Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu thành phần loài giáp xác ký sinh (Copepods) ở một số loài cá biển tại tỉnh Quảng Ninh và Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI GIÁP XÁC KÝ SINH
(COPEPODS) Ở MỘT SỐ LOÀI CÁ BIỂN TẠI TỈNH QUẢNG NINH VÀ QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Việt Nam là quốc gia biển phù hợp với nghề nuôi thủy sản xuất khẩu nhưng thiệt hại kinh tế do dịch bệnh thủy sản hàng năm cũng không hề nhỏ Giáp xác chân chèo (Copepoda) ký sinh ở cá là một nhóm ký sinh trùng có kích thước trung bình, có đời sống bám trong mang hay trên bề mặt cơ thể cá
Nhóm động vật này được xác định là một trong những nguyên nhân gây ra tỷ lệ tử vong cao đối với các loài cá nuôi Copepoda lây nhiễm trực tiếp từ vật chủ này sang vật chủ khác Hầu hết các loài giáp xác chân chèo có thể ký sinh ở nhiều loài vật chủ, sống ở nhiều môi trường khác nhau và trong khoảng nhiệt độ từ 150C đến 400
C.Việc xác định đối tượng giáp xác chân chèo ký sinh gây bệnh trên cá là công việc rất quan trọng khi nghiên cứu bệnh
ký sinh trùng trên cá biển
Vịnh Tiên Yên nằm ở phía Bắc của Vịnh Bắc Bộ, là một vịnh kín được che chắn bởi hệ thống đảo phía ngoài rất phù hợp với sự phát triển nghề nuôi trồng hải sản Khu hệ thủy sinh vật của vịnh rất đa dạng, là nguồn thức ăn dồi dào để phát triển nhiều loài cá và hải sản biển Theo điều tra của Viện Tài nguyên Môi trường biển (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), đã ghi nhận được 98 loài cá biển thuộc khu vực vịnh Tiên Yên, trong
đó khoảng 20 loài có giá trị kinh tế cao
Vùng biển Quảng Bình nằm phía Nam, giáp với cửa Vịnh Bắc Bộ, là nơi giao thoa của nhiều cửa sông và biển Đông nên nguồn thủy sản tự nhiên ở đây rất phong phú, đa dạng đặc biệt là nghề cá Tuy nhiên, trong khoảng thời gian đề tài thực hiện vùng biển này chịu tác động rất lớn từ vụ ô nhiễm môi trường của Formosa nên các hoạt động nghề cá cũng chịu nhiều ảnh hưởng
Trang 4Đề tài nghiên cứu xác định thành phần loài và mức độ nhiễm giáp xác chân chèo ký sinh trên cá tại hai hệ sinh thái khác nhau ở hai đầu của Vịnh Bắc Bộ nhằm tìm hiểu khu hệ giáp xác chân chèo ký sinh ở các hệ sinh thái biển đặc trưng của Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu:
1- Nghiên cứu mức độ nhiễm giáp xác chân chèo ký sinh ở các loài cá nghiên cứu
2- Xác định được danh mục loài giáp xác chân chèo (Copepoda) ký sinh trên một số loài cá phổ biến ở vùng rừng ngập mặn Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và vùng ven biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
Mô tả đặc điểm hình thái và sắp xếp các loài giáp xác chân chèo ký sinh theo
hệ thống phân loại hiện hành
Trang 5CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái học của Copepoda
1.1.1 Hệ thống phân loại học
Giáp xác ký sinh trên cá nước mặn và nước lợ được biết đến với các loài thuộc 3 phân lớp chính là: Isopoda, Branchiura và Copepoda, Sars (1903, 1913) [32] chia phân lớp Copepoda thành 7 phân bộ gồm: Calanoida, Cyclopoida, Harpacticoida, Notodelphyoida, Monctrilloida, Caligoida và Lernaeoida [18] Gurney (1933) chuyển 7 phân bộ này thành 7 bộ cùng tên gọi như Sars [24] Đối với các taxon bậc thấp, Schmeil (1892-1897) và Kiefer (1929, 1932, 1939) đã phát triển các đặc điểm chẩn loại của các họ và các giống cơ bản vẫn đang sử dụng cho đến ngày nay [22] Những nghiên cứu về hình thái của copepods ký sinh trên cá ở Anh (Kabata, 1979a) là một dấu mốc quan trọng cho nghiên cứu phân loại copepods ký sinh Kabata đã thống kê được hơn 1800 loài copepods trên thế giới, tóm tắt lại các dữ liệu có sẵn và dựa vào các đặc điểm hình thái học, ông đã hệ thống lại các loài copepods ký sinh vào 3 bộ chính: Poecilostomatoida, Siphonostomatoida và Cyciopoida[17] Đến năm 1991, Huys & Boxshall giới thiệu một hệ thống phân loại Copepoda gồm 10 bộ và hệ thống này vẫn được sử dụng và phát triển thêm [16] Boxshall & Halsey (2004) rút gọn lại còn 9 bộ mà trong đó chỉ có 4 bộ có các loài sống ký sinh, đó là các bộ Monstrilloida (toàn bộ ký sinh), Siphonostomatoida, Cyclopoida (hầu hết ký sinh) và Harpacticoida (một số loài ký sinh) [4] Dưới đây là hệ thống phân loại các bộ giáp xác chân chèo (Copepoda) theo Boxshall & Halsey (2004):
Ngành chân khớp Arthropoda von Siebold, 1848
Lớp giáp xác Crustacea Brünnich, 1772
Trang 61.1.2 Đặc điểm hình thái, cấu tạo của giáp xác chân chèo (Copepoda)
Kích thước của giáp xác chân chèo giao động từ 0,3 mm đến 20,0 mm Phần lớn giáp xác chân chèo nước mặn có cơ thể trong suốt hoặc phần lớn cơ thể trong suốt khi còn sống Giáp xác chân chèo sau khi được bảo quản thì trở nên trắng đục hoặc tối màu Hình thái của giáp xác chân chèo thông thường gồm các đặc điểm sau:
1 Đầu, bụng và đuôi
2 Prosome, metasome và urosome
Ở nhiều loài, đầu không khác biệt so với ngực nhưng kết hợp với một hoặc nhiều somites ngực để tạo thành cephephothorax hoặc cephalosome
Trang 7Hình 1.1 Cấu tạo cơ thể con cái trưởng thành, mặt bụng (theo Giesbrecht &
Schmeil, 1898)
Antennule: Râu, Rostrum: Gai trán, Mandible (Md): Hàm lớn, Maxillule (Mx1): Hàm nhỏ I, Maxilla (Mx2): Hàm nhỏ 2, Maxilliped (Mxp): Chân hàm, Leg 1-5: chân ngực (bơi) thứ 1-5, Genital segment: đốt sinh dục, Genital complex: phần sinh dục, Genital aperture: Lỗ sinh dục, Adbomen: Bụng, Anal somite: đốt bụng cuối, Furca (or caudal ramus): Chạc đuôi, Cephalosome +metasome: Phần phía trước thân, Urosome (Ur): Phần phía sau thân, Thorax:
Ngực, Cephalosome + đốt ngực thứ 1= Đầu ngực (Cephalothorax)
Trang 81.1.3 Một số hình dạng của các loài giáp xác ký sinh chủ yếu trên cá biển
1 Giáp xác cơ thể dạng Cyclopoid (Hình 1.2) Cơ thể thu hẹp về phía sau
Phía đầu ngực to và bé dần về phía bụng, đuôi
Hình 1.2 Cơ thể copepods có dạng Cyclopoid
1– Sinergasilus major; 2– Nothobomolochus gibber; 3– Holobomolochus
occultus (theo Kabata, 1971)
Các đốt ngực và đầu ngực rất rõ Phần đầu ngực-bụng được thể hiện rõ
ràng Đầu ngực thường biến đổi, có móc giúp giáp xác bám chặt hơn vào vật chủ Các tua gốc ken chặt dạng đốt tạo thành móc thay thế ở râu I, chân bơi đầu tiên phẳng và phần nhô ra của cạnh bên của đốt đầu Hình dạng cơ thể kiểu Cyclopoid bắt gặp ở tất cả các thành viên của các họ Bomolochidae, Taeniacanthidae, Anthessiidae, Tegobomolochidae, Macrochironidae, Telsidae, Tisbidae, Grandiunguidae và một phần họ Ergasilidae
Trang 92 Giáp xác cơ thể dạng Caligoid (Hình 1.3) copepods với dạng caligoit khu
trú trên bề mặt của cơ thể, trong miệng và trong xoang của mang Vì các loài
ký sinh trùng thường sống trên một mặt phẳng dẹt nên hình dáng của cơ thể của chúng cũng dẹt và điều này giúp chúng có khả năng chống chịu tới lực cản của dòng chảy trong nước Hình dạng Caligoit có thể được bắt gặp dưới dạng một một đốt hình cầu, với gốc của đốt đã được định hướng bám tới vật chủ; chia thành ba phần: đầu ngực (Carapax), bộ phận sinh dục và bụng Mai
và bộ phận sinh dục có thể có các mấu phẳng, hương về phía sau
Hình 1.3 Cơ thể copepods có dạng caligoid
1 Caligus multispinosus; 2 Caligus confusus; 3 Parapetalus orientalis; 4
Lepeophfhirus longipalpus; 5-6 Caligus curtus (theo Parker et а1., 1968)
Ngày nay, giáp xác ký sinh với cơ thể có hình dáng Caligoit bắt gặp ở
1
Trang 10Trebiidae và Dissonidae
3 Giáp xác cơ thể dạng Eudactylinoid (Hình 1.4) Cơ thể giáp xác thường
có kích thước không lớn, phân chia thành đầu, mình dài và bụng rất ngắn Với
cơ thể thon dài hình trụ, giáp xác sống trong mang cá, nằm giữa các tấm lọc của mang và song song với chúng Quá trình đốt hóa phần thân giáp xác thể hiện không rõ ràng Giáp xác ký sinh cá với cơ thể có dạng Eudactilinoid thường gặp ở tất cả các đại diện của các họ Archidactylinidae, Carnifossoriidae, Eudactylinidae, Hatschekiidae, Kroyeriidae, Pseudocycnidae, Tuccidae, Dichelesthiidae và một số loài trong họ Shiinoidae
Hình 1.4 Cơ thể copepods có dạng Eudactylinoid:
1 Nemesis lamna (theo Hewitt, 1969); 2 Hatschekia quadrabdominalis; 3
Pseudocongericola sp.: 4 Kroyeria spatulata; 5 Pseudocycnus
appendiculatus; 6 Taeniacanthus lagocephali (theo Kazachenko, 1994)
Trang 114 Giáp xác cơ thể dạng Lerneopodoid (Hình 1.5) Cơ thể giáp xác dạng
Lerneopodoid thường có hình túi, quá trình phân đốt cơ thể không thấy thể hiện Nhờ có hàm nhỏ II mà giáp xác được bám chặt vào lá mang và các sợi mang của vật chủ Đầu ngực và hàm nhỏ thứ II của copepods kéo dài, cấu tạo này đảm bảo cho copepods được cung cấp dinh dưỡng trên một diện tích rộng lớn vì giác miệng của giáp xác thường nằm về phần cuối của đầu ngực Cũng có thể bắt gặp một số loài giáp xác ký sinh với xoang miệng nằm ngay trên bề mắt cơ thể nhưng số này rất hiếm vì phần lớn các loài giáp xác đều có
xu thế ký sinh trong xoang mang của cá Giáp xác với cơ thể ở dạng Lerneopodoid thường gặp ở đại diện các họ Lernaeopodidae và Naobranchiidae
Hình 1.5 Cơ thể copepods có dạng Lerneopodoid
1 Clavella perfida; 2 Clavellopsis trichiuri; 3– Charopinopsis quternia
(theo Kazachenko, 1994)
5 Giáp xác cơ thể dạng Lernantropoid (Hình 1.6): Nhờ có các râu thứ II và
chân hàm (vỏ giáp), ký sinh trùng bám chặt vào các tấm mang cá Cơ thể được chia thành ba phần, gồm đầu ngực, thân (ranh giới giữa đầu ngực và
Trang 12che khuất bởi các chân bơi làm giảm tốc độ dòng chảy của nước Phần sau đuôi của thân cũng thực hiện chức năng tương tự như các chân bơi Dạng cơ thể Lernantropoid có thể gặp ở đại diện của các họ Lernanthropidae, Anthosomidae và Kabatarinidae
Hình 1.6 Cơ thể copepods có dạng Lernatropoid
1-2 Lernanthropus francai (Mặt lưng và mặt bụng); 3-4 L carangis (Mặt
lưng và mặt bụng); 5-6 L villersi (Mặt lưng và mặt bên);
7-8 Lernanthropinus gibbosus (Mặt lưng và mặt bụng) (theo Kazachenko,
1994)
Giáp xác chân chèo ký sinh ở cá được ghi nhận xuất hiện ít nhất từ đầu
kỷ Phấn trắng Đến nay đã xác định được khoảng 30 họ giáp xác chân chèo ký sinh ở cá (bảng 1.1) Hình dạng cơ thể của chúng thay đổi từ dạng cyclop đến
Trang 13các cấu trúc có tính đổi cao (các cấu tạo vô định hình mà thiếu biểu hiện phân chia và có các chân đã bị tiêu giảm hoặc thiếu)
Hình 1.7 Hình thái biến đổi của các họ copepoda ký sinh ở cá
A Bomolochidae, B Pandaridae C Caligidae D Chondracanthidae E
Sphyriidae F Philichthyidae G Lernanthropidae H Kroyeriidae I Lernaeopodidae (con cái); J Lernaeopodidae (con đực) K Pennellidae
Cùng với xu hướng này là xu hướng kích thước cơ thể lớn hơn Các ký sinh trùng có dạng cyclopoid, chẳng hạn như Bomolochidae và
Trang 14khi đó thành viên của các họ biến đổi mạnh thường có kích thước cơ thể lớn hơn, trong khoảng từ 5 mm đến 20 mm hoặc cao hơn Có một số ít họ như Tegobomolochidae, Telsidae và Tuccidae, có cơ thể bị biến đổi, phình và kích thước cơ thể lớn hơn Các xu hướng tương tự có thể được ghi nhận trong các
họ cụ thể Chẳng hạn, Ergasilidae gồm nhiều loài ở cửa sông, ven biển có dạng từ dạng Cyclopoit đến dạng Lernantropoit, các cấu trúc biến đổi Các loài Ergasilidae dạng cyclopoit hiếm khi có chiều dài cơ thể vượt quá 1,0 mm trong khi các dạng khác thường đạt được kích thước cơ thể lớn hơn
Bảng 1.1 Các họ giáp xác chân chèo ký sinh trên cá biển
Ký sinh phổ biến Ký sinh tương đối phổ biến Hiếm khi ký sinh
Tuccidae
Lernaeosoleidae Hyponeoidae Tanypleuridae Anthessiidae Macrochironidae Tisbidae
Trang 151.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Giáp xác chân chèo (Copepod) là nhóm ký sinh trùng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nơi trên thế giới vì tác hại của chúng đối với các loài cá nuôi Arthur & Lumanlan-Mayo (1997) thống kê được 19 loài copepods ký sinh trên cá biển Philippin [2] Ở Đài Loan, Ju-shey Ho et al đã phát hiện ra
110 loài giáp xác ký sinh thuộc bộ Siphonostomatoida [5-14] Ở Malaysia, Venmathi Maran et al (2009) đã phát hiện được 7 loài thuộc bộ Siphonostomatoida, các kết quả nghiên cứu trước đây đã phát hiện được 14 loài thuộc bộ Siphonostomatoida [28] Năm 2015, Venmathi Maran et al cũng đã phát hiện được 9 loài thuộc bộ Siphonostomatoida ở Hàn Quốc [29] Pillai (1985) đã thống kê các loài copepods ký sinh trên các loài cá nước mặn, nước lợ và nước ngọt của Ấn Độ [23] Ở Trung Quốc, 1976 Daxiang, Guoxiao đã phát hiện được 36 loài copepods [27] Năm 2007, Asiri Yuniar et
al đã xác định được 23 loài ở Indonexia [31] Watchariya Purivirojkul et al
Đã xác định được 39 loài ở Thái Lan năm 2007 [33] Nagasawa thống kê được được 78 loài copepods ký sinh trên cá ở Nhật Bản từ năm 1935 đến
2011 [21] Thống kê nghiên cứu giáp xác chân chèo ký sinh ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương chủ yếu ở các loài cá biển nuôi, không có nhiều nghiên
cứu ở các loài cá (bảng 1.2)
Trong số các loài giáp xác ký sinh ở cá biển, các loài Caligus spp
(Copepod) đã được xác định là một trong những đối tượng ký sinh gây bệnh nguy hiểm ở các loài cá nuôi tại Ôxtrâylia, New Zealand, Thái Lan, Philippin
và Đài Loan Những năm gần đây, loài ký sinh trùng này tiếp tục được phát hiện ở Hàn Quốc (Venmathi Maran et al.2012) [30]
Trang 16Bảng 1.2 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu phân loại copepods ký sinh
trên cá biển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương
Tác giả, năm công bố Số loài copepods Địa điểm
Watchariya Purivirojkul (2007) 39 Thái Lan
1.3 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu copepods ký sinh trên cá Việt Nam chỉ mới được điều tra, nghiên cứu trong khoảng 20 năm gần đây Arthur & Bùi Quang Tề (2001) thống kê được 12 loài copepods ký sinh ở cá nước ngọt Việt Nam [3] Trên cá nước mặn, Võ Thế Dũng (2010) phát hiện được 7 loài copepods ở cá Mú và
cá Chẽm nuôi ở vịnh Nha Trang [1] Trong khuôn khổ hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Nga và Việt Nam, các tác giả Kazachenko, Samotylova, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Hà đã công bố khoảng 60 loài copepods ký sinh trên
cá biển Vịnh Bắc Bộ (bảng 1.3), trong đó, các tác giả đã phát hiện 1 giống mới và 2 loài mới cho khoa học [19-20] Samotylova et al (2012) phát hiện ra
26 loài thuộc Vịnh Bắc Bộ [25-26]
Trang 17Bảng 1.3 Tổng hợp một số kết quả nghiên cứu phân loại Copepods ký sinh
trên cá biển Việt Nam
Tác giả, năm công bố Số loài copepods Địa điểm
Arthur & Bùi Quang Tề (2001) 12 Đồng bằng sông Cửu
cá nước mặn Các loài copepods ký sinh thường có khả năng gây hại lớn, nhất
là đối với các loài cá nuôi, đặc biệt chúng có khả năng ký sinh rộng ở nhiều vật chủ nhưng chưa có nhiều nghiên cứu
Trang 18CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài giáp xác thuộc phân lớp Copepod ký sinh trên cá khu vực biển Tiên Yên (Quảng Ninh) và Đồng Hới (Quảng Bình) Trong quá trình thực hiện, luận văn cũng sử dụng các mẫu vật copepods đang được lưu giữ tại Phòng Ký sinh trùng học, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật từ các đề tài trước đây
Các loài cá bao gồm cả cá nuôi, cá tự nhiên phổ biến đang được nuôi
và đánh bắt ở khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và ven biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình Tổng cộng 632 cá thể cá của 77 loài thuộc 41 họ, 7 bộ
đã được kiểm tra giáp xác ký sinh (bảng 2.1)
Bảng 2 Thành phần, số lượng các loài cá nghiên cứu
Tên vật chủ nghiên cứu
Số lượng mổ khám
Họ Hemiramphidae
Trang 19Tên vật chủ nghiên cứu
Số lƣợng mổ khám
Trang 20Tên vật chủ nghiên cứu
Số lƣợng mổ khám
Trang 21Tên vật chủ nghiên cứu
Số lƣợng mổ khám
Trang 22Tên vật chủ nghiên cứu
Số lƣợng mổ khám
Trang 232.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đề tài đã tiến hành khảo sát thu mẫu ven biển ở rừng ngập mặn Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh (tháng 9/2015 và tháng 3/2017) và ven biển Đồng Hới,
tỉnh Quảng Bình (tháng 5/2017)
Hình 2 1 Sơ đồ khu vực thu mẫu
Trang 242.3 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Điều tra, thu thập mẫu vật giáp xác ký sinh ở một số loài cá kinh
tế tại các hệ sinh thái rừng ngập mặn Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh và Đồng Hới, Quảng Bình
Chọn điểm nghiên cứu
Thu mẫu ngẫu nhiên
Phân lập giáp xác ký sinh
Định hình, xử lý mẫu
Nội dung 2: Phân tích, định loại và lập danh mục thành phần loài giáp xác ký
sinh theo hệ thống phân loại hiện hành:
Xử lý, làm tiêu bản
Đo, vẽ và mô tả hình thái các loài giáp xác ký sinh
Phân tích, định loại và sắp xếp các loài theo hệ thống phân loại
Nội dung 3: Điều tra, nghiên cứu hiện trạng, mức độ nhiễm giáp xác ký sinh ở
một số loài cá kinh tế tại các điểm nghiên cứu:
Thu mẫu định hướng
Phân tích, xác định giáp xác ký sinh
Xử lý số liệu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thu thập mẫu cá biển: Cá biển được thu thập bằng cách thu mua ở cảng
cá, ở bè nuôi hoặc thuê bắt Các mẫu cá được đo đạc, chụp hình và bảo quản trong đá lạnh, ghi tên thường gọi để phục vụ công tác định loại vật chủ sau này Sau đó tiến hành mổ khám thu mẫu giáp xác ký sinh ngay
Trang 25Hình 2.2 Chụp ảnh mẫu cá trước khi thu mẫu ký sinh trùng
2.4.2 Thu thập mẫu giáp ký sinh: Mẫu copepods sinh sau khi được tách ra từ
mang, da, vòm miệng, mắt cá sẽ được làm sạch bằng nước muối sinh lý 0,9%
và được bảo quản trong cồn 70% để phục vụ nghiên cứu phân loại
Hình 2.3 Mẫu copepods ký sinh trên mang cá biển
2.4.3 Phân tích mẫu copepods ký sinh
glycerol, propylene glycol nhưng tốt hơn cả là axit lactic hoặc lactophenol trong vòng 1 – 2 giờ
Trang 26 Nhuộm mẫu: Mẫu copepods có thể nhuộm với dung dịch Rose Bengal,
mực Ligin hoặc Chlorazol Black E Các mẫu sau khi nhuộm có thể phân biệt dưới kính lúp nhưng sẽ khó phân biệt dưới kính hiển vi Dung dịch Rose Bengal và Chlorazol Black E là những thuốc nhuộm hay được sử dụng Mẫu Copepod đã được bảo quản trong formalin khi nhuộm có thể dùng 10ml Rose Bengal 1% Dung dịch Rose Bengal nhuộm tốt nhất ở pH 4-5, tuy nhiên nó sẽ làm mất màu cũng như cấu trúc tự nhiên của mẫu vật Trước khi nhuộm, mẫu Copepods có thể được ngâm trong dung dịch KOH 10% ở 90º C trong vòng 1-2 giờ để làm tan lớp vỏ (giáp), sau đó mẫu được rửa qua nước cất và nhuộm trong dung dịch Chlorazol Black E 1% trong vòng 10-20 giây
Mổ khám và tách mẫu: Đây là phần khó nhất, phải dùng số lượng mẫu
nhiều cũng như mổ khám nhiều lần theo phương pháp của Humes, A.G & Gooding, R.U (1964) [15]
1 Sử dụng hai que kim nhọn, một que kim giữ mẫu, que kim còn lại tách từng
bộ phận mẫu dưới kính hiển vi soi nổi Olympus SZ51 (độ phóng đại 40 lần) Quá trình mổ khám thuận lợi hơn trong dung dịch axit lactic
2 Bước 1 ta đo chiều dài cơ thể dới kính có gắn thước, tính toán chiều dài rộng các bộ phận cơ thể: Đầu ngực, phần sinh dục, bụng, đốt sinh dục, trứng… (hình 2.4)
3 Bước 2 giữ phần đầu thân bằng que kim và cắt phần bụng, sau đó tách các chân bơi (2-4) và cuối cùng tách chân bơi thứ nhất ra khỏi phần đầu ngực
4 Ở phần đầu tách các phần phụ ra khỏi tấm đầu ngực Ở các loài có kích thước lớn có thể tách được hết các phần phụ còn với các loài có kích thước nhỏ thì chỉ tách được anten I, anten II và chân hàm Cấu tạo phần đầu điển hình của 1 loài thuộc họ Caligidae (hình 2.5).Sau khi tách từng bộ phận thuộc phần đầu ta phân tích các phần dựa vào hình thái để định loại các loài
Trang 27Hình 2.4 Caligus sp (con cái), 1 Chiều dài cơ thể; 2 Chiều dài phần đầu
ngực; 3 chiều dài phần sinh dục; 4 Chiều dài buồng trứng; 5 Chiều rộng
buồng trứng
Trang 28Hình 2.5 Cấu tạo phần đầu (mặt bụng) của họ Caligidae (theo Kabata, 1979)
1 Màng bên; 2 Tấm bán nguyệt; 3 Mấu râu phía sau: 4 Râu I (anten I); 5 Râu II (anten II); 6 Nhú phía sau râu; 7 Ống miệng; 8 Hàm nhỏ I; 9 Hàm II;
10, Chân hàm; 11.Ức ; 12 Chân bơi I; 13 Chân bơi II; 14 Chân bơi III; 15 Mảnh đầu ngực; 16 Gốc của chân bơi III
* Râu I (hình 2.6): Sự khác nhau rõ nét giữa các râu I ở các loài khác nhau
thuộc các bộ khác nhau ở số đốt trên râu cũng như số lông có mặt
Trang 29Hình 2.6 Cấu tạo râu I điển hình 1- Caligus constrictus; 2- Hatschekia
rotundigenitalis; 3– Nothobomolochus gibber: 4– Lernanthropinus gibbosus
* Râu II (hình 2.7): Sự khác nhau ở giữa các râu II ở các loài rõ nét, phân
biệt dựa vào các đốt cũng như sự phân đốt; độ nhọn, tù ở phần đầu râu
Hình 2.7 Cấu tạo râu II điển hình 1- Kroyeria spatulata; 2– Lamproglena
carassii; 3– Hatschekia rotundigenitalis: 4– Cybicola armatus
Trang 30* Các chân 1,2,3,4,5 loài thuộc họ Caligidae (hình 2 8-3.0) Dựa vào cấu tạo lông và các đốt để phân biệt các loài thuộc các họ khác nhau
Hình 2.8 Cấu tạo chân 1 và 2 điển hình của loài thuộc họ Caligidae
Cấu tạo chân 3 (hình bên trái) và chân 4 (hình bên phải) khác nhau giữa
các loài trong giống Caligus (hình 2 8)
Hình 2.9 Cấu tạo chân 3 và 4 điển hình của loài thuộc họ Caligidae
Trang 31Chân 5 thường không phát triển ở các loài thuộc họ Caligidae (hình 2.9)
Hình 2.10 Cấu tạo chân 5 điển hình của loài thuộc họ Caligidae
EtOH 85%, 15 phần formalin, 5 phần axit lactic) trong vòng 10 phút; sau đó được chuyển qua dung dịch EtOH 95% trong vòng 3–10 phút; qua phenol 3 phút để rút nước và chống mốc và được gắn tiêu bản bằng nhựa dính Canada
dịch cồn ethanol 70% là thông dụng nhất cho cả mẫu định loại bằng hình thái Nhược điểm cồn dễ bay hơi nên ta cần bảo quản mẫu trong các lọ kín và thường xuyên bổ sung thêm cồn
Kabata (1979), Pillai (1985), Huys & Boxshall (1991), Ho & Kim (2004)
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
3.1 Tình hình nhiễm giáp xác ký sinh trên cá biển
Trong số 632 cá thể nghiên cứu thuộc 77 loài, 41 họ và 7 bộ cá biển nghiên cứu, có 416 cá được thu ở vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh thuộc 50 loài,
29 họ, 7 bộ và 216 cá được thu ở ven biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình thuộc 43 loài, 29 họ, 6 bộ Kết quả nghiên cứu tỷ lệ nhiễm giáp xác ký sinh tại 2 địa điểm (bảng 3.1) cho thấy, ở khu vực vịnh Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh có 4/7 (57,14
%), 16/29 họ cá (55,1 %), 17/50 loài cá (34%) và 46/416 (11,05 %) cá thể cá nhiễm giáp xác ký sinh; ở khu vực ven biển Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình có 5/6 (83,33%), 18/29 họ cá (62,06%), 21/43 loài cá (48,83%) và 43/216 (19,9%) cá thể cá nhiễm giáp xác ký sinh
lệ 33,8% và 43/108 cá thể cá ở Quảng Bình nhiễm giáp xác ký sinh, chiếm tỷ
lệ 39,8% Trong số các loài cá nghiên cứu, cá Bò (Paramonacanthus
japonicus) ở Quảng Ninh và cá Phèn (Nemipterus hexodon) ở Quảng Bình có
tỷ lệ nhiễm giáp xác ký sinh cao nhất Tuy nhiên, đây chỉ là những dẫn liệu
Trang 33ban đầu về tình hình nhiễm giáp xác ký sinh ở các loài cá do số lượng nghiên cứu còn ít
Bảng 3.2 Tỷ lệ nhiễm giáp xác ký sinh trên cá biển ở Quảng Ninh
nghiên cứu
Số lƣợng nhiễm Tỷ lệ (%)
Tổng cộng
Trang 34Bảng 3 3 Tỷ lệ nhiễm giáp xác ký sinh trên cá biển ở ven biển Quảng Bình
nhiễm
Tỷ lệ nhiễm (%)