁT VỀ LẠM PHÁT.
1 Khái niệm và đo lường lạm phát.
1.1 Khái niệm.
Lạm phát là một phạm trù kinh tế khách quan phát sinh từ chế độ lưu thông tiền giấy.Điều này xuất phát từ chỗ tiền giấy chỉ là một loại dấu hiệu giá trị được phát hành vào lưu thông
để thay thế cho tiền đủ giá nhằm thực hiện vai trò trung gian trao đổi Bản thân tiền giấy không
có giá trị nội tại mà chỉ mang giá trị danh nghĩa Do đó, khi có hiện tượng thừa tiền giấy tronglưu thông thì người ta không có xu hướng giữ lại trong tay mình những đồng tiền bị mất giá vàlượng tiền thừa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và lưu thông hàng hóa
Có nhiều nhà kinh tế đã đi tìm một định nghĩa đúng cho thuật ngữ “lạm phát”, nhưng vẫnchưa có một sự thống nhất hoàn toàn Quan điểm cổ điển cho rằng lạm phát xảy ra khi số tiềnlưu hành vượt quá dự trữ vàng làm đảm bảo của ngân hàng phát hành Cụ thể, người ta dựa vàotỷ lệ đảm bảo của tiền tệ để xem xét có lạm phát hay không Chẳng hạn, nếu pháp luật ấn địnhrằng tỷ lệ đảm bảo tối thiểu của tiền tệ là 40%, khi tỷ lệ đó xuống dưới mức pháp định tức làngân hàng đã phát hành tiền quá mức
Quan điểm thứ hai cho rằng, lạm phát là sự mất cân đối giữa tiền và hàng trong nền kinh
tế Có thể tóm tắt trong phương trình Fisher : M.V=P.Y Nếu tổng khối lượng tiền lưu hành (M)tăng thêm trong khi tổng lượng hàng hóa – dịch vụ được trao đổi (Y) giữ vững, tất nhiên mứcgiá trung bình (P) phải tăng Và nếu thêm vào đó tốc độ lưu thông tiền tệ (V) tăng thì ( P) lạităng rất nhanh
Một quan điểm khác cho rằng lạm phát là sự tăng giá của các loại hàng hóa ( tư liệu tiêudùng, tư liệu sản xuất và hàng hóa sức lao động) Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả vàchi phí tăng Theo quan điểm này thì giá cả tăng lên cho dù bất kỳ nguyên nhân nào đều là lạmphát Lạm phát và giá cả tăng đều cùng một ý nghĩa Thật ra gía cả đồng loạt tăng lên chỉ là mộttrong những biểu hiện cơ bản của lạm phát mà thôi
Vậy lạm phát là gì?
Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bịmất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt
Như vậy có thể thấy các nhà kinh tế học đều thừa nhận đặc điểm chung nhất của lạm phát là hiện tượng mức giá chung của các hàng hoá và dịch vụ tăng lên và sức mua thực tế của đồng tiền giảm xuống so với một thời điểm trước đó.
1.2 Đo lường lạm phát.
Trang 3Để đánh giá được tác động của lạm phát đến nền kinh tế, rồi từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp, chúng ta cần đo lường lạm phát.
Tỷ lệ lạm phát hàng năm được xác định bằng tỷ lệ thay đổi của chỉ số giá cả ở một năm(tháng) so với chỉ số giá cả của năm (tháng) được chọn làm gốc
CPIn = ( x x 100) +
( x x 100) +
Trong đó: CPIn là chỉ số giá tiêu dùng năm n
Pn là giá hàng hoá năm n (Pn gạo là giá gạo vào năm n)
Po là giá hàng hoá vào năm được chọn làm năm gốc
Tỷ lệ chi tiêu cho từng loại hàng hóa thường được cố định, tức là giá các loại hàng hóa cóthể thay đổi từ năm này sang năm khác nhưng trọng số của các hàng hóa vẫn được giữ nguyên.CPI chính là tỷ lệ % giữa giá cả hiện tại của giỏ hàng hoá với cơ cấu tiêu dùng như ở năm gốc
so với giá của giỏ hàng hoá đó vào thời điểm gốc
Chỉ số giá sản xuất (PPI - Producer Price Index) phản ánh sự biến động của mức giábán buôn hay giá cả của đầu vào (chi phí sản xuất) Chi phí đầu vào biến đổi sẽ dẫn tới nhữngthay đổi về xu thế giá cả trên thị trường
Chỉ số giảm phát tổng sản phẩm quốc nội (GDP deflator) đo lường mức giá bình quâncủa tất cả các hàng hóa, dịch vụ cấu thành nên GDP (bao gồm tiêu dùng, đầu tư, chi tiêu chínhphủ, xuất khẩu ròng); trong khi đó CPI chỉ bao gồm các hàng tiêu dùng Công thức để tính chỉ
số giảm phát GDP là:
Chỉ số giảm phát GDP = x 100 %
Trong công thức tính chỉ số giảm phát GDP, GDP danh nghĩa là tổng giá trị bằng tiềntính theo giá cả hiện tại của tất của các hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trongphạm vi lãnh thổ quốc gia trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm Còn GDP thực tế đo
Trang 4lường giá trị tổng sản lượng của nền kinh tế trong năm hiện tại theo giá cả của năm gốc Vàothời kỳ có lạm phát, chỉ số giảm phát GDP lớn hơn 100%.
Ở nước ta, phương pháp cải tiến để tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) đã được Tổng cụcThống kê chính thức công bố từ tháng 1/1998 Theo đó, CPI của cả nước được tính dựa trên cơ
sở chỉ số giá tiêu dùng của tất cả các tỉnh thành Giỏ hàng hoá để tính CPI gồm 296 mặt hàng(cả hàng hoá và dịch vụ) Giá kỳ gốc là mức giá bình quân năm 1995 CPI hàng tháng đượccông bố với 4 kỳ gốc so sánh: CPI bình quân năm 1995, so với tháng trước, so với tháng đó nămtrước và so với tháng 12 năm trước Vàng và đô-la Mỹ (USD) được công bố chỉ số giá riêng,không tính chung vào CPI
2 Các loại lạm phát phân theo mức độ.
Do biểu hiện đặc trưng của lạm phát và sự tăng lên của giá cả hàng hóa nên các nhà kinh
tế thường dựa vào tỷ lệ tăng giá để làm căn cứ phân loại lạm phát ra thành 4 mức độ khác nhau:
thiểu phát, lạm phát vừa phải, lạm phát cao và siêu lạm phát.
Thiểu phát là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp Đây là một vấn nạn trong quản lý kinh tế vĩ
mô Không có tiêu chí chính xác tỷ lệ lạm phát bao nhiêu phần trăm (%) một năm trở xuống thìđược coi là thiểu phát Một số tài liệu kinh tế học cho rằng tỷ lệ lạm phát ở mức 3-4 % một nămtrở xuống được gọi là thiểu phát Tuy nhiên, ở những nước mà cơ quan quản lý tiền tệ (ngânhàng trung ương) rất không ưa lạm phát thì tỷ lệ lạm phát 3-4% một năm được cho là hoàn toàntrung bình, chứ chưa phải thấp đến mức được coi là thiểu phát
Lạm phát vừa phải là loại lạm phát mà tốc độ tăng giá cả chậm, ở mức dưới một con
số (dưới 10%) mỗi năm Khi đó, tiền tệ mất giá không nhiều và người ta tin tưởng vào giá trịcủa đồng tiền Ở hầu hết các nền kinh tế thị trường, lạm phát vừa phải luôn tồn tại
Lạm phát cao là lạm phát xảy ra khi giá cả tăng với tốc độ 2 hoặc 3 con số (30%,
50%, 100%, 500% ) Lạm phát cao còn gọi là lạm phát phi mã Khi đó, tiền mất giá trị mộtcách nhanh chóng và người ta chỉ nắm giữ một lượng tiền tối thiểu để đảm bảo cho các giaodịch hàng ngày Lạm phát cao gây ra nhiều tác hại đến sự phát triển kinh tế xã hội
Siêu lạm phát là hiện tượng tốc độ tăng mức giá hết sức nhanh chóng, có khi tới vài
trăm % một tháng hay vài nghìn % mỗi năm Siêu lạm phát không thể kéo dài trong quá nhiềunăm do tiền gần như mất hết giá trị, các doanh nghiệp không thể hoạt động được và phá sản,người dân không dùng tiền trong các giao dịch nữa và quốc gia gặp phải tình trạng này buộcphải cải tổ chính sách kinh tế nước mình và tìm cách chấm dứt lạm phát
3 Những nguyên nhân gây nên lạm phát.
Trang 53.1 Lạm phát do cầu kéo.
Lạm phát cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng nhanh hơn so với sản lượng tiềm năng của nềnkinh tế, kéo theo sự tăng lên của mức giá ở điểm cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu Có 3nguyên nhân làm cho tổng cầu tăng là: sự gia tăng cung tiền, tăng chi tiêu chính phủ và xuấtkhẩu tăng Bản chất của lạm phát cầu kéo là chi tiêu quá nhiều tiền để mua một lượng cung hànghóa hạn chế trong điều kiện nền kinh tế đã đạt cân bằng trên thị trường lao động Có thể thấy rõhơn cơ chế lạm phát cầu kéo qua mô hình dưới đây
Trang 6Lạm phát cầu kéo
Trong ngắn hạn, đường tổng cung AS (Aggregate demand) mới đầu nằm ngang và sẽ dốcngược lên khi vượt quá mức sản lượng tiềm năng Q* Điều này là do khi chưa đạt mức sảnlượng tiềm năng, một sự thay đổi nhỏ về giá cả của đầu ra (hàng hoá, dịch vụ) cũng khuyếnkhích được các hãng tăng nhanh sản lượng sản xuất ra để đáp ứng sự tăng lên của nhu cầu, thunhiều lợi nhuận hơn Khi sản lượng của nền kinh tế là Q’ > Q*, chi phí đầu vào đã kịp thời điềuchỉnh tăng lên, các hãng không còn động lực để tăng cao sản lượng nữa, do đó dù giá có tăngnhiều nhưng sản lượng vẫn không tăng đáng kể hay đường AS có độ dốc lớn Lúc đó, cầu tăngmạnh, đường AD0 dịch chuyển lên trên đến vị trí mới là AD1 và mức giá tăng nhanh từ P0 đếnP1 Tổng cầu tăng liên tục làm cho đường tổng cầu liên tiếp dịch chuyển về phía bên phải vàmức giá không ngừng tăng lên, tức là xảy ra lạm phát cầu kéo
Khi đường cầu dịch chuyển đến AD1, nền kinh tế ở trạng thái vượt quá trạng sản lượngtiềm năng và toàn dụng nhân công, người lao động gây áp lực tăng lương làm cho tổng cunggiảm, đường tổng cung AS0 dịch chuyển về bên trái tới vị trí AS1 Mức giá tăng tiếp từ P1 đếnP2, nền kinh tế lại chuyển về trạng thái đạt mức sản lượng tiềm năng và toàn dụng nhân công
Cứ như thế, sau khi đường tổng cầu dịch chuyển về bên phải thì đường tổng cung lại dịchchuyển về bên trái kéo theo mức giá tăng liên tục
Q* Q,
AD0
AD1
AD2
AS 0
P
(Mức giá)
Trang 73.2 Lạm phát do cầu thay đổi.
Lạm phát này xảy ra khi lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về mộtmặt hàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả có tính chấtcứng nhắc, chỉ có thể tăng mà không thể giảm, thì mặt hàng đó vẫn không giảm giá dù lượngcầu giảm Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thì lại tăng giá Kết quả là mức giá chungtăng lên, dẫn đến lạm phát
3.3 Lạm phát tiền tệ.
Nguyên nhân gây ra lạm phát tiền tệ là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượtquá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị của nền kinh tế́ Có thể dongân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ thịtrường mở hay chính sách tiền tệ lới lỏng Khi lượng tiền lưu thông quá lớn, ví dụ trong tay bạn
có nhiều hơn 100 triệu , thì sự tiêu dùng theo đó mà tăng rất lớn theo xã hội Áp lực cung hạnchế dẫn tới tăng giá trên thị trường, và do đó sức ép lạm phát tăng lên
3.4 Lạm phát do chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy bắt nguồn từ sự gia tăng chi phí do các nguyên nhân chủ yếu nhưchi phí tiền lương tăng, giá nguyên vật liệu tăng, chính sách thuế và các khoản phải nộp kháctăng; công nghệ sản xuất lạc hậu, cơ chế quản lý kém hiệu quả đẩy chi phí sản xuất tăng lên Môhình dưới đây cho ta thấy quá trình diễn ra lạm phát chi phí đẩy
Lạm phát chi phí đẩy.
Ban đầu đường tổng cầu là AD0, đường tổng cung là AS0 Khi chi phí đầu vào tăng (ví dụgiá dầu lửa tăng), các hãng giảm mức cung hàng hoá, dịch vụ và đường tổng cung dịch chuyểnsang tới vị trí AS1, sản lượng giảm xuống còn Q’, đẩy mức giá tăng từ P0 lên P1 Hiện tượng
P
(Mức giá)
Q(Sản lượng)
AS 0
AS 1
AS 2
AD0
Trang 8mức giá tăng liên tục, đồng thời sản lượng (hay GDP thực tế) suy giảm được gọi tình trạng lạmphát đình trệ hay đình lạm (stagflation); kèm theo đó là thất nghiệp gia tăng.
3.5 Lạm phát do cơ cấu.
Lạm phát cơ cấu phát sinh do sự mất cân đối sâu sắc trong cơ cấu của nền kinh tế (chẳng
hạn giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, giữa khu vực sản xuất và khu vực dịch vụ, giữa tích lũy và tiêu dùng) được gọi là lạm phát cơ cấu.
3.6 Một số nguyên nhân khác.
Ngoài những nguyên nhân trên, lạm phát còn có thể là do những yếu tố nằm ngoài ýmuốn chủ quan của con người như hạn hán, lũ lụt, động đất, hoả hoạn, khủng bố cũng có thểlàm nảy sinh lạm phát Khi những điều này xảy ra trên diện rộng, gây thiệt hại lớn thì toàn bộnền kinh tế bị ảnh hưởng: sản xuất suy giảm, hàng hóa không đủ cung cấp cho nhu cầu tiêudùng và khắc phục hậu quả của các sự kiện bất khả kháng Phân tích này đặc biệt đúng trongtrường hợp bất khả kháng xảy ra tại một hay các vùng chuyên canh, các khu sản xuất mà nguyênvật liệu, sản phẩm từ đó là nguồn cung cấp chủ yếu cho nền kinh tế Nếu chúng kéo dài sẽ gây
ra lạm phát
Lạm phát còn có thể là kết quả của kỳ vọng về lạm phát của các tác nhân trong nền kinh
tế hoặc là kết quả của đầu cơ v.v Khi các doanh nghiệp, các cá nhân dự đoán rằng lạm phát sẽtăng, họ tính đến lạm phát trong các quyết định của mình: người cho vay sẽ nâng cao lãi suấtdanh nghĩa, người tiêu dùng tích trữ hàng hoá, doanh nghiệp nâng cao dần giá bán sản phẩm.Chính những việc này đẩy giá cả tăng lên và có thể gây lạm phát Tương tự như vậy, việc cácnhà sản xuất hoặc các nhà đầu cơ tích trữ hàng hoá, không bán ra thị trường để tạo cơn sốt cunggiả tạo cũng dễ dẫn tới lạm phát
Trang 94 Tác động của lạm phát đến nền kinh tế.
Lạm phát có những tác động không chỉ về mặt kinh tế mà trên cả khía cạnh chính trị, xãhội Mức độ tác động tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như: tỷ lệ lạm phát, khả năng dự toán chínhxác sự thay đổi của lạm phát
Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế – xã hội tùy theo mức độ của
nó Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại kođáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại rất nghiêm trọng đối với kinh tế
và đời sống Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được haykhông nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức
độ lạm phát là một điều bất ngờ Nếu như lạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạmphát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có những giải pháp để thích nghi với nó.Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhậpmột cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế
Lạm phát làm cho chúng ta khó có được thông tin về các nhân tố cấu thành nên giá cảhợp lý của một hàng hóa, dịch vụ nào đó và do vậy khó đưa ra quyết định xem có nên mua haykhông và mua khi nào là có lợi Dưới đây, chúng ta sẽ xem xét cụ thể từng ảnh hưởng của lạmphát đến nền kinh tế
4.1 Phân phối lại thu nhập và của cải.
Một số người thường cho rằng chỉ có lạm phát cao mới phân phối lại thu nhập và của cải,nhưng thực tế không phải như vậy Có những bằng chứng cho thấy ngay cả lạm phát vừa phảicũng gây ra hiệu ứng này Lạm phát làm cho tổng thu nhập danh nghĩa tăng lên nhưng thực chấtlại hàm chứa trong đó sự phân phối lại thu nhập và của cải giữa các nhóm dân cư (giữa người đithuê lao động và công nhân, giữa người đi vay và người cho vay, giữa Chính phủ và người đóngthuế, ) Ích lợi hay thiệt hại do lạm phát đem đến không phụ thuộc vào bản thân tỷ lệ lạm phát
mà phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát không được dự kiến Nếu người mua và người bán, chủ vàthợ, đều dự đoán chính xác về lạm phát thì không có sự phân phối lại thu nhập và của cải.Hiệu ứng tái phân phối thể hiện rõ nét trên thị trường lao động và trên thị trường vốn
4.1.1 Trên thị trường lao động.
Thông thường, tiền lương được quy định trong hợp đồng lao động giữa người đi thuê laođộng (người chủ) và công nhân đều có tính đến một mức lạm phát nào đó mà cả hai bên dự kiến.Nếu tỷ lệ lạm phát trên thực tế cao hơn dự kiến thì khoản tiền lương trả thêm do dự tính một tỷ
lệ lạm phát nhất định trong hợp đồng không đủ để bù đắp sự thay đổi của lạm phát Rõ ràng,
Trang 10người chủ có lợi nhuận cao hơn còn lương của người lao động lại mua được ít hàng hóa hơn sovới dự kiến ban đầu của họ Ngược lại, nếu mức lạm phát dự kiến trong hợp đồng lao động caohơn mức lạm phát thực tế xảy ra thì người chủ bị thiệt còn công nhân được lợi.
4.1.2 Trên thị trường vốn.
Lạm phát không được dự tính trước phân phối lại thu nhập giữa người đi vay và nhữngngười cho vay Nếu lạm phát xảy ra với tỷ lệ cao hơn dự đoán thì lãi suất được đặt ra trước đókhông đủ để bù đắp cho người cho vay vì tiền đang bị giảm sút sức mua Lúc đó người đi vay cólợi còn người cho vay bị thiệt Trong trường hợp tỷ lệ lạm phát thấp hơn mức đã dự kiến thì lãisuất đã định là quá cao; người cho vay sẽ được lợi còn thua thiệt rơi vào người đi vay Lạm pháttăng cao cũng gây thiệt hại cho những người gửi tiền tiết kiệm (mà thực chất là người cho vay)
vì sức mua của khoản tiết kiệm bị giảm sút Sự phân phối lại thu nhập giữa chủ và thợ, giữangười cho vay và người đi vay khuyến khích họ cố gắng dự đoán lạm phát sao cho càng chínhxác càng tốt Tuy nhiên, hầu hết họ đều dự đoán không chính xác sự thay đổi của lạm phát và dovậy tác động của lạm phát về mặt phân phối lại thu nhập và của cải luôn xảy ra
Riêng hiệu ứng phân phối lại thu nhập giữa Chính phủ và người đóng thuế có thể đượcthấy rõ trong phần phân tích tác động của lạm phát lên công cụ thuế khoá
4.2 Tác động đến hiệu quả kinh tế.
4.2.1 Bóp méo tín hiệu giá cả.
Khi mức độ lạm phát của một nền kinh tế là vừa phải, nếu giá cả của một hàng hóa nào đótrên thị trường tăng lên thì người bán cũng như người mua đều biết rằng đã có sự thay đổi thực
sự về cung và/hoặc cầu đối với hàng hoá đó và họ sẽ có hành vi thích hợp để ứng phó (chẳnghạn, chuyển hướng tiêu dùng hay sản xuất mặt hàng khác nhiều hơn để thay thế) Nhưng nếunền kinh tế rơi vào tình trạng lạm phát cao, người tiêu dùng sẽ khó so sánh giá cả giữa các hànghoá với nhau vì giá tất cả các hàng hoá đều tăng nhiều so với trước mà so sánh một tiêu thứcnào đó với một tiêu thức không đổi bao giờ cũng dễ hơn việc so sánh hai tiêu thức cùng biếnđổi Tỷ lệ lạm phát càng cao càng khuyến khích người ta mua nhiều hàng hoá tích trữ để tránh
sự giảm sút sức mua của tiền tệ và đề phòng sự leo thang của giá cả Vì vậy, hàng hóa càng trởlên khan hiếm và giá cả càng lên cao, tạo ra cơn sốt cung giả tạo Người sản xuất có thể chạytheo cơn sốt "ảo" này để đẩy mạnh sản xuất Điều đó chứng tỏ giá cả trong thời kì lạm phát caokhông phải là tín hiệu đáng tin cậy về cầu thực tế của thị trường
4.2.2 Chi phí "mòn giày"
Trang 11Trong thời kì có lạm phát, người ta cố gắng giữ càng ít tiền càng tốt vì sức mua của tiền
tệ giảm sút nhanh chóng Chi phí để giảm bớt lượng tiền nắm giữ được gọi là "chi phí mòn giày"
của lạm phát vì giày sẽ bị mòn và cũ nhanh chóng khi người ta thường xuyên đến ngân hàng để
lấy tiền Đây chỉ là cách nói hình ảnh: "chi phí mòn giày" chính là chi phí một người bỏ ra (chẳng hạn như hy sinh thời gian, sự tiện lợi) để có tiền trong tay khi cần và phần nào tránh được sự giảm sút sức mua của khoản tiền anh ta có.
Như vậy, lạm phát làm cho các cá nhân tốn nhiều thời gian, công sức để "ném" số tiềnmình có vào lưu thông và mua về các tài sản thực (hàng hóa, đất đai, nhà cửa, ) hoặc chuyểnđổi sang đồng tiền có sức mua ổn định Nếu lạm phát thấp, thời gian và sức lực đó được giànhcho những việc khác Đối với các doanh nghiệp, họ phải đưa ra những kế hoạch phức tạp đểquản lý tiền mặt Vì thế, các nguồn lực bị tiêu tốn vào việc đối phó với lạm phát chứ không phải
để góp phần tạo ra các giá trị thực
4.2.3 Chi phí "thực đơn".
Đây là chi phí để thay đổi giá cả của hàng hoá dịch vụ bán ra khi lạm phát tăng cao.Trong điều kiện bình thường của nền kinh tế, đa số các công ty, những người cung cấp hànghóa, dịch vụ không phải thay đổi giá bán hàng ngày, mà giá của các sản phẩm thường được giữ
cố định trong hàng tuần, hàng tháng, có khi tới hàng năm vì điều chỉnh giá cả gây tốn kém thờigian, sức lực, của cải Khi giá cả thay đổi lớn, các công ty phải tăng thêm các nguồn lực để điềuchỉnh giá cả: các nhà hàng phải in thực đơn mới, các công ty thay đổi báo giá và catalogue, cáccửa hàng, siêu thị phải thay đổi giá bán các hàng hoá Các chi phí phát sinh không chỉ gồm chiphí in ấn, chi phí quảng cáo về các mức giá mới mà còn bao gồm các chi phí "chìm" như chi phítập hợp nhân lực để đưa ra các quyết định mới về giá, chi phí giải quyết các vấn đề liên quanđến sự tức giận của khách hàng trước việc giá cả bị thay đổi thường xuyên
4.2.4 Chi phí điều chỉnh chính sách.
Lạm phát cao khiến các nhà hoạch định chính sách phải thường xuyên theo dõi diễn biếnlạm phát, phản ứng của dân chúng, dự báo của các nhà kinh tế để đưa ra các chính sách thíchhợp với thực trạng kinh tế lúc đó Thay vì nghiên cứu định hướng để đưa ra các chính sách pháttriển kinh tế - xã hội trong tương lai, họ phải tập trung tìm kiếm các giải pháp để đối phó vớilạm phát và đó là một chi phí không chỉ với nhà nước mà là chi phí với cả nền kinh tế
Chúng ta đã xem xét hiệu ứng phân phối lại thu nhập và của cải do lạm phát gây ra cũngnhư các chi phí cho lạm phát xét ở góc độ vi mô Trên tầm vĩ mô, lạm phát tác động đến công ăn
Trang 12việc làm, sản lượng, hoạt động đầu tư, hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế cũng như cáncân thanh toán quốc tế.
4.3 Tác động về mặt kinh tế vĩ mô.
4.3.1 Tác động đến tiết kiệm và đầu tư.
Mọi sự tăng lên quá nhanh của chỉ số giá đều có thể làm cho những dự đoán về lạm pháttrở nên sai lệch Các nhà đầu tư khó có thể dự đoán về giá các yếu tố đầu vào và đầu ra trongtương lai và điều này làm tăng rủi ro của việc ước tính lợi ích của các dự án đầu tư Kết quả làquyết định về tiết kiệm và đầu tư không đem lại hiệu quả như mong muốn
Lạm phát làm suy giảm đầu tư thông qua ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của hoạt động sản xuất kinh doanh Khi nhà đầu tư mua thêm các máy móc, các trang thiết bị, giá trị của các
tài sản đó (cũng như các tài sản khác chưa khấu hao hết) được khấu trừ vào thu nhập trước khichịu thuế Tổng giá trị khấu hao cho đến khi hết vòng đời của tài sản bằng giá mua tài sản đó.Lạm phát làm cho giá trị thực của tài sản được khấu hao giảm và nhà đầu tư phải nộp nhiều thuế
hơn Tỉ lệ lạm phát càng cao thì lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp càng thấp Lợi nhuận là
động lực chủ yếu để các nhà đầu tư bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh, nhưng trong thời kỳ lạmphát, lợi nhuận bị thu hẹp Vì thế, lạm phát làm suy giảm đầu tư, từ đó làm chậm quá trình tăngtrưởng kinh tế
Lạm phát còn kìm hãm đầu tư dài hạn, hạn chế sản xuất (vì nhà đầu tư không chắc chắn
là giá cả sẽ bình ổn trở lại trong tương lai), kích thích đầu cơ vào các tài sản mang lại lợi nhuậnnhanh chóng như bất động sản, vàng bạc, đá quý, Một nền kinh tế rơi vào lạm phát cao cũng
có nghĩa là các khoản tiền gửi ngân hàng, các tài sản tài chính có giá trị danh nghĩa cố định (nhưtrái phiếu) bị suy giảm giá trị thực một cách nhanh chóng Đây là lý do khiến những người cótiền gửi tiết kiệm, những người nắm giữ những tài sản tài tài chính tìm cách chuyển đổi chúngthành tiền mặt rồi mua bất động sản, đồ cổ, đồ qúy hiếm, để đầu cơ chờ giá lên Hơn nữa, cácnhà đầu tư giảm lòng tin vào thị trường vốn và thị trường tín dụng vì lạm phát làm lãi suất thựcgiảm, thậm chí còn có tình trạng âm Theo đó, cung tiết kiệm giảm sút và người ta có xu hướng
ít đầu tư vào sản xuất, tức là đầu tư giảm Những động thái của ngân hàng trung ương trong thời
kì có lạm phát cao nhằm đạt mục tiêu giảm tỷ lệ lạm phát (như nâng cao lãi suất, thu hẹp cungtín dụng) sẽ kéo theo hiện tượng thoái lui đầu tư, vốn chạy vào các ngân hàng và kèm theo làsuy thoái kinh tế
Khi lạm phát cao, đồng tiền trong nước mất giá trầm trọng so với ngoại tệ Các nhà đầu
tư nước ngoài hiện tại và tiềm năng nhận thấy rằng lợi nhuận thu được bằng đồng bản tệ sẽ đổi
Trang 13được ít ngoại tệ hơn Họ cũng không tin tưởng vào sự an toàn của môi trường đầu tư nội địatrong tương lai Do đó, họ rút vốn về nước hoặc không muốn đầu tư nữa.
4.3.2 Tác động tới tình trạng thất nghiệp.
Lạm phát cao làm cho nền kinh tế dịch chuyển khỏi trạng thái toàn dụng nhân công.Trong trường hợp cả hãng sản xuất và công nhân đều dự đoán rằng lạm phát sẽ cao nhưng thực
tế không diễn ra như vậy thì lương thực tế của công nhân tăng Những dự đoán thiếu chính xáctrong thời gian dài buộc các công ty phải sa thải bớt nhân công; do vậy mà tỷ lệ thất nghiệp giatăng Những người còn có việc làm thì được lợi còn người đi thuê lao động bị thiệt
Ngược lại, nếu cả người đi thuê và công nhân đều cho rằng lạm phát thấp nhưng lạm phátthực tế lại cao hơn đáng kể so với dự đoán của họ thì sự gia tăng lương theo thoả thuận không
đủ bù đắp lạm phát không dự kiến được Điều này có lợi cho nhà sản xuất nên họ cố gắng thuênhiều lao động để đẩy mạnh sản xuất Do tỷ lệ tăng lương thấp hơn tỷ lệ lạm phát trong thực tế,một số công nhân rời bỏ nhà máy, xí nghiệp họ đang làm để đi tìm việc ở nơi mà lương họ đượctrả có thể bù đắp tác động của lạm phát lên thu nhập Hãng sản xuất muốn nhà máy hoạt độngvới công suất cao hơn nhằm đáp ứng cầu hàng hoá lên cao thì phải trả tiền làm thêm giờ cho sốcông nhân hiện tại, ngay cả khi sản phẩm chưa được tung ra thị trường Hơn nữa, chi phí bảodưỡng máy móc thiết bị cũng gia tăng do tăng công suất hoạt động; điều này làm lợi nhuận thực
tế của nhà sản xuất không tăng nhiều như khi lạm phát thấp Những người công nhân bỏ nhàmáy đi tìm việc nhưng chưa chắc họ đã tìm được chỗ làm mới phù hợp; những người ở lại nhàmáy cảm thấy mình bị lừa dối vì tiền lương của họ bây giờ mua được ít hàng hoá hơn họ từngnghĩ Một tâm lý không ổn định, muốn thay đổi chỗ làm bao trùm trong lòng những người làmthuê Chính tâm lý này và tình trạng công nhân bỏ việc để tìm việc khác có mức lương cao hơnđẩy tỷ lệ thất nghiệp lên cao
4.3.3 Tác động đến hoạt động ngoại thương và cán cân thanh toán quốc tế.
Đối với các nền kinh tế mở, lạm phát còn tác động đến hoạt động ngoại thương và cáncân thanh toán quốc tế thông qua tác động đến tỷ giá hối đoái Theo lý thuyết cân bằng sức mua(PPP- Purchasing Power Parity), nước nào có tỷ lệ lạm phát cao hơn thì đồng tiền nước đó mấtgiá so với ngoại tệ Khi đó, hàng xuất khẩu trở nên rẻ tương đối trên thị trường nước ngoài vàxuất khẩu gia tăng; còn hàng nhập khẩu vào trong nước trở nên đắt hơn và nhập khẩu giảm Cáncân tài khoản vãng lai được cải thiện và ảnh hưởng tích cực lên cán cân thanh toán quốc tế Tuynhiên, về lâu dài, lạm phát cao sẽ phá hoại đầu tư và sản xuất, hàng hóa không có nhiều để xuấtkhẩu nữa, nhập khẩu gia tăng mạnh mẽ làm cho cán cân thanh toán thâm hụt nặng nề
Trang 144.3.4 Tác động đến công cụ thuế khoá.
Lạm phát làm tăng gánh nặng thuế đối với người nộp thuế và làm giảm thu nhập của họ
vì các nhà hoạch định chính sách thường không tính đến lạm phát khi soạn thảo các chính sáchpháp luật Tác động này của lạm phát đặc biệt rõ nét với các trường hợp thuế đánh vào lợi nhuậnchuyển nhượng tài sản và thuế thu nhập doanh nghiệp
Ví dụ trong trường hợp thuế đánh vào lợi nhuận từ hoạt động chuyển nhượng tài sản: khigiá bán lại tài sản cao hơn giá ban đầu mua tài sản đó, người hưởng lợi từ hoạt động bán lại sảnnày có nghĩa vụ nộp thuế Chẳng hạn, vào năm 2005, một người mua cổ phiếu của một công tyvới giá 20 USD; đến năm 2010 bán lại với giá 60 USD Nếu mức giá từ năm 2005 đến năm
2010 tăng gấp rưỡi thì 20 USD bỏ ra để mua cổ phiếu vào năm 2005 tương đương 30 USD vàonăm 2010; do đó thu nhập thực tế của người đó là: 60 USD - 30 USD = 30 USD Song, thuế thunhập vẫn bị tính trên số lợi nhuận danh nghĩa 40 USD Như vậy, khi có lạm phát người đó phảinộp số tiền thuế cao hơn khi không có lạm phát là: (40 USD - 30 USD) x thuế suất
Qua ví dụ trên ta thấy lạm phát làm cho thuế khóa trở thành gánh nặng cho người nộpthuế Khoản lãi thực mà họ kiếm được từ việc tiết kiệm có khi còn rất ít, thậm chí không còn saukhi đã nộp thuế Chúng ta càng hiểu rõ hơn rằng lạm phát cao không khuyến khích những người
có vốn nhàn rỗi đem gửi tiết kiệm, tức là một nguồn vốn quan trọng cho đầu tư bị giảm sút vàdẫn đến việc người ta tìm cách trốn thuế
4.4 Tác động về mặt xã hội - chính trị.
Như chúng ta đã thấy, bất lợi của lạm phát cao đối với nền kinh tế là rất lớn; mà kinh tếthuộc về cơ sở hạ tầng còn chính trị xã hội thuộc về kiến trúc thượng- những biến đổi về về cơ
sở hạ tầng sẽ kéo theo sự thay đổi trong kiến trúc thượng tầng Lạm phát gây thiệt hại nặng nềcho những người nghỉ hưu, những người thất nghiệp, những người nghèo đói, các đối tượngđược hưởng trợ cấp xã hội do thu nhập của họ thấp và thường không thay đổi (chỉ thay đổi khinhà nước có chính sách quy định thu nhập này được tăng lên khi lạm phát tăng) Lạm phát caocòn gây tình trạng thất nghiệp của người lao động, các doanh nghiệp rơi vào phá sản, nhữngngười cho vay lớn bị thua thiệt quá nhiều Đời sống của đa số nhân dân trở lên khó khăn; trong
họ là tâm lý hoang mang, lo sợ lạm phát sẽ tăng cao hơn nữa, nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh Cácmối quan hệ xã hội giữa người đi thuê lao động và công nhân, giữa người đi vay và cho vay,giữa người nộp thuế và nhà nước cũng bị rạn nứt Khắp nơi dấy lên những cuộc bãi công biểutình của công nhân dưới sự bảo trợ của công đoàn để đòi tăng lương Đó là những tác động củalạm phát về mặt xã hội
Trang 15Những bất ổn trong đời sống kinh tế xã hội tất yếu sẽ dẫn tới những bất ổn về mặt chínhtrị Những người thất nghiệp, những người nghèo khổ, các chủ doanh nghiệp bị phá sản mà tựutrung lại là tất cả những ai bị thiệt hại nặng nề do lạm phát sẽ giảm dần lòng tin vào chính phủcủa họ Đối với một thể chế nhà nước, không thể nói rằng không có các lực lượng chống phá,cản trở bên trong và bên ngoài nhằm lung lạc rồi lật đổ chính phủ Lạm phát tăng cao, càng kéodài và tác động càng nặng nề đến nền kinh tế, xã hội thì đất nước càng khó có được sự bình ổnchính trị.
II THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY.
1 Thực trạng lạm phát ở Việt Nam.
Kết thúc năm 2010, những dấu hiệu khôi phục kinh tế toàn cầu đầu tiên đã bắt đầu xuất hiện Kinh tế Việt Nam trải qua một năm với rất nhiều khó khăn trong bối cảnh nền kinh tế và chính trị toàn cầu có nhiều bất ổn.Vượt lên tất cả những khó khăn này, nền kinh tế Việt Nam đã
về đích với tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng 6,78% Tuy nhiên, nền kinh tế còn tiềm ẩn nhiều vấn đề bất ổn với thâm hụt thương mại tăng cao, đầu tư nước ngoài tăng chậm, dự trữ ngoại hối xuống thấp và đặc biệt là tỷ lệ lạm phát 2 chữ số đã đặt ra bài toán nan giải cho các nhà hoạch định chính sách Vấn đề kìm chế lạm phát là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công tác quản lý kinh tế vĩ mô Đây cũng là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhà nước ta trong những năm sắp đến.
1.1 Nhập khẩu lạm phát và bài học lạm phát năm 2007-2008.
Năm 2008, lạm phát của Việt Nam lên tới mức kỷ lục 23,1% Bên cạnh các tác động tiêucực do tăng trưởng tín dụng nóng thì biến động giá cả hàng hóa thế giới và chính sách tỷ giángoại hối của Việt Nam là một phần nguyên nhân dẫn tới nhập khẩu lạm phát và làm cho lạmphát của Việt Nam cao gấp 2 lần so với các nước khác trong khu vực
Từ nửa cuối năm 2007 tới đầu năm 2008, giá cả các loại hàng hóa trên thế giới đã tăngnhanh tỷ lệ nghịch với sự mất giá danh nghĩa của đồng USD đẩy mặt bằng giá nguyên nhiên vậtliệu đầu vào, đặc biệt là dầu thô, lên cao gấp 2 đến 3 lần so với năm 2003 Giá dầu lửa đã tăng
từ 53,4 USD/thùng tháng 01/2007 lên 89,4 USD/thùng tháng 12/2007, và đạt đỉnh mới 125,96USD/thùng vào ngày 09/5/2008 Tốc độ tăng giá năng lượng, và đặc biệt là giá lương thực tronggiai đoạn này là nguyên nhân dẫn tới tình trạng lạm phát trên diện rộng ở tất cả các nước trênthế giới Đến cuối năm 2007, lạm phát so với cùng kỳ năm trước của Việt Nam là 12,63% và
Trang 16đến tháng 4/2008, tỷ lệ này đã là 21,42% Nhìn vào hình 1, có thể nhận thấy tỷ lệ lạm phát củaViệt Nam luôn cao hơn gấp đôi mức lạm phát của các nước trong khu vực.
Hònh 1 Laåm phaát cuãa Viïåt Nam vaâ caác nûúác (% so vúái cuâng kyâ nùm trûúác)
Việt Nam Trung Quốc Thái Lan Philippin
Nguöìn: ADB, Töíng cuåc Thöëng kï caác nûúác
Tác động của lạm phát do chi phí đẩy ở Việt Nam thường cao hơn gấp đôi các nước kháctrong khu vực là do Việt Nam thực thi chính sách neo giá đồng nội tệ với USD Các nước trongkhu vực như Malaysia và Thái Lan theo đuổi chính sách thả nổi có điều tiết đồng nội tệ và đãđiều chỉnh lên giá nội tệ theo giá trị danh nghĩa của đồng USD trong thời gian này Kể cả TrungQuốc là nước có nhiều điểm tương đồng trong việc thực thi chính sách tỷ giá với Việt Nam cũng
đã điều chỉnh lên giá danh nghĩa nội tệ Kết quả là trong khoảng thời gian từ tháng 1/2004 đếnđầu năm 2008, đồng Việt Nam có xu hướng mất giá danh nghĩa, trong khi các đồng tiền của cácnước khác trong khu vực có xu hướng lên giá danh nghĩa so với đồng USD (Hình 2)
Hònh 2 Biïën àöång tyã giaá danh nghôa so vúái USD (1/2005-1/2008; 1/2005=1)