1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

DẠY HỌC CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

62 338 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 10,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm “Năng lực” là một vấn đề rộng, với nhiều cách định nghĩa khácnhau: Theo GS.TS Đinh Quang Báo: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứ

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ và nền kinh tế trithức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia thì dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực người học là một trong những xu thế dạy học hiện đại,đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thếgiới và ở Việt Nam trong những năm gần đây

Nghị quyết 29 (-NQ/TW ngày 4/11/2013 ) của Ban chấp hành Trung ươngĐảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nêu rõ: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và

đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học” Cách tiếp cận này đặt ra mục tiêu căn bản là

giúp cho học sinh có thể làm được gì sau khi học chứ không tập trung vào việc xác định Học sinh cần học những gì.

Môn Ngữ Văn giúp HS phát triển năng lực, phẩm chất chung và đặc thù.Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tựhọc là những năng lực tổng quát, liên quan đến nhiều môn học Năng lực sử dụngngôn ngữ và năng lực cảm thụ văn học là những năng lực đặc thù, trong đó năng lực

sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong họctập của HS và công việc của các em trong tương lai, giúp các em nâng cao chấtlượng cuộc sống Đồng thời môn Ngữ văn còn góp phần to lớn trong giáo dục tìnhcảm và nhân cách cho người học

Được phân công giảng dạy và bồi dưỡng môn Ngữ văn 9 nhiều năm, tôinhận thấy các tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trongchương trình Nội dung văn bản hay, sâu sắc dễ dàng hình thành, phát triển năng lựccảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm, hình thành kĩ năng giao tiếp (đọc, nói, viết)

và nhiều năng lực, phẩm chất khác Đặc biệt nhiều năm, kì thi học sinh giỏi, kì thivào lớp 10 THPT chọn tuyển học sinh chất lượng cao chọn phần này làm đề thi

Tuy nhiên, thời lượng bài học theo PPCT ngắn; nội dung văn bản dài, giáoviên nặng về diễn giảng, khai thác văn bản còn chung chung, sơ lược, công thức,chưa nắm được cách phân tích tác phẩm truyện theo đặc trưng thể loại Việc lựachọn nội dung dạy học còn ở mức cơ bản, thiếu mở rộng nâng cao cho học sinh khá,giỏi, sử dụng câu hỏi nêu vấn đề còn nhiều bất cập Hình thức dạy học chưa phongphú, ít chú trọng tới việc dạy học theo dự án, chủ đề Xem nhẹ việc giúp học sinhphát triển năng lực đặc thù trong dạy học Văn gắn với thực tiễn đời sống biến giờđọc - hiểu, làm văn trở thành bài diễn xuôi một cách khô khan, nhạt nhẽo nên cáctác phẩm truyện hiện lên trong mắt học trò ngày càng què quặt, xấu xí và kém lôicuốn

Trang 2

Được phân công giảng dạy lớp 9 chất lượng cao của trường tôi nhận thấy:

- HS chỉ chú tâm vào học những môn có tính chất “ thời thượng” (Toán, Anh

văn ) Rất ít các em chú tâm và hứng thú bộ môn Văn Đa số các em hiểu vấn đề,

có tiềm lực nhưng chưa có phương pháp học tập bộ môn hiệu quả và còn phụ thuộcvào sách tham khảo

- Năng lực tư duy suy luận, phản biện, đánh giá hợp lí về tác phẩm còn hạnchế Chưa biết tìm kiếm, xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Kĩ năng đọc, nói,viết, nghe trong những ngữ cảnh đa dạng chưa hiệu quả, sáng tạo

- Khi học về tác phẩm truyện cũng không chịu khó đọc toàn bộ tác phẩm,không đọc kĩ đoạn trích, hoặc chưa đặt đoạn trích trong chỉnh thể của tác phẩm nênkhi bắt tay vào phân tích thường lệch lạc, hiểu chưa đúng hoặc thậm chí hiểu sai vềtác phẩm

- Làm bài thiên về kể, liệt kê sự việc hơn là đưa ra ý kiến đánh giá, nhận xét

về tác phẩm nên bài làm khô cứng, máy móc, nghèo ý tưởng

- Kĩ năng vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống trong thực tế thiếutính thuyết phục

Như vậy với cách dạy và học như trên không còn phù hợp với xu thế của giáodục hiện đại và chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất trong bộmôn Ngữ văn

Nguyên nhân chính của thực trạng dạy và học trên là:

- Giáo viên chưa lựa chọn nội dung , phương pháp và hình thức dạy phù hợp

để phát triển năng lực học sinh

- Học sinh còn thụ động, chưa có phương pháp học bộ môn hiệu quả

Xuất phát từ thực tế đã nêu Tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn để trang

bị cho mình phương pháp dạy các văn bản Truyện Hiện đại Việt Nam (NV9) theođịnh hướng phát triển năng lực cho đối tượng học sinh khá giỏi có hiệu quả Giúphọc sinh phát triển được những năng lực đặc thù của môn học, biết vận dụng, ôn tậpkiến thức đã học giải quyết các tình huống trong cuộc sống Chính vì vậy tôi chọn

đề tài: “ Dạy học phần truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9) theo định

hướng phát triển năng lực cho học sinh khá - giỏi lớp 9”

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

- Về lí luận: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi góp phần tìm hiểu, nghiên cứu

sâu hơn và bổ sung thêm lí luận về phương pháp dạy học văn bản truyện Hiện đạiViệt Nam theo định hướng tiếp cận năng lực người học

- Về thực tiễn:

Trang 3

+ Nghiên cứu có thể là tài liệu tham khảo cần thiết phục vụ cho việc giảngdạy, bồi dưỡng học sinh giỏi trong phần Đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩmtruyện Hiện đại trong trường THCS tại địa phương

+ Đối tượng học sinh khá- giỏi THCS Nguyễn Tất Thành nâng cao kết quảhọc tập và phát triển được năng lực khi học bộ môn Văn nói chung và phần Đọc -hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích nói riêng Và là một bướcchuẩn bị chu đáo, chủ động cho dạy học sau 2015

III NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

- Tìm hiểu thực trạng dạy- học các văn bản truyện Hiện đại trong nhà trường.

- Sưu tầm, tập hợp, tham khảo tư liệu liên quan đến đề tài

- Xác định và đưa giải pháp dạy học các tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam(SGK NV9) theo định hướng tiếp cận năng lực người học

IV ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Xử lí thông tin từ sách giáo khoa, tài

liệu tham khảo, tạp chí nghiên cứu văn học để lựa chọn những vấn đề tiêu biểuliên quan phục vụ cho đề tài

- Phương pháp phân tích: Xem xét một cách có hệ thống mối quan hệ nhiều

mặt, chú ý đến các khía cạnh chuyên sâu để phân tích và tổng hợp các nội dungphân tích đánh giá, nhận xét rút ra kết luận đưa vào đề tài

- Phương pháp điều tra, thống kê: Sử dụng phiếu điều tra, thống kê các số

liệu ban đầu để tìm hiểu thực trạng và đánh giá kết quả sau thực nghiệm

- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đối chiếu các số liệu, thông tin

liên quan để rút ra kết luận

Trang 4

- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy học, tổ chức hoạt động Ngữ Văn

theo định hướng của đề tài

(Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như: thăm dò ý kiến

học sinh trao đổi kinh nghiệm của đồng nghiệp)

Trang 5

B PHẦN NỘI DUNG

I CƠ SỞ LÍ LUẬN

1 Dạy học Văn theo định hướng tiếp cận năng lực người học.

Khái niệm “Năng lực” là một vấn đề rộng, với nhiều cách định nghĩa khácnhau:

Theo GS.TS Đinh Quang Báo: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến

thức kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp

và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống (Hội thảo đổi mới

chương trình SGK – Bộ Giáo dục tổ chức 10- 12/12/2012 tại Hà Nội)

Trong giáo dục theo định hướng năng lực học sinh, quan trọng là xác định rõnhững năng lực cần có và có thể phát triển trong dạy học của mỗi môn học/cấp học;

trong đó gồm “năng lực chung” có thể phát triển ở các môn học khác nhau và

“năng lực riêng” phát triển theo đặc trưng từng môn học.

Hệ thống năng lực cần phát triển ở học sinh có nhiều loại khác nhau và đượcxây dựng khái quát bao gồm bốn thành phần như sau:

Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theoUNESCO:

(1)- Năng lực chuyên môn: gắn liền với khả năng nhận thức và tâm lý vận

động

(2)- Năng lực phương pháp: khả năng về cách thức tiếp nhận, sử lý chuyển

hoá nhằm thực hiện, giải quyết vấn đề hiệu quả

Trang 6

(3)- Năng lực xã hội: khả năng giao tiếp, tương tác trong cộng đồng, xã hội (4)- Năng lực cá thể: chủ động, tự chủ, tự tin, khẳng định bản thân trong quan

hệ ứng sử, giải quyết các vấn đề, thực hiện nhiệm vụ hành động hay trong tư duynhận thức

Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thôngqua môn học, học sinh có khả năng vận dụng hiệu quả những điều đã học trên lớp và

đã biết qua trải nghiệm vào quá trình học tập và trong đời sống Phát triển năng lựcđặc thù của môn học gồm: năng lực giao tiếp tiếng Việt (nghe, nói, đọc) và năng lựcthưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ Ngoài ra, học sinh cũng cần được phát huycác năng lực khác như: năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sáng tạo, hợp tác, tựquản bản thân

Các năng lực cần phát triển trong môn Ngữ Văn :

1 Giải quyết

vấn đề

- Phát hiện vấn đề, đề xuất giải pháp

- Thực hiện

- Đánh giá

- Phát hiện và lí giải những vấn đề nhập nhằng, mơ hồ, đa nghĩa, khó hiểu trong nội dung và nghệ thuật

- Phát hiện và lí giải những vấn đề trong thực tiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm

- Phát hiện và đánh giá những khó khăn,thách thức đặt ra trong quá trình tạo lập vănbản nói và viết

2 Năng lực

sáng tạo

- Phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và cuộc sống

- Đề xuất các giải pháp một cách thiết thực

- Áp dụng vào tình huống mới

- Có cách tiếp cận và cắt nghĩa độc đáo về nội dung, giá trị của tác phẩm

- Phát hiện những nét nghĩa mới, giá trị mới của văn bản

- Có cách nói và cách viết sáng tạo, độc đáo,hiệu quả

3 Hợp tác Phối hợp, tương tác hỗ

trợ nhau cùng thực hiện nhiệm vụ để cùng đạt mục tiêu chung

- Thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận cá nhân

- Điều chỉnh thái độ, cách ứng xử

Trang 7

- Tự đánh giá, điều chỉnh hành động phù hợp với những tình huống mới.

- HS cần biết xác định các kế hoạch hành động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kếhoạch để đạt được mục tiêu đặt ra, nhận biếtnhững tác động của ngoại cảnh đến việc tiếpthu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá nhân để khai thác, phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ

đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần thiết trong những tình huống của cuộc sống

5 Năng lực

giao tiếp Tiếng

Việt

Sử dụng tiếng Việt một cách phù hợp và hiệu quả trong tình huống giao tiếp

- Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ

bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng

dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các tình huống giao tiếp khác nhau trong cuộc sống

- Cảm nhận vẻ đẹp ngôn ngữ, nhận ra những giá trị thẩm mĩ trong văn học, biết rung cảm, hướng thiện

2 Truyện ngắn và đặc điểm của truyện ngắn:

Theo các sách giáo khoa chính thống hiện nay, truyện ngắn được định nghĩa

là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết cácphương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó làngắn gọn

Truyện ngắn xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học Khác với tiểuthuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó,truyện ngắn thường chỉ hướng tới việc khắc họa một hiện tượng, phát hiện một nétbản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong

Trang 8

truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Nếu mỗi nhân vật của tiểuthuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới

ấy Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cáchđiển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh

Nhân vật của truyện ngắn thường là một mảnh nhỏ của thế giới đời thường

và là hiện thân cho một trạng thái quan hệ hay ý thức xã hội Cốt truyện của truyệnngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nóichung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người

Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường

được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật

của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn

là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo

cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết Chi tiết trong truyện ngắn phải tiêubiểu, biểu trưng cho ý tưởng nghệ thuật của nhà văn Thế giới nghệ thuật của truyện

còn có cả giọng điệu của tác phẩm: giọng tâm sự (Làng) hay giọng trầm lắng, buồn (Chiếc lược ngà)… Tóm lại, truyện ngắn là thể loại gần gũi, có khả năng phản ánh

nhanh nhạy, thực tế đời sống

3 Thống kê tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam trong chương trình NV9.

Tình huống Phương

thức trần thuật

Nội dung

01 Làng Kim Lân

1948 (Trong thời kì kháng chiến thực dân Pháp)

- Tin làng chợ Dầu theo giặc

mà ông Hai nghe được từ miệng của những người tản cư.

- Ngôi thứ ba qua điểm nhìn từ nhân vật ông Hai.

- Truyện thể hiện tình yêu làng quê sâu sắc thống nhất với tinh thần yêu nước, ủng hộ kháng chiến của người nông dân.

- Năm 1970

- Cuộc gặp gỡ tình cờ giữa anh thanh niên làm công

- Ngôi thứ ba qua điểm nhìn từ

- Truyện ca ngợi những người lao động thầm lặng, có cách sống đẹp,

Trang 9

đi thực

tế ở Lào Cai

tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu trên đỉnh cao Yên Sơn với ông hoạ sĩ, cô kĩ

sĩ khi xe của

họ dừng lại bên đường.

nhân vật ông hoạ sĩ.

cống hiến sức mình cho đất nước.

ác liệt.

- Hai cha con gặp nhau sau

8 năm xa cách, nhưng

bé Thu đã không nhận cha, đến lúc

em nhận ra cha thì ông Sáu lại phải

ra đi.

- Ở chiến khu ông Sáu dành tất cả tình yêu thương vào việc làm cho con 1 chiếc l- ược ngà Nh- ưng ông đã hi sinh khi chưa kịp trao cây lược cho con.

- Ngôi thứ nhất qua điểm nhìn từ nhân vật bác Ba.

- Qua câu truyên éo

le và cảm động về hai cha con: ông Sáu và bé Thu truyện ca ngợi tình cha con thắm thiết trong hoàn cảnh éo

le của chiến tranh.

Trang 10

04 Bến

quê

Nguyễn Minh Châu

Năm 1985

- Nhĩ làm một công việc cho anh có thể đi khắp trên thế giới nhưng đến cuối đời lại bị cột chặt vào với giường bệnh

- Một buổi sáng đầu thu anh bỗng nhận ra vẻ đẹp lạ lùng của cái bãi bồi ngay bên kia sông ngay trước cửa sổ

và khao khát được một lần đặt chân lên đó.

- Nhĩ nhờ cậu con trai thực hiện giúp mình khao khát đó nhưng cậu ta lai ham chơi

và để lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày.

Ngôi thứ

ba qua điểm nhìn từ nhân vật Nhĩ

- Những suy ngẫm, trải nghiệm sâu sắc của nhà văn về con người và cuộc đời, thức tỉnh mọi người sự trân trọng những vẻ đẹp và giá trị bình dị, gần gũi của gia đình quê hương.

- Cuộc sống chiến đấu của

ba cô gái thanh niên xung phong ( Phương Định, Nho , Thao), tâm lý

- Ngôi thứ nhất qua điểm nhìn của nhân vật Phương Định

- Truyện ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của ba

cô gái thanh niêm xung phong trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.

Trang 11

Phương Định trong một lần phá bom.

Thống kê theo giai đoạn:

Chống Pháp Miền Bắc Chống Mĩ Hòa Bình

XDXHCN

1945 1954 1966 1975 đến nay

Làng Lặng lẽ Sa Pa - Chiếc lược ngà Bến quê

Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản được phân phối dạy học đều qua cácgiai đoạn từ 1945 đến sau 1975 Ý nghĩa nội dung các văn bản này đều phản ánh đấtnước và con người Việt Nam qua các giai đoạn gắn liền với cuộc đấu tranh chốngPháp, Mĩ và xây dựng CNXH ở miền Bắc

Truyện ngắn giai đoạn này đã phát triển mạnh mẽ và độc đáo theo cáchriêng, với phẩm chất mới về nội dung và hình thức Bằng những nghệ thuật xâydựng tình huống truyện, xây dựng nhân vật sinh động, sắp xếp tình tiết, chọn lọcngôn ngữ truyện vừa thể hiện khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng vừa góp phần đắclực vào sự nghiệp chung; giáo dục tinh thần yêu nước, bồi đắp thêm niềm tin vàđộng viên ý chí chiến đấu, bảo vệ tổ quốc

II MÔ TẢ THỰC TRẠNG:

1 Chương trình SGK:

Văn bản hay nhưng dài Thời lượng theo phân phối chương trình ngắn

Nặng về cung cấp kiến thức, ít chú trọng bồi dưỡng năng lực cho học sinh

2 Giáo viên

Đa số giáo viên đều có ý thức đổi mới phương pháp dạy học, bước đầu vậndụng phương pháp, hình thức dạy học tích cực để phát triển năng lực của người học

Trang 12

Tuy nhiên trong thực tế dự giờ đồng nghiệp và qua phiếu điều tra khảo sátgiáo viên (tham khảo phụ lục 3 ) tôi nhận thấy:

+ GV lựa chọn nội dung dạy học còn ở mức cơ bản, chưa có mở rộng nâng

cao cho học sinh khá, giỏi Giáo viên chưa xác định rõ đâu là vấn đề cần khai thác, khắc sâu? Với tác phẩm đó cần có hệ thống câu hỏi như thế nào để kích thích học sinh tham gia tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm? Hình thành và phát triển năng lực nào cho học sinh?

+ Thường xuyên sử dụng phương pháp truyền thống, ít khi sử dụng phươngpháp dạy học tích cực (nêu vấn đề, đóng vai )

+ Việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề còn nhiều bất cập: Giáo viên quá ham kiếnthức, đơn điệu trong cách nêu vấn đề, thiên về tái hiện, ít có câu hỏi rèn luyện tríthông minh, tư duy sáng tạo của học sinh Câu hỏi trong bài giảng chưa mang tính

hệ thống, chưa có tác dụng liên kết, thậm chí có những câu hỏi lạc ngoài quỹ đạocủa tác phẩm không có tác dụng phát triển năng lực bên trong của học sinh Một sốcâu hỏi yêu cầu nội dung giải đáp quá lớn mà không có gợi ý chi tiết

+ Hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú, đa dạng Dè dặt tổ chức dạyhọc theo chủ đề nâng cao, tích hợp Liên môn hay dạy học dạng đề án

+ Coi nặng việc truyền thụ kiến thức Văn học, ít vận dụng kiến thức của các

bộ môn khác và kiến thức đời sống để giải quyết nội dung bài học

+ Xem nhẹ việc giúp học sinh phát triển năng lực đặc thù trong dạy học Văn

gắn với thực tiễn đời sống Nói một cách khác đó là việc “thổi hơi thở” của cuộc sống vào những kiến thức cổ điển, nâng cao chất lượng “cuộc sống thật” trong các

bài học

3 Học sinh:

Để làm rõ và cụ thể hơn thực trạng học các văn bản truyện hiện đại, tôi đã

xây dựng một phiếu điều tra về tình hình học tập của học sinh ( phụ lục 4 ) và căn

cứ vào bài kiểm tra về kiến thức, kỹ năng trong nội dung các truyện ở học kì I

Tiến hành kiểm tra ở lớp 9A

Tổng số học sinh các khối lớp là: 30 em Dân tộc: 0 Nữ: 20

Theo phiếu điều tra (phụ lục ) :

Ưu điểm:

- Học sinh hiểu kiến thức cơ bản của bài học

Tồn tại:

Trang 13

- Học sinh hiểu bài nhưng chưa hiểu sâu sắc vấn đề, kiến thức còn rời rạc,thiếu sự mở rộng, minh họa, đặc biệt kĩ năng liên hệ, tự bộc lộ còn hạn chế.

- Năng lực chính trong bộ môn Ngữ Văn như của học sinh chỉ đạt ở mứctrung bình, khá

- Hs còn thụ động, lười học dẫn chứng, phụ thuộc vào sách tham khảo Ítđược trải nghiệm, ít vận dụng kiến thức liên quan của các môn học khác và cuộcsống

Theo kết quả bài kiểm tra phần Văn bản (Truyện) học kì I, tôi nhận thấy:

- Hs làm bài thiên về kể hoặc tóm tắt sự việc đơn thuần, ít nhận xét, đánhgiá Ghi nhớ máy móc, dựa dẫm vào giáo viên và tài liệu tham khảo, chưa phát huyđược năng lực suy nghĩ độc lập, năng lực vận dụng kiến thức giải quyết tình huốngtrong thực tế chưa hiệu quả

- Lười học dẫn chứng, chưa biết chọn lọc dẫn chứng đắt (chi tiết nghệ thuậtquan trọng liên quan đến nhân vật), thường không chú ý đặt đoạn trích trong chỉnhthể tác phẩm

- Học sinh mắc lỗi về kĩ năng: Nắm chưa chắc đặc trưng thể loại truyện ngắn,dạng văn nghị luận Vận dụng vào đề cụ thể thường lúng túng Diễn đạt tràn lankhông phù hợp, lạc phong cách Trình bày bài không có luận điểm rõ ràng Thao tácphân tích, tổng hợp còn hạn chế

* Nguyên nhân chính:

- GV còn lúng túng, dè dặt trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hìnhthức tổ chức dạy học

Trang 14

- Học sinh chưa có phương pháp trong học tập phù hợp với đặc trưng kiểuloại.

Từ việc tìm hiểu thực trạng dạy học Văn nói chung và thực trạng học các vănbản truyện Hiện đại (NV9) nói riêng, tôi suy nghĩ cần thiết phải có một phươngpháp giúp các em khắc phục những mặt còn yếu trên, phát huy những điểm mạnh

mà các em vốn có, phát triển năng lực đặc thù của môn Văn và khả năng vận dụngkiến thức đã học vào thực tế cuộc sống

III BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.

Giải pháp 1: Lựa chọn nội dung dạy mở rộng, nâng cao phù hợp, đổi mới

từ cách dạy học truyền thống sang cách dạy đọc- hiểu.

Trong từng phần bài Đọc- hiểu, ngoài những kiến thức cơ bản sách giáo khoa,giáo viên nên lựa chọn nội dung nâng cao, mở rộng để phát huy năng lực tiếp cận vàcảm thụ văn bản của học sinh

Nội dung nâng cao thường là:

- Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sáng tác tác phẩm

- Liên hệ nội dung của tác phẩm với hiểu biết và trải nghiệm của cá nhân, rút

ra bài học cho bản thân

- Đánh giá được giá trị thẩm mỹ ( cái hay, cái đẹp) của tác phẩm, phong cáchcủa nhà văn

- Nhận biết được các yếu tố văn hóa, lịch sử, xã hội, được thể hiện trong vănbản

- So sánh, đánh giá các văn bản cùng một chủ đề hay cùng một tác giả

- Giải thích được nhan đề tác phẩm…

Qua đó HS cắt nghĩa độc đáo về nội dung, giá trị của tác phẩm, thể hiệnnhững suy nghĩ, cảm nhận cá nhân Ngoài ra còn phát huy được những năng lựckhác như: năng lực tự học, tự nghiên cứu

I Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.

1 Tác giả:

Giáo viên định hướng để học sinh tìm hiểu về quê quán, cuộc đời, phong

cách riêng, sự nghiệp sáng tác của từng tác giả để học sinh tự tìm ra kiến thức: Tác

giả đó có phong cách sáng tác riêng gì? Nhà văn có vai trò như thế nào trong nền

Trang 15

văn học Việt Nam? Hoặc Những yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến việc sáng tác tác phẩm? Mặc dù nội dung này các em không cần đưa nhiều vào bài viết song

giúp học sinh cảm nhận một cách đầy đủ; không nhận thức phiến diện, chủ quan,méo mó về tác phẩm và có thể vận dụng trong phần so sánh, liên hệ Hơn nữa khigiao việc về nhà phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của học sinh

Ví dụ: Khi dạy tác phẩm Làng- Kim Lân :

- Khi tìm hiểu về nhà văn Kim Lân chú ý đến quê quán của nhà văn là huyện

Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Do hoàn cảnh gia đình khó khăn ông chỉ được học hết bậc tiểu học, rồi về làm thợ sơn cuốc, khắc tranh rồi viết văn,làm báo, diễn kịch, viết kịch bản phim Ông gắn bó với nông thôn và cuộc sống của người nông dân nên rất

am hiểu về cuộc sống của họ Vì vậy, ông thường viết về cảnh ngộ, tâm lí của những con người gắn bó tha thiết với quê hương và cách mạng Ta thấy thấp thoáng một làng quê Việt Nam nghèo khó, lam lũ mà vẫn có những con người yêu đời, thật thà, chất phát, thông minh, hóm hỉnh, tài hoa Những thú chơi, phong tục cổ truyền của người nông dân vùng đồng bằng Bắc Bộ (như chơi lúa, thả chim, đánh vật, chọi gà) cũng được ông thể hiện rất thành công

- Kim Lân người ta thường xem là “con đẻ của đồng ruộng”, đậm “chất quê” Là cây bút xuất sắc, có tầm vóc, cẩn trọng, tỉ mẩn luôn cố gắng để đi đến tận

cùng nỗi niềm của từng con người, từng số phận riêng, góp một tiếng nói riêng, phong cách riêng trong thể loại truyện ngắn Việt Nam

Nguyên Hồng - bạn tri kỉ của Kim Lân nhận xét: “Ông là nhà văn một lòng

đi về với đất, với người với thuần hậu nguyên thủy của cuộc sống nông thôn, không ướt át một cách bợm bãi, trái lại có một cái gì đó chân chất của đời sống con người”

Ví dụ: Khi dạy tác phẩm Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang Sáng

- Nguyễn Quang Sáng có đóng góp to lớn trong nền văn học Nam Bộ nói riêng và văn học hiện đại Việt Nam nói chung Ông là con người từng trải, cuộc sống chiến đấu với nhiều kỉ niệm sâu sắc đã thôi thúc nhà văn cầm bút Nhà văn tham gia kháng chiến chống Pháp- Mĩ tại chiến trường Nam Bộ

+ Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Văn chương của Nguyễn Quang Sáng là một thứ văn chương hồn hậu mang được hơi thở, phong cách, khẩu khí, phong

độ của người dân Nam Bộ rất rõ và dường như tất cả cái không khí, cuộc sống của

người Nam Bộ, cái quang cảnh của vùng đất Nam Bộ thấm vào Nguyễn Quang Sáng từ rất nhỏ Do đó tôi cảm thấy anh làm văn không hề có cái cầu kì không hề khó đọc Đọc văn của anh, ta cảm thấy như là tiếp xúc với cuộc đời thật, với hơi thở cuộc sống thật, với từng con người mà mình đã gặp ở đâu đó, theo tôi, đây là một

Trang 16

nét đặc sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng” (Nguyễn Quang Sáng – Nhà văn của đồng bằng Nam Bộ, Diễn đàn văn học)

+ Nhà văn Trần Đăng Khoa kết luận: “Trong hơi văn của Nguyễn Quang

Sáng nó sục lên mùi vị của sông nước Tháp Mười, cả cái chất đậm đặc không thể trộn lẫn”.

- Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học khẳng định: “Nguyễn Quang Sáng có biệt tài kể chuyện” Nhờ biệt tài ấy mà ông đã dẫn dắt người đọc đi vào

câu chuyện của mình hết sức tự nhiên và hấp dẫn.

2 Tác phẩm:

- Chú ý đến hoàn cảnh chung và hoàn cảnh riêng sáng tác tác phẩm Mỗi

tác phẩm văn chương luôn luôn ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội văn hóa

cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đivào tác phẩm Hoàn cảnh sáng tác tạo lên chất men xúc tác cho tác phẩm ra đời

+ Hoàn cảnh chung (Hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lớn)

+ Hoàn cảnh riêng (gia đình, bản thân,)

Phải hướng học sinh đặt chúng trong mối quan hệ mật thiết với nhau Phảihiểu hoàn cảnh sáng tác mới có thể hiểu được tình cảm, tư tưởng mà tác giả gửigắm trong tác phẩm

Ví dụ: Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang Sáng :

Hoàn cảnh chung: Sáng tác năm 1966, lúc này cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc bước vào giai đoạn khó khăn và khốc liệt Khi ấy tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ.

Hoàn cảnh riêng: Về hoàn cảnh viết truyện ngắn này, Nguyễn Quang Sáng từng tâm sự: “Năm 1966, tôi từ miền Bắc trở về miền Nam Vùng Đồng Tháp Mười mênh mông nước trắng Tôi đi ghe vào sâu trong rừng và sống ở một nhà sàn treo trên ngọn cây Lúc đó, đoàn giao liên dẫn đường toàn là nữ Tôi rất có ấn tượng với câu chuyện của một cô gái giao liên có chiếc lược ngà trắng Sau khi nghe cô kể chuyện, tôi ngồi viết một ngày, một đêm là hoàn thành tác phẩm này” (Trích Văn 9 không khó như bạn nghĩ)

Ví dụ: Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Làng- Kim Lân :

Hoàn cảnh chung: Sáng tác năm 1948, thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp Chính sách của chính phủ là kêu gọi nhân dân tản cư Những người dân ở vùng tạm chiếm đi lên vùng chiến khu để cùng kháng chiến lâu dài.

Hoàn cảnh riêng: Kim Lân kể lại “ Hồi ấy gia đình tôi cũng đi sơ tán Trên khu ở mới, có tin đồn làng tôi là làng việt gian Mọi người đều nhìn những người

Trang 17

dân làng với con mắt chế giễu, khinh thường Tôi yêu ngôi làng của tôi và không tin dân làng tôi lại có thể đi theo giặc Pháp Tôi viết truyện ngắn Làng như thể để khẳng định niềm tin của mình và minh oan cho làng tôi” (Trích Văn 9 không khó như bạn nghĩ).

- Có thể liên hệ truyện ngắn trong xu hướng sự phát triển của văn học.

Ví dụ: Bến quê- Nguyễn Minh Châu trong xu hướng văn học thời kì đổi mới

(sau 1975) : hướng nội, khai thác sâu số phận cá nhân và thân phận con người đời thường Qua đó chứa đựng nhiều suy nghĩ, phát hiện của tác giả về đời sống, con người và nghệ thuật.

II Đọc- hiểu văn bản:

1 Đọc Là khâu quan trọng trong quá trình cảm thụ và phân tích văn học Khi

đọc tác phẩm truyện cần bắt đúng giọng của nhân vật, ngữ điệu để làm sáng rõ từng

ý nghĩa, tình cảm, thái độ, tâm trạng mà nhà văn muốn gởi tới người đọc, ngườinghe Để phát huy năng lực đọc diễn cảm GV cần hướng dẫn kĩ khâu này cả ở trênlớp và ở nhà

Cần đọc kĩ văn bản ở nhà, đánh dấu những từ ngữ, những chi tiết khó hoặckhông hiểu để hỏi GV Đọc xong, cần tìm hiểu những chi tiết đặc sắc về nội dung vànghệ thuật của tác phẩm Nêu hướng đọc đối với từng điểm nhấn trong lời thoại

Ở lớp:

- Giáo viên: Cần phải có sự chuẩn bị kĩ, phải đọc đúng, đọc hay, đọc thật

diễn cảm, bộc lộ được cảm xúc của nhà văn Người giáo viên có thể có nhiều hìnhthức hướng dẫn học sinh đọc: đọc mẫu, hướng dẫn học sinh đọc, vừa đọc vừa bìnhvừa tóm tắt tác phẩm, đọc phân vai

- Học sinh: Yêu cầu học sinh phải đọc đúng, đọc diễn cảm ở nhà trước, khi

đến lớp thầy hướng dẫn học sinh cách đọc, khơi gợi cảm xúc của các em, khích lệcác em đọc một cách hứng thú

Ví dụ: Gọi 2 học sinh đọc tiếng Ba a a ba! (Trong Chiếc lược ngà ).

Sau đó cho học sinh khác nhận xét và bình luận về tiếng kêu ấy của bé Thu.

- Nhận xét: Đó là tiếng ba ngân dài Không tròn vành mà ngập ngừng, đứt quãng.

- Bình luận: Một đứa trẻ khi mới tập nói thì tiếng nói đầu tiên của nó sẽ là tiếng ba ( sau tiếng bà và tiếng mẹ) Nhưng đối với bé Thu phải mất 8 năm em mới được gọi ba Tiếng kêu ấy đã dồn nén trong nhiều năm giờ vỡ òa Tiếng kêu ấy không phải là biểu hiện của sự sợ hãi mà là tiếng kêu của tình yêu thương ruột thịt.

2 Tóm tắt:

Trang 18

Sau khi học sinh đã đọc và nắm được nội dung tác phẩm GV hướng dẫn họcsinh tóm tắt văn bản Đây là một khâu không thể thiếu trong phần tiếp nhận văn bản,nhất là đối với phần văn bản truyện.

Một số kĩ năng cần áp dụng trong tóm tắt văn bản:

- Xác định ý chính, nội dung của mỗi đoạn văn và văn bản

- Diễn đạt lại các ý chính và nội dung đó bằng một vài câu thích hợp

- Dùng các từ ngữ thích hợp để liên kết các câu lại với nhau thành một vănbản nhỏ

Các thao tác tóm tắt:

- Học sinh gấp sách

- GV định hướng: Truyện có mấy nhân vật? Nhân vật nào là chính? Nhân vật

nào là phụ? Truyện nói về vấn đề gì? Mở đầu truyện là gì ? Diễn biến ra sao? Kếtthúc như thế nào?

- Học sinh vẽ sơ đồ (hoặc sơ đồ tư duy) theo trí nhớ

(Nhớ lại đặc điểm từng nhân vật, thêm chi tiết, thêm lời thoại.)

Học sinh phải thuộc và nhớ được những câu văn, dẫn chứng đặc sắc

Một số lưu ý khi tóm tắt văn bản:

- Diễn đạt càng ngắn gọn, càng súc tích càng tốt, loại bỏ những thông tinkhông cần thiết đối với mục đích tóm tắt

- Văn bản tóm tắt phải luôn phản ánh trung thực nội dung văn bản gốc,không thêm thắt những nội dung không có trong văn bản gốc

- Người tóm tắt cần diễn đạt theo cách riêng của mình, tránh đến mức tối đadùng lại các câu, đoạn trong văn bản gốc Nên dùng câu đủ thành phần

3.Thể loại:

- Đặc điểm thể loại truyện ngắn từng giai đoạn, có điểm gì khác so với giaiđoạn trước đó Phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết

Ví dụ: Biểu hiện truyện ngắn giai đoạn sau 1975 (Bến quê) có điểm khác

với giai đoạn trước đó là thường chú ý đến nội tâm hơn là vẻ bên ngoài, chú trọng độc thoại nội tâm, tạo giọng điệu.

4 Tìm hiểu, phân tích văn bản:

- Sáng tạo tình huống truyện:

Trang 19

Nếu như cấu tứ, mạch cảm xúc là điểm tựa để người đọc khám phá và tìmhiểu một bài thơ thì tình huống truyện chính là yếu tố tạo những bất ngờ và làm nênnét độc đáo cho câu chuyện Tình huống truyện là hoàn cảnh bất bình thường màcon người buộc phải bộc lộ bản lĩnh, tính cách của mình Trong tác phẩm truyện tìnhhuống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện số phận và tính cách nhânvật, là một trong những vấn đề cốt lõi, là chìa khóa khi khám phá tác phẩm Tìnhhuống càng độc đáo, lạ thì tác dụng thuyết phục càng cao, càng hấp dẫn người đọc.

Vì vậy, khi phân tích truyện - nhất là ở những tác phẩm hay, đặc sắc mà GV khôngthể bỏ qua việc phân tích tình huống truyện Tuy nhiên, tùy vào từng tác phẩm cụthể mà giáo viên có những định hướng phân tích khác nhau

Gợi ý các bước để xác định và phân tích tình huống truyện:

Bước 1: Học sinh nêu khái niệm và vai trò của tình huống truyện

Bước 2: Từ cách hiểu khái niệm tình huống truyện và căn cứ vào các tình tiết

trong truyện, hãy chỉ ra các chi tiết, tình tiết tạo nên tình huống? Hiệu quả nghệthuật của tình huống đó trong việc bộc lộ tính cách nhân vật, phát triển cốt truyện,thể hiện chủ đề TP?

Phân tích các phương diện cụ thể của tình huống và ý nghĩa của tình huống đóTình huống 1:………Ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm

Tình huống 2:……… Ý nghĩa và tác dụng đối với tác phẩm

Bước 3: Đánh giá, bình luận chung về ý nghĩa của tình huống truyện với sự

thành công của tác phẩm

Bước 4: Có thể nêu cảm nhận của bản thân về tình huống đó.

Ví dụ: Tác phẩm Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang Sáng

Bước 1: Học sinh nêu khái niệm và vai trò của tình huống truyện

Bước 2: Giới thiệu tình huống truyện

+ Tình huống 1: Hai cha con gặp nhau sau tám năm xa cách nhưng bé Thu

không nhận cha, đến lúc em nhận lại và biểu lộ tình cảm thắm thiết thì ông Sáu phải

ra đi.->Bộc lộ tình yêu thương mãnh liệt của bé Thu đối với cha

+ Tình huống 2: Ở khu căn cứ, ông Sáu dành tất cả tình thương và mong nhớ

đứa con vào việc làm cây lược ngà để tặng con nhưng ông đã hy sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái ->Thể hiện tình cảm sâu sắc của cha đối với con.

Bước 3: Tình huống khá bất ngờ nhưng tự nhiên và hợp lý Không chỉ tạo

nên sự cuốn hút, hấp dẫn người đọc mà còn thể hiện chủ đề tác phẩm: ca ngợi tình cảm cha con thắm thiết, sâu nặng nhưng gặp nhiều éo le trắc trở trong chiến tranh

Trang 20

Bước 4: Gợi cho em nghĩ đến và thấm thía những đau thương và mất mát mà

chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người và bao nhiêu gia đình Từ đó trân trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hiện đại.

- Phân tích nhân vật: Nhân vật trong tác phẩm là người chở nội dung, phản

ánh tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhânsinh của nhà văn Bởi thế, phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất

để đi đến giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm

mĩ của nhà văn

Cách 1: Phân tích theo đoạn đời của nhân vật

Cách 2: Phân tích theo từng nét tính cách, phẩm chất của nhân vật

Không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiện đầy đủ cácphương diện (lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, cử chỉ, hành động, qua lời củanhân vật khác) Tùy trường hợp mà có chỗ nhiều, chỗ ít, chỗ đậm, chỗ nhạt Bởi thế,không phải cứ máy móc tìm đủ, phân tích đủ mà cần biết tập trung, xoáy sâu vào cácphương diện thành công nhất của tác phẩm

Ví dụ: Nếu nhân vật anh thanh niên trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa” chỉ là

“một bức chân dung” (theo cách nói của tác giả) hiện lên chủ yếu qua cảm xúc và suy nghĩ cùng thái độ cảm mến của các nhân vật phụ thì “Làng” đặc biệt thành công ở nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật; Những nhân vật: bé Thu trong (Chiếc lược ngà), Phương Định (trong Những ngôi sao xa xôi), lại là những nhân vật được khắc họa khá rõ về tính cách và nội tâm; Còn Nhĩ (trong Bến quê) là loại nhân vật tư tưởng để tác giả gửi gắm những chiêm nghiệm, triết lí về cuộc sống

và con người.

Gợi ý phân tích nhân vật:

- Cho dù ở cách nào khi phân tích nhân vật có thể chọn những nét tiêu biểunhất về lai lịch, số phận, cuộc đời, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, mối quan hệ vớicác nhân vật khác, cử chỉ, hành động để làm rõ tính cách, phẩm chất, số phận củanhân vật

- Cần chú ý đến nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của nó

- Đánh giá nhân vật đối với sự thành công của tác phẩm, của văn học dân tộc

- Cảm nhận của bản thân về nhân vật đó

Ví dụ: Lai lịch là thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình Nhân vật ông

Hai, người nông dân làng chợ Dầu vốn gắn bó với mảnh đất “chôn nhau cắt rốn”, từng yêu nó như máu thịt, người thân Thế nên, khi chạm mặt với “thử thách”, thì tình yêu ấy cháy bùng lên dữ dội hơn bao giờ hết…Rõ ràng, cái “lai lịch” của ông

Trang 21

Hai có ảnh hưởng rất quan trọng, logic đến tính cách của ông sau này Có thể nói, tính cách, số phận nhân vật được lí giải một phần bởi thành phần xuất thân, hoàn cảnh gia đình.

Ví dụ: Trong văn học, miêu tả ngoại hình chính là một biện pháp của nhà văn

nhằm hé mở tính cách nhân vật Phần lớn trường hợp, đặc điểm tính cách, chiều sâunội tâm(cái bên trong) của nhân vật được thống nhất với ngoại hình ( vẻ bên ngoài)

- Nhân vật Phương Định (Những ngôi sao xa xôi) được miêu tả là cô gái khá, với “hai bím tóc dày tương đối mềm một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn”, còn đôi mắt thì các anh lái xe bảo “Cô có cái nhìn sao mà xa xăm?” Vẻ đẹp hình thức đó của Phương Định đã giúp người đọc cảm nhận được tâm hồn nhạy cảm, mơ mộng của cô gái Hà Nội này.

- Anh thanh niên trong truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa”( Nguyễn Thành Long) chỉ được tác giả lướt qua với nét tả ngoại hình: nụ cười thường trực trên môi, cũng

đủ để giúp người đọc cảm nhận được một tâm hồn yêu sống, lạc quan, cởi mở chân thành…

Ví dụ: Phẩm chất, tính cách của con người bộc lộ chân xác, đầy đủ nhất qua

cử chỉ, hành động Cần chú ý các hành động, sự việc chính, các biến cố, tâm trạngthái độ tiêu biểu của nhân vật

Khi phân tích nhân vật ông Hai ( Làng- Kim Lân) ta nên chú ý đến chi tiết ông Hai mắc tật hay khoe Theo ông thì cái gì của làng Chợ Dầu quê ông cũng hơn hẳn thiên hạ Mỗi khi nói đến cái làng Chợ Dầu ông đều kể bằng giọng say mê náo nức lạ thường “ Nào là làng mình nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh; nào là đường làng toàn lát đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối làng không hề lấm gót… ” Ông Hai còn báo với mọi người cái tin làng ông bị giặc phá, khoe nhà ông

bị giặc đốt: “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ Đốt nhẵn…”

=> Miêu tả những cử chỉ, hành động ấy của nhân vật nhà văn đã làm nổi bật niềm

tự hào, hãnh diện về làng mình của ông Hai.

Chú ý đến nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của nó.

+ Độc thoại nội tâm: thế giới bên trong con người với những cảm giác, cảm

xúc, tình cảm, suy nghĩ…GV cần định hướng để học sinh tìm ra kiến thức : Hình

thức này trong đoạn trích có tác dụng như thế nào trong việc khắc hoạ những diễn biến tâm lí của nhân vật và thể hiện chủ đề tác phẩm ?

Ví dụ: Cái tin làng theo Tây đã khiến ông Hai từ bàng hoàng, sững sờ đến

xấu hổ, trở thành một nỗi ám ảnh day dứt trong lòng ông, khiến ông vô cùng đau khổ Để rồi trong tâm trí ông Hai đã diễn ra một cuộc xung đột dữ dội.

Trang 22

- Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ trào ra Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu… Ông lão nắm tay lại mà rít lên: Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này!

- Có lúc ông ngồi lặng trên một góc giường mà suy nghĩ “Hay là quay về làng?” và lập tức phản đối ngay: “ Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” Khi mụ chủ nhà có ý muốn đuổi gia đình ông đi, rơi vào bế tắc tuyệt vọng, không biết đi đâu, nhưng ông quyết không về làng vì ông nghĩ “ về làng tức

là chịu làm nô lệ cho thằng Tây”

- Ý nghĩa : Cho thấy những biến chuyển tâm lí trong con người ông Hai, có tác dụng lớn trong cho việc thể hiện chủ đề tác phẩm :tình yêu nước rộng lớn đã bao trùm lên tình cảm làng quê

+ Ngôn ngữ của nhân vật trong tác phẩm truyện thường được cá thể hóa cao

độ, nghĩa là mang đậm dấu ấn của một cá nhân Qua đó ta có thể nhận ra tính cách

của nhân vật

Ví dụ: Ngôn ngữ của Ông Hai trong truyện ngắn “Làng” thật mộc mạc giản

dị, giàu tính khẩu ngữ và là lời ăn tiếng nói của nông dân: “ Các ông, các bà ở đâu

ta lên đấy ạ?”, “ Thì vưỡn! Lúa dưới ta tốt nhiều chứ?” Đặc biệt là những lời độc thoại, độc thoại nội tâm của ông Hai… Ngôn ngữ ấy đã góp phần khắc họa tính cách thẳng thắn, bộc trực, chất phác của ông Hai.

+ Nhà văn để cho nhân vật tự nêu suy nghĩ hoặc mượn suy nghĩ, lời nói,đánh giá của các nhân vật khác về nhân vật chính để nhân vật ấy không chỉ hiện ramột cách tự nhiên mà còn được soi chiếu, đánh giá từ cái nhìn và cảm xúc kháchquan của những nhân vật khác

Ví dụ: Trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa, nhà văn Nguyễn Thành Long đã để

cho ông hoạ sĩ nghĩ về anh thanh niên như sau: Người con trai ấy đáng yêu thật, nhưng làm cho ông nhọc quá Với những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh Và

về những điều anh suy nghĩ trong cái vắng vẻ vòi vọi hai nghìn sáu trăm mét,cuồn cuộn tuôn ra khi gặp người Những điều suy nghĩ đúng đắn bao giờ cũng có những vang âm, khơi gợi bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác, có sẵn mà chưa rõ hay chưa được đúng

Nêu rõ những điều anh suy nghĩ và những điều làm cho người ta suy nghĩ về anhtrong truyện ngắn Từ đó gợi cho em những bài học gì về cách sống đẹp ?

Những điều anh suy nghĩ :

- Anh suy nghĩ về hoàn cảnh làm việc, công việc mình làm: (Khi ta làm việc,

ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được; công việc của cháu gian khổ thế

Trang 23

đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất) Anh đã vượt lên hoàn cảnh bằng những suy nghĩ rất đẹp, giản dị mà sâu sắc về công việc, về cuộc sống Anh thấy được ý nghĩa cao quý trong công việc thầm lặng của mình

- Anh thực sự cảm thấy hạnh phúc khi biết những việc mình làm đã góp một phần nhỏ giúp cho không quân bắn rơi máy bay Mĩ (từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc) Điều này giúp anh hiểu được ý nghĩa lớn lao của cuộc cuộc sống

- Anh suy nghĩ về những con người đang sống xung quanh anh: ông kĩ sư nông nghiệp cần mẫn ngày này qua ngày khác thụ phấn cho hàng vạn cây su hào với mong ước để củ su hào nhân dân toàn miền Bắc nước ta ăn được to hơn, ngọt hơn trước; anh cán bộ nghiên cứu sét mười một năm không một ngày xa cơ quan để quyết tâm hoàn thành cho được bản đồ sét

- Đó là những con người làm cho anh thanh niên thấy cuộc đời đẹp quá Và anh mơ ước được làm việc trên trạm đỉnh Phan xi phăng, nơi lí tưởng để làm công việc khí tượng

-> Qua những suy nghĩ của anh thanh niên, nhà văn đã ca ngợi và khẳng định vẻ đẹp của con người lao động, của lí tưởng sống dựng xây Tổ quốc.

Những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh :

- Với ông hoạ sĩ già: anh đã làm cho ông xúc động mạnh, khiến ông đi hết ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và làm cho trái tim mệt mỏi của ông trở nên khao khát, yêu thêm cuộc sống Ông quyết định quay trở lại nơi này để hoàn thành bức vẽ chân dung anh

- Với cô kĩ sư trẻ: Anh đã làm cho cô cảm động và bị cuốn hút ngay từ giây phút đầu tiên gặp, làm cho cô hiểu thêm cuộc sống một mình dũng cảm tuyệt đẹp của anh, hiểu thêm cái thế giới những con người như anh Anh đã giúp cô nhìn nhận lại bản thân mình, giúp cô yên tâm hơn về quyết định của mình, và trên tất cả

là những háo hức và mơ mộng mà anh đã trao cho cô Cô gái chia tay anh bằng một ấn tượng hàm ơn khó tả

-> Qua những suy nghĩ của các nhân vật ông hoạ sĩ, cô kĩ sư, nhà văn nhấn mạnh ý nghĩa lớn lao của những công việc thầm lặng Đó là những suy nghĩ đẹp, cách sống đẹp.

Mở rộng, nâng cao

- Những điều anh suy nghĩ và những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh chính là những suy tư trăn trở của nhà văn trước cuộc đời Ý nghĩa ấy được gửi gắm qua hình thức một câu chuyện nhẹ nhàng, giầu chất thơ Từ những suy nghĩ ấy,

Trang 24

rút ra cho bản thân những bài học về cách sống cao đẹp (Sống cống hiến, sống có mục đích, lí tưởng…)

- Đặt đoạn trích trong chỉnh thể của tác phẩm:

Chúng ta không thể khen Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng ) hay khi đã đọcđược nửa truyện; không thể khen Kim Lân tài khi mới đọc đến đoạn ông Hai đi tản

cư Chỉnh thể văn bản nghệ thuật không phải là một số cộng đơn thuần từ các yếu tố

mà thành Nó là một chỉnh thể sống động, trong đó các yếu tố quy định, phối hợplẫn nhau và thổi sức sống vào cho nhau

Do những hoàn cảnh đặc thù của trích giảng văn học, những người làm sáchphải in nhỏ toàn bộ văn bản ở những phần không được trích giảng Vì vậy, trong khiphân tích, bình giảng tác phẩm, phải chú ý đến mối quan hệ giữa từng yếu tố, bộphận với toàn thể cấu trúc Không nên sa vào những yếu tố cô lập, tách chúng rakhỏi những mối liên hệ với các yếu tố khác và với toàn thể chỉnh thể tác phẩm, từ đó

dễ đánh mất ý nghĩa khái quát của tác phẩm Ngược lại, cũng không vì chú ý đếntoàn thể mà bỏ quên hoặc xem nhẹ các yếu tố, không nhìn thấy vai trò của chúngtrong việc tạo ra ý nghĩa chiều sâu của văn bản

Ví dụ: Khi phân tích ý nghĩa của hình ảnh “Chiếc lược ngà” ngoài ý nghĩa:

- Là kỉ vật, là minh chứng cho lòng yêu thương vô bờ bến của ông Sáu đối với con.

- Là biểu tượng của tình cha con thiêng liêng, bất diệt.

- Là nhân chứng, là nỗi đau của sự mất mát, đau thương trong chiến tranh.

- Là niềm hi vọng, tin tưởng của con người trong hoàn cảnh chiến tranh xa cách, khốc liệt, éo le

Thì còn một ý nghĩa nữa là cầu nối tình cảm giữa bác Ba và bé Thu-“ một tình cảm giống như tình cha con đã nảy nở giữa họ” - khi bác Ba tình cờ gặp lại

bé Thu trong một trạm giao liên ở vùng Đồng Tháp Mười.

Như vậy khi tìm hiểu văn bản giáo viên phải chú ý đến phần cuối (chữ nhỏkết thúc truyện) trong sách giáo khoa Nghĩa là không tách rời đoạn trích với phầncuối của tác phẩm

- Cần biết so sánh tương đồng và so sánh tương phản để làm sáng rõ tác phẩm trong tương quan với tác phẩm khác

Thông thường, lập luận so sánh trong bình luận văn học là đối chiếu hai haynhiều tác giả, văn bản, hình tượng, chi tiết nghệ thuật… để thấy được những điểmgiống và khác nhau; từ đó thấy rõ giá trị của các đối tượng được phân tích, đánh giá

So sánh để làm nổi bật những nét giống nhau gọi là so sánh tương đồng, so sánh để

Trang 25

chỉ ra sự khác biệt gọi là so sánh tương phản So sánh giúp cho người học có nhữngđánh giá nổi bật, sáng rõ, cụ thể, sinh động và giàu sức thuyết phục.

Để có được những phân tích, cảm nhận sâu sắc từ việc so sánh, học sinh phải

có nền hiểu biết rộng về văn chương, về đời sống xã hội; nhưng quan trọng hơn vẫn

là khả năng của tầm liên tưởng và nhạy bén phát hiện

Nội dung so sánh

+ Trong phạm vi tìm hiểu về tác giả: có thể so sánh tác giả này và tác giả

khác cùng thời để làm nổi bật phong cách nhà văn

Ví dụ: So sánh Kim Lân với Nam Cao, Vũ Trọng Phụng.

+ So sánh giữa các giai đoạn sáng tác để thấy được sự vận động, thay đổi về

đề tài, chủ đề tư tưởng trong sự nghiệp sáng tác của một nhà văn.

Ví dụ: Nguyễn Minh Châu trước và sau 1975 Nếu như trước 1975 khuynh

hướng viết sử thi, lãng mạn Sau năm 1975 tập trung khai thác mảng đề tài đời tư,nội tâm của con người, những suy nghĩ, trăn trở về cuộc sống, con người và nghệthuật

+ Trong phạm vi tìm hiểu về tác phẩm:

So sánh các tác phẩm ra đời cùng thời nhưng có điểm khác về đề tài

Ví dụ: Trong bài thơ Đồng chí – Chính Hữu, bài thơ về Tiểu đội xe không

kính- Phạm Tiến Duật ta thấy được những gian khổ, khốc liệt của cuộc sống, chiến đấu Cũng viết về đề tài này nhưng Nguyễn Quang Sáng không viết về bom rơi, đạn

nổ trên chiến trường mà lại viết về chia li, xa cách trong đời sống tình cảm của con người trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.

Các tác phẩm có điểm chung về đề tài nhưng khác biệt về thời gian và không gian sáng tác để thấy được sự gặp gỡ kì lạ về tình cảm, tư tưởng của con

người trong văn chương

Ví dụ: So sánh hình ảnh người nông dân qua hai tác phẩm “Lão Hạc” của

Nam Cao và “Làng” của Kim Lân?

Ví dụ: Trong phần tổng kết giảng dạy có học sinh hỏi tôi:

Tại sao các nhân vật trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa đều được đặt tên bằng các danh từ chung như: anh thanh niên, cô kĩ sư, ông họa sĩ, bác lái xe, nhà nghiên cứu khoa học, ông kĩ sư vườn rau…? Cách đặt tên như vậy có ý nghĩa gì? (Khẳng định tính điển hình của các nhân vật, họ không phải chỉ là những con người cụ thể

Trang 26

mà là đại diện cho một lớp người đang ngày đêm lao động và cống hiến cho tổ quốc Ngoài ra cách đặt tên như vậy nhấn mạnh được những cống hiến âm thầm và lặng lẽ Họ đâu cần phải ghi danh)

Như vậy, đó là những phát hiện hợp lí mà trong quá trình phân tích giáo viên

do thời lượng mà đôi khi Gv thường hay bỏ qua

- Mỗi tác phẩm có những đặc sắc nghệ thuật riêng nhưng trong các văn bản

truyện Hiện đại cần chú ý giải thích ý nghĩa nhan đề của tác phẩm Vì nhan đề là

yếu tố đầu tiên biểu hiện tư tưởng, chủ đề của tác phẩm mà nhà văn gởi gắm Đôikhi nhan đề chính là điểm sáng về nghệ thuật cần khai thác Nhan đề nêu lên đề tàicủa tác phẩm (Làng- Kim Lân), nhan đề gởi gắm một thông điệp (Bến quê- NguyễnMinh Châu)…

Ví dụ: Giải thích tên nhan đề tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa

- Khi nhắc đến Sa Pa người ta nghĩ ngay đến vẻ yên tĩnh của một nơi nghỉ ngơi lí tưởng Nhưng đằng sau cái vẻ lặng lẽ của Sa Pa là cuộc sống sôi nổi của những con người đầy trách nhiệm đối với công việc, đối với đất nước( anh thanh niên, bác kĩ sư, người nghiên cứu sét )

=>Tác giả tạo sự đối lập giữa nhan đề và nội dung tác phẩm để làm nổi bật

ý nghĩa mà tác giả muốn gởi gắm

(Tương tự giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề các tácphẩm khác: Chiếc lược ngà, Làng, Những ngôi sao xa xôi…)

b Nội dung:

- Ngoài những cách tổng kết nội dung bài như: học sinh nhắc lại nội dung, ýnghĩa tác phẩm qua hệ thống câu hỏi của giáo viên, làm bài tập vận dụng hoặc sửdụng trò chơi ô chữ để tổng kết…

- Giáo viên có thể cho học sinh tổng kết bằng sơ đồ tư duy

+ Hình thức 1: Học sinh trình bày lại kiến thức bằng sơ đồ tư duy

+ Hình thức 2: Điền kiến thức vào ô trống trên bản đồ tư duy

+ Hình thức 3: Lắp ghép bằng bản đồ tư duy

+ Hình thức 4: Chung sức vẽ bản đồ tư duy (ở nhà)

+ Hình thức 5: Vẽ bản đồ tư duy bằng gợi dẫn hình ảnh của GV

- Học sinh nêu nhận xét, phát biểu cảm tưởng và nói về ý nghĩa của tác phẩmđối với các em Chú ý khơi gợi để học sinh thể hiện thái độ hay nói về những lựachọn hành xử có thể có khi đặt mình vào hoàn cảnh của nhân vật, liên hệ bối cảnhcủa tác phẩm với những trải nghiệm của các em

Trang 27

Giải pháp 2: Kết hợp các phương pháp dạy học tích cực Phát huy ưu thế của phương pháp nêu- giải quyết vấn đề và phương pháp đóng vai.

2.1 Phương pháp nêu – giải quyết vấn đề.

Dạy học nêu vấn đề là một trong những PPDH, trong đó GV nêu lênnhững nghi vấn để hướng sự suy nghĩ tích cực, có định hướng của học sinh nhằmtạo nên tình huống có vấn đề, tổ chức, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, nêuthắc mắc, gợi suy nghĩ, tập trung chú ý, đánh giá phản hồi, tổ chức học tập mộtcách chủ động, sáng tạo, nỗ lực để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh trithức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác

Câu hỏi NVĐ trong dạy học Văn phải Phù hợp với chủ đề bài học, với trình

độ nhận thức và gần gũi với cuộc sống thực của học sinh Tình huống có vấn đề cóthể đặt ở dạng câu hỏi NVĐ hay qua tiểu phẩm đóng vai của học sinh, có độ dài vừaphải, chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho học sinh nhiều hướngsuy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề

Gợi ý cách đặt câu hỏi theo dạng:

- Vì sao không A mà lại B

Khi phát hiện được một tín hiệu nội dung hay một tín hiệu nghệ thuật nào đótrong tác phẩm có tính chất kì lạ, bất thường ta vận dụng dạng câu hỏi trên để khơigợi năng lực sáng tạo, khám phá của Học sinh

Ví dụ 1: Khi đọc tác phẩm Làng của Kim Lân có người đặt câu hỏi: Tại

sao câu chuyện xoay quanh diễn biến tâm trạng, tình cảm của ông Hai lại được tác giả đặt tên là Làng? Cách đặt tên như vậy có ý nghĩa gì? (Hoặc Tại sao không đặt

là ông Hai mà lại đặt tên là Làng?)

Ví dụ 2: Tại sao câu chuyện kể về cuộc sống sôi nổi, ngày đêm lao động hăng

say của những con người đầy trách nhiệm đối với công việc như: Anh thanh niên, bác kĩ sư vườn rau, người nghiên cứu sét lại được tác giả đặt tên là Lặng lẽ Sa Pa Cách đặt tên như vậy có ý nghĩa gì? (Hoặc tại sao không đặt tên nhan đề là anh thanh niên mà lại đặt là Lặng lẽ Sa Pa)

Dạng câu hỏi tái hiện tương đương: Giải thích ý nghĩa nhan đề tác phẩm

“Làng”, “Lặng lẽ Sa Pa” Như vậy chúng ta thấy bản chất của câu hỏi vấn đề

thường có tính chất phức tạp về nội dung Nó chứa những băn khoăn, thắc mắc,những bế tắc mà học sinh gặp phải trên con đường nhận thức Nếu muốn nhận thứctiếp phải giải quyết vấn đề đó

- Đặt câu hỏi theo dạng thức lựa chọn A hay B.

Trang 28

Tình huống lựa chọn là tình huống xuất hiện khi có nhiều ý kiến khác nhau vềmột vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất.

Ví dụ: Có bạn học sinh nói “theo bạn chỉ có thể lấy cái tên “Ông Hai” đặt

tên cho tác phẩm “Làng” Bạn khác lại cho rằng: “nên đặt nhan đề là Làng Chợ Dầu” Một bạn khác lại đồng ý với cách đặt tên nhan đề của tác giả Em thấy ý kiến

đó như thế nào? (Đặt câu hỏi tương tự trong văn bản Lặng lẽ Sa Pa: anh thanh niên, cuộc gặp gỡ tình cờ ).

- Đặt câu hỏi theo dạng thức so sánh với các tư liệu liên quan hay kiến thức

thực tế với tác phẩm đang phân tích

Ví dụ: So sánh hình ảnh người nông dân qua hai tác phẩm “Lão Hạc” của

Nam Cao và “Làng” của Kim Lân? Từ đó chỉ ra những phát hiện độc đáo của Kim Lân về những chuyển biến mới trong tình cảm của người nông dân Việt Nam thời

kì kháng chiến chống Pháp.

- Đặt câu hỏi dưới dạng thức giả định: giúp các em rèn luyện được cách ứng

xử, thấy được hành vi cao đẹp của nhân vật văn học để tu dưỡng, rèn luyện đạo đứcphát triển tính cách Đó là nội dung quan trọng trong mục đích giáo dục nói chung

và văn học nói riêng

Ví dụ: Nếu em là anh thanh niên em có chọn cuộc sống một mình trên đỉnh

Yên Sơn cao 2400 mét không?

Ví dụ: Nếu được chứng kiến bé Thu trong đêm bỏ về nhà ngoại, em sẽ giải

thích và khuyên em như thế nào?

Ví dụ: Chiến tranh đã kết thúc song trong cuộc sống hiện đại còn rất nhiều

gia đình chịu nhiều thiệt thòi, mất mát hoặc chia li Nếu em gặp phải hoàn cảnh xa cách giống bé Thu và ông Sáu, em sẽ có hành động gì? (Ướm thử số phận-> nếm trải cảm xúc-> trải nghiệm)

Đặt câu hỏi tổng hợp, khái quát:

Ví dụ: Qua hai tác phẩm “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến

Duật và đoạn trích truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê, em có cảm nhận như thế nào về tuổi trẻ Việt Nam trong sự nghiệp chống Mĩ cứu nước?

Các bước thực hiện dạy học giải quyết vấn đề:

- Bước 1: Đưa ra vấn đề

Gv đưa ra nhiệm vụ và tình huống Đưa ra mục đích của hoạt động

- Bước 2: Nghiên cứu vấn đề

HS sẽ nghiên cứu tài liệu, thu thập hiểu biết

Trang 29

- Bước 3: Giải quyết vấn đề

Đưa ra lời giải, đánh giá, lựa chọn phương án tối ưu

- Bước 4: Vận dụng

Vận dụng kết quả để giải quyết bài tình huống, vấn đề tương tự

Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp nêu- giải quyết vấn đề:

- Trước hết người giáo viên phải nắm vững kiến thức, sau đó mới nghĩ tới các

phương pháp xây dựng tình huống có vấn đề

- Tạo được cho học sinh tâm thế thoải mái, hứng thú và sẵn sàng hợp tác để đi vàotìm hiểu tác phẩm Học sinh được đưa dần vào tình huống có vấn đề Trong quátrình hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề có thể đưa thêm câu hỏi phụ, khơi gợihọc sinh duy trì hứng thú tìm tòi

- Chú ý tính chất hệ thống và chặt chẽ giữa các vấn đề với nhau và các yếu tốkhác trong quá trình phân tích tác phẩm

- Khi vận dụng dạy học nêu vấn đề không tuyệt đối hóa hay cô lập hóa nókhỏi phương pháp truyền thống mà người giáo viên cần phải biết vận dụng và phốihợp nhịp nhàng khéo léo phương pháp dạy học nêu vấn đề với các phương pháp dạyhọc khác

Ví dụ: Đóng vai bé Thu kể lại tâm trạng trong đêm em về nhà ngoại.

Đóng vai ông Sáu kể lại tâm trạng của mình trong ba ngày nghỉ phép.

Yêu cầu HS đóng vai người kể chuyện để sáng tạo lời nói, ý nghĩ nhân vậttheo quan điểm của mình

Ví dụ: Nếu em là tác giả thì em sẽ để cho nhân vật nói gì, suy nghĩ gì, hành

động như thế nào trong hoàn cảnh đó ?

Yêu cầu HS đặt lại tên tác phẩm, viết tiếp hoặc viết lại đoạn cuối của câuchuyện

Trang 30

Ví dụ: Em có cảm thấy thỏa mãn với cách kết thúc truyện Chiếc lược ngà hay

không? Em thử hình dung xem số phận các nhân vật sau đó sẽ như thế nào (bé Thu, ông Sáu, bác Ba).

Yêu cầu HS đặt mình vào vị trí nhân vật và hình dung thái độ, phản ứng củamình trước các sự kiện

Ví dụ: Nếu em là nhân vật A, em sẽ hành động, phản ứng như thế nào trong

hoàn cảnh đó?

Yêu cầu HS diễn tả lại hành động, tâm trạng nhân vật, đọc diễn cảm đoạn văn,

vẽ lại bức tranh mà tác giả đã miêu tả trong tác phẩm theo tưởng tượng của bảnthân

Ví dụ: Em hãy vẽ lại bức tranh thiên nhiên Sa Pa mà Nguyễn Thành Long

miêu tả trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa.

Tác dụng của phương pháp đóng vai

- Gây được hứng thú và sự chú ý cho người học.

- Rèn cho học sinh tính mạnh dạn, tự tin khi đứng trước đông người.

- Đóng vai khích lệ thay đổi thái độ, hành vi của người học theo hướng định

trước Ta có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vaidiễn

- Phương pháp đóng vai buộc giáo viên và học sinh phải dành thời gian để

chuẩn bị bài trên lớp Điều đó sẽ nâng cao được hiệu quả giờ dạy, học bộ môn

Các bước tiến hành: Phương pháp đóng vai có thể thực hiện dưới dạng hoạt

cảnh tình huống để giới thiệu bài hay để tìm hiểu mục đặt vấn đề Phương phápđóng vai có thể xây dựng thành tiểu phẩm để củng cố bài học Nghĩa là ở mỗi phầncủa bài học chúng ta đều có thể sử dụng phương pháp đóng vai tuỳ theo nội dung vàmục đích của bài dạy

Để phương pháp đóng vai thực sự có hiệu quả ta cần tiến hành theo các bước:

Bước 1 Giáo viên giới thiệu tình huống vào cuối tiết học tuần trước để học

sinh các tổ nhóm xây dựng kịch bản và phân công sắm vai

Bước 2 Thể hiện kịch bản (tình huống)

Bước 3 Học sinh nhận xét rút ra bài học.

Bước 4: Giáo viên nhận xét đánh giá

Trang 31

Giải pháp 3: Sử dụng hiệu quả hình thức dạy học dự án dạng “ học văn

gắn với đời sống” và dạy học theo chủ đề nâng cao “ Cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích”.

3.1 Dạy học dự án dạng “ học văn gắn với đời sống”

Đời sống ở đây có thể hiểu là đời sống tâm hồn, tâm tư, tình cảm của họcsinh, rộng hơn là thực tiễn những gì xảy ra xung quanh các em

Học văn gắn với đời sống là từ cuộc sống con người trong tác phẩm làm chohọc sinh hiểu rõ con người thực tế bên ngoài, trong quá khứ, hiện tại cũng nhưtrương lai.Đồng thời có thể vận dụng những hiểu biết bên ngoài xã hội để cảm thụ,

lý giải đời sống trong tác phẩm văn học

Mức độ cao hơn của “Học văn gắn với thực tế đời sống” là hướng tới mục

tiêu ứng dụng, đáp ứng những nhu cầu của thực tiễn Hiểu nhân vật, hiểu con người,hiểu tâm sự của tác giả trong tác phẩm giúp học sinh hiểu hơn về chính mình, đểphát triển tâm hồn, cá tính, để định hướng hành vi, để giao tiếp hiệu quả với nhiềungười vì những mục tiêu khác nhau Nói cách khác để học sinh có được những kỹnăng sống trong cộng đồng, tự khẳng định mình theo bốn mục tiêu của giáo dục mà

UNESSCO đề ra “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để tự khẳng định mình”

“ Học văn từ cuộc sống” là dự án dạy học và phương pháp học tập mới, tạo

ra sự kết nối giữa sách vở và cuộc sống Quan điểm dạy học này giúp học sinh đượctrải nghiệm, có năng lực tổng hợp, phân tích, khả năng lập luận có logic, sự sángtạo, óc tưởng tượng và khả năng ghi nhớ, kích thích các hoạt động tư duy đa dạngcủa học sinh tạo sự hứng thú và hình thành kỹ năng, nhân cách thông qua nhữnghoạt động trong quá trình thực hiện dự án và tiếp xúc với cuộc sống đa dạng

Với trình độ học sinh, đề án trong phần truyện Hiện đại Việt Nam (NV9) cóthể là những bài tập nhỏ:

+ Liên hệ với những điều tác giả đề cập đến trong tác phẩm với thực tế cuộcsống, đặc biệt là những vấn đề thời sự của xã hội hiện đại

Ví dụ: Liên hệ tình cha con trong cuộc sống hiện đại (noi theo tấm gương hiếu

thảo, phê phán những hành động sai trái: con cầm dao rượt cha, mẹ già bị hắt hủi không có con phụng dưỡng ( Trong Chiếc lược ngà)

+ Cảm nhận về nhân vật Cách sống cuả nhân vật có gì cho em học tậpkhông?

+ Đưa ra tình huống giả định để học sinh thực sự hòa mình vào tác phẩm, rèn

kĩ năng sống, chuẩn bị hành trang vào đời

Ngày đăng: 09/03/2018, 16:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w