1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai (Luận văn thạc sĩ)

120 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 11,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào CaiNghiên cứu đa dạng cây thuốc ngành ngọc lan (magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM

Ở HUYỆN BẮC HÀ – TỈNH LÀO CAI

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Hà Nội, 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM

LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học

TS VŨ TIẾN CHÍNH

Hà Nội, 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với thầy giáo TS Vũ Tiến Chính – Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam đã trực tiếp tận tình hướng dẫn cũng như cung cấp tài liệu thông tin khoa học cần thiết để tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, phòng đào tạo sau đại học, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc nghiên cứu khoa học của mình

Tôi xin cảm ơn Dự án thành phần BSTMV.05/14-16 đã hỗ trợ tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình,bạn bè, đồng nghiệp đơn

vị công tác đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Vũ Văn Quân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào

Học viên

Vũ Văn Quân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới 2

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 8

1.3 Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam 11

1.4 Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 12

1.5.1 Điều kiện tự nhiên 12

1.5.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích 12

1.5.1.2 Địa chất, địa hình 12

1.5.1.3 Khí hậu, thủy văn 13

1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

1.5.2.1 Điều kiện về kinh tế 14

1.5.2.2 Điều kiện về xã hội 14

Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU 26

2.1 Mục tiêu của đề tài 16

2.1.1 Mục tiêu tổng quát 16

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 16

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

2.3 Nội dung nghiên cứu 16

2.4 Phương pháp nghiên cứu 16

2.4.1 Phương pháp kế thừa: 16

2.4.2 Điều tra thực địa theo tuyến: 16

2.4.3 Thu thập số liệu, tài liệu: 17

2.4.4 Xử lý số liệu 17

Chương 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 20

3.1 Thống kê các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 20

3.2 Đánh giá về đa dạng các loài cây được đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc 20

3.2.1 Đa dạng về các bậc phân loại của các loài cây được đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc 20

3.2.1.1 Đánh giá sự đa dạng về lớp 20

3.2.1.2 Đa dạng về bậc họ 21

Trang 6

3.2.1.3 Đa dạng về bậc chi 22

3.2.2 Đa dạng về dạng sống của các loài cây thuốc 23

3.2.3 Sự phân bố cây thuốc theo môi trường sống tại khu vực nghiên cứu 24

3.2.4 Xây dựng bản đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo vệ 26 3.3 Vấn đề sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 27

3.3.1 Sự đa dạng về tần số sử dụng của các bộ phận 27

3.3.2 Sự đa dạng về số lượng các bộ phận của từng loại được sử dụng 29

3.3.3 Một số bài thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 29

3.4 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài cây thuốc và nguồn tri thức bản địa cho cộng đồng dân cư địa phương 35

3.4.1 Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc và các bài thuốc 35

3.4.2 Các mối đe dọa đối với tài nguyên cây thuốc ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 36

3.4.3 Các biện pháp bảo tồn tài nguyên cây thuốc ở Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 36

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

Kết luận: 38

Kiến nghị 38

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Số lượng họ, chi, loài cây thuốc ở hai lớp trong ngành Ngọc lan (Magnoliophita) 20

Bảng 3.2: Các họ nhiều loài cây thuốc nhất ở huyện Bắc Hà 21

Bảng 3.3: Các chi đa dạng nhất về cây thuốc của ngành Ngọc lan 22

Bảng 3.4: Dạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao đỏ huyện Bắc Hà đã sử dụng 23

Bảng 3.5: Thống kê các loài cây thuốc theo môi trường sống 25

Bảng 3.6: Các loài cây thuốc đang bị đe dọa được đồng bào dân tộc Dao đỏ tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng 26

Bảng 3.7: Sự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thuốc 28

Bảng 3.8: Tổng hợp các bài thuốc thu thập được trong quá trình nghiên cứu 30

Bảng 3.9: Cây thuốc chữa tắc tia sữa, lưu thai 31

Bảng 3.10: Cây thuốc đại bổ cho phụ nữ, chu kì kinh nguyệt kéo dài 31

Bảng 3.11: Cây thuốc chữa viêm đại tràng 32

Bảng 3.12: Cây thuốc chữa sỏi thận 32

Bảng 3.13: Cây thuốc tắm sau sinh 33

Bảng 3.14: Cây chuốc chữa băng huyết 33

Bảng 3.15: Cây thuốc chữa ho 33

Bảng 3.16: Cây thuốc chữa ghẻ 33

Bảng 3.17: Cây thuốc mát gan, giải độc gan, viêm gan do rượu 34

Bảng 3.18: Cây thuốc về bệnh xương khớp 34

Bảng 19: Cây thuốc trị mụn nhọt 34

Bảng 3.20: Cây thuốc chữa loãng tinh trùng 35

Bảng 3.21: Cây thuốc chữa gẫy xương 35

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Sự đa dạng về bộ, họ, chi, loài cây thuốc tại khu vực nghiên cứu 20 Hình 3 2: Các họ đa dạng nhất về cây thuốc của ngành Ngọc lan ở Bắc Hà, Lào Cai 22 Hình 3.3: Các chi đa dạng nhất về cây thuốc của ngành Ngọc lan ở Bắc Hà, Lào Cai 23 Hình 4.4: Thể hiện dạng sống của các cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà sử dụng 24 Hình 3.5: Biểu đồ số lượng các loài cây thuốc phân ố theo môi trường sống 25 Hình 3 6: Biểu đồ thể hiện kinh nghiệm sử dụng các bộ phận cây làm thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở Bắc Hà 28 Hình 3.7: Loài cây thuốc sử dụng chữa bệnh tại khu vực nghiên cứu 30

Trang 9

B: Cây thân bụi

T: Cây thân thảo

IA: Loài cấm khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại

IIA: Hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mai

Trang 10

MỞ ĐẦU Người Dao là một dân tộc có địa bàn cứ trú truyền thống ở Nam Trung Quốc và lân cận ở các bắc phần tiểu vùng Đông Nam Á Ở Việt Nam, người Dao cư trú chủ yếu ở các bản làng miền rừng núi trải rộng khắp phía Bắc như Cao Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình … Người Dao có nhiều nhóm khác nhau phân biệt theo vùng Mỗi nhóm người lại có những nét riêng

về văn hóa, phong tục tập quán và những bài thuốc mang đậm bản sắc của dân tộc mình Nhắc đến thuốc của người Dao, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ ngay đến thuốc tắm, bởi đây là bài thuốc được sử dụng phổ biến nhất Nhưng ít ai biết rằng, bên cạnh bài thuốc tắm nổi tiếng, người Dao đỏ còn nắm giữ nhiều phương thuốc bí truyền khác có tác dụng chữa bệnh hiệu quả, bồi bổ, nâng cao sức khỏe…

Từ thủa xa xưa cho đến ngày nay, đồng bào các dân tộc Dao trên đất nước ta đã không ngừng tìm tòi nghiên cứu, sử dụng nguồn tài nguyên cây thuốc chữa bệnh Cùng với kinh nghiệm cổ truyền của dân tôc, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã minh chứng cơ sở khoa học của những cây thuốc qua thành phần hóa học, tác dụng kháng khuẩn … chúng ta càng thấy rõ hơn tác dụng của nó Các cây thuốc phân bố rộng và đa dạng, số loài cây thuốc được ghi nhận vào năm 2007 là 3948 loài trong hệ thực vật Việt Nam Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội một cách nhanh chóng thì chúng ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn khi môi trường ngày càng ô nhiễm, thiên tai xảy ra liên tiếp cùng với nó là sự xuất hiện của nhiều loại bệnh tật mới mà thuốc tây vẫn chưa có thuốc đặc trị Vì vậy, ngày nay tất cả các nước trên thế giới đang hết sức quan tâm tới việc sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên cây thuốc

Tuy nhiên, hiện nay việc lưu giữ và truyền lại những bài thuốc của người Dao đỏ ở các thôn, bản gặp rất nhiều khó khăn, bởi không có tài liệu ghi chép và nguồn dược liệu tự nhiên ngày càng khan hiếm Theo tìm hiểu của chúng tôi, hầu hết các bài thuốc của người Dao đỏ đều được truyền lại bằng phương thức truyền miệng Thậm chí có dòng họ chỉ truyền lại cho con trai hoặc con gái khiến các bài thuốc quý được truyền lại ngày càng ít Bên cạnh đó, nhiều người cũng không muốn học nghề gia truyền bởi việc học nghề thuốc và hiểu rõ dược tính của các loài cây thuốc trong rừng cần sự kiên trì, tỉ mỉ, chịu khó, chịu khổ

Xuất phát từ những vấn đề trên và để kho báu của người Dao đỏ không

bị thất truyền, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu đa dạng cây

thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) của đồng bào dân tộc Dao đỏ

ở huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai” Để hoàn thiện nghiên cứu luận văn tốt

nghiệp của mình

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở một số nước trên thế giới

Khi xã hội loài người hình thành chúng ta đã biết sử dụng các loài thực vật để sinh tồn và chống chọi với thiên nhiên, bệnh tật, họ đã biết sử dụng các loài cây cỏ trong tự nhiên để phục vụ cuộc sống của mình như sử dụng làm thức ăn, nhà ở, làm thuốc, mồi săn bắt…Từ những kinh nghiệm đó, dần dần hình thành một khoa học gọi là Thực vật dân tộc học Khoa học này nghiên cứu các mối quan hệ giữa các dân tộc khác nhau với các loài cây cỏ phục vụ cho cuộc sống của họ Mỗi quốc gia đều có những nền y học cổ truyền riêng, đặc biệt trong đó có những kinh nghiệm tìm kiếm và sử dụng những cây thuốc

để phòng và trị bệnh ở người, vật nuôi Những ghi chép đầu tiên về cây thuốc được tìm thấy cách đây hơn 5 ngàn năm, đó là những nét khắc trên đất sét của người Sumeria, thuộc Mesopotamia cổ xưa (là Irắc ngày nay), đề cập đến sử dụng cây carum và cây húng tây Cũng thời gian này, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc cũng bắt đầu hình thành và phát triển ở Trung Quốc và Ấn Độ Tuy nhiên, nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy kinh nghiệm sử dụng cây

thuốc xuất hiện từ rất lâu đời Rễ của cây Thục quỳ (Althea officinalis), cây Lan dạ hương (Hyacinthus sp.) và cây Cỏ thi (Achillea millefolium) được cất

giữ quanh bộ xương người có niên đại vào thời kỳ đồ đá ở Irắc Cho đến nay, giá trị làm thuốc của ba loài thực vật kể trên vẫn được thừa nhận Điều này cho thấy, trên thực tế, thực vật được dùng làm thuốc xuất hiện trước khi có sự ghi chép của sử sách

Hiện nay, số loài cây thuốc được sử dụng trên thế giới ước tính từ khoảng gần 70.000 loài [1] Các vùng nhiệt đới trên thế giới, bao gồm lưu vực sông Amazon của châu Mỹ, Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Phi,… là kho tàng chứa đựng số lượng loài cây cỏ khổng lồ, cũng như giàu có về tri thức sử dụng Ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc, riêng ở Ấn Độ có 6.000 loài, ở Trung Quốc là 5.136 loài [24]

Trung Quốc là quốc gia được đánh giá là có truyền thống trong việc sử dụng cây cỏ làm thuốc và có sự đa dạng về cây thuốc phát triển bậc nhất thế

giới Cách đây khoảng 5000 năm tại Trung Quốc, cuốn sách “Thần nông bản thảo” là một trong những tài liệu cổ quý giá của y học dân tộc Bản thảo đã

ghi rõ người Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị và cây thuốc để phòng và chữa bệnh Trong đó, nhiều bài thuốc vẫn được sử dụng cho tới ngày nay như

cây Gai mèo (Cannabis sp.) để chống nôn, cây Đại phong tử (Hydnocarpus kurzii) làm thuốc chữa bệnh phong…Vào thời Tam Quốc, danh y Hoa Đà, sử

dụng Đàn hương, Tử đinh hương để chế hương nang (túi thơm) để phòng chống và chữa trị bệnh lao phổi và bệnh lỵ Ông còn dùng hoa Cúc, Kim ngân phơi khô cho vào chiếc gối (hương chẩm) để điều trị chứng đau đầu, mất ngủ, cao huyết áp Từ thời nhà Hán (năm 168 trước Công nguyên) trong cuốn sách

Trang 12

“Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ các loại cây

cỏ Giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đã thống kê 12.000 vị thuốc trong tập

“Bản thảo cương mục”

Ngoài nền Y học cổ truyền chính thống của người Hán (Trung y), các cộng đồng không phải người Hán, với dân số khoảng 100 triệu người, cũng có các nền Y học riêng của mình, gọi là Y học dân tộc cổ truyền biết sử dụng khoảng 8.000 loài cây cỏ làm thuốc Trong đó, có các nền Y học chính là: Y học cổ truyền Tây Tạng (sử dụng 3.294 loài), Mông Cổ (1.430 loài)…“Shennong Bencao Jing” là cuốn sách được đặt theo tên của Thần Nông, cuốn sách đã đề cập tới 364 thảo dược của Trung Quốc; bao gồm 252 loại bộ phận của cây, 67 bộ phận của động vật và 46 loại khoáng sản làm thuốc, trong đó cũng đã mô tả tác dụng chúng [11] Cuốn sách đã tạo nên nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học cổ truyền Trung Quốc cho đến nay

Năm 1977, Trung Quốc đã xuất bản cuốn “Đại từ điển đông dược”, cuốn sách đã thống kê 5.757 mục từ, trong đó đa số là các loại thảo dược Năm 1985, cuốn sách “Cây thuốc Trung Quốc” đã được xuất bản, cuốn sách

đã thống kê hầu hết các loài cây cỏ có tác dụng chữa bệnh ở Trung Quốc [86]

Và gần đây Li đã công bố hơn 1.000 loài cây thuốc được sắp xếp theo bảng chữ cái Latinh [14]

Ấn Độ là một trong những quốc gia có nền văn minh lâu đời, cách đây khoảng 5.000 năm dọc theo bờ sông ở miền Nam Ấn Độ Trong bộ sử thi Vedas được viết năm 1500 TCN, chứa đựng những kiến thức phong phú về thảo dược thời kỳ đó Theo những ghi chép còn sót lại cho thấy nền y học cổ truyền được hình thành cách đây hơn 3000 năm Chủ trương của người Ấn là ngừa bệnh là chính, nếu phải điều trị bệnh thì các liệu pháp tự nhiên chủ yếu thông qua thực phẩm và thảo mộc sẽ giúp loại bỏ gốc rễ căn bệnh Trong đó, nhiều loài cây được xem là những “cây thiêng” dành cho những vị thần đặc

biệt, chẳng hạn như cây Trái nấm (Aegle marmelos L.) là cây dành cho thánh

thần của người Hindu, thánh Lakshmi (Thánh mang lại sự giàu có và may mắn), thánh Samhita (Vị thánh của sức khoẻ) và cây được trồng gần các đền thờ [90] Gần đây, y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda đã phát triển rất mạnh, nhiều tri thức bản địa đã được nghiên cứu, đánh giá và sử dụng có hiệu quả, trong đó có khoảng 2.000 cây cỏ làm thuốc [25] Dãy Hymalaya hùng vĩ của đất nước Ấn Độ, là nơi có sự đa dạng về thực vật rất lớn, ở đây có khoảng 8.000 loài thực vật hạt kín, 44 loài thực vật hạt trần, trong đó có 1.748 loài được sử dụng làm thuốc Ngoài Hymalaya thì khu vực Hy Mã Lạp Sơn (IHR) cũng là cái nôi cung cấp nguồn cây thuốc cho hàng triệu người dân Ấn Độ

Ấn Độ được đánh giá là quốc gia rất phát triển về nghiên cứu thảo dược như tổng hợp chất hữu cơ, tách chiết chứng minh cấu trúc, sàng lọc sinh học, thử nghiệm độc tính và nghiên cứu tác dụng hóa học của các chất tới cơ thể con người Hiện nay, chính phủ khuyến khích sử dụng công nghệ cao trong trồng

Trang 13

cây thuốc Hầu hết các viện nghiên cứu của Ấn Độ đã tham gia vào nghiên cứu chuyển hóa các loại thuốc và hợp chất có hoạt tính từ thực vật

Ở châu Âu, thảo dược cũng rất đa dạng và phần lớn dựa vào nền tảng của y học truyền thống cổ điển Các kiến thức về cây thuốc chủ yếu được các thầy tu nghiên cứ và sưu tầm Họ trồng cây thuốc và dịch các tài liệu về thảo mộc bằng tiếng Ả rập Trong đó hiểu biết về thảo mộc của người Hy Lạp và Roma gắn liền với nền văn minh phát triển từ rất sớm của họ Người Hy Lạp

cổ xưa chịu ảnh hưởng của người Babylon, Ai Cập, Ấn Độ Hippocrat (460 –

377 TCN) là thầy thuốc nổi tiếng người Hy Lạp được mệnh danh là cha đẻ của y học hiện đại khi ông là người đưa ra quan niệm “Hãy để thức ăn của bạn là thuốc và thuốc chính là thức ăn của bạn” Tiếp đến là Ai Cập là nước

có nền văn minh Cổ Đại và có nhiều tài liệu về sử dụng cây thuốc được ghi chép lại cách đây khoảng 3600 năm với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc

từ cây cỏ [30] Các nhà thực vật người Pháp được coi là những người đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Dương, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều loài cây thuốc có giá trị Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chương trình nghiên cứu về thực vật nơi đây, Erry đã công bố 1.000 loài cây và dược liệu tại Đông Nam Á đã được kiểm chứng và

gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách: “Medicinal Plant of East and Southeast Asia” [3]

Được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên thê giới Thổ dân Châu Úc với những kiến thức thực tiễn về cây thuốc chỉ có ở Úc được đánh giá hiệu quả rất cao trong trị bệnh Đặc biệt là những nghiên cứu

về công dụng làm thuốc của các loài thực vật do thổ dân Yaegl sử dụng Khi nghiên cứu về tình hình sử dụng cây thuốc của người thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales, Australia Nghiên cứu đã ghi nhận có 32 loài cây thuốc thuộc 21 loài được thổ dân Yaegl sử dụng để điều trị bệnh [13] Tuy nhiên những kiến thức này của họ đã không còn khi người Châu Âu tới định

cư Hiện nay đa phần thảo dược ở Châu Úc là sự di nhập từ Phương Tây, Ấn

Độ, Trung Quốc và các nước ven Thái Bình Dương

Ở châu Phi Là một trong những Châu lục có điều kiện khí hậu nắng nóng và có nhiều sa mạc đời sống kinh tế khó khăn và lạc hậu Chính vì vậy, người dân Châu Phi cũng đã biết sử dụng cây thuốc bản địa từ rất lâu đời để

tự chữa bệnh cho mình và cộng đồng Qua những nghiên cứu mới đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của người dân bản địa Châu Phi cũng hết sức phong phú và đa dạng Tại Kenya có 448 loài cây thuốc được người dân Mt Nyiru Turkana dùng để điều trị những bệnh khác nhau [12] Tiến hành nghiên cứu cây thuốc theo kinh nghiệm của người dân Zegie Peninsula, phía Tây Bắc Ethiopia đã tìm thấy 67 loài cây thuốc thuộc 64 chi và 42 họ sử dụng để điều trị các bệnh liên quan đến rối loạn tiêu hóa và nhiễm trùng [6] Cũng ở đất nước Ethiopia nhưng ở tộc người Bench, trong nghiên cứu cũng đã thống kê được 35 loài thực vật được sử dụng làm thuốc [8] Đặc biệt tại Châu Phi các thầy lang có vai trò rất quan trọng trong việc sử dụng những bài thuốc cổ

Trang 14

truyền từ thực vật Qua việc tiến hành điều tra về tri thức trong việc sử dụng cây thuốc của các thầy lang trong khu vực nghiên cứu ở vùng Oshikoto, Namibia đã tìm thấy 61 loài thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau như: tâm thần, nhiễm trùng, rắn cắn, tim mạch [13] Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở châu Phi mang một dấu ấn mạnh mẽ giống như những thần dược

Châu Mỹ với nền văn minh cổ đại như Maya, Aztec, Inca cũng có nền

y học cổ truyền phát triển và những kiến thức uyên thâm về tri thức bản địa

Ở các nước Trung Mỹ khác như Cộng hòa Dominica và Nicaragua, chính phủ

đã mở ra các dự án dạy cho phụ nữ cách dùng các loại thảo dược tại địa phương, để điều trị cho cộng đồng của họ Còn ở Amazon khi nghiên cứu về cây thuốc của Tacana – một dân tộc Bolivia ở đây đã thu thập được khoảng

450 loài thực vật trong đó có 33% được sử dụng làm thuốc Tại tỉnh Loja, Ecuador đã tìm ra 215 loài thực vật được người dân địa phương sử dụng để điều trị bệnh [28] Việc sử dụng cây thuốc ở miền Bắc Peru đã xác định được

510 loài dùng để làm thuốc, trong đó các các họ được sử dụng nhiều nhất là:

họ Cúc (Asteracae), họ Đậu (Fabaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Cà (Solanacae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Hòa thảo (Poaceae) [5] Tại Xing – một khu vực khô hạn tại vùng Đông Bắc Brazil, đã thống kê được 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 loài được sử dụng điều trị các bệnh như viêm phế quản, cảm mạo, bệnh tim mạch, thận và an thần [7] Cây thuốc của cộng đồng người dân tộc Ashasninka ở Bajo Quimiriki, Junnín, Peru được xác định có 402 loài dùng làm thuốc Trong đó các loài được sử dụng nhiều nhất là: họ Cúc (Asteraceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Ráy (Araceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Cà (Solanaceae), họ Hồ tiêu (Piperaceae) Nghiên cứu về cây thuốc của người thổ dân ở khu vực phía Bắc ở Canada đã chỉ ra 546 loài dùng để điều trị 28 bệnh trong đó các loài được sử dụng nhiều nhất để chữa bệnh dạ dày, cơ xương [18] Nghiên cứu về cây thuốc ở làng Genoy, Pasto, Colombia, họ cũng đã sử dụng 63 loài thuộc 56 chi, 31 họ dùng

để điều trị các bệnh khác nhau, trong đó nhiều nhất thuộc các họ Bạc hà (Lamiaceae), họ Cúc (Asteraceae) và họ Hoa tán (Apiaceae) [6] Khi nghiên cứu về cây thuốc trong cộng đồng Mapuche – Tehuelche ở vùng Dagagonia, Argentina đã tìm thấy 121 loài dùng để điều trị các bệnh tiêu hóa, tim mạch, giảm đau, chống viêm, bệnh phụ nữ [24] Kết quả khảo sát về cây thuốc của người Rayones ở Nuevo León, Mexico đã thống kê được 252 loài cây thuốc thuộc 228 chi và 91 họ, trong đó họ được sử dụng nhiều nhất là: họ Cúc (Asteraceae), họ Đậu (Fabaceae) [94] Hiện nay ở châu Mỹ người ta tập trung

đi sâu nghiên cứu các loại thảo dược bản xứ để sản xuất các loại thuốc chữa bệnh, trong đó nổi tiếng là trung tâm Belem ở Đông Bắc Brazil và Bogota ở Colombia

Qua việc nghiên cứu lịch sử về tài nguyên cây thuốc trên thế giới cho thấy sự phát triển của ngành thảo dược gắn liền với sự phát triển của văn minh nhân loại Việc sử dụng cây cỏ làm thuốc chữa bệnh được đúc rút từ

Trang 15

kinh nghiệm rồi được truyền lại cho các thế hệ tiếp theo Ngày nay với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ đã tập trung nghiên cứu làm rõ vai trò của thảo dược làm thuốc như thử hoạt tính, tách các hợp chất… Điều này một lần nữa khẳng định vai trò to lớn của thảo dược trong điều trị bệnh góp phần quan trọng trong việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe của cộng đồng

Cùng với phương thức chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian, các nhà khoa học trên thế giới tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu cơ chế và các hợp chất hóa học trong cây có tác dụng chữa bệnh, đúc rút thành những cuốn sách có giá trị Các nhà khoa học công nhận rằng hầu hết các cây cỏ đều có tính kháng sinh, đó là khả năng miễn dịch tự nhiên của thực vật Tác dụng kháng khuẩn

do các hợp chất tự nhiên có mặt phổ biến trong thực vật như phenolic, antoxy, các dẫn xuất quino, ancaloid, flavonoid, saponin… Cho đến nay, nhiều hợp chất tự nhiên đã được giải mã về cấu trúc, những hợp chất này được chiết xuất

từ cây cỏ để làm thuốc Dựa vào cấu trúc được giải mã, người ta có thể tổng hợp nên các chất nhân tạo để chữa bệnh Gotthall(1950) đã phân lập được

chất Glucosid barbaloid từ cây Lô hội (Aloe vera), chất này có tác dụng với vi

khuẩn lao ở người và vi khuẩn Baccilus subtilis Lucas và Lewis (1994) đã chiết xuất một hoạt chất có tác dụng với các loài vi khuẩn gây bệnh tả, lị, mụn

nhọt từ Kim ngân (Lonicera sp) Từ cây Hoàng liên (Coptis teeta), người ta đã chiết xuất được berberin Trong lá và rễ cây Hẹ (Allium odorum) có các hợp

chất sulfua, sapoin và chất đắng Năm 1948, Shen-Chi-Shen phân lập được một hoạt chất Odorin ít độc đối với động vật bậc cao nhưng lại có tác dụng kháng khuẩn Hạt của cây Hẹ cũng có chứa chất Alcaloid có tác dụng kháng khuẩn gram+ và gram-, nấm Reserpin và Serpentin là chất hạ huyết áp được

chiết xuất từ cây Ba gạc (Rauvolfa spp.) Đặc biệt, Vinblastin và Vincristin

vừa có tác dụng hạ huyết áp vừa có tác dụng làm thuốc chống ung thư, được chiết xuất từ cây Dừa cạn Digitalin được chiết xuất từ cây Dương địa hoàng

(Digitalis spp.), strophatin được chiết xuất từ cây Sừng dê (Strophanthus spp)

để làm thuốc trợ tim Từ những thành tựu nghiên cứu cấu trúc, hoạt tính của các hợp chất tự nhiên, nhiều loại thuốc có tác dụng chữa bệnh cao đã ra đời bằng tổng hợp hoặc bán tổng hợp

Dược lý hiện đại chủ yếu tập trung vào các hợp chất tự nhiên có hoạt tính chữa bệnh trong khi các nhà nghiên cứu về thảo mộc cho rằng tác dụng chữa bệnh của cây thuốc là do sự kết hợp của nhiều thành phần có trong cây thuốc Chẳng hạn như chất khoáng, vitamin, tinh dầu, glycosid và nhiều chất khác đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường hoặc hỗ trợ các đặc tính chữa bệnh của cây thuốc, bảo vệ cơ thể của các tác nhân gây độc Trong khi

đó, các hợp chất được phân lập và tổng hợp có khả năng chữa bệnh hiệu quả nhưng vì thiếu đi các hợp chất tự nhiên khác nên chúng có khả năng gây độc đối với cơ thể Trước đây, việc sử dụng thảo dược để chữa bệnh thường bị hiểu lầm với phép thuật và mê tín dị đoan Ngày nay, khoa học hiện đại đã chứng minh được khả năng chữa bệnh của thảo mộc Vì vậy, thế giới ngày

Trang 16

càng quan tâm tới cây thuốc cũng như phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền

Theo thống kê của tổ chức Y tế thế giới (WHO), có trên 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và ngành thực vật bậc thấp được sử dụng trực tiếp làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc Trong đó, vùng nhiệt đới châu Mỹ có hơn 1.900 loài, vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa được dùng làm thuốc Mức độ sử dụng thuốc thảo dược ngày càng cao

Khoảng 80% dân số ở các quốc gia đang phát triển sử dụng các phương pháp y học cổ truyền để chăm sóc sức khỏe, trong đó chủ yếu là cây cỏ Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, có nền y học dân tộc phát triển nên trong số cây thuốc đã biết hiện nay có tới 80% số loài (khoảng trên 4.000 loài) là được sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc ở đât nước này Ở Ghana, Mali, Nigeria và Zambia, 60% trẻ em có triệu chứng sốt rét ban đầu được điều trị tại chỗ bằng thảo dược Tỷ lệ dân số tin tưởng vào hiệu quả sử dụng thảo dược và các biện pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền cũng đang tăng nhanh ở các quốc gia phát triển Ở châu Âu, Bắc Mỹ, và một số nước khác, ít nhất 50% dân số sử dụng thực phẩm bổ sung hay thuốc thay thế

từ thảo mộc Ở Đức, 90% dân số sử dụng các phương thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để chăm sóc sức khỏe Ở Anh, chi phí hàng năm cho các loại thuốc thay thế từ thảo mộc là 230 triệu đôla

Theo số liệu của trung tâm thương mại quốc tế từ năm 1976, các nước công nghiệp phát triển đã nhập khẩu hơn 300 triệu USD và đến năm 1980 con

số này đã tăng lên 551 triệu USD Chỉ tính riêng 12 loại dược liệu có nhu cầu

sử dụng cao ở Mỹ là Bạch quả, Sâm Triều Tiên, Tỏi, Valeriana officinalis, …

từ năm 1998 đã đạt doanh số bán lẻ là 552 triệu USD Đến năm 2003, thị trường thảo dược toàn cầu đã vượt mức 60 tỷ USD hàng năm và con số này vẫn tiếp tục tăng

Tuy nhu cầu sử dụng cây thuốc của con người trong việc chăm sóc sức khỏe ngày một tăng, nhưng nguồn tài nguyên thực vật đang bị suy giảm Nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng do các hoạt động trực tiếp và gián tiếp của con người Theo tổ chức Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (IUCN) cho biết, trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này lưu giữ thông tin có tới 30.000 loài được coi là đang

bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau Trong đó có nhiều loài là cây thuốc quý hiếm, có giá trị kinh tế cao Chẳng hạn như ở Bangladesh, một số cây thuốc quý như Tylophora indica để chữa hen, Zannia indica (thuốc tẩy xổ)…trước đây mọc rất phổ biến, nay đã trở nên hiếm hoi Loài Ba gạc Rauvolfia serpentina vốn mọc rất tự nhiên ở Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan…mỗi năm có thể khai thác hàng ngàn tấn nguyên liệu xuất khẩu sang thị trường Âu, Mỹ làm thuốc chữa cao huyết áp Tuy nhiên, do bị khai thác liên tục nhiều năm nên nguồn gốc cây thuốc này đã bị cạn kiệt Vì vậy một số bang ở Ấn Độ đã đình chỉ khai thác loài Ba gạc này [9] Ở Trung Quốc, loài

Trang 17

Dioscorea sp đã từng có trữ lượng lớn và từng được khai thác tới 30.000 tấn, nhưng hiện nay số lượng bị giảm đi rất nhiều, có loài đã phải trồng lại Một vài loài cây thuốc dân tộc quý như Fritillaria cirrhosa làm thuốc ho, phân bố nhiều ở vùng Tây bắc tỉnh Tứ Xuyên nay chỉ còn có ở 1 đến 2 điểm với số lượng ít ỏi

Nguyên nhân gây nên sự suy giảm nghiêm trọng về mặt số lượng của các loài cây thuốc trước hết là do sự khai thác quá mức nguồn tài nguyên dược liệu và do môi trường sống của chúng bị hủy diệt bởi các hoạt động của con người Đặc biệt, ở các vùng rừng nhiệt đới và Á nhiệt đới là nơi có mức

độ đa dạng sinh học cao của thế giới nhưng lại bị tàn phá nhiều nhất Theo số liệu của tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên hợp quốc, trong vòng 40 năm (1940 – 1980), diện tích của các loại rừng kể trên đã bị thu hẹp tới 44%, ước tình khoảng 75.000 hecta rừng bị phá hủy

Tiềm năng chữa bệnh của nhiều loài thảo dược đang ngày càng được khám phá, vì thế vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn cây thuốc nói riêng đang là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia nhằm phục

vụ cho mục đích chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của con người

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Nền y học cổ truyền của Việt Nam đã có từ rất lâu đời, nhiều phương thuốc bào chế từ cây thuốc được áp dụng chữa bệnh trong dân gian Những kinh nghiệm này đã được ghi chép thành những cuốn sách có giá trị và lưu truyền rộng rãi trong nhân dân Với tổng diện tích đất liền là 327.480 km2 và lợi thế về khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm Hiện nay theo thống kê cả nước có 31 vườn Quốc gia và 57 khu bảo tồn thiên nhiên với trữ lượng tài nguyên thực vật phong phú Ước tính, nước ta có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch, 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2.000 loài tảo [9] Có khoảng trên 3.000 loài thực vật bậc cao dùng làm thuốc Bên cạnh đó có rất nhiều loài có triển vọng được sử dụng làm thuốc

Trải qua lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Việt Nam đã phải đấu tranh với thiên nhiên, bệnh tật và chiến tranh, dần dần đã tích luỹ được kinh nghiệm và tri thức trong sử dụng cây thuốc Trong cuốn sách “Nam Dược Thần Hiệu” và “Hông Nghĩa Giác Tư Y Thư” của Tuệ Tĩnh đã mô tả hơn 630 vị thuốc, 50 đơn thuốc chữa các loại bệnh trong đó 37 đơn thuốc chữa bệnh thương hàn Hai cuốn sách này được xem là những cuốn sách xuất hiện sớm nhất về cây thuốc Việt Nam Đến thế kỷ 18, Hải Thượng Lãn Ông

Lê Hữu Trác đã xuất bản bộ sách lớn “Y Tông Tâm Tĩnh” gồm 28 tập, 66 quyển đã mô tả khá chi tiết vệ thực vật, các đặc tính chữa bệnh [6]

Thời kỳ Pháp thuộc (1884 – 1945), nền y học cổ truyền của Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của dược học phương Tây Các phương thức chữa bệnh mới được mang đến qua quá trình khai thác thuộc địa, họ đã gián tiếp thúc đẩy quá trình nghiên cứu thực vật của Việt Nam nói chung và nghiên cứu cây thuốc nói riêng Đặc biệt bộ sách “Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte xuất bản cuối thể kỷ XVIII đầu thể kỷ XIX đã mô tả và phân loại

Trang 18

hơn 7.000 loài thực vật Bộ sách “Danh mục các sản phẩm ở Đông Dương” của Ch Crévost và A Pétélot năm 1935 đã thống kê được 1.340 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc được dùng trong y học của Đông Dương Đến năm 1952 tác giả tái bản lại cuốn sách, bổ sung và đặt tên mới là “Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam” gồm 4 tập, 1.050 trang và thống kê khoảng 1.480 loài thực vật Tuy nhiên cuốn sách này chưa hoàn thiện về mô tả, phân

bố, thành phần hóa học và dược lý của các loại thảo mộc

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, nhất là sau khi miền Bắc được giải phóng năm 1954, các nhà khoa học Việt Nam có nhiều thuận lợi trong việc sưu tầm, nghiên cứu nguồn tài nguyên cây thuốc Đáng chú ý nhất là năm

1957, cuốn sách “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập đã được biên soạn Năm 1961 tái bản in thành 2 tập, trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam Từ năm 1962 - 1965, xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đó giới thiệu hơn 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật và khoáng vật Bộ sách bổ sung liên tục các loài cây thuốc trong các công trình được tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981, 1986, 1995,

1999, 2001, 2003 Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là lần tái bản lần thứ 10 (2005); trong đó, đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố, công dụng, thành phần hoá học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhóm bệnh khác nhau Đây là một bộ sách có giá trị lớn về khoa học

và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian và khoa học hiện đại

Phạm Hoàng Hộ và Nguyễn Văn Dương đã xuất bản bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” vào năm 1980 đã giới thiệu được công dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật [4] Đỗ Tất Lợi (1995) đã xuất bản bộ sách “Những cây thuốc và

vị thuốc Việt Nam” và tái bản vào năm 2000 [9], [12] Công trình này thống

kê gần 800 loài cây, con và vị thuốc, trong đó nhiều loài thực vật đã được mô

tả về mặt cấu tạo, phân bố, cách thu hái và chế biến, thành phần hóa học, công dụng và liều dùng

Cuốn sách từ điển cây thuốc Việt Nam, do Võ Văn Chi (1991) biên soạn đã mô tả được 3.200 loài cây thuốc, trong đó thực vật có hoa là 2.500 loài thuộc 1.050 chi, được xếp và 230 họ thực vật theo hệ thống của Takhtajan [3] Tác giả đã trình bày về cách nhận biết, các bộ phận được sử dụng, nơi sống và thu hái, thành phần hóa học, tính vị và tác dụng, công dụng của các loài thực vật Đến năm 2000, Võ Văn Chi và Trần Hợp tiếp tục giới thiệu cuốn sách “Cây cỏ có ích ở Việt Nam” mô tả khoảng 6.000 loài thực vật bậc cao có mạch với các đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố và công dụng Trần Đình Lý (1995) và cộng sự đã xuất bản cuốn sách “1900 loài cây

có ích” [22] Trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết ở Việt Nam

có 76 loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 chứa tanin, 500 loài cây gỗ có giá trị cao, 400 loài tre nứa, 40 loài song mây Trong số các nhóm thực vật này, rất nhiều loài có công dụng làm thuốc Cũng trong năm này, Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” [26]

Trang 19

Nhiều cuốn sách có giá trị về tài nguyên cây thuốc được các nhà khoa học của Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam biên soạn Trong đó, đáng chú ý là những cuốn sách “Tài nguyên thực vật có tinh dầu ở Việt Nam” của tác giả Lã Đình Mỡi và cộng sự (2001 – 2002) các tác giả đã trình bày giá trị sử dụng làm thuốc của nhiều loài thực vật có tinh dầu của Việt Nam Năm 2005, Lã Đình Mỡi và cộng sự giới thiệu tiếp công trình “Những cây chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học” đây được coi là những ghi chép đầu tiên, có hệ thống và tương đối hoàn chỉnh về nguồn tài nguyên thực vật có chứa các chất có hoạt tính sinh học được sử dụng làm thuốc ở nước ta

Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (2003, 2005) đã công bố bộ sách “Danh lục các loài thưc vật Việt Nam” Cuốn sách đã trình bày đầy đủ các thông tin

về tên khoa học, tên thường gọi, nhận dạng, phân bố, dạng sống – sinh thái và công dụng Bộ sách này rất có ý nghĩa cho việc tra cứu hệ thực vật nói chung

và tra cứu thành phần loài cây thuốc nói riêng

Trong những năm qua, nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách đầu

tư cho công tác điều tra, nghiên cứu về cây thuốc và kế thừa nền y học cổ truyền, phục vụ cho nhu cầu chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của nhân dân Các ngành Y tế, Lâm nghiệp và Sinh học đã tiến hành nhiều đợt điều tra cơ bản, đặc biệt là chương trình điều tra nghiên cứu cây thuốc của Viện Dược liệu – Bộ Y tế đã tiến hành trên phạm vi toàn quốc Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu công bố năm 2004 thì ở nước ta có khoảng 3.948 loài cây thuốc được ghi nhận, thuộc 307 họ của 9 ngành thực vật bậc cao và bậc thấp, bao gồm cả nấm Gần đây nhất, năm 2016 thì theo kết quả điều tra mới nhất của Viện Dược liệu thì ở Việt Nam ghi nhận 5.117 loài, thuộc 1.823 chi, 360

họ, của 8 ngành Thực vật bậc cao có mạch, cùng với một số loài thuộc nhóm Tảo lớn, Rêu và Nấm lớn có công dụng làm thuốc đã biết ở nước ta Kết quả điều tra được ghi nhận từ các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc ở các địa phương trong cả nước Các nhà khoa học thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về trí thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam Đặc biệt là các nghiên cứu về y học cổ truyền của các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc trong những năm gần đây như: Điều tra nghiên cứu về tri thức bản địa và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào Thái tại Mai Châu – Hòa Bình của tác giả Nguyễn Tiến Bân và cộng sự vào năm 2001; Nghiên cứu và ứng dụng thành công tri thức sử dụng cây

Ngấy (Rubus cochinchinesis) của đồng bào dân tộc trong việc chữa trị u tiền

liệt tuyến của tác giả Lưu Đàm Cư và cộng sự (2002) Năm 2001, Nguyễn Thị Phương Thảo và cộng sự đã điều tra đánh giá về tài nguyên cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật làm thuốc của một số cộng đồng dân tộc Dao, Tày và Hoa tại Yên Tử - Quảng Ninh và đã thu thập được 362 loài thực vật làm thuốc Năm 2005, tác giả và cộng sự thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác động kinh tế - dân sinh của các cộng đồng dân tộc vào tài nguyên thực vật và

Trang 20

ảnh hưởng của nó tới đa dạng sinh học tại Chiềng Yên – Mộc Châu – Sơn La” Kết quả đã thống kê được 209 loài cây thuốc do người Mường sử dụng

và 176 cây thuốc được người Dao sử dụng

1.3 Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Các dân tộc thiểu số nói chung, do đời sống gắn liền với khai thác sử dụng thực vật nên có nhiều kinh nghiệm và tri thức quý trong quá trình chế biến, sử dụng thực vật đặc biệt là các kinh nghiệm sử dụng cây thuốc Tuy nhiên, các tri thức và kinh nghiệm dân tộc thường được sử dụng và lưu truyền trong một phạm vi hẹp (dân tộc, dòng họ, gia đình), vì vậy không được phát huy để phục vụ cho xã hội và có nguy cơ thất thoát rất cao Nhận thức được tầm quan trọng này, trong khoảng 10 năm trở lại đây, nghiên cứu cây thuốc dân tộc được đặc biệt quan tâm tại một số cơ sở của nước ta và đã thu được nhiều kết quả khả quan

Nhiều công trình điều tra về thành phần loài và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã được tiến hành trong những năm vừa qua Nhiều nghiên cứu về cây thuốc đã được phòng Thực vật dân tộc học thuộc Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật thực hiện với các công đồng dân tộc thiểu số như: H’ Mông, Dao, Tu Dí, Mường … tại một số tỉnh chủ yếu

ở Tây Bắc Ngoài ra, còn nhiều các nghiên cứu của nhiều tác giả như: Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự Kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy các dân tộc nước ta có nhiều tri thức quý giá và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc độc đáo

để phòng và chữa bệnh

Nhiều bài thuốc dân tộc có hiệu quả chữa trị cao đã được thu thập và đưa vào nghiên cứu thực nghiệm Đồng thời, đã phát hiện nhiều loài cây thuốc mới; đặc biệt là các công dụng mới của nhiều loài cây thuốc Như vậy, nghiên cứu cây thuốc truyền thống của các dân tộc thiểu số đã góp phần sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên cây thuốc ở nước ta

Cùng với việc điều tra thành phần loài, kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng thiểu số; nghiên cứu sàng lọc các bài thuốc dân tộc sử dụng rộng rãi góp phần chăm sóc sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế xã hội được chú trọng nghiên cứu trong những năm gần đây Từ kinh nghiệm truyền thống của các dân tộc đã có những nghiên cứu và sản xuất thành công các loại thuốc chữa bệnh cho người dân Có thể nhận thấy, nghiên cứu cây thuốc dân tộc không chỉ góp phần sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc của đất nước, mà còn là cơ sở để sản xuất các loại dược phẩm mới để điều trị các bệnh hiểm nghèo Tuy nhiên, hiện nay rất nhiều giống cây thuốc quý phân bố chủ yếu ở các khu vực núi cao đang bị khai thác cạn kiệt và nguy

cơ dẫn đến tuyệt chủng Vì vậy vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là tư liệu hóa thực trạng sử dụng cây thuốc của đồng bào các dân tộc thiểu số từ đó đề ra các biện pháp quản lý, sử dụng, bảo tồn, phát triển nhằm gìn giữ tri thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số

Trang 21

1.4 Tình hình nghiên cứu tri thức và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Tại khu vực nghiên cứu đời sống của nhiều người dân nơi đây còn gặp rất nhiều khó khăn Cuộc sống nơi đây vẫn mang tính tự cung tự cấp, trong những năm trở lại đây do chính sách của Đảng và nhà nước có sự điều chỉnh

và quan tâm nhiều đến bà con vùng cao nên đời sống của họ đã phần nào bớt

đi được những khó khăn Tuy nhiên cuộc sống nơi vùng núi cao cũng đã bắt buộc họ phải sống phụ thuộc nhiều vào tự nhiên, trong cuộc sống mỗi khi ốm đau người dân nơi đây vẫn vào rừng tìm kiếm những loài cây trong rừng về làm thuốc Trải qua bao thế hệ, những kinh nghiệm đó đã ngày càng được người dân nơi đây tích lũy Sự hiểu biết về các loài cây thuốc của người dân nơi đây được thể hiện thông qua việc sử dụng chúng trong việc trị bệnh cho người ốm, việc thu hái, địa điểm thu hái cũng như cách thức chế biến chúng Như đã trình bày ở trên khu vực nghiên cứu có tài nguyên, cũng như tri thức về cây thuốc rất đa dạng và phong phú Tuy nhiên, vấn đề nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc cũng chưa được chú trọng Nhiều chương trình dự án cũng đã và đang được tỉnh cũng như các cơ quan chức năng khác đầu tư và thực hiện, đặc biệt là các chương trình nghiên cứu về sự đa dạng thành phần loài, các nhóm loài

Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề tài nguyên cây thuốc mà được đồng bào dân tộc Dao đỏ nơi đây sử dụng Được sự hướng dẫn của các thây, cô tại Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam tôi đã mạnh dạn nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp cao học của mình

1.5 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

1.5.1 Điều kiện tự nhiên

1.5.1.1 Vị trí địa lý, ranh giới, diện tích

Bắc Hà là một huyện Đông Bắc tỉnh Lào Cai, nằm ở độ cao khoảng 1.000 đến 1.500 m so với mực nước biển Diện tích của huyện rộng 686,78 km2, ranh giới huyện Bắc Hà được xác định như sau:

Phía Bắc giáp với huyện Si Ma Cai;

Phía Nam giáp huyện Bảo Yên, Bảo Thắng;

Phía Đông giáp huyện Xín Mần (Hà Giang);

Phía Tây giáp huyện Mường Khương

1.5.1.2 Địa chất, địa hình

a) Địa hình

Bắc Hà có địa hình đồi núi bị chia cắt mạnh, độ dốc trung bình 240 ÷

280 Địa hình được chia làm 3 vùng như sau:

Vùng thấp: Độ cao từ 116 ÷ 600 m gồm 8 xã Bảo Nhai, Nậm Lúc, Cốc

Ly, Cốc Lầu, Bản Cái, Nậm Khánh, Nậm Đét, Bản Liền;

Vùng trung huyện: Độ cao từ 600 ÷ 1.000 m gồm 7 xã Lầu Thí Ngài, Thải Giàng Phố, Na Hối, Tà Chải, thị trấn Bắc Hà, Bản Phố, Nậm Mòn;

Vùng cao: Độ cao từ 1.000 ÷ 1.800 m gồm 6 xã Lùng Phình, Lùng Cải,

Trang 22

Bản Già, Tả Củ Tỷ, Hoàng Thu Phố, Tả Văn Chư

b) Địa chất

Trên cơ sở các tài liệu khoa học ngoài hiện trường cũng như các kết quả và phân tích trong phòng thí nghiệm: Khu vực khảo sát nằm trong vùng

có cấu trúc địa chất tương đối đơn giản Bao gồm các lớp:

Lớp 1: Lớp phủ; sét pha màu xám vàng; Lớp này phân bố rộng khắp

trên vùng Tại khu vực nghiên cứu gặp tại các vị trí trũng thành tạo bởi quá trình tích tụ do nước mưa mang đến, cũng như trong quá trình phong hoá hoàn toàn của đá gốc Lớp có bề dày thay đổi từ 0,3m (HK02) đến 2,2m (HK05) thành phần chủ yếu là sét pha màu xám vàng, xám nâu trạng thái dẻo mềm;

Lớp 2: Đá phiến sét vôi, xám đen, xám trắng, nứt nẻ vừa, trạng thái

cứng; Lớp này phân bố rộng khắp trong khu vực khảo sát, gặp tất cả các hố khoan Là lớp nằm ngay sau lớp đất phủ có bề dày lớn, trong quá trình khảo sát chúng tôi kết thúc khoan tại lớp này với chiều sâu khoan vào lớp này ở tất

cả các hố khoan là 7,0m ở HK04 là 10,0m Đặc trưng là đá liền khối, nứt nẻ vừa đá cứng chắc

1.5.1.3 Khí hậu, thủy văn

10, mùa khô thường lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau:

+Nhiệt độ không khí

Độ chênh lệch về nhiệt độ không khí trung bình các tháng ở lưu vực không lớn, từ thượng lưu xuống hạ lưu, nhiệt độ từ vùng núi cao đến vùng lòng sông trũng có xu hướng tăng dần Theo thống kê tài liệu trạm khí tượng Bắc Hà, nhiệt độ không khí trung bình nhiều năm là 22,70C, nhiệt độ không khí trung bình tháng cao nhất là tháng 5 (40,60C), thấp nhất là tháng 2 (2,10C

+Lượng mưa

Mưa cả năm không đều, phân thành mùa mưa và mùa khô Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, chiếm khoảng 75-85% lượng mưa cả năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 10, kết thúc vào tháng 3 năm sau, lượng mưa mùa khô chỉ chiếm15-25% lượng mưa cả năm Theo thống kế tài liệu của trạm Bắc Hà, lượng mưa trung bình nhiều năm là 1.573,8mm, từ tháng 4 đến tháng 9 chiếm 83,6% lượng mưa cả năm

b) Thủy văn

Trên địa bàn huyện có sông Chảy và các suối nhỏ như suối Bắc Hà, suối Bản Phố, suối Nậm Cáy, Đây là nguồn nước chính để phục vụ các hoạt động dân sinh và hoạt động sản xuất

Trang 23

Đối với khu vực xã Lùng Phình do kết cấu địa tầng vùng núi Lùng Phình có ảnh hưởng lớn đến chế độ nước của các khe suối nhỏ, hiện tượng Kastơ xảy ra khá phổ biến ở Lùng Phình Hoạt động Karstơ tạo ra các lỗ đùn nước, khe lạch nhỏ nhưng lượng nước không đáng kể

1.5.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.5.2.1 Điều kiện về kinh tế

Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới cơ chế quản lý Nhà nước, kinh tế huyện Bắc Hà duy trì được nhịp độ tăng trưởng cao và ổn định Giá trị sản xuất ước đạt 484,47 tỷ đồng, tổng thu ngân sách trên địa bàn huyện đạt 19,083 tỷ đồng

+ Trồng trọt: Năm 2016 tổng sản lượng cây lương thực có hạt đạt 20.840 tấn, tăng 1.302 tấn so với năm 2015 Trong đó diện tích lúa ruộng 1.962 ha, năng suất 40,42 tạ/ha; lúa nương 400 ha với năng suất đạt 11 tạ/ha Diện tích trồng cây ngô đạt 4.510 ha với sản lượng đạt 12.903 tấn

Cây chè và quế là các cây công nghiệp được trồng tại địa phương Địa phương đã tổ chức chăm sóc diện tích chè tập trung là 405 ha, trồng mới 36

ha cho sản lượng chè tươi 550 tấn tăng 100 tấn so với năm 2015 Diện tích cây quế trên toàn huyện đạt 1.235 ha, trong đó diện tích cây cho sản phẩm là

635 ha, cây quế được trồng tập trung chủ yếu ở vùng thấp

1.5.2.2 Điều kiện về xã hội

Năm 2016 toàn huyện hơn 60.529 dân sinh sống, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 2,13%, có chiều hướng giảm so với các năm trước Trên địa bàn huyện Bắc Hà có 14 dân tộc người sinh sống, trong đó chủ yếu là người dân tộc Mông chiếm 45%, còn lại là các dân tộc khác như: Giao, Phù Lá, Tày, Nùng, Kinh

Tổng số lao động trên địa bàn huyện năm 2016 khoảng 29.000 người, lực lượng lao động tập trung phần lớn trong lĩnh vực nông - lâm nghiêp, kinh doanh thương mại

Năm 2016 toàn huyện đã phổ cập tiểu học 21/21 xã, 11 trường đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ học sinh đến lớp đạt 99,5%, tỷ lệ học sinh lên lớp bậc tiểu học đạt 97,5%, trung học cơ sở đạt 88,4%, bậc trung học phổ thông đạt 74,5%

Hiện nay huyện có 110 giường bệnh, các xã đều có trạm y tế Trong năm 2016 đã tổ chức khám chữa bệnh cho 111.715 lượt người Chất lượng khám chữa bệnh được nâng cao, các chương trình y tế quốc gia được triển khai tích cực, có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các ban ngành Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em được quan tâm chú trọng, đặc biệt

là các trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt Tổ chức thực hiện công tác tiêm chủng cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt tỷ lệ 98%, khám chữa bệnh cho người nghèo

Trang 24

và trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện đúng quy định Tuy nhiên việc tỷ lệ trẻ

em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn khá cao chiếm 36,2%

Trang 25

Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 2.1 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Nghiên cứu đa dạng cây thuốc thuộc ngành Ngọc lan (Magnoliophyta)

của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà - tỉnh Lào Cai

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Tập hợp và hệ thống các loài thực vật thuộc ngành Ngọc lan được

đồng bào dân tộc Dao đỏ, huyện Bắc Hà sử dụng làm thuốc Đưa ra các giải pháp bảo tồn một số loài cây có giá trị

- Đánh giá mức độ đa dạng về thành phần các taxon, các bệnh được chữa trị, các bộ phận sử dụng và dạng sống của những loài thực vật được đồng bào dân tộc Dao đỏ, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc

2.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Các loài thực vật thuộc ngành Ngọc lan được đồng bào dân tộc Dao đỏ, huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc

Thời gian thực hiện: Từ tháng 10 năm 2016 đến tháng 10 năm 2017

2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Tập hợp và hệ thống hóa các thông tin về tài nguyên cây thuốc tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai từ trước tới nay;

- Điều tra thu thập và xử lý mẫu ngoài thực địa cũng như trong phòng thí nghiệm;

- Tình hình khai thác và bảo tồn cây thuốc tại ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai;

- Điều tra kinh nghiệm của các thầy lang tại khu vực nghiên cứu

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4.1 Phương pháp kế thừa:

Kế thừa các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu: Nguyễn Tiến Bân, 1997; Phạm Hoàng Hộ, 1991 - 1993; Nguyễn Nghĩa Thìn, Ngô Trực Nhã, Nguyễn Thị Hạnh, 1999; Võ Văn Chi, 2003; các báo cáo khoa học của khu bảo tồn, kỷ yếu, tạp chí khoa học, internet, …

2.4.2 Điều tra thực địa theo tuyến:

Điều tra khảo sát sơ bộ sau đó ta tiến hành chọn tuyến điều tra Tuyến được chọn phải đảm bảo yêu cầu phải chạy qua các sinh cảnh đặc trưng cho khu vực nghiên cứu Trên mỗi tuyến cắt ngang chọn các ô tiêu chuẩn là những điểm chốt đặc trưng nhất để nghiên cứu đa dạng tài nguyên cây thuốc (Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997)

Trên mỗi tuyến, tiến hành điều tra các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ sử dụng trong phạm vi 10 m mỗi bên Mỗi loài lấy 5 - 6 tiêu bản

- Các tuyến điều tra thực địa:

- Các ông Lang bà mê đã phỏng vấn

Bà Lý Thị Còi, xã Nậm Đét

Trang 26

Bà Đặng Thị Ghến, xã Nậm Đét

Ông Bàn Văn Phóng, xã Cốc Lầu

Ông Đặng Thị Khé, xã Bản Cái

2.4.3 Thu thập số liệu, tài liệu:

Sử dụng phương pháp phỏng vấn nhanh có sự tham gia của người dân (PRA): Phỏng vấn các thầy lang, các cán bộ làm công tác quản lý bảo vệ rừng tại khu vực nghiên cứu và cộng đồng dân cư địa phương thông qua bảng hỏi

đã được xây dựng sẵn Để sưu tầm và phát hiện các bài thuốc, cây thuốc sử dụng theo kinh nghiệm dân gian Mỗi cây thuốc, bài thuốc đều có mẫu thu và ghi chép các thông tin cần thiết nhất công dụng, bộ phận sử dụng, cách sử dụng của cây

2.4.4 Xử lý số liệu

- Phương pháp chuyên gia: Dựa vào kinh nghiệm của các chuyên gia

đặc biệt là các mẫu vật để xác định tên khoa học các mẫu đã thu hái

- Phương pháp xử lý mẫu vật, chỉnh lý tên khoa học (theo Nguyễn Nghĩa thìn, 1997) Các tiêu bản tươi được thu thập ngoài thực địa tiếp tục xử

lý trong phòng thí nghiệm tại Phòng quản lý Bộ sưu tập mẫu vật, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam Các mẫu sau khi sấy khô lưu trữ ở phòng lạnh 18-

200C

- Xác định tên khoa học, kiểm tra, chỉnh lý tên theo các tài liệu chính là các tập Thực vật chí Việt Nam, Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam

- Xây dựng danh lục: Điều chỉnh khối lượng họ, chi theo hệ thống của

bộ Sách “Danh lục các loài thực vật ở Việt Nam” 3 tập [4,5,6] Danh lục được xây dựng cho ngành Ngọc lan Trong ngành Ngọc lan, các họ, chi và loài được xếp theo vần ABC Trên cơ sở danh lục thực vật, căn cứ vào Sách đỏ Việt Nam, 2007; Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2014; Nghị định số 32 của chính phủ về các loài động, thực vật quý hiếm để lập danh sách các loài quí hiếm ở khu vực nghiên cứu Danh lục ngoài tên khoa học, tên Việt Nam của các loài còn có các thông tin khác như dạng sống, công dụng, môi trường sống, bộ phận sử dụng làm thuốc theo mẫu

- Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc, nhóm bệnh,

- Bản đồ phân bố các loài thực vật quý hiếm: Căn cứ vào các điểm đã phát hiện được cây thuốc ngoài thực địa (đã được xác định vị trí bằng GPS và đánh dấu vào bản đồ điều tra), đánh dấu điểm phân bố của loài trên bản đồ (theo Nguyễn Thượng Dong và cộng sự, 2006)

- Xác định các loài quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt: Trên cơ sở danh lục thực vật, lập danh sách các loài quí hiếm ở Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Các loài được xác định quí hiếm có nguy cơ bị tiêu diệt dựa vào tiêu chí của các công trình sau: Sách đỏ Việt Nam, 2007; Danh lục các loài thực vật quý hiếm của IUCN, 2014; Nghị định số 32 của chính phủ về các loài động thực vật quý hiếm

Trang 27

- Đánh giá tính đa dạng của các loài cây thuốc, về dạng sống của các loài cây thuốc, môi trường sống của các loài cây thuốc, về tần số sử dụng các bộ phận, về số lượng các bộ phận sử dụng làm thuốc (theo Viện Dược liệu)

- Qua điều tra phỏng vấn các ông lang, bà mế tại một số xã của huyện Bắc Hà đã ghi nhận các nhóm bệnh sau được người Dao đỏ sử dụng cây thảo dược để điều trị

a) Nhóm bệnh thu được qua phỏng vấn bà Lý Thị Còi, xã Nậm Đét huyện Bắc Hà

- Nhóm 1: Bệnh phụ nữ (gồm kinh nguyệt gián đoạn thất thường, kinh

bế, rong kinh, băng huyết nhẹ do cơ năng, viêm phần phụ, âm đạo sưng đau,u

xơ tử cung, tắc tia sữa, viêm tuyến vú , động thai, phòng sẩy thai)

- Nhóm 2: Bệnh ngoại thương (gồm bị thương, gẫy xương, bị thương

chảy máu, bị bỏng)

- Nhóm 3: Bệnh suy nhược không đau (gồm cơ thể hư nhược, tinh

thần suy nhược, tự ra mồ hôi khi ra gió, bốc nóng giữa đỉnh đầu, mệt chân tay buồn bã)

- Nhóm 4: Bệnh về tiết niệu và gan thận (gồm đái buốt, đái đục, đái

ra cát sỏi, phủ thũng, viêm cầu thận cấp, viêm gán, truyền nhiễm, viêm gan mạn tính, xơ gan mạn tính, viêm túi mật, sỏi mật, đái tháo nhạt không rõ nguyên nhân)

- Nhóm 5: Bệnh về tâm thần (gồm ngủ lờ mờ không sâu, dễ tỉnh,

động kinh, đau đầu)

- Nhóm 6: Bệnh về hô hấp (gồm ngạt mũi, sổ mũi, hắt hơi, viêm mũi

dị ứng, Ho, viêm họng, Ho đờm, Ho khan, viêm phế quản, sưng phổi, Hen phế quản, Hen suyễn)

- Nhóm 7: Bệnh ngoại cảm (gồm nghẹt mũi, cảm cúm hơi sốt sợ lạnh,

đau mỏi, cảm gió lạnh, rét run, Cảm nắng hay sốt nóng đơn thuần, Sốt dị ứng, phát ngứa sưng phù)

- Nhóm 8: Bệnh về sinh dục (gồm Thận hư, tinh yếu, di mộng tiết hoạt

tinh, tinh trùng loãng)

- Nhóm 9: Bệnh ngoài da (gồm mụn nhọt, lở ngứa các loài, thuốc

dùng ngoài đối với từng loại lở ngứa, , hắc lào, lở chàm, ghẻ, lang ben, lang trắng)

- Nhóm 10: Bệnh trẻ em (gồm trớ sữa; Ỉa chảy phân loãng, Ỉa phân

sống; cam tướt; cam lỵ; quai bị; ho gà; sởi; thủy đậu, sốt bại liệt, viêm tai, dái dầm, thoát vị thừng tinh, lở chàm, rôm rảy, tưa lưỡi, lở mồm)

- Nhóm 11: Các bệnh đau nhức (đau đầu chóng mặt, đau nửa đầu liền

với mắt, mắt đau sưng đỏ, đau răng, viêm lợi, đầu gối sưng đau, đổi hạch, viêm hạch, lao hạch)

b) Nhóm bệnh thu được qua phỏng vấn bà Đặng Thị Ghến, xã Nậm Đét huyện Bắc Hà

- Nhóm 1: Bệnh về tâm thần (gồm đau đầu mất ngủ, đau nửa đầu)

Trang 28

- Nhóm 2: Bệnh về huyết mạch (gồm huyết áp cao, huyếp áp thấp, hạ

đường huyết)

- Nhóm 3: Bệnh về tiêu hoá (nôn mửa, đau bụng không tiêu, đau bụng

lạnh dạ, táo bón, ỉa chảy phân loãng, sống phân, ỉa xối ra nước không dứt)

- Nhóm 4: Bệnh về gan thận (gồm viêm gan, viêm gan mạn tính, xơ

gan mạn tính, xơ gan cổ trướng, sỏi mật, đái tháo nhạt không rõ nguyên nhân, viêm tiền liệt tuyến)

- Nhóm 5: Bệnh ngoài da (mụn nhọt, lở ngứa các loài, thuốc dùng

ngoài đối với từng loại lở ngứa, hắc lào, lang ben)

c) Nhóm bệnh thu được qua phỏng vấn ông Bàn Văn Phóng, xã Cốc Lầu, huyện Bắc Hà

- Nhóm 1: Bệnh về sinh dục (gồm thận hư, tinh yếu, loãng tinh trùng)

- Nhóm 2: Bệnh về tiết niệu và gan thận (gồm đái buốt, đái đục, phủ

thũng, viêm cầu thận cấp, sưng gan (Áp-xe), viêm gan mạn tính, xơ gan mạn tính)

- Nhóm 3: Bệnh về tiêu hoá (nôn oẹ, nôn mửa, đau bụng không tiêu,

đau bụng lạnh dạ, táo bón, sống phân lỵ mới phát, thổ tả, đau bụng giun quấy)

- Nhóm 4: Bệnh về hô hấp (viêm mũi dị ứng, ho, viêm họng, ho đờm,

ho khan, viêm phế quản, hen phế quản, ho lao)

- Nhóm 5: Bệnh ngoài da (gồm mụn nhọt, Lở ngứa các loài, , Lở nấm,

Tổ đỉa, Chín mé, Hắc lào, Lở chàm, Ghẻ, lang ben, lang trắng, mụn cóc,)

- Nhóm 6: Bệnh ngoại cảm (cảm cúm hơi sốt sợ lạnh, đau mỏi, cảm

gió lạnh, cảm nóng rét nắng mưa thời khí hỗn tạp, cảm về mùa hè nôn đầy, cảm nắng hay sốt nóng đơn thuần, cốt dị ứng,)

d) Nhóm bệnh thu được qua phỏng vấn ông Đặng Thị Khé, xã Bản Cái, huyện Bắc Hà

- Nhóm 1: Bệnh phụ nữ (kinh loạn kỳ, kinh nguyệt gián đoạn thất

thường, kinh bế, rong kinh, băng huyết nhẹ do cơ năng, viêm phần phụ, viêm

âm hộ, âm đạo sưng đau, u xơ tử cung, tắc tia sữa, viêm tuyến vú, nhọt vú)

- Nhóm 2: Bệnh ngoại thương (gồm bị thương, bị ngã, bị thương chảy

máu)

- Nhóm 3: Bệnh ngoài da (gồm mụn nhọt, lở ngứa các loài, lở nấm, tổ

đỉa, hắc lào, ghẻ, lang ben)

- Nhóm 4: Bệnh về tiêu hoá (nôn mửa, đau bụng không tiêu, đau bụng

lạnh dạ, táo bón, ỉa chảy phân loãng, sống phân)

- Nhóm 5: Bệnh ngoại cảm (cảm cúm hơi sốt sợ lạnh, cảm về mùa hè

nôn đầy, cảm cúm mùa hè sốt dai đau mình, cảm nắng hay sốt nóng đơn thuần, cốt rét cơn, sốt dị ứng, phát ngứa sưng phù, trúng phong thấp hôn mê

co cứng)

- Nhóm 6: Bệnh suy nhược không đau (gồm cơ thể suy nhược, tinh

thần suy nhược, ra mồ hôi ở tay chân)

Trang 29

K3.1 Thống kê các loài cây thu

Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Qua quá trình đi

của các ông lang, bà m

Những mẫu cây được đồng b

huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai s

3.2.1 Đa dạng về các bậc phân loại của các lo

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ê các loài cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đ

ào Cai

điều tra, đã thu thập được những kinh nghiệm hiểu biết

à mế của dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, t

ợc đồng bào dân tộc Dao đỏ sử dụng làm thuịnh tên khoa học và tổng hợp Kết quả nghiPhụ lục 1

ều tra ngành Ngọc lan được 220 loài trong 140 chi và 84 ống kê được 157 loài, 100 chi thuộc 70 họ của ng

gnoliophyta) được sử dụng làm thuốc tại khu vực nghiên c

ề đa dạng các loài cây được đồng bào dân t

ào Cai sử dụng làm thuốc ạng về các bậc phân loại của các loài cây được đồng b

ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng làm thuốc

ự đa dạng về lớp

Trong quá trình nghiên cứu đã phân tổng số loài cây được sử dụng l

ớp: Lớp Hành và lớp Ngọc lan Sự khác biệt về số lược thể hiện thông qua bảng 3.1 và hình 3.1

ợng họ, chi, loài cây thuốc ở hai lớp trong ng

(Magnoliophyta)

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

ài trong 140 chi và 84

ốc ở hai lớp trong ngành Ngọc lan

Loài

ỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

ực nghiên cứu

Trang 30

Qua bảng 3.1 và biểu đồ 3.1 trên cho thấy lớp Ngọc lan chiếm phần lớn trong ngành Ngọc lan với số loài là 136 loài, chiếm 86,62% của toàn ngành,

số chi 88, chiếm 88 %, số họ là 63, chiếm 90 % của ngành và sô bộ 39, chiếm 92,85 % Ở lớp này có nhiều loài có giá trị cao như: Ba gạc Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill., Ba gạc cam-pu-chia Rauvolfia cambodiana Pierre

ex Pit., Ngũ gia bì gai Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss var setosus Li.,

Hoa tiên Asarum glabrum Merr., Hoa tiên lớn Asarum maximum Hemsl.,

Hoàng liên ô rô Mahonia japonica (Thunb.) DC

Bên cạnh đó, ở lớp Hành (Liliopsida) chiếm tỷ trọng thấp hơn hẳn, số loài chỉ là 21, chiếm 13,37 %; số chi 14, chiếm 12 %, số họ là 7, chiếm 10 %

và số bộ 3, chiếm 7,14% của toàn ngành Tuy vậy, có nhiều loài mang lại kết quả tốt trong việc chữa trị bệnh, cụ thể như: Cơm lênh Pothos scandens L.,

Hoàng tinh vòng Polygonatum kingianum Coll et Hemsl., Câu tử thảo Peliosanthes teta André, Hoàng tinh hoa trắng Disporopsis longifolia, Sâm

cau tựa lan Curculigo orchioides Gaertn., Hoàng thảo hoa vàng Dendrobium chrysanthum Wallich, Thạch hộc Dendrobium nobile Lindl

3.2.1.2 Đa dạng về bậc họ

Kết quả điều tra cũng đã xác định ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai trong tổng số 70 họ thực vật được sử dụng làm thuốc có 10 họ có số lượng loài nhiều nhất (bảng 3.2 và hình 3.2)

Bảng 3.2: Các họ nhiều loài cây thuốc nhất ở huyện Bắc Hà

Stt

Tên khoa học Tên Việt Nam Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 31

Hình 3 2: Các họ đa dạng nhất

Qua kết quả nghi

làm thuốc là lớn nhất với số l

Nhân sâm (Araliaceae) v

lượng ít hơn với 8 loài

nhưng đều có số loài đư

khẳng định thành phần lo

dạng về bậc họ Kết quả nói tr

được sử dụng làm thuốc ở khu vực nghi

có số lượng lớn ở Việt Nam v

ết quả nghiên cứu cho thấy, họ Phong lan có số loài đư

ớn nhất với số lượng là 11 loài, chiếm 14,47%, tiếp theo lNhân sâm (Araliaceae) với 10 loài, chiếm 13,15% Họ Nam mộc

ài, chiếm 10,50% Các họ còn lại chiếm tỷ lệ ít h

ài được dùng làm thuốc từ 5 loài trở lên Đi

ần loài cây thuốc ở huyện Bắc Hà, tỉnh L

ọ Kết quả nói trên nói lên tính đặc trưng của các lo

ốc ở khu vực nghiên cứu Các họ này đều lợng lớn ở Việt Nam và sự phân bố rất rộng

ại chiếm tỷ lệ ít hơn

ên Điều này có thề ỉnh Lào Cai là đa

100

Trang 32

lượng ít hơn với 4 loài Chi

Araliaceae, chi Aralia h

Mahonia họ Berberidaceae, chi

Các chi đa dạng nhất về cây thuốc của ngành Ng

Hà, Lào Cai

và biểu đồ 3.3 trên cho cho thấy, trong 10 chi đa d

c Hà thì ít nhất mỗi chi cũng có 3 loài trở lên Chi l

Orchidaceae và Stephania họ Menispermaceae Clusiaceae và chi Asarum họ Aristlochiaceae

i 4 loài Chi Elaeagnus họ Elaeagnaceae, chi

họ Araliaceae, chi Aristolochia họ Aristlochiaceae, chi Berberidaceae, chi Schisandra họ Schisandraceae đ

ạng về dạng sống của các loài cây thuốc

ài cây đều có sự thích nghi với môi trường v

ì vậy, việc phân tích đa dạng về dạng thân của các cây ớng cho ta thấy nguồn nguyên liệu để dễ dàng trong vi

ư việc khai thác, sử dụng

phân dạng sống của cây thuốc thành 5 nhóm là thân g

ụi, thân cỏ, thân leo và thân ký sinh Kết quả tổng hợp được thể hiện ở bảng

ạng thân của các loài cây thuốc được đồng bào dân t

y, trong 10 chi đa dạng

lên Chi lớn nhất là chi

Menispermaceae có 5 loài

Aristlochiaceae có số

Elaeagnaceae, chi Panax họ

Aristlochiaceae, chi Schisandraceae đều có số

Trang 33

4 Cây dây leo

Tổng

Hình 4.4: Thể hiện dạng sống của các cây thuốc đ

Dao đ

Từ kết quả trên cho th

có 60 loài, chiếm 38,21% so với tổng số lo

mọc rải rác trong rừng nguy

số họ như họ Càng lò (

(Boraginaceae), họ trám

(Clusiaceae)…

Nhóm tiếp theo l

với tổng số loài, nhóm này là các đ

rừng, trảng cỏ, ven đường, ven

(Asteraceae), họ Trường sinh (

Qua phân tích đa d

mỗi loài cây thuốc có đặc điểm phân bố theo môi tr

ên cho thấy, nhóm cây được sử dụng nhiều nhất l

ếm 38,21% so với tổng số loài Các cây thuộc nhóm n

ọc rải rác trong rừng nguyên sinh hoặc thứ sinh, vùng núi đá tập trung ở một

àng lò (Betulaceae), họ Đinh (Bignoniaceaetrám (Burseraceae), họ Vang (Caesalpiniaceae

ếp theo là nhóm cây thảo có tới 50 loài, chiếm tới 31,84 % so

ài, nhóm này là các đại diện thường sống dưới tán rừng, ven

ờng, ven nương rẫy, tập trung ở một số họ nhờng sinh (Crassulaceae), họ Bạc hà (Lamiaceae

à nhóm cây bụi và cây dây leo đều có chiểm tỷ lệ thấp h

ài Các đại diện của nhóm này thường sống ở vừng, trong rừng, tập trung ở các họ như Ô rô (Acanthaceae

ết dê (Menispermaceae), họ Rau răm (Polygonaceae) …

ếm tỷ lệ thấp nhất là nhóm cây ký sinh, có 8 loài, chi

ài Các đại diện của nhóm này thường mọc rải rác trong

ẩm, ven khe suối, ưa bóng mát như h

ầm gửi (Loranthaceae)…

ự phân bố cây thuốc theo môi trường sống tại khu vực nghi

Qua phân tích đa dạng về dạng sống của các loài cây thu

ốc có đặc điểm phân bố theo môi trường sống rất phong phú

12,37 5,09

ọ Rau răm (Polygonaceae) …

à nhóm cây ký sinh, có 8 loài, chiếm 5,09

ọc rải rác trong

ưa bóng mát như họ Phong lan

ờng sống tại khu vực nghiên

ài cây thuốc cho thấy ờng sống rất phong phú

Trang 34

và phức tạp Có những lo

trong rừng nguyên sinh, th

Với môi trường sống hết sức phức tạp v

thuốc, tác giả tạm chia môi tr

dân tộc Dao đỏ tại khu hu

chính là rừng nguyên sinh có th

suối, khe và thung lũng ẩm; b

Qua đó cho thấy, các cây thuốc phân bố chủ yếu ở trạng thái t

11 loài (chiếm 7,58) là cây tr

4 Ven suối, khe, thung l

lượng loài là 101, chiếm 63,23% số lo

thường là những đại diện cây gỗ, bụi, leo sống d

biệt có nhiều loài chỉ có trong rừng sâu Những lo

trường này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc chữa trị bệnh cũng nh

thúc đẩy quá trình tái sinh r

ức tạp Có những loài cây sống ở những vùng núi cao, vùng núi th

ên sinh, thứ sinh, hay sống trong vách đá ẩm,…

ờng sống hết sức phức tạp và đa dạng của các lo

ạm chia môi trường sống của các loài cây thuốc đ

ộc Dao đỏ tại khu huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng theo 6 nhóm

ên sinh có thể bị tác động; rừng thứ sinh; rừng cây bụi; ven ũng ẩm; bãi hoang, bờ ruộng, ven đường; v

ấy, các cây thuốc phân bố chủ yếu ở trạng thái tự nhi

à cây trồng trong vườn nhà với mục tiêu làm thu

ểu đồ trên cho thấy số lượng loài cây thuốc phân bố tr

là rất khác nhau Trong số các loài cây thu

ợc đồng bào dân tộc Dao đỏ sử dụng, các loài phân bừng nguyên sinh bị tác động, rừng thứ sinh, của khu nghi

ếm tỷ lệ khá cao (các loài cây thuốc sống ở 3 môi trường 1, 2 v

ếm 63,23% số loài cây thuốc đã được xác định) Đây ững đại diện cây gỗ, bụi, leo sống dưới tán rừng, ven rừng, đặc

ỉ có trong rừng sâu Những loài cây thuốc sống trong môi

ĩa rất quan trọng trong việc chữa trị bệnh cũng nhình tái sinh rừng

úi cao, vùng núi thấp hay

ứ sinh, hay sống trong vách đá ẩm,…

ạng của các loài cây

Trang 35

Bên cạnh đó là các loài cây thuốc sống ở bãi hoang, ven đường, bờ ruộng bậc thang, nhóm này chủ yếu là các đại diện cây bụi và cây thân thảo, với 44 loài, chiếm 28,01% tổng số loài

3.2.4 Xây dựng bản đồ phân bố các loài cây thuốc có giá trị cần được bảo

vệ

Trong số 157 loài cây thuốc được đồng bào dân tộc Dao đỏ tại khu vực nghiên cứu sử dụng, đã thống kê được có tất cả 12 loài thuộc diện cần phải bảo vệ (chiếm 8,6% tổng số loài của toàn hệ) theo tiêu chí của Sách đỏ Việt Nam năm 2007; Danh mục các loài có nguy cơ bị đe doạ của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) 2014; Nghị định số 32 của chính phủ năm 2006 Đây là nguồn gen quý hiếm, cần có biện pháp bảo tồn nghiêm ngặt Kết quả

cụ thể ở bảng 3.6

Bảng 3.6: Các loài cây thuốc đang bị đe dọa được đồng bào dân tộc Dao

đỏ tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai sử dụng

VU A1a,c,B1+

2b,c,d

VU

EN A1c,d,B1+

EN A1c,d,B1+

IA

Trang 36

13 Valerianahardvickii Wall Nữ lang VU B1+2b,c R, VU

Ghi chú: SĐ, 2007: Sách đỏ Việt Nam năm 2007; EN: Nguy cấp; VU: Sẽ nguy cấp; IUCN: Danh mục các loài có nguy cơ bị đe dọa của hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế, LR: loài ít được quan tâm; NĐ 32: Nghị định số 32 của chính phủ năm 2006; IA: Cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại, IIA: Hạn chế khai thác sử dụng vì mục đích thương mại

đồ sau:

Sơ đồ 3.6: Bản đồ phân bố các loài cây thuốc • Khu vực phân bố cây

thuốc tại huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai 3.3 Vấn đề sử dụng cây thuốc của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc

Hà, tỉnh Lào Cai

3.3.1 Sự đa dạng về tần số sử dụng của các bộ phận

Việc nghiên cứu về các bộ phận sử dụng giúp cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu và định hướng được khi phân tích về thành phần hoá học cũng như dược tính của nó Trong việc sử dụng cây thuốc theo kinh

Trang 37

nghiệm Y học cổ truyền cho thấy, các bộ phận khác nhau của cây đ

là lá cây với 41 loài, chi

dạng tươi hoặc phơi khô như Xoài (

verticillata (Lour.) Baill.), Gai lăng v

W.W.Sm), Hoa tiên (

maximum Hemsl.), Thi

Schum.), Trám chim (

tinctoria), Gan tiền thơm (

được dùng riêng hay ph

lá cây được sử dụng khá đa d

Bên cạnh những

thân cây (gồm cả cành cây, v

loài, chiếm 17,83 % so với tổng số lo

phơi khô rồi đem sắc uống, một số ít đ

(Chroesthes lanceolata

volkameriifolia (Wall.) DC.), Mã

ọc cổ truyền cho thấy, các bộ phận khác nhau của cây đ

ững mục đích khác nhau, mặt khác cùng bộ phận của c

ũng có những tác dụng khác nhau tùy theo cách vận dụng của các thầy thuốc

ê các bộ phận của các loài cây thuốc được đồng b

ỏ sử dụng cho việc chữa bệnh Kết quả được trình bày ở bảng sau

ự đa dạng trong các bộ phận được sử dụng làm thu

ểu đồ thể hiện kinh nghiệm sử dụng các bộ phận cây l

ủa đồng bào dân tộc Dao đỏ ở Bắc Hà

ống kê được, cho thấy bộ phận được sử dụ

i 41 loài, chiếm 26,11% so với tổng số loài Lá có th

c phơi khô như Xoài (Mangifera indica L.), Ba g Baill.), Gai lăng vòi mảnh (Acanthopanax gracilistylus W.W.Sm), Hoa tiên (Asarum glabrum Merr.), Hoa tiên l

Hemsl.), Thiết đinh (Markhamia stipulata (Wall.) Some Trám chim (Bursera tonkinensis Guillaumin), N

n thơm (Gaultheria fragrantissima Wall.), …Lá có th

c dùng riêng hay phối hợp với các loài cây khác để chữa bệ

ng khá đa dạng cả về cách thức sử dụng lẫn công dạnh những loài cây được sử dụng cả cây để làm thu

ành cây, vỏ thân) cũng được sử dụng khác nhiều, với 28

ếm 17,83 % so với tổng số loài Với thân chủ yếu là đư

ồi đem sắc uống, một số ít được đun sôi uống như Hoa đài màu

Chroesthes lanceolata (T Andrers) C Hansen), Cúc hồng

(Wall.) DC.), Mã đề á (Plantago asiatica), Hoàng liên gai

ọc cổ truyền cho thấy, các bộ phận khác nhau của cây được dùng

7 5,09

ểu đồ thể hiện kinh nghiệm sử dụng các bộ phận cây làm

ụng nhiều nhất loài Lá có thể được dùng ở

), Ba gạc (Rauvolfia Acanthopanax gracilistylus Merr.), Hoa tiên lớn (Asarum

(Wall.) Some ex

in), Nụ (Garcinia

Wall.), …Lá có thể ệnh Có thể nói

n công dụng

àm thuốc thì bộ phận

ợc sử dụng khác nhiều, với 28

à được băm nhỏ, như Hoa đài màu

ồng (Vernonia

), Hoàng liên gai

Trang 38

(Berberis julianae Schneid.), Hoàng liên ô rô (Mahonia japonica (Thunb.) DC.), Hoàng liên ôrô (Mahonia nepalensis DC (M annamica Gagnep.), Hoàng liên ô rô lá dày (Mahonia bealei (Fortuner)), Tai chua (Garcinia cowa Roxb.), Ha huỳnh (Helwingia himalaica Hook.f et Thorns), … Thân thường

chữa nhiều loại bệnh như viêm gan, thận, tiêu hoá, thấp khớp, gẫy xương, ghẻ lở,…

Bộ phận rễ, củ (cả thân củ) thường được đánh giá là có hiệu quả cao trong việc chữa trị bệnh và cũng được sử dụng tương đối nhiều, với 22 loài, chiếm 14,01% so với tổng số loài Rễ cây được sử dụng rất nhiều trong các

bài thuốc thảo dược như Ba gạc cam-pu-chia (Rauvolfia cambodiana Pierre

ex Pit.), Thổ đương quy (Aralia cordata Thunb), Thông mộc lá nhám (Aralia dasyphylla Mip), Tế hoa ba-lan-sa (Asarum balansae Franch.), Hoàng liên gai (Crocosmia crocosmiflora), Mộc hương (Aristolochia sp), Đại lăng núi (Berberis wallichiana DC) Tục đọan nhọn (Dipsacus asper Wall.), Rô đầu nhật (D japonlcus Miq.), … Chữa các bệnh như đau xương, trị giun sán, xoa

bóp, viêm gan,

Các bộ phận còn lại như hoa, quả, hạt cùng được sử dụng nhưng không nhiều như thân, rễ, lá Bên cạnh đó, còn có 8 loài có thể lấy nhựa mủ để chữa bệnh các bệnh ngoài da, bỏng lửa, tưa lưỡi trẻ em,

3.3.2 Sự đa dạng về số lượng các bộ phận của từng loại được sử dụng

Đối với các loài cây thuốc, mỗi loài cây có thể chỉ một bộ phận được sử dụng (như thân hay rễ hay lá) nhưng có loài lại có nhiều bộ phận được sử dụng như (thân và lá; hoa và hạt; vỏ của thân, quả và rễ,…), nhiều loài cả cây

có tác dụng chữa bệnh (nếu có cả thân, rễ, lá chúng tôi xếp vào cả cây) Nhiều bệnh phải kết hợp nhiều bộ phận hay nhiều cây mới có tác dụng tốt Đôi khi trong một cây bộ phận này có ích nhưng bộ phận khác lại gây độc Từ số liệu điều tra được, chúng tôi bước đầu thống kê như sau:

- Số loài cây có thể sử dụng cả cây là 33 loài, chiếm 21,01 % tổng số loài

- Số loài cây có 3 bộ phận sử dụng là 29 loài, chiếm 18,47% tổng số loài

- Số loài cây có 2 bộ phận sử dụng là 39 loài, chiếm 24,84% tổng số loài

- Số loài cây có 1 bộ phận sử dụng là 56 loài, chiếm 35,66% tổng số loài

Kết quả trên cho thấy các bộ phận sử dụng làm thuốc thường lấy 1 bộ phận của cây là chủ yếu; việc sử dụng 2 bộ phận của cây hay toàn cây cũng chiếm tỷ lệ khá lớn và ít nhất là sử dụng 3 bộ phận của cây Các loài sử dụng 1-2 bộ phận thường là các loài cây gỗ, bụi Bên cạnh đó, các loài sử dụng cả cây thường là các loài cây thân cỏ

3.3.3 Một số bài thuốc truyền thống của đồng bào dân tộc Dao đỏ ở huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai

Trang 39

Tìm hiểu các loài cây thu

nguyên cây thuốc phục vụ cho ng

là những kinh nghiệm sử dụng thực vật của đồng b

rút và lưu truyền từ đời n

quan trọng trong quá tr

đời sống của những ng

lương y địa phương V

điều tra các bài thuốc để bảo tồn l

điều tra, chúng tôi đã ghi nh

Hình 3.7: Loài cây thu

ài cây thuốc là cơ sở khoa học để phát hiện nguồn t

ốc phục vụ cho ngành y dược, còn các bài thuốc truyền thống ững kinh nghiệm sử dụng thực vật của đồng bào dân tộc đ

ền từ đời này sang đời khác Có thể nói đây là mọng trong quá trình sử dụng các loài cây thuốc tự nhiên ph

ời sống của những người giàu kinh nghiệm, các ông lang, b

ương Với những tri thức và kinh nghiệm quý báu đó th

ốc để bảo tồn là công việc vô cùng cần thiết Qua quá trghi nhận được 13 bài thuốc được đồng bào dân tỉnh Lào Cai sử dụng Các bài thuốc được xếp cụ thể nh

ổng hợp các bài thuốc thu thập được trong quá tr

cứu

ắc tia sữa, lưu thai

ại bổ cho phụ nữ, kinh nguyệt kéo dài

: Loài cây thuốc sử dụng chữa bệnh tại khu vực nghi

ở khoa học để phát hiện nguồn tài

ệm quý báu đó thì việc

ần thiết Qua quá trình

ào dân tộc Dao

Trang 40

Qua bảng số liệu trên cho thấy số lượng các loài cây thuốc đước sử

dụng để chữa bệnh rất đa dạng và phong phú Trong đó số loài cây được sử dụng làm thuốc bổ cho phụ nữ chiếm số loài lớn nhất với 7 loài Tiếp đến là

số lượng các loài cây thuốc được sử đụng để chữa bệnh gan vơi 6 loài Với số lượng khiêm tốn hơn là các số lượng cây dùng trị sỏi thận với 5 loài Các loài dùng để tắm cho phụ nữ sau sinh, gãy xương và viêm đại tràng đều có 3 loài Đặc biệt ta thấy ở đấy có một số bài chỉ với một cây thuốc và đây thường là các bệnh ngoài da và mụn nhọt

Chi tiết các bài thuốc như sau:

Bài 1: Tắc tia sữa, lưu thai (Bà Lý Thị Còi xã Nậm Đét )

- Các loài sử dụng:

Các loài cây thuốc được sử dụng để chữa trị tắc tia sữa, lưu thai được

trình bày ở bảng 3.9

Bảng 3.9: Cây thuốc chữa tắc tia sữa, lưu thai

Nam

Tiếng Dao đỏ

Bộ phận dùng

Lượng dùng (g)

- Cách dùng: Băm nhỏ, phơi khô, sao vàng, sắc uống

- Liều dùng: Sắc uống thay nước trong 3 ngày

Bài 2: Đại bổ cho phụ nữ, chu kì kinh nguyệt kéo dài (Bà Lý Thị Còi, xã Nậm Đét)

- Các loài sử dụng:

Các loài cây thuốc được sử dụng Đại bổ cho phụ nữ, chu kì kinh nguyệt

kéo dài được trình bày ở bảng 3.10

Bảng 3.10: Cây thuốc đại bổ cho phụ nữ, chu kì kinh nguyệt kéo dài

TT Tên tên họ Tên loài Nam Việt Dao đỏ Tiếng Bộ phận dùng dùng (g) Lượng

Blumea balsamifera (L.)

DC

Gynura pseudochina (L.)

DC

Thổ tam thất

Klotzsch

Trạng nguyên

Ngày đăng: 09/03/2018, 16:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w