1. Trang chủ
  2. » Khoa Học Tự Nhiên

Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)

76 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 11,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu định loại họ tiết dê (menispermacecae juss.) tại Vườn Quốc gia Ba Vì, tỉm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania Rotunda Lour (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LOẠI HỌ TIẾT DÊ (MENISPERMACECAE JUSS.) TẠI VQG BA VÌ, TÌM KIẾM HOẠT CHẤT SINH HỌC CỦA LOÀI

STEPHANIA ROTUNDA LOUR

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục bảng biểu

Danh mục các hình

Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Các công trình nghiên cứu và hệ thống phân loại họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.) 3

1.1.1 Trên thế giới 3

1.1.2 Ở Việt Nam 6

1.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài trong họ Tiết dê (Menispermaceae) 9

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Ba Vì 13

1.3.1.Vị trí địa lý hành chính 13

1.3.2 Địa hình địa thế 14

1.3.3 Khí hậu, thủy văn 15

1.3.4 Địa chất đất đai 16

1.3.5 Khu hệ thực vật rừng 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Mục tiêu nghiên cứu 18

2.3 Nội dung nghiên cứu 18

2.4 Phương pháp nghiên cứu 18

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu định loại thực vật 18

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học 19

2.5 Các bước tiến hành nghiên cứu 19

2.6 Nghiên cứu thành phần hóa học của loài Stephania rotunda Lour 20

2.6.1 Xử lý nguyên liệu thực vật 20

2.6.2 Điều chế các cặn chiết từ nguyên liệu thực vật 20

2.6.3 Quy trình phân lập các hợp chất từ cặn chiết etyl axetat 22

Trang 3

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 24

3.1 Nghiên cứu định loại họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.) tại Vườn quốc gia Ba Vì 24

3.1.1 Mô tả các đặc điểm của họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.) 26

3.2 Các loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng, quý hiếm 51

3.3 Hằng số vật lý và dữ liệu phổ của các hợp chất phân lập được 52

3.4 Xác định cấu trúc phân tử của các hợp chất phân lập được 59

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 65 PHỤ LỤC

Trang 4

MỞ ĐẦU

Việt Nam được xem là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học nhất trên thế giới, có diện tích rừng tự nhiên khá lớn trong vùng Đông Nam Á, hệ sinh thái rừng phong phú và đa dạng Trong những năm gần đây, diện tích rừng

tự nhiên bị suy giảm mạnh chủ yếu do việc khai thác rừng, cùng với biến đổi khí hậu và xây dựng các công trình thủy điện và các khai thác bất hợp pháp, vì vậy làm giảm độ đa dạng sinh học Họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.) là một họ đa dạng về các hợp chất sinh học, chúng có chứa các hợp chất bisbenzylisoquinoline alkaloids Các loài trong họ Tiết dê (Menispermaceae) có giá trị sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới Họ này có khoảng 70 chi và 520 loài phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, một số loài có phân bố ở

độ cao lên đến 2100 m như loài Cyclea fansipanensis

Nằm trong hệ thống các Vườn Quốc gia (VQG) của Việt Nam, VQG Ba Vì

có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của cộng đồng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường sinh thái VQG Ba Vì là địa danh nổi tiếng thuộc Thành phố Hà Nội nhờ sự đa dạng của hệ sinh thái, có phong cảnh đẹp, khí hậu mát mẻ VQG này nằm trong dãy núi cao chạy dọc theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với đỉnh Vua cao 1.296 m, đỉnh Tản Viên cao 1.227 m, đỉnh Ngọc Hoa cao 1.131 m với diện tích 10.814,6 ha chứa đựng những giá trị thiên nhiên rất phong phú Theo điều tra nghiên cứu đa dạng của VQG Ba Vì có khoảng gần 1300 loài động thực vật Với các thảm thực vật xanh bốn mùa tươi tốt, là nơi tạo điều kiện sinh tồn cho khu hệ động vật hoang dã Tuy nhiên, thực

tế nguồn tài nguyên rừng ở đây đang bị tác động mạnh bởi sức ép dân sinh, kinh

tế của dân cư quanh vùng Chính vì vậy, công tác bảo tồn tính đa dạng sinh học, bảo vệ vốn gen quí cũng như các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác được Thành phố Hà Nội rất quan tâm Trong những năm gần đây, VQG Ba Vì đã có một số cuộc điều tra, đánh giá tài nguyên cây thuốc và đa dạng sinh học, bước đầu cũng

Trang 5

khoảng 200 loài cây dược liệu, nhiều loài quý như Bách xanh, Thông, Dẻ, Lát hoa

Ở Việt Nam, họ Tiết dê (Menispermaceae) là họ có số lượng chi, loài ở mức trung bình nhưng hầu hết các loài trong họ Menispermaceae đều có giá trị lớn về dược liệu, gần như tất cả các loài trong họ đều chứa các hợp chất alkaloid quan trọng Rất nhiều loài trong họ đã được sử dụng rộng rãi trong các bài thuốc

dân gian như: Stephania rotunda, Coscinium fenestratum Chi Stephania là chi được Loureiro mô tả từ năm 1753 với 2 loài là Stephania rotunda và Stephania

longa lần đầu tiên chúng được phát hiện ở Việt Nam Stephania rotunda là một

loài có hoạt tính dược liệu quý và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về loài

dược liệu này Tuy nhiên, một số nội dung quan trọng chưa được thực hiện một

cách có hệ thống, chưa có công trình nào nghiên cứu từng họ và tìm kiếm tổng hợp các hợp chất có hoạt chất sinh học của họ này ở VQG Ba Vì Vì lý do đó,

tác giả thực hiện đề tài: "Nghiên cứu định loại họ Tiết dê (Menispermaceae

Juss.) tại VQG Ba Vì, tìm kiếm hoạt chất sinh học của loài Stephania rotunda Lour."

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Các công trình nghiên cứu và hệ thống phân loại họ Tiết dê

Trước khi họ Tiết dê được công bố, có một số tác giả đã công bố một số chi

mà sau này được xếp vào họ Tiết dê như: Linaeus (1753) [68] công bố chi

Cissampelos, Menispermum

Mãi đến năm 1789, họ Tiết dê mới chính thức được A Jussieu đặt tên với

tên gọi Menispermaceae Juss., lấy từ tên chi Menispermum L làm type [33] Từ

đây, họ Tiết dê mới chính thức được coi là một taxon bậc họ riêng biệt

Người đầu tiên phân chia hệ thống của họ Tiết dê là De Candolle (1824), tác giả dựa vào những đặc điểm của hoa đực và số lượng lá noãn của hoa cái để thành lập hệ thống này cùng 3 tông với 12 chi khoảng 80 loài

Hooker & Thomson (1855) [39] khi nghiên cứu họ Tiết dê ở Ấn Độ đã xây dựng hệ thống họ này khác nhiều so với hệ thống của Miers (1851) [48] trước

Trang 7

cây, hạt, lá mầm để xây dựng hệ thống Trong hệ thống này, tác giả đã chia họ

Tiết dê thành 5 tông (Coscinieae, Tinosporeae, Pachygoneae, Cocculeae và

Cissampelydeae)

Miers (1864) [49] đã công bố thêm một số chi và đưa tổng số chi lên 36 chi

và 7 tông là Heteroclineae, Pachygoneae, Tiliacoreae, Platygoneae,

Hypserpeae, Leptogoneae và Anomospemeae Về cơ bản, hệ thống phân loại vẫn

được giữ nguyên giống với hệ thống của ông năm 1851 [48] Tuy nhiên, có một

sự thay đổi là chi Hypserpa Miers, mới được công bố và được tách thành một tông riêng Hypserpeae, chi này mang những đặc điểm phôi nhũ đơn giản, đài

xếp lợp không đối xứng Tuy đã có sự nghiên cứu lại nhưng hệ thống này vẫn còn đơn giản, các chi và loài đại diện còn ít nên không có độ chính xác

Khác với các hệ thống của các tác giả nghiên cứu trước, Diels (1910) [34]

đã dựa theo nền tảng của các hệ thống trước đó để thiết lập hệ thống của họ Tiết

dê và tác giả sắp xếp họ Tiết dê vào trong bộ Mao lương (Ranunculales) và chia

bộ Mao lương thành phân bộ Mao lương (Ranunculineae) với các họ Ranunculaceae, Berberidaceae, Sargentodoxaceae, Lardizabalaceae, Menispermaceae Trong bộ này, họ Tiết dê được coi là tiến hóa cao hơn cả, chúng thể hiện ở chỗ: từ thân gỗ thành thân leo nhỏ và thân củ, số lượng lá noãn tiêu giảm, đài hợp các đặc điểm này thể hiện sự tiến hóa và thích nghi với điều

kiện khô hạn của họ Tiết dê Theo tác giả, các chi của các tông Hyspereae,

Leptogoneae, Platygoneae chuyển sang tông Menispermeae, tông Heteroclineae

chuyển sang 2 tông Tinosporeae và Fibraureae, tông Pachygoneae chuyển sang

3 tông Hyperbaeneae và Menispermeae, Tiliacoreae Trong hệ thống phân loại

họ Tiết dê, 54 chi thuộc 8 tông: Tinosporeae, Anomospermeae, Menispermeae,

Tiliacoreae, Hyperbaeneae, Peniantheae, Fibraureae, Cocculineae và tông Menispermeae gồm 3 phân tông Menisperminae, Cissampelinae, Stephaniinae

Trong tông Menispermeae, căn cứ vào những đặc điểm như sự tiến hóa của

thân, lá, vòng đài, vòng cánh hoa và số lá noãn, tác giả đã chia tông này thành 3

Trang 8

phân tông Các taxon có đặc điểm: bộ nhụy gồm 1-3 lá noãn, số nhị nhiều, thân

cây to, thì được xếp vào phân tông Menisperminae (Cocculinae); chi nào có bộ

nhụy gồm 1 lá noãn, có 1 vòng đài và thân rút ngắn lại thành củ thì xếp vào

phân tông Stephaniinae; phân tông Cissampelinae gồm các chi có các đặc điểm

là thân cây leo, bộ nhụy gồm 1-3 lá noãn Công trình của Diels (1910) [34] đã đưa lại nhiều hiểu biết về họ Tiết dê trên thế giới nên đã tồn tại trong thời gian dài

Kessler (1993) [43] đã dựa vào nền tảng hệ thống của Miers (1851, 1864) [48, 49], Diels (1910) [34] và Hooker & Thomson (1855) [39] để xây dựng hệ thống riêng cho họ Tiết dê Tuy nhiên ông không đồng tình với quan điểm của

Diels (1910) [34] phân chia tông Menispermeae thành các phân tông, mà ông

chia trực tiếp đến tông rồi chia đến các chi Ở đây tác giả sắp xếp 71 chi của họ

Tiết dê vào 5 tông là Pachygoneae Miers, Anomospermeae Miers, Tinosporeae Hooker & Thomson, Fibraureae Diels, Menispermeae Diels Trong hệ thống

này tác giả đã căn cứ vào đặc điểm ít biến đổi như sự phân biệt của đài và cánh hoa, số vòng đài, tiêu giảm cánh hoa, số lá noãn, có nội nhũ hay không có nội nhũ và đặc điểm của lá mầm để làm cơ sở cho việc xây dựng hệ thống của mình

Tác giả đã nhập tông Triclisieae vào tông Anmospermeae; nhập hai tông là

Hyperbaeneae và Peniantheae vào tông Pachygoneae

* Một số nước lân cận với Việt Nam, cũng có một số công trình nghiên cứu

họ Tiết dê như:

Hook f et Thomson (1872) [40], khi nghiên cứu họ Tiết dê ở Ấn Độ tác giả không theo quan điểm của mình năm 1855 mà theo quan điểm của Bentham

et Hook f (1862) [31] Theo tác giả, họ Tiết dê ở Ấn Độ có 19 chi với 35 loài

được sắp xếp trong 4 tông Tinosporeae, Pachygoneae, Cocculeae và

Cissampelideae Tuy nhiên hệ thống này áp dụng trong công trình đơn giản và

mang tính thống kê, chưa thể hiện được mối quan hệ phát sinh chủng loại, sự

Trang 9

phân biệt giữa các taxon vẫn mang tính liệt kê, phân biệt các đặc điểm, không lập khóa lưỡng phân, không trích dẫn tài liệu tham khảo, do vậy khó khăn cho người nghiên cứu tiếp theo

Backer & Bakhuizen (1963) [29] nghiên cứu đa dng họ Tiết dê ở đảo Java

đã mô tả 16 chi và 25 loài Các chi và loài chỉ được viết theo khóa định loại, tác giả không mô tả chi tiết

Huang, Shing- Fan & Hang, Tseng- Chieng (1996) [41] nghiên cứu họ Tiết

dê ở Đài Loan đã mô tả 6 chi và 12 loài Các chi và loài được mô tả đầy đủ về danh pháp, tài liệu công bố, mẫu nghiên cứu, một số loài có hình vẽ minh họa Forman (1991) [35] nghiên cứu họ Tiết dê ở Thái Lan đã công bố 22 chi và

65 loài thuộc họ Tiết dê Các chi và loài được mô tả đầy đủ về danh pháp, mẫu type, sinh học, sinh thái, trích dẫn tài liệu nghiên cứu, mẫu nghiên cứu, một số loài đã có hình vẽ minh họa

Lo (1996) [67] nghiên cứu họ Tiết dê ở Trung Quốc đã công bố 19 chi và

81 loài thuộc họ Tiết dê Tác giả đã sắp xếp các taxon của họ Tiết dê trong 5

tông Tiliacoreae Mies, Coscinieae Hook f ex Thoms., Fibraureeae Diels,

Tinosporeae Hook f ex Thoms., Menispermeae

Cùng rất nhiều các tác giả nghiên cứu phân loại họ Tiết dê cũng như nghiên cứu về hóa thạch, hạt phấn đặc biệt với các nghiên cứu về tiến hóa và các nghiên cứu về dược liệu và rất nhiều những ứng dụng khác

1.1.2 Ở Việt Nam

Người đầu tiên nghiên cứu họ Tiết dê ở Việt Nam phải kể đến Pierre, năm

1883 [66] tác giả đã mô tả chi tiết các loài trong chi Fibraurea, Coscinium và

Anamirta ở Nam Bộ Tuy nhiên loài Anamirta loureiri Pierre nay đã trở thành

tên đồng nghĩa của loài Anamirta cocculus (L.) Wight & Arn cùng các hình vẽ

minh họa

Trang 10

Năm 1908 [65], khi nghiên cứu họ Tiết dê ở Đông Dương, Gagnepain đã

mô tả họ và lập khóa định loại 16 chi, với 29 loài, một số loài nay đã trở thành tên đồng nghĩa của các loài khác Công trình dựa trên hệ thống của Bentham & Hooker (1862) [31] Tuy công trình đã công bố cách đây hơn 100 năm và có những hạn chế, nhưng đến nay nó vẫn là công trình Thực vật chí duy nhất dùng

để tra cứu, định loại họ Tiết dê ở Đông Dương và ở Việt Nam

Công trình của người Việt Nam đáng chú ý nhất là của Phạm Hoàng Hộ (1970) [16] trong “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” Ông đã lập khóa phân loại các chi và mô tả ngắn gọn các loài, với hình vẽ đơn giản của 13 chi và 17 loài Phạm Hoàng Hộ (1991) [16, 17] đã bổ sung một số chi và loài cùng hình

vẽ, phân bố, đưa tổng số chi và loài của họ Tiết dê ở Việt Nam lên tới 18 chi với

42 loài Tuy nhiên đã có những chi nay đã trở thành tên đồng nghĩa của chi

khác, như chi Cebatha nay đã trở thành tên đồng nghĩa của chi Cocculus, tác giả

đã lập khóa định loại các chi, loài, không thống nhất Năm 1999 [18], trong

“Cây cỏ Việt Nam” được tái bản, nhưng tác giả đã sửa chữa và bổ sung chi

Hypserpa Trong công trình này, tác giả đã mô tả 19 chi và 44 loài Song nhìn

chung các công trình của Phạm Hoàng Hộ (1970, 1991, 1999) [16, 17, 18] còn mang tính chất thống kê thành phần chi, loài, không mô tả đặc điểm chi, hình vẽ đơn giản và mô tả sơ sài, về mặt danh pháp có nhiều sai sót Tuy nhiên đây là tài liệu có giá trị giúp cho ta có những nhận biết bước đầu về các loài thực vật thông qua mô tả với hình vẽ đơn giản

Ngoài những công trình mang tính chất phân loại đã trình bày ở trên, ở Việt Nam còn có một số các công trình mang tính chất tổng hợp hay viết dưới dạng giáo trình phân loại, công bố các loài bổ sung, quan hệ của các chi, đề cập đến giá trị làm thuốc của các cây trong họ Tiết dê

Nguyễn Tiến Bân (1997) [1] trong “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã mô tả các đặc điểm nhận biết cơ bản của họ

Trang 11

Tiết dê và nêu tên các chi thuộc họ này Năm 2003 [2], tác giả đã công bố danh lục các loài thuộc họ Tiết dê có ở Việt Nam với 17 chi và 50 loài; kèm nhiều thông tin (tên loài, năm công bố, tài liệu công bố, tên Việt Nam, synonym, phân

bố, dạng sống và sinh thái của các loài, công dụng) và chỉnh lý danh pháp theo luật danh pháp quốc tế Công trình này được thống kê một cách tương đối đầy

đủ các chi họ Tiết dê, là tài liệu rất quan trọng cho những người nghiên cứu họ này ở Việt Nam

Bảng 1.1: Số chi và loài trong họ Menispermaceae theo Phạm Hoàng Hộ 1999

và Nguyễn Tiến Bân 2003 (Vũ Tiến Chính 2014)

(1999)

Nguyễn Tiến Bân (2003)

Species

1 loài và 1 var Species

Trang 12

Pachygone Miers 2 loài 3 loài

1.2 Nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài trong

họ Tiết dê (Menispermaceae)

Hầu hết các loài trong họ Tiết dê (Menispermaceae) đều có chứa các hợp chất sinh học (alkaloid), song hàm lượng và thành phần hóa học của các loài trong họ thường khác nhau Một số loài thì thành phần chủ yếu là

benzylisoquinoline Lớp chất alkaloid được tách từ vỏ rễ loài A villosa

Trang 13

Hình 1.1: Một số alkaloid được tách từ rễ cây A villosa

Các alkaloid này có tác dụng chống ký sinh trùng sốt rét, kháng khuẩn, kháng nấm và độc tế bào trên mô hình thử in vitro [32]

Chi Stephania Lour với 60 loài phân bố ở các vùng nhiệt đới và các nước

Châu Á Chi này có khoảng hơn 50 alkaloids, rất nhiều loài có giá trị dược liệu

như Stephaia rotunda Lour và có các hoạt chất chống các bệnh khác nhau như

kháng ung thư, kháng một số loại vi rút

► Hoạt tính chống sốt rét

Các alkaloid 5, 19, 20, 21, 22, 23, 24 được cho là thể hiện hoạt tính chống sốt rét trong đó hợp chất 22 có hoạt tính tốt nhất trên dòng Leishmani donovani amastigotes với giá trị IC50 = 36.1 µM (Camacho et al 2000)

Trang 14

Hình 1.2: Các alkaloid được tách từ họ Tiết dê

Dịch chiết nước của lá cây S.albyssinica Walp cũng có hoạt tính chống sốt

rét với khoảng IC50 > 30 µg/mL (Muregi et al 2004)

► Hoạt tính kháng vi sinh vật

Theo Semwal và Rawat (2009) cùng với Semwal et al (2009) báo cáo thì

cây S.glabra (Roxb) Miers có thể hiện hoạt tính kháng vi sinh vật, trong đó dịch

chiết etanol cho kết quả giá trị MIC trong khoảng 50 – 100 µg/mL Dịch chiết

methanol phần rễ của cây S japonica (Thunb) Miers cũng được công bố là có

hoạt tính kháng vi sinh vật (Hullati và Sharada, 2007) Ngoài ra, Yang et al 2010

a,b cũng cho biết cây S succifera H S Lo and Y Tsoong thể hiện hoạt tính

kháng vi sinh vật

► Hoạt tính kháng vi rút

Hoạt tính kháng virut được ghi nhận trong dịch chiết phần thân và phân

đoạn alkaloid của dịch chiết trên từ cây S cepharantha Hayata (Nawawi et al

2001; Liu et al 2004; Zhang

► Hoạt tính chống ung thư

Các cây S hernandifolia (Wild.) Walp (Kupchan et al.1968), S venosa

(Blume) Spreng (Moongkarndi et al 2004), S cepharantha Hayata (Nakaoji et

Trang 15

(Likhiwitayawuid et al 1993 a,b; Angerhofer et al 1999), S succifera H S Lo

and Y Tsoong (Yang et al 2010 a,b) được công bố là thể hiện hoạt tính chống ung thư theo cơ chế chống tăng sinh (anti-proliferative) Alkaloid aporphine từ

cây S venosa (Blume) Spreng thể hiện hoạt tính tốt nhất trên dòng ung thư SKOV3 ở người với giá trị ED50 = 6µg/mL Ngoài ra, bốn alkaloid từ cây S

cepharantha Hayata cũng cho hoạt tính chống ung thư với giá trị ED50 từ 0.01

– 0.1µg/mL Một hợp chất khác là 2-N-methyltelobine từ cây S errecta Craib

cũng được cho là có hoạt tính kháng ung thư trên các dòng tế bào ung thư KB and P-388 với giá trị ED50 tương ứng là 3.6 và 0.8 µg/mL

► Các hoạt tính khác

Theo Ellenbroek và cộng sự, một số hợp chất phân lập từ cây S intermedia

H.S Lo cho thấy tác dụng chống loạn thần kinh Trong nghiên cứu của Das năm

2004, các dịch chiết etanol thân rễ khô của cây S glabra (Roxb.) Miers được

cho biết là có hoạt tính chống ký sinh trùng rõ rệt (Das et al 2004) Trong năm

1997, tác dụng đảo ngược quá trình kháng đa thuốc của một số alkaloid từ cây S

japonica (Thunb) Miers cũng được phát hiện bởi Hall và Chang Ngoài ra, hoạt

tính kháng viêm của dịch chiết methanol của cây S tetrandra S Moore cũng đã

được công bố (Kang et al 1996) Trong cùng thời gian, các tác dụng điều hòa miễn dịch, chẹn kênh Ca2+, giãn mạch và tác dụng tăng huyết áp từ cây này cũng được xác định Gần đây, Semwal, Tsutsumi và đồng nghiệp còn cho rằng

các loài S glabra (Roxb.) Miers, S tetrandra S Moore và S hernandifolia cũng

thể hiện tác dụng chống tăng đường huyết và chúng được coi là những dược liệu rất tiềm năng

Năm 2000, Nguyễn Tiến Vững đã phân lập và xác định được 9 alkaloid

trong một số loài thuộc chi Stephania Lour., hầu hết các alkaloid này đều có

hoạt tính sinh học [26]

Trang 16

Nguyễn Minh Chính (2001) đã nghiên cứu chiết xuất và tinh chế rotundin

từ củ Bình vôi và điều chế rotundin sulfat làm cơ sở bào chế thuốc tiêm [11]

Việc nghiên cứu về phân loại họ Tiết dê đã được tranh luận trong một

thời gian dài, bởi hình thái không những khác nhau giữa các loài mà ngay trong một loài cũng biến đổi rất lớn Trong nghiên cứu phân loại quá trình tiến hóa được thể hiện qua các bộ phận và đặc điểm hình thái do đó quá trình sinh tổng hợp các chất cũng có những biến đổi nhất định và các loài ở họ này ở Việt Nam

có rất nhiều khả năng cho các hoạt chất sinh học quý

Như vậy, các công trình nghiên cứu đã công bố về thành hóa học gần đây

còn có thử hoạt tính sinh học của một số loài như Stephania rotunda Đây là

hướng tìm kiếm nguồn nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác đang được quan tâm

1.3 Đặc điểm điều kiện tự nhiên VQG Ba Vì

1.3.1.Vị trí địa lý hành chính

Vườn quốc gia Ba Vì được thành lập theo quyết định số 17/CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), ngày 16 tháng 1 năm 1991 Với tổng diện tích 10.814,6

ha, nằm trong vùng có tọa độ địa lý là: 20°55' ÷ 21°07' vĩ độ Bắc và 105°16' ÷ 105°25' kinh độ Đông Bao gồm 3 phân khu: Đó là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trên cốt 400 và phân khu phục hồi sinh thái dưới cốt 400, phân khu dịch vụ hành chính Vùng đệm: Vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì có diện tích trên 35.000

ha thuộc địa phận 16 xã miền núi thuộc huyện Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai của

TP Hà Nội và Lương Sơn và Kỳ Sơn của tỉnh Hòa Bình

- Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh thuộc huyện Ba Vì – TP

Hà Nội

Trang 17

- Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hòa thuộc huyện Kỳ Sơn, xã Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Phía Đông giáp các xã Vân Hòa, Yên Bài thuộc huyện Ba Vì, xã Yên Quang thuộc huyện Lương Sơn, các xã Yên Bình, Yên Trung, Tiến Xuân thuộc huyện Thạch Thất, xã Đông Xuân thuộc huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội

- Phía Tây giáp các xã Khánh Thượng, Minh Quang huyện Ba Vì, Hà Nội,

và xã Phú Minh huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình

Hình 1.3: Bản đồ ranh giới hành chính VQG Ba Vì

1.3.2 Địa hình địa thế

Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bán sơn địa, vùng này trông như một dải núi nổi lên giữa đồng bằng chỉ cách hợp lưu Sông Đà và Sông Hồng 20Km về phía Nam

Trong Vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1000m như Đỉnh Vua (1296m), đỉnh Tản Viên (1227m), đỉnh Ngọc Hoa (1131m), đỉnh Viên

Trang 18

Nam (1081m) và một số đỉnh thấp hơn như đỉnh Hang Hùm (776m), đỉnh Gia

Dê (714m)…

Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính Dải dông thứ nhất chạy theo hướng Đông – Tây từ suối Ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh Hang Hùm dài 9km Dải dông thứ 2 chạy theo hướng Tây – Bắc – Đông – Nam từ Yên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11km, sau đó dảy này chạy tiếp sang Viên Nam tới dốc Kẽm (Hòa Bình)

Ba Vì là một vùng núi có độ dốc khá lớn, sườn phía Tây đổ xuống sông Đà, dốc hơn so với sườn Tây Bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là 250, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình là 350,

và có vách đá lộ, nên việc đi lại trong Vườn là không thuận lợi

1.3.3 Khí hậu, thủy văn

* Khí hậu

Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chế gió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm với mùa đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C Ở vùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới 420C Ở độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,60C; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt độ chỉ còn

160C Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20 C Nhiệt độ cao tuyệt đối 33,10C Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1% Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40% Mùa Hạ có gió Đông Nam với tần suất 25% và hướng Tây Nam Với đặc điểm này, đây là nơi nghỉ mát lý tưởng

và khu du lịch giàu tiềm năng nhưng chưa được khai thác

Trang 19

* Thủy văn

Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồn núi

Ba Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướng Bắc, Đông Bắc và đều phụ lưu của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, các suối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưu của sông Đà Các suối này thường gây lũ và mùa mưa Về mùa khô các suối nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vực gồm có: Suối Cái, suối Mít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…

Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khá dày như suối Ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan… thường xuyên cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm Bên cạnh còn có các hồ chứa nước nhân tạo như hồ suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Hóoc cua và các hồ chứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân Đồng thời, tạo nên không gian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi vãn cảnh cho du khách Nguồn nước ngầm trong khu vực tương đối dồi dào, ở sườn Đông cũng dồi dào hơn bên sườn Tây

do lượng mưa lớn hon và địa hình đỡ dốc hơn

1.3.4 Địa chất đất đai

Các loại đất chính trong khu vực gồm các loại đất phát sinh trên các loại đá khác nhau

- Đất feralit màu vàng trên đá cát kết, bột kết và đá phiến

- Đất bận màu nâu đỏ trên đá phun trào

- Đất phù sa không được bồi

- Đất phù sa loang lổ màu đỏ vàng

- Đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ

Trang 20

- Đất lầy

1.3.5 Khu hệ thực vật rừng

VQG Ba Vì có hệ thực vật khá phong phú và đa dạng Theo danh mục thực vật đã được thu thập mẫu và kết quả điều tra bổ sung gần nhất có 1201 loài thực vật bậc cao, thuộc 649 chi, 160 họ Các cây quý hiếm có 18 loài: Bách xanh, Thông tre, Sến mật, Giổi lá bạc, Chè sim, Sồi đỏ, Nhội, Giẻ gai, Lim sẹt, Sồi phẳng, Trường mật, Trường vân, Cây đa dụng có 2 loài là Trám và Sến

Có 3 kiểu phân bố rừng là: rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín thường xanh mưa ẩm cận nhiệt đới và rừng hỗn hợp lá rộng - lá kim cận nhiệt đới

Trang 21

2.2 Mục tiêu nghiên cứu

Kế thừa các tài liệu đã có Điều tra thực địa, định loại được các loài trong

họ Tiết dê (Menispermaceae) ở VQG Ba Vì

Xác định hoạt chất sinh học của loài Stephania rotunda Lour trong họ Tiết

dê (Menispermaceae) tại Vườn Quốc Gia Ba Vì

2.3 Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu định loại loài và phân bố của họ Tiết dê (Menispermaceae) Vườn Quốc gia Ba Vì

Xác định hàm lượng, thành phần một số hoạt chất của loài Stephania

rotunda Lour có phân bố tại Vườn Quốc gia Ba Vì

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu định loại thực vật

Nghiên cứu định loại loài trong họ Menispermaceae theo phương pháp truyền thống

Trang 22

Mẫu vật được nghiên cứu từ thực địa và ở các phòng tiêu bản thực vật Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam (VNMN), Đại học Khoa học Tự nhiên (HNU), Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN),

Để xác định tên khoa học, đã sử dụng các tài liệu chính sau: Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên, 2003), Danh lục các loài thực vật Việt Nam, tập 2, Nxb Nông nghiệp; Vũ Tiến Chính (2014), Nghiên cứu phân loại họ Tiết dê (Menispermaceae) ở Việt Nam

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thành phần hóa học

2.4.2.1 Thu mẫu và tìm kiếm hợp chất Hóa học

Mẫu nguyên liệu để nghiên cứu (lá, cành, củ) (5kg) được thu lúc trời khô ráo, phơi khô, sau đó xay nhỏ và ngâm dich chiết Methanol

2.4.2.2 Phương pháp định lượng hoạt chất

Định lượng bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng và HPLC

2.4.2.3 Phương pháp phân tích thành phần hoá học

Xác định thành phần hóa học bằng phương pháp sắc ký khí (GC); sắc ký khí - khối phổ liên hợp (GC/MS) và cộng hưởng từ hạt nhân (NMR) Xác định các hợp chất bằng thư viện phổ Wiley, NIST, FLAVOR và chỉ số thời gian lưu Kovats Index, trong một số trường hợp thì so sánh với chất chuẩn Việc xác nhận các cấu tử được thực hiện bằng cách so sánh các dữ kiện phổ MS của chúng với phổ chuẩn đã được công bố có trong thư viện Willey/Chemstation

HP, NIS, …

2.5 Các bước tiến hành nghiên cứu

- Tập hợp, phân tích các tài liệu về phân loại họ Tiết dê trên thế giới và Việt Nam

Trang 23

- Nghiên cứu, phân tích, định loại các mẫu vật hiện có đại diện cho các chi ở VQG Ba Vì, bằng phương pháp hình thái so sánh, lựa chọn các đặc điểm hình thái tiêu biểu trên cơ sở nghiên cứu mẫu vật, đối chiếu với các tài liệu để phân tích các đặc điểm hình thái và mô tả chi tiết

- Tham gia các chuyến điều tra ngoài thực địa để thu thêm mẫu vật nhằm bổ sung thêm những nghiên cứu mới về đặc điểm hình thái, sinh thái, cũng như về phân bố của chúng

- Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của họ, mô tả các chi, loài, chỉnh lý phần danh pháp quốc tế

- Chiết và phân tách các hợp chất từ nguyên liệu thực vật (củ) loài Stephania

rotunda Lour

- Xác định cấu trúc của các hợp chất phân lập được.

2.6 Nghiên cứu thành phần hóa học của loài Stephania rotunda Lour

2.6.1 Xử lý nguyên liệu thực vật

Mẫu thực vật (củ) sau khi thu hái về được xử lý theo phương pháp thông thường trong hóa học: sau khi làm sạch cơ học, mẫu được diệt men ở 1100C phơi và sấy ở nhiệt độ phòng cho đến khô, sau đó nghiền nhỏ mẫu

2.6.2 Điều chế các cặn chiết từ nguyên liệu thực vật

Mẫu cây Stephania rotunda Lour sau khi xử lý cơ học thành bột được

ngâm chiết với Methanol (MeOH) ở nhiệt độ phòng Quy trình chiết được lặp lại 3-4 lần

Gộp các dịch chiết, lọc và chưng cất dung môi trên máy cô cất, thu được cặn MeOH (cặn chiết tổng)

Trang 24

Hình 2.1: Sơ đồ tạo cặn chiết tổng

Phần cặn metanol được hoà trong MeOH/H2O (tỉ lệ 1 : 1) và chiết phân đoạn lần lượt bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần: n – hexan, ethyl axetate thu được các dịch chiết tương ứng Cất loại dung môi dưới áp suất giảm

thu được cặn chiết n-hexan, cặn ethyl axetat, và cặn nước Quá trình chiết kết

hợp siêu âm và gia nhiệt

Mẫu thu

hái

Xử lý mẫu (diệt men, Phơi khô, nghiền nhỏ

Ngâm chiết với dung môi (MeOH)

Cô quay loại dung môi

Cặn chiết tổng (Cặn MeOH)

Dung môi

Trang 25

Hình 2.2: Sơ đồ điều chế các cặn chiết

Từ phân đoạn n-Hexan chạy trên cột Silicagel pha thường với hệ dung môi rửa giải DM (gradien, 1:100%) thu được 5 phân đoạn ký hiệu 2A, 2B, 2C, 2D, 2E Từ phân đoạn 2C thấy xuất hiện tinh thể, tiến hành lọc rửa bằng hỗn hợp n-

Hexan –Aceton và kết tinh lại thu được chất sạch ký hiệu là Ste 1.1

2.6.3 Quy trình phân lập các hợp chất từ cặn chiết etyl axetat

Cặn etyl axetat được tiến hành phân lập trên sắc ký cột với chất hấp phụ là silica gel pha thường, hệ dung môi EtOAc : MeOH (19:1 tới 1:1) cho 5 phân đoạn chính (Ste-2A đến Ste-2E) Phân đoạn Ste-2C tiếp tục phân tách trên cột

Chiết etyl axetat, cất loại dung môi

Chiết n – Hexan, cất loại

dung môi

Bổ sung nước

Cặn MeOH tổng

Cặn

n-Hexan

Dịch còn lại

Cặn EtOAc

Ste 1.1

Cặn nước

Dịch còn lại

Cất loại dung môi

Trang 26

sắc ký thường với hệ dung môi EtOAc: Methanol (4:1) thu được chất sạch dạng

bột màu trắng ký hiệu Ste1.2 Từ phân đoạn Ste-2C-C phân tách thu được chất sạch Ste1.3 (26mg)

Hình 2.3: Sơ đồ phân lập các hợp chất từ cặn chiết Etyl axetat

2DCặn chiết tổng (cặn MeOH)

2

2

Trang 27

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu định loại họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.) tại Vườn quốc

gia Ba Vì

Các loài có trong họ Menispermaceae theo Vũ Tiến Chính 2014 [58]

Ảnh 3.1: Một số hình ảnh của họ Tiết dê (Menispermaceae) tại Việt Nam

(Vũ Tiến Chính, 2014)

Trang 28

Trong quá trình điều tra nghiên cứu họ Tiết dê (Menispermaceae), đã thu được tổng số loài trong họ Tiết dê là 9 loài trong 7 chi có phân bố ở khu vực nghiên cứu Kết quả điều tra nghiên cứu được thể hiện ở bảng 3.1

Bảng 3.1: Thành phần loài thực vật trong họ Tiết dê (Menispermaceae) phân bố

tại VQG Ba Vì

TÊN KHOA HỌC TÊN VIỆT NAM

Gen 1 DIPLOCLISIA Miers SONG BÀO

1 Diploclisia glaucescens (Blume) Diels Dây song bào

Gen 2 TINOSPORA Miers DÂY KÝ NINH

Gen 3 PARABAENA GƯƠM DIỆP

Gen 4 STEPHANIA Lour BÌNH VÔI

Gen 5 CYCLEA Arn ex Wight SÂM NAM

Gen 6 COCCULUS DC HOÀNG THANH

Trang 29

Gen 7 PERICAMPYLUS Miers CHÂU ĐẢO

9 Pericampylus glaucus (Laml.) Merr Tiết dê lá dày

3.1.1 Mô tả các đặc điểm của họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.)

Cây leo thân già hóa gỗ hiếm khi là cây bụi, hay thân mảnh, có dạng thân

củ, củ to hay dạng hình ống hay hình cầu Đặc trưng ở thân gỗ cắt ngang có tia tỏa hình bánh xe Lá đơn, mọc cách, mép lá nguyên hay có răng thưa; phiến lá thường hình khiên hoặc hình tim, tam giác hay hình trứng ngược Gân chính hình chân vịt, hay vòng cung Cụm hoa dạng xim hay chùm, đôi khi hình đầu, nhiều hoa, hiếm khi đơn độc hoặc thành cặp, cụm hoa mọc ở nách lá hoặc trên thân già rụng lá, hiếm khi mọc ở đỉnh cành thường phân nhánh; hoa đơn tính khác gốc, nhỏ, đều hiếm khi không đều Hoa đực: đài gồm 3-12 lá đài hay hơn thường xếp thành 3 vòng, hiếm khi một vòng, xếp lợp hoặc van Tràng thường

có 1-6 cánh hoa hoặc không có cánh hoa, rời hay hợp, luôn luôn lợp Bộ nhị gồm 3-6 nhị hoặc hơn, hiếm khi 2, rời hoặc hợp Hoa cái: đài và tràng giống ở hoa đực Bộ nhụy gồm 3-6 hay 1 lá noãn Vỏ ngoài hơi dầy hoặc mỏng; vỏ giữa

ít nhiều nạc hoặc có dạng sợi; vỏ trong hóa gỗ, mặt ngoài sần sùi hoặc có các mấu có dạng móc hay có cạnh, giá noãn có nguyên hay có lỗ thủng

Với 71 chi và 520 loài trong họ Tiết dê phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cân nhiệt đới [51, 58] Ở Việt Nam hiện biết 19 chi và 55 loài [58] Trong thời gian điều tra nghiên cứu và thu thập mẫu tại VQG Ba Vì, đã ghi nhận 9 loài trong 7 chi có phân bố tại khu vực nghiên cứu

Typus: Menispermum L 1753 Sp Pl 1031

Trang 30

Khoá định loại các chi trong họ Menispermaceae tại VQG Ba Vì

1A Cây thân gỗ

2A Quả có kính thước 1-2 cm, hình thoi hay hình

4A Hoa cái, bộ nhụy gồm 1 lá noãn

5A Rễ có dạng củ Đài gồm 6 lá đài, xếp hai vòng Giá noãn có lỗ

thủng 4 STEPHANIA

5B Rễ không có dạng củ Đài có ít hơn 6 lá đài Giá noãn không có lỗ thủng Hoa đực có đài gồm 4 lá đài hợp hay có

thùy 5 CYCLEA

4B Hoa cái, Bộ nhụy gồm 2- 6 lá noãn

6A Cụm hoa mọc ở nách lá Cánh hoa có 6 cánh hoa xẻ ở đỉnh Nhị rời

6 CUCCULUS

6B Cụm hoa mọc trên thân già không lá Cánh hoa liền Nhị 6 hợp ở phần

gốc……… 7 PERICAMPYLUS

Trang 31

Hình 3.1 Số chi và loài của họ Menispermaceae ở Việt Nam và số chi và loài

có tại Vườn Quốc gia Ba Vì

3.1.2 Mô tả đặc điểm của các chi, các loài thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae Juss.) phân bố ở VQG Ba Vì

Chi 1 DIPLOCLISIA Miers – SONG BÀO

Miers, 1851 Ann Mag Nat Hist II (7): 37, 42; Gagnep 1908 Fl Gen Indoch 1: 140; N T Ban, et al 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 144; Luo Xianrui, et al 2008 Fl China, 7: 11

Cây leo cao từ 15- 20 m, thân già hóa gỗ, có đường kính 3- 5 cm, thân già

có màu nâu nhạt, thân non có khía, thân gỗ cắt ngang có tia tỏa hình bánh xe, không lông, thân non có màu tím nhạt, bóng không lông Lá hình khiên, cỡ 6-11

x 6-11 cm, nhẵn cả hai mặt, mặt trên có màu xanh nhạt, mặt dưới mốc trắng; gân gốc 7-9 xếp dạng chân vịt, các đường gân phụ nổi rõ dạng mạng lưới; mép lá nguyên; chóp lá có mũi nhọn; gốc lá cắt ngang hay lõm hình tim nông; cuống lá đính trong phiến lá, dài 3-5 cm Cụm hoa dạng chùm tụ tán trên thân già không

lá, dài 10-20 cm, các cụm hoa đơn vị thường có 1-2 hoa Hoa đơn tính khác gốc Hoa đực: Đài gồm 6 lá đài, xếp thành 2 vòng, mỗi vòng gồm 3 lá đài, nhỏ hơn vòng trong Tràng gồm 6 cánh hoa không xẻ ở đỉnh, mỗi cánh hoa ôm lấy chỉ

Trang 32

nhị Bộ nhị gồm 6 nhị rời; bao phấn mở ngang Hoa cái: Đài giống ở hoa đực: Tràng không có cánh hoa Bộ nhị gồm 6 nhị Bộ nhụy gồm 3 lá noãn, có vòi nhụy uốn cong xuống bầu Quả hình thận, gốc quả hơi lệch, có sẹo ở gần cuống

do núm nhụy để lại, quả hơi cong, khi chín có màu vàng cam; vỏ quả trong có màu vàng nhạt, rất cứng Hạt hình móng ngựa rất rõ có các hàng mấu trên bề mặt, nội nhũ không nhăn nheo Lá mầm dầy, không có dạng lá ép chặt

Typus: Diploclisia macrocarpa (Wight & Arn.) Miers, 1851 Ann Mag Nat

Hist 2(7): 42

Phân bố: Có 3 loài [40], phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Á (Lào, Campuchia,

Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam) Ở Việt Nam có 1 loài Diploclisia

glaucescens (Blume) Diels Bum ban, Song bào, Dây song bào có ở Quảng

Ninh, Hà Nội, Hòa Bình, Lào Cai, Quảng Bình, Tp Đà Nẵng, Nha Trang, Ninh Thuận, Tây Ninh

Loài Diploclisia glaucescens (Blume) Diels - Dây Song bào

Diels, 1910 Pflanzenr IV 94: 225; Gagnep, 1908 Fl Gen Indoch 1: 140;

et 1938 Suppl Fl Gen Indoch 28; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1(1): 412; Nguyen, T.B 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 144; Luo, X.R et al, 2008 Fl

China 7: 11 - Type: Cocculus glaucescens Blume, 1825 Bijdr 25 - Type:

Indonesia Java: Tjenimai, Blume 1583 (Syntype: B photo!)

Cocculus macrocarpus Wright & Arn 1834 Prod Fl Ind Orient 13 Diploclisia macrocarpa (Wright & Arn.) Miers, 1851 Ann Mag Nat Hist II

-7: 42 - Types: India Malabar: Wight 41 (Holotype: K photo!, Isotypes: BM

photo!; E Photo!)

Cây leo lớn thân già hóa gỗ có mầu nâu, to 6 -25 m, toàn thân nhẵn, thân to đến 5 cm Cuống lá 5-10 cm, cuống lá đính trong phiến lá; lá hình tròn hay hình

Trang 33

mặt trên màu xanh, mặt dưới mầu bạc Cụm hoa đực phân thành nhiều nhánh, cuống hoa dài 6-20 cm, hoa có màu vàng nhạt Hoa đực có mầu vàng: Đài 2-2.5mm, vòng ngoài hình elip rộng, vòng trong hình elip hay hình tam giác hay gần tròn nhn Tràng gần hình thoi 1-1.5mm, đỉnh gần tròn không lông; bao phấn 2mm Hoa cái: Đài và tràng giống hoa đực mầu vàng, cánh hoa xẻ ở đỉnh, nhị bất thụ Lá noãn 3 nhăn, 1.5- 2 mm Quả có màu vàng đậm hay màu hồng Hạt hình móng ngựa bề mặt có nhiều khía 0.9mm

Ảnh 3.2: Diploclisia glaucescens (Blume) Diels, a Sinh thái; b.c Cành mang

Trang 34

Phân bố: Việt Nam: Hà Nội, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Phú Thọ,

Quảng Ninh (Ba Mùn) Còn có Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan

Sinh thái: Cây sống trong rừng thứ sinh hay nguyên sinh, phân bố ở độ cao từ

500-1300m Mùa hoa từ tháng 4- 5, mùa ra quả từ tháng 7-8 hàng năm

Giá trị sử dụng: Dây, lá có tác dụng thanh nhiệt giải độc, chữa phong thấp

[6,7,8,9,10,11]

Mẫu nghiên cứu: Hà Giang: 7 tháng 7 năm 1999, Hùng, Sơn, Tập, Trai

4674B,C,D (NIMM) Tuyên Quang: Na Hang, Take, N 22021’30’, E

105025’11”, cao 120m, 9 tháng 3 năm 1994, Collecstors D K Harder, Nguyễn

Tiến Hiệp, H H Schmidt 2436 (HN) Hòa Bình: Mai Châu Khu bảo tồn thiên

nhiên Hang Kia Pa co , Pa Khuong, 20044’40” N, 104052’32” E, 1300 đến

1440m, 9 tháng 4 năm 2001, HAL 812 (HN) Hà Nội: Ba Vì 05- 2017, VT

Chính, NTH Yến 06 (VNMN)

Chi 2 TINOSPORA Miers - DÂY KÝ NINH

Miers, 1851 Ann Mag Nat Hist II(7): 35; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1(1): 407; Li & Liang, 1991 Fl Guangxi 1: 333; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 339; Fulikuo, et al 2000 High Fl China 3: 630; N T Ban, et al

2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 150-152; M Newman, et al 2007 Checkl Vasc

Pl Lao: 232; Luo Xianrui, et al 2008 Fl China, 7: 7

- Dây thần thông, Dây đau xương

Cây leo, thân mảnh đến thân to, thân cây có lớp vẩy khô và bì khổng, có màu nâu nhạt, thân non có lông hay không lông, nhánh non có màu xanh đậm hay xanh nhạt Lá hình tim hay hình mác, có lông hay không lông, gốc cuống lá đôi khi có 2 tuyến ở gần cuống; gốc lá hình tim hay có hai tai tròn; gân gốc 3-7, xếp vòng cung đến chân vịt, gân phụ 2-3 cặp; mép lá nguyên Cụm hoa chùm

Trang 35

kép, thường mọc thành 1-3 bó ở nách lá hay trên thân già rụng lá Các cụm hoa đơn vị có 3-5 hoa Hoa đơn tính khác gốc Hoa đực: Đài gồm 6 lá đài rời nhau xếp 2 vòng, vòng ngoài nhỏ hơn vòng trong Tràng gồm 6 cánh hoa, hoa màu trắng hay màu vàng Bộ nhị gồm 6 nhị, chỉ nhị rời nhau Hoa cái: Đài giống ở hoa đực Tràng không có cánh hoa Bộ nhụy gồm 3 lá noãn, vòi nhụy ngắn, rất

to Quả chín có màu đỏ, mọng, tròn, nhẵn, mỗi cụm quả có 2-3 quả; vỏ quả trong có u sần cứng nổi lên rất rõ Hạt có nội nhũ nhăn nheo, có hàng mấu trên

bề mặt

Typus: Tinospora cordifolia (Willd.) Miers, 1851 Ann Mag Nat Hist 2(37):

38

Phân bố: Trên thế giới có khoảng 33 loài [40], phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt

đới, Ấn Độ, Madagascar, Australia, Lào, Thái lan, Campuchia, Trung Quốc

Việt Nam có 5 loài Loài T sinensis (Lour.) Merr - Dây đau xương, phân bố tại

khu vực nghiên cứu

Loài Tinospora sinensis (Lour.) Mierr - Dây đau xương

Mierr, 1934 Sunyatsenia 1(4); Forman, 1991 Fl Thailand 5(3): 361; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1(1): 407 fig 1142; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 339; Nguyen, T.B 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 150.; Luo, X.R et

al 2008 Fl China 7: 8.; Vu, T.C & Xia, N.H 2011 Ecol Biol Res Hanoi 4

56

Cocculus tomentosus Colebr 1822 Trans Linn Soc London 13: 59 Menispermumm tomentosum (Colebr.) Rox 1832 Fl Ind 3: 813 - Tinospora

-tomentosa (Colebr.) Hook f & Thomson, 1855 Fl Ind 1: 183 - Type: Icon

Roxb No 1710 (Syntype: K photo!)

Dây leo thân già hóa gỗ, thân non mầu xanh có lông màu, thân già có màu nâu dài 20m, vỏ có bì khổng Cuống lá 4-14 cm có lông mịn Lá có dạng phiến

Trang 36

xoan tròn hay hình trứng, gốc lá hình tim, gân chính 5-7 gân, các gân phụ nổi

hình mạng lưới ở mặt dưới, chóp lá có mũi nhọn, cả hai mặt có lông màu trắng,

kích thước 7-10x 4-14cm Cụm hoa mọc ở thân già rụng lá hiếm khi ở nách lá,

dài 3-12 cm có mầu trắng Hoa đực: đài 6 trong hai vòng xoắn, vòng ngoài 3

hình chữ nhật hay gần elip, kích thước 1-1.5mm; vòng trong 3 hình trứng, kích

thước 5mm Cánh hoa 6, kích thước 2mm; 6 nhị rời dài 4 mm Hoa cái: Đài và

tràng giống hoa đực, 6 tiểu nhị lép Lá noãn 3, đậu quả 8-13mm Quả chín màu

đỏ Hạt nhân cứng gần tròn đến bán cầu, kích thước 7-9x6mm, hình elip, lưng

hạt có nhiều nốt sần không đều nhau

Phân bố: Việt Nam; Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, Thái Bình, Ninh Bình

Còn có Camphuchia, Thái Lan

Ảnh 3.3: Tinospora sinensis (Lour.) Mierr a Sinh thái; b Thân có lông; c Lá;

d Cụm quả; e Cụm hoa đực; f Hoa đực; g Đài hoa

Trang 37

Sinh thái: Mọc ở ven đường hay trong rừng Phân bố ở độ cao 100-700 m Mùa

ra hoa từ tháng 4-5, mùa ra quả từ thành 6-7 hàng năm

Giá trị sử dụng: Cây leo rất phổ biến, thân cây được sử dụng đề sắc uống chữa

các bệnh xương khớp, đau xương [6,7,8,9,10,11]

Mẫu nghiên cứu: Lạng Sơn: Cao Lộc 20 tháng 3 năm 1965; Đỗ Huy Bích

3739 (NIMM) Hà Nội: Ba Vì 05- 2017, VT Chính, NTH Yến 11 (VNMN)

Chi 3 PARABAENA Miers - GƯƠM DIỆP

Ann Mag Nat Hist 2, 7: 35 1851; Pham., Illustr Fl Vietnam 1(1): 409 1991; Nguyen, T B., Checkl Pl Sp Vietn 2: 146 2003

Cây leo dài 3-6m, thân già có các vẩy Cuống lá dài 3-5 cm mép lá có răng cưa hay nguyên, gân gốc thường 5-7 gân chính các gân phụ nổi hình mạng lưới

ở mặt sau, mặt trước lá có mầu xanh bóng, mặt sau có mầu trắng bạc; Lá có dạng hình trứng hay tam giác có khi hình mũi kích, kích thước lá 8-16 (-25) x 5.5-9 (-15) cm Cụm hoa hình xim, mọc đơn độc ở nách lá hay trên thân già rụng lá Hoa đực: hai cánh hoa hình trứng tròn, tròn hoặc hình elip, 1,7-2 mm; cánh hoa dạ dày thường có mũi nhọn ở đỉnh, dài 1,3 mm Bộ nhị thường hợp thành cột 1 mm Hoa cái, cánh hoa 4 trong 2 vòng xếp xoắn, vòng ngoài hình chữ nhật, hay gần hình trứng 2.2-2.5 x 1.3-1.5 mm, cánh hoa 4, mọc đối diện với

lá đài 1,7 mm; Lá noãn 3 hình trứng 1,3 mm quả hình cầu hơi dẹp, kích thước 8-10 mm; hột tròng vá có nhiều gai, Ra hoa vào tháng tư- tháng năm, ra quả tháng tám-tháng chín

Typus: Parabaena sagittata Miers ex Hook f Thomson, Fl Ind 181.1855 Phân bố: Trên thế giới có khoảng 6 loài [40], phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới,

Lào, Thái lan, Campuchia, Trung Quốc Việt Nam có 1 loài Loài Parabaena

sagittata Miers - Dây Gươm diệp, phân bố tại khu vực nghiên cứu

Trang 38

Loài Parabaena sagittata Miers -Gươm diệp

Miers, 1851 Ann Mag Nat Hist II(7): 35; Phamh 1991 Illustr Fl Vietn 1(1): 407; Li & Liang, 1991 Fl Guangxi 1: 333; Phamh 1999 Illustr Fl Vietn 1: 339; Fulikuo, et al 2000 High Fl China 3: 630; N T Ban, et al

2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 150-152; M Newman, et al 2007 Checkl Vasc

Pl Lao: 232; Luo Xianrui, et al 2008 Fl China, 7: 7; Type: Assam, Dupari,

Herb, Hamil- ton, Wall 4983 (Holotypes: K, W)

Cây leo dài 3-6m, thân già có các vẩy Cuống lá dài 3-5 cm mép lá có răng cưa hay nguyên, gân gốc thường 5-7 gân chính các gân phụ nổi hình mạng lưới

ở mặt sau, mặt trước lá có mầu xanh bóng, mặt sau có mầu trắng bạc; Lá có dạng hình trứng hay tam giác có khi hình mũi kích, kích thước lá 8-16 (-25) x 5.5-9 (-15) cm Cụm hoa hình xim, mọc đơn độc ở nách lá hay trên thân già rụng lá Hoa đực: hai cánh hoa hình trứng tròn, tròn hoặc hình elip, 1,7-2 mm; cánh hoa dạ dày thường có mũi nhọn ở đỉnh, dài 1,3 mm Bộ nhị thường hợp thành cột 1 mm Hoa cái, cánh hoa 4 trong 2 vòng xếp xoắn, vòng ngoài hình chữ nhật, hay gần hình trứng 2.2-2.5 x 1.3-1.5 mm, cánh hoa 4, mọc đối diện với

lá đài 1,7 mm; Lá noãn 3 hình trứng 1,3 mm quả hình cầu hơi dẹp, kích thước 8-10 mm; hột tròn vá có nhiều gai, Ra hoa vào tháng tư- tháng năm, ra quả tháng tám-tháng chín

Phân bố: Việt Nam; Lai Châu, Lào Cai, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh

Hóa Còn có Thái Lan, Lào

Sinh thái: Mọc ở ven đường hay trong rừng Phân bố ở độ cao 100-700 m Mùa

ra hoa từ tháng 4-5, mùa ra quả từ thành 6-7 hàng năm

Giá trị sử dụng: Cây leo rất phổ biến, thân cây được sử dụng để sắc uống chữa

các bệnh xương khớp, đau xương.[6,7,8,9,10,11]

Ngày đăng: 09/03/2018, 16:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm