Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại Khu Bảo tồn thiên nhiên đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1NGUYỄN ĐÌNH DUY
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG SIKI
Nomascus siki (Delacour, 1951) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỀ
XUẤT KHE NƯỚC TRONG, HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
HÀ NỘI, 2017
Trang 2NGUYỄN ĐÌNH DUY
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG QUẦN THỂ VƯỢN ĐEN MÁ TRẮNG SIKI
Nomascus siki (Delacour, 1951) TẠI KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN ĐỀ
XUẤT KHE NƯỚC TRONG, HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng Kết quả nêu trong luận văn là trung thực, khách quan và chƣa có ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Đình Duy
Trang 4Trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu này, tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ nhiệt tình của những người thân, các cá nhân và bạn bè đồng nghiệp Tôi vô cùng biết ơn tất cả những sự giúp đỡ nhiệt tình đó!
Nhân dịp này, cho phép tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Đặng Ngọc Cần - người Thầy đã dành thời gian hướng dẫn khoa học tận tình, chi tiết cho tôi trong suốt thời gian vừa qua
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các Thầy giáo, Cô giáo tại cơ sở đào tạo của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã dành nhiều thời gian hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới ông Lê Trọng Trải và bà Phạm Tuấn Anh (Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt) đã tài trợ kinh phí, cung cấp các thiết bị hỗ trợ vô cùng hữu ích phục vụ cho nghiên cứu cũng như đóng góp những ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện nghiên cứu này
Tôi xin được gửi lời cảm ơn tới Lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Lãnh đạo và nhân viên phòng Động vật học có xương sống, đặc biệt là TS Ngô Xuân Tường đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Xin được gửi lời cảm ơn tới Quỹ Môi trường thiên nhiên Nagao và Quỹ IdeaWild đã hỗ trợ kinh phí và tài trợ trang thiết bị phục vụ nghiên cứu
Xin cảm ơn UBND tỉnh Quảng Bình, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Bình, Ban quản lý Rừng phòng hộ Động Châu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cấp giấy cho phép tôi được thực hiện hoạt động nghiên cứu thực địa
Nhân dịp này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các anh: ThS Lê Văn Ninh, Lê Quốc Hiệu, Trần Đặng Hiếu, Phạm Hoàng Hà, Lê Công Tình (Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt), Hà Vũ Cao, Hà Đình Phương và Võ Văn Hùng (Ban quản lý Rừng phòng hộ Động Châu), đã tham gia và giúp đỡ rất tận tình trong quá trình thu thập số liệu ngoài thực địa
Trang 5Quảng Bình đã giúp đỡ tôi trong thời gian thu thập số liệu tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong
Cuối cùng, tôi xin được bảy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố, mẹ, vợ và gia đình cùng bạn bè đã ủng hộ, ân cần động viên, dành sự cảm thông đối với công việc nghiên cứu thực địa và học tập của tôi
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 17 tháng 10 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Đình Duy
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) 3
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Vượn đen má trắng siki 3
1.1.2 Phân loại học 4
1.1.3 Hình thái 4
1.1.4 Sinh thái và tập tính 5
1.1.5 Tình trạng và phân bố toàn cầu 5
1.1.6 Tóm tắt về tình trạng và phân bố tại Việt Nam 6
1.1.7 Các ghi nhận Vượn đen má trắng siki tại Việt Nam 8
1.1.8 Tình trạng bảo tồn 11
Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Địa điểm nghiên cứu 12
2.1.1 Lý do lựa chọn khu vực nghiên cứu 12
2.1.2 Điều kiện tự nhiên 13
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội 20
2.2 Thời gian nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Phương pháp phỏng vấn 21
Trang 72.3.2 Phương pháp điều tra theo tuyến 22
2.3.3 Phương pháp điều tra theo điểm nghe 23
2.3.4 Phương pháp xác định và đánh giá hiện trạng các đe dọa 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong 29
3.1.1 Kích thước quần thể của Vượn đen má trắng siki 29
3.1.2 Đặc điểm cấu trúc đàn của Vượn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong 33
3.1.3 Phân bố của Vượn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong 36
3.1.4 So sánh quần thể Vượn đen má trắng siki khu vực điều tra với các khu vực khác trong vùng Bắc Trung Bộ 40
3.2 Các mối đe dọa tới Vượn đen má trắng siki ở KBTTN đề xuất Khe Nước Trong 41
3.2.1 Săn bắt động vật hoang dã 41
3.2.2 Phá hủy sinh cảnh 42
3.2.3 Đánh giá mức độ đe dọa 43
3.3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác bảo tồn 44
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
Kết luận 46
Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 59
PHỤ LỤC 60
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Bảng tổng hợp số liệu quan sát theo tuyến 22 Bảng 2 Số ngày điều tra tại các điểm nghe 23 Bảng 3 Số lượng đàn Vượn đen má trắng siki xác định được tại các điểm nghe 29 Bảng 4 Bảng tính hệ số hiệu chỉnh có trọng số 32 Bảng 5 Số lượng đàn Vượn đen má trắng siki đã quan sát ở các tiểu khu 34 Bảng 6 Số lượng các đợt Vượn hót ở các thời điểm khác nhau trong ngày 35 Bảng 7 Số lượng đàn Vượn đen má trắng siki ở các tiểu khu trong KBTTN đề xuất Khe Nước Trong 39 Bảng 8 So sánh số lượng Vượn đen má trắng siki ở khu vực điều tra với một số khu vực thuộc vùng phân bố 40 Bảng 9 Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa đến sinh cảnh và quần thể Vượn đen má trắng siki 43 Bảng 10 Các tuyến giám sát đề xuất 45
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Vượn đen má trắng siki Nomascus siki 4
Hình 2 Các khu vực ghi nhận sự tồn tại của Vượn đen má trắng siki ở VN 8
Hình 3 Bản đồ khu vực điều tra 13
Hình 4 Hình minh họa xác định các đàn Vượn hót trên các điểm nghe 24
Hình 5 Bản đồ các tuyến điều tra và các điểm nghe 25
Hình 6 Giải thích về cách xác định “Hệ số hiệu chỉnh có trọng số” 27
Hình 7 Vị trí các đàn Vượn đen má trắng siki được xác định 31
Hình 8 Số lượng các đợt Vượn hót ở các khoảng thời gian trong ngày 36
Hình 9 Phân bố Vượn đen má trắng siki trong KBTTN đề xuất Khe Nước Trong 38 Hình 10 Bản đồ các tuyến giám sát Vượn được đề xuất 45
Trang 11MỞ ĐẦU
Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951) trước kia được cho
là phân loài của Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys Ogilby, 1840) [34, 36,
39, 65, 71, 72], sau này được tách ra thành loài độc lập [37, 69, 78, 81] Đây là loài Linh trưởng đặc hữu của Việt Nam và Lào [69] Loài này chỉ phân bố trong một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào [51, 69] Sự thiếu hụt thông tin làm cho tình trạng của loại này là không rõ ràng nhất trong các loài Vượn
ở Việt Nam [69] Cùng với áp lực từ săn bắn và khu phân bố hạn chế, có thể loài này phù hợp với tình trạng Cực kỳ nguy cấp (CR) trong SĐVN [69]
Do các hoạt động khai thác gỗ , phá rừng lấy đất sản xuất và phát triển cơ sở
hạ tầng đã làm cho môi trường sống của các loài động vật hoang dã nói chung và Vượn đen má trắng siki nói riêng bị thu hẹp Mặt khác, tình trạng săn bắt động vật hoang dã vẫn diễn ra dẫn đến quần thể loài ngày càng suy giảm [51] Hiện nay loài này được phân hạng ở mức Nguy cấp (EN) trong Danh lục Đỏ IUCN (2008) [49],
Phụ lục I của CITES (1975) [27], ở mức Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1] và thuộc nhóm IB trong Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam [6] Các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy số lượng loài này rất hạn chế [56, 65, 69] Loài này hiện nay có thể được xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong Danh lục đỏ IUCN [49]
Ở phạm vi Quốc gia , giới hạn phân bố về phía Bắc của Vượn đen má trắng siki chưa được biết rõ, có thể nằm ở gần KBTTN đề xuất Khe Nét , tỉnh Quảng Bình
và KBTTN Kẻ Gỗ, tỉnh Hà Tĩnh; về phía Nam đến sông Thạch Hãn , tỉnh Quảng Trị
[69]
KBTTN đề xuất Khe Nước Trong (hiện nay là Rừng Phòng hộ Động Châu) nằm ở huyện Lệ Thủy , phía Tây Nam tỉnh Quảng Bình Nằm trong khu vực được đánh giá là trung tâm đa dạng sinh học của Việt Nam và Thế giới [7] KBTTN đề xuất Khe Nước Trong giáp với biên giới Việt Nam - Lào và KBTTN Bắc Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị Khu vực này có diện tích 19.188 ha, bao gồm chủ yếu là rừng
Trang 12nhiệt đới thường xanh nằm trong vùng sinh thái Đất thấp miền Trung rộng lớn (khoảng 500.000 ha) kéo dài dọc biên giới Việt Nam - Lào từ huyện Minh Hóa nối liền với các huyện Bố Trạch , Quảng Ninh và Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình sang huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị Đây là một trong những diện tích rừng tự nhiên liên tục nhất ở Việt Nam Đặc biệt hơn, KBTTN đề xuất Khe Nước Trong còn bảo tồn được một diện tích lớn kiểu rừng nhiệt đới thường xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp [7]
Nằm trong vùng phân bố của Vượn đen má trắng siki, sự hiện diện của loài ở KBTTN đề xuất Khe Nước Trong đã được đề cập trong nhiều năm gần đây [3, 4, 5, 30], tuy nhiên tình trạng của loài tại khu vực vẫn chưa được biết rõ Vì vậy, tôi đã
lựa chọn thực hiện đề tài “Nghiên cứu hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng
siki Nomascus siki (Delacour, 1951) tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong,
huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình”, với mục đích:
1 Xác định hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki trong khu vực nghiên cứu
2 Xác định các mối đe dọa đến tồn tại và phát triển của Vượn đen má trắng siki trong khu vực nghiên cứu
3 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiêu quả của công tác bảo tồn Đây là nghiên cứu đầu tiên về Vượn đen má trắng siki ở KBTTN đề xuất Khe Nước Trong Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ tạo cơ sở khoa học cho công tác bảo tồn loài Linh trưởng quý hiếm này, đồng thời góp phần khẳng định vai trò quan trọng của khu vực để sớm trở thành khu bảo tồn trong tương lai
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vượn đen má trắng siki Nomascus siki (Delacour, 1951)
1.1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu Vượn đen má trắng siki
Các nghiên cứu về Vượn đen má trắng siki ở Việt Nam trước đây chủ yếu về mặt phân loại (Groves 1972, 1993, 2001; Geissmann 1993, 1994, 1995; Geissmann
et al., 2000, 2007; Roos 2004; Roos et al., 2007; Zhang 1997; Mootnick 2006; Van Ngoc Thinh et al., 2010, 2011; ), các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái chỉ thực sự được thực hiện từ năm 2007 đến nay Tuy nhiên, những nghiên cứu này khá rời rạc
và chỉ tập trung vào xác định kích cỡ quần thể của loài ở một số khu bảo tồn
Nomascus siki có vùng phân bố nằm giữa N gabriellae và N leucogenys, trước đây N siki được xác định là phân loài của N gabriellae bởi Groves [44, 47],
vì xương dương vật của N siki dường như giống với N gabriellae [42] Tuy nhiên,
điều này không thích hợp để xác định ái lực của N siki, vì nó không đầy đủ và không phải của N siki mà là của N leucogenys [36]
Gần đây, các quan sát thấy rằng tiếng hót của N siki tương tự như của N leucogenys nhiều hơn bất kỳ loài Vượn nào khác bao gồm cả N gabriellae [37]
Tương tự, trình tự DNA ty thể cho thấy rằng N siki có liên quan chặt chẽ với N leucogenys hơn so với N gabriellae Là bằng chứng bổ sung cho một mối quan hệ chặt chẽ giữa N leucogenys và N siki, cần lưu ý rằng những con cái cả hai dạng này
đều giống nhau trong màu lông mà không có đặc điểm phân biệt nào được biết,
trong khi cả hai đều khác biệt với con cái của N gabriellae [36] Kết quả là, N siki
đã được công nhận là một phân loài của N leucogenys [36]
Groves & Zhang đã đề nghị tách N siki thành loài độc lập mặc dù cả hai tác giả đã nhận thức được sự gần gũi giữa các loài N leucogenys và N siki [69]
Sau này N siki được tách ra thành loài độc lập [37, 79, 81, 82]
Trang 141.1.2 Phân loại học
Vị trí phân loại của loài Vượn đen má trắng siki
Bộ Linh trưởng: - PRIMATES Linnaeus, 1758
Họ Vượn: - Hylobatidae Gray, 1871
Giống: - Nomascus Miller G., 1933
Loài: - Nomascus siki (Delacour, 1951)
1.1.3 Hình thái
- Thân hình thon nhẹ, chân tay dài
- Con đực có màu đen toàn thân, hai má lông màu trắng, mọc hướng lên trên, nhỏ, chỉ cao bằng nửa vành tai, nối nhau bằng vệt trắng dưới cằm
- Con cái lông màu vàng sẫm, lông quanh mặt tủa ngang, đỉnh đầu màu xám hoặc tua đen
Hình 1 Vượn đen má trắng siki Nomascus siki
Nguồn: Jonathan, 2016 [51]
Trang 151.1.4 Sinh thái và tập tính
Các quần thể Vượn đen má trắng siki ở Việt Nam ưa thích rừng thường xanh nhiệt đới ẩm trên đất thấp, phân bố theo độ cao giới hạn từ khoảng 30-100m trên mực nước biển [39] Tuy nhiên đã ghi nhận được loài này ở độ cao 176-600 m trên mực nước biển tại VQG Phong Nha-Kẻ Bàng [75] và lên đến 1,900 m trên mực nước biển ở khu bảo tồn quốc gia Nakai-Nam Theun, Lào [69], điều đó cho thấy sự linh hoạt và khả năng tồn tại trong rừng thường xanh trên núi Cho đến nay hầu như chưa có nghiên cứu nào về sinh thái hay tập tính của loài được thực hiện
Tương tự như các loài Vượn mào khác ở Việt Nam, Vượn đen má trắng siki kiếm ăn trên cây cao, thức ăn là quả, hạt, lá, chồi cây, côn trùng, trứng chim Tuổi thành thục vào khoảng 8 - 9 tuổi, thời gian mang thai khoảng 200 - 214 ngày, mỗi năm đẻ một lứa, mỗi lứa đẻ một con Sống thành từng đàn khoảng 3 cá thể như một gia đình Hoạt động kiếm ăn ban ngày vào buổi sáng và chiều, di chuyển nhẹ nhàng nhanh nhẹn trên cây, ít khi xuống mặt đất (IUCN, 2008) [49]
1.1.5 Tình trạng và phân bố toàn cầu
Vượn đen má trắng siki là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào, chỉ xuất hiện tại một khu vực rất nhỏ ở miền Trung Việt Nam và miền Nam Lào, khu phân bố của chúng bị giới hạn bởi sông Mê Kông về phía Tây và khu vực nông nghiệp ven biển Việt Nam về phía Đông [39] Tình trạng phân loại của Vượn đen má trắng siki đã được đánh giá khác rất khác nhau bởi các tác giả khác nhau, do đó cần thận trọng
khi đánh giá các ghi nhận về loài này Nomascus siki đầu tiên được coi như là loài phụ của N concolor [29, 42] sau đó được phân loại lại là phân loài của N gabriellae [47], sau đó được cho là phân loài của N leucogenys [34, 35, 36, 39, 71, 72] và sau này được nâng lên thành loài [37, 45, 60, 79, 80, 82, 86] Dựa vào các dữ liệu về di truyền và tiếng hót ghi nhận được trên toàn khu phân bố của giống
Nomascus, khu phân bố của N siki đã được sửa đổi và có sự cắt giảm đáng kể khu
phân bố của loài này [82] Loài này hiện nay có thể được xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong danh lục đỏ IUCN
[49] Các quần thể N siki tại Lào không được ước tính vào quần thể toàn cầu mặc
Trang 16dù nó được cho rằng các quần thể này còn lớn hơn so với quần thể ở Việt Nam [31, 39] Tất cả các quần thể đều bị đe dọa bởi hiện tượng săn bắn và sự suy thoái của môi trường sống
Tại Lào, N siki được cho là xuất hiện từ Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading,
phía Nam sông Kading về phía Bắc đến ít nhất là Khu Bảo tồn quốc gia Phou Xang
He về phía Nam và có thể xa hơn về phía Nam đến tận Khu Bảo tồn quốc gia Dong Phou Vieng Không có sự ước lượng về số lượng nào đối với loài này ở Lào, tuy nhiên có một số quần thể quan trọng tại các khu vực có sự quản lý hiệu quả bao gồm Khu Bảo tồn quốc gia Nam Kading và Khu Bảo tồn Nakai-Nam Theun (mặc
dù sự phân bố tại khu vực này là chưa rõ ràng), và tại các khu vực được bảo vệ tốt bởi các điều kiện tự nhiên như các Khu Bảo tồn quốc gia Phou Hin Boun và Hin Nậm Nô [69]
Ở Việt Nam, N siki phân bố tại 3 tỉnh là Quảng Bình, Hà Tĩnh và Quảng Trị
trong đó chủ yếu phân bố ở Quảng Bình Có 6 khu vực đã ghi nhận được các quần thể là: KBTTN đề xuất là Khe Vẽ, Khu Dự trữ thiên nhiên Giang Màn, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, lâm trường Trường Sơn, lâm trường Khe Giữa, KBTTN Bắc Hướng Hóa [69]
1.1.6 Tóm tắt về tình trạng và phân bố tại Việt Nam
1.1.6.1 Thay đổi về tình trạng từ năm 2000
Các thông tin mới đáng quan tâm về phân loại, phân bố và sinh thái của Vượn đen má trắng siki ở Việt Nam đã được ghi nhận từ bản đánh giá tình trạng Vượn ở Việt Nam đầu tiên Vượn đen má trắng siki trước đó được cho là xuất hiện tại 5 tỉnh thuộc Bắc miền Trung Việt Nam với giới hạn phân bố về phía Bắc và phía Nam tương ứng là sông Cả (tỉnh Nghệ An) và Vườn quốc gia Bạch Mã (tỉnh Thừa Thiên Huế) Tuy nhiên, từ kết quả của việc nâng cấp lên thành loài cũng như sự
tách ra của một dạng mới ở miền Trung Việt Nam (N annamensis), làm cho sự
phân bố quốc gia của của loài này đã bị giảm xuống thành một khu vực nhỏ hơn từ tỉnh Hà Tĩnh về phía bắc đến khoảng sông Thạch Hãn thuộc tỉnh Quảng Trị về phía
Trang 17Nam Giới hạn phân bố về phía Bắc của N siki ở Việt Nam chưa được biết rõ, khu vực ranh giới giữa N siki và N leucogenys nằm ở gần KBTTN đề xuất Khe Nét
(tỉnh Quảng Bình) và KBTTN Kẻ Gỗ (tỉnh Hà Tĩnh) nhưng tình trạng phân loại của các quần thể Vượn ở các khu vực này vẫn chưa được xác định Từ năm 2000, các
khảo sát về N siki đã được tiến hành ở tất cả các khu vực của Việt Nam mà trước
đó được biết là có sự xuất hiện của loài này Mặc dù vậy, có rất ít các hoạt động bảo tồn để bảo vệ các quần thể còn lại được thực hiện Hiện nay không có bất kì một sự
bảo vệ đặc biệt hay giám sát nào được dành cho N siki tại bất kỳ địa điểm nào ở
Việt Nam Các hoạt động săn bắt không kiểm soát và sự mất sinh cảnh vẫn là những
mối đe dọa lớn nhất đối với N siki Loài này đang bị suy giảm trên phạm vi quốc
gia và rõ ràng là không có trường hợp bảo tồn thành công nào kể cả trực tiếp hay là một phần của các sáng kiến đa dạng sinh học khác Quần thể ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng có thể đang ổn định nhưng số liệu không rõ ràng do dữ liệu cơ bản về một số phần của VQG này mới có được trong các năm gần đây
1.1.6.2 Các khu vực quan trọng trong bảo tồn
Hai phức hợp rừng lớn giữa VQG Phong Nha-Kẻ Bàng với lâm trường Trường Sơn và lâm trường Khe Giữa với KBTTN Bắc Hướng Hóa đang lưu giữ hầu
hêt quần thể N siki đã biết của Việt Nam [69] Các khu vực này nằm giữa các tỉnh
Quảng Bình và Quảng Trị và giáp với khu rừng ở phía Lào nơi xuất hiện N siki bao
gồm khu bảo tồn quốc gia Hin Nậm Hô Các quần thể khác bao gồm các đàn rải rác
và bị cô lập ở các Khu bảo tồn hiện tại hoặc đang được đề xuất Tại các KBTTN đề xuất Khe Vẽ và Giang Man có các quần thể nhỏ nhưng chúng bị cô lập bởi sự phát triển của các hoạt động sản xuất nông nghiệp
1.1.6.3 Các mối đe dọa
Săn bắn tiếp tục là mối đe dọa chủ yếu lên N siki ở Việt Nam, điều này dẫn
tới sự suy giảm, có khi tuyệt chủng cục bộ của loài tại một số khu vực Không có số liệu về số lượng cá thể bị săn bắn qua thời gian và xu hướng về săn bắn của loài này (ổn định, tăng hay giảm) cũng chưa được biết đến Nhưng rõ ràng các nỗ lực trong những năm qua để kiểm soát tình trạng săn bắn Vượn (và nhiều động vật hoang dã
Trang 18khác) ở Việt Nam phần lớn đã thất bại Ở hầu hết các khu vực, tác động của hiện tượng săn bắn đã kết hợp với sự liên tục biến mất hoặc suy thoái của sinh cảnh cũng như sự cô lập và kích thước rất nhỏ của hầu hết các quần thể Các đàn Vượn còn lại đang bị đe dọa nghiêm trọng do áp lực di truyền đến từ số lượng cá thể ít và các hiện tượng ngẫu nhiên như dịch bệnh và các hiện tượng thời tiết cực đoan [69]
1.1.7 Các ghi nhận Vượn đen má trắng siki tại Việt Nam
Ở Việt Nam, N siki phân bố tại 3 tỉnh là Quảng Bình, Hà Tĩnh và Quảng Trị
trong đó chủ yếu phân bố ở Quảng Bình Có 6 khu vực đã ghi nhận được các quần thể là: KBTTN đề xuất là Khe Vẽ, Khu Dự trữ thiên nhiên Giang Màn, VQG Phong Nha-Kẻ Bàng, lâm trường Trường Sơn, lâm trường Khe Giữa, KBTTN Bắc Hướng Hóa
Hình 2 Các khu vực ghi nhận sự tồn tại của Vượn đen má trắng siki ở VN
Nguồn: Rawson at al., 2011 [69]
Trang 191.1.7.1 KBTTN đề xuất Khe Vẽ
Trong năm 2004 có ít nhất 7 đàn Vượn đen má trắng siki đã được ghi lại
trong địa điểm này, được cho là khu vực cuối cùng còn tồn tại N siki ở huyện
Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình [64] KBTTN đề xuất Khe Vẽ và quần thể Vượn đen
má trắng siki tại đây bị cô lập bởi các khu vực đất trống, đất canh tác và hai hệ thống giao thông là quốc lộ 20 và đường Hồ Chí Minh
1.1.7.2 KBTTN đề xuất Giang Màn
Rất ít thông tin về tình trạng của Vượn đen má trắng siki ở khu vực này được biết đến, mặc dù 5 đàn Vượn đã được ghi nhận trong 2003 và 2004 [64] Phần lớn diện tích là rừng tự nhiên và vẫn cần được khảo sát để có thể xác định kích thước quần thể Vượn đen má trắng siki tại khu vực
1.1.7.3 Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Chưa có cuộc điều tra đầy đủ nào về N siki ở VQG Phong Nha-Kẻ Bàng được thực hiện, nhưng ở đây rõ ràng tồn tại một trong những quần thể N siki lớn
nhất ở Việt Nam và có thể trên toàn cầu Có ít nhất 9 cuộc khảo sát linh trưởng đã được thực hiện từ năm 1997 đến năm 2009 nhưng được tiến hành ở các khu vực khác nhau, với các mục tiêu và sử dụng các phương pháp khác nhau [48, 56, 66, 75] Haus at al., (2009) báo cáo ước tính một quần thể phân bố rộng khắp khu vực với 18 ± 18 đàn [48], tuy nhiên kết quả điều tra có kích cỡ mẫu nhỏ (chỉ có 1 đàn được ghi nhận) Một cuộc khảo sát vào đầu năm 2009 ở phía Đông Nam của VQG Phong nha - Kẻ Bàng đã ghi nhận 37 nhóm với 101 cá thể trên diện tích 5.400 ha, với mật độ 0,69 nhóm km2 [56] Khu vực này có rừng nguyên sinh phát triển trên núi đất và có thể là môi trường sống phù hợp hơn so với rừng núi đá vôi chiếm ưu thế ở phần còn lại của VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Ruppell (2007) ghi nhận được
13 nhóm Vượn đen má trắng siki giữa km 40 và km 52 của tuyến đường phục vụ chính trong VQG [75] Nói chung, những kết quả này cho thấy ít nhất 50 đàn tồn tại trong VQG, nhưng số lượng này không bao gồm phần lớn khu vực núi đá vôi không thể tiếp cận và có thể chứa một số lượng đáng kể của Vượn đen má trắng siki Quần
Trang 20thể N siki của VQG Phong Nha-Kẻ Bàng đã ghi nhận được cho thấy đây là một
trong những khu vực ghi nhận được số đàn nhiều nhất của loài
VQG Phong Nha-Kẻ Bàng tiếp giáp với KBTTN quốc gia Hin Nam No ở Lào và là khu vực tập chung của núi đá vôi lớn nhất ở Đông Dương Do không thể tiếp cận sâu đến khu vực này, có thể đảm bảo một mức độ bảo vệ tốt đối với động vật hoang dã nói chung
1.1.7.4 Lâm trường Trường Sơn
Các cuộc điều tra đa dạng sinh học tại khu vực này năm 2006 đã ghi lại được
9 đàn Vượn đen má trắng siki và năm 2009 một (1) đàn được ghi nhận [56] Khu vực tiếp giáp với VQG Phong Nha-Kẻ Bàng và lâm trường Khe Giữa có thể đang tồn tại một quần thể Vượn đen má trắng siki [56]
1.1.7.5 Lâm trường Khe Giữa
Tháng 1 năm 2006, 1 đàn Vượn đã được nghe gần trạm bảo vệ Khe Giữa dọc
theo đường Hồ Chí Minh Từ năm 2000 đến năm 2005 có ít nhất 4 đàn N siki đã
được ghi nhận tại địa điểm này [65] Nhưng các cuộc điều tra chỉ bao gồm các diện tích phía Tây Nam của khu vực (khoảng 20.000 ha), các quần thể khác có thể tồn tại
ở các khu vực khác Khu vực này kết nối với KBTTN Bắc Hướng Hóa và lâm trường Trường Sơn tạo thành một phức hợp rừng có thể là một trong số ít khu vực phân bố quan trọng nhất của loài
1.1.7.6 KBTTN Bắc Hướng Hóa
Các cuộc khảo sát đã được thực hiện tương đối rộng rãi trong KBTTN này Trong các năm 2007 đến 2009 đã ghi nhận 23 đàn trong 5 xã thuộc KBTTN Bắc Hướng Hóa và một số đàn khác được tìm thấy trong xung quanh các xã [69] Trước đây, các loài Vượn đen má trắng siki đã ghi nhận bởi người dân địa phương và các tài liệu thực địa KBTTN Bắc Hướng Hóa tiếp giáp với Lâm trường Khe Giữa tạo
thành một trong những cảnh quan quan trọng nhất cho N siki ở Việt Nam, bao gồm
hơn 180.000 ha đất rừng [69]
Trang 211.1.8 Tình trạng bảo tồn
Vượn đen má trắng siki là loài đặc hữu của Việt Nam và Lào , hiện được phân hạng ở mức Nguy cấp (EN A2c,d) trong Danh lục Đỏ các loài bị đe dọa của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN, 2008) [49], Phụ lục I của CITES (1975) [27] Ở phạm vi Quốc gia , loài này được xếp ở mức Nguy cấp (EN A1c,d C2a) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1] và thuộc nhóm IB của Nghị Định 32/NĐ-
CP của Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam [6]
Loài này có thể được xếp hạng “Cực kỳ nguy cấp” và đòi hỏi phải có sự đánh giá lại về tình trạng của nó trong danh lục đỏ IUCN (2008) [49] Hiện nay các quần thể Vượn đen má trắng siki tại Lào không được ước tính vào quần thể toàn cầu mặc dù nó được cho rằng các quần thể này còn lớn hơn so với quần thể ở Việt Nam
[39] Tất cả các quần thể đều bị đe dọa bởi hiện tượng săn bắn và sự suy thoái của môi trường sống [69]
Trang 22Chương 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Lý do lựa chọn khu vực nghiên cứu
Chúng tôi lựa chọn KBTTN đề xuất Khe Nước Trong, huyện Lệ thủy, tỉnh Quảng Bình để nghiên cứu vì những lý do sau đây:
- Là khu vực rừng kết nối giữa lâm trường Khe Giữa và KBTTN Bắc Hướng Hóa, đây là khu vực nằm trong phức hợp rừng có thể là một trong số ít khu vực phân bố quan trọng nhất của loài
- Đã có những ghi nhận sự tồn tại của Vượn đen má trắng siki tại khu vực trong các cuộc điều tra trước đây
- Nằm trong khu vực phân bố tự nhiên của Vượn đen má trắng siki, KBTTN
đề xuất Khe Nước Trong là một trong số ít các khu vực đang bảo tồn được một diện tích lớn rừng nhiệt đới thường xanh còn tính chất nguyên sinh trên vùng đất thấp Đồng thời khu vực này nằm trong vùng sinh thái đất thấp miền Trung rộng lớn được đánh giá là một trong các trung tâm đa dạng sinh học của thế giới
- Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp các thông tin làm cơ sở khoa học cho hoạt động bảo tồn đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của khu vực để sớm trở thành một KBTTN trong tương lai
Qua điều tra sơ bộ, các khu vực phía Đông chủ yếu là diện tích rừng nghèo đang trong quá trình phục hồi, không phải là môi trường sống thuận lợi cho Vượn đen má trắng siki Đồng thời, do hạn chế về thời gian và kinh phí thực hiện, vì vậy
đề tài chỉ được thực hiện tại 13 tiểu khu thuộc phía Tây và Trung tâm KBTTN đề xuất Khe Nước Trong
Trang 23Hình 3 Bản đồ khu vực điều tra
2.1.2 Điều kiện tự nhiên
KBTTN đề xuất Khe Nước Trong (hiện tại là khu RPH Động Châu) trước đây do LT Kiến Giang và LT Khe Giữa quản lý Năm 2006, UBND tỉnh Quảng Bình đã quyết định thành lập Ban quản lý RPH Động Châu theo Quyết định số 3136/QĐ-UBND ngày 13/11/2006 Tháng 12 năm 2006 Ban quản lý RPH Động Châu trực thuộc UBND huyện Lệ Thủy quản lý (Quyết định số 3557/QĐ-UBND ngày 29/12/2006 của UBND tỉnh Quảng Bình)
2.1.2.1 Vị trí địa lý
KBTTN đề xuất Khe Nước Trong nằm ở phía Tây Nam huyện Lệ Thủy, là khu vực giáp ranh giữa 2 tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị, có vị trí, ranh giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp LT Kiến Giang và LT Khe Giữa
- Phía Nam và phía Đông giáp tỉnh Quảng Trị
- Phía Tây giáp nước CHDCND Lào và tỉnh Quảng Trị
Trang 24Tọa độ địa lý: 16055’18’’ đến 1703’34’’ Vĩ độ Bắc
106032’31’’ đến 106048’27’’ Kinh độ Đông Toàn bộ KBTTN đề xuất Khe Nước Trong bao gồm 22 tiểu khu là: 496, 515,
Địa hình phức tạp, cao dần từ Đông sang Tây, đỉnh cao nhất là Động Châu
1254 m, Động Vàng Vàng 1250 m Khu vực có sườn núi phía tỉnh Quảng Bình rất dốc Các khe suối có độ dốc lớn nên mùa mưa có nước chảy xiết, thường gây ra lũ lớn [7]
2.1.2 3 Khi hậu, thủy văn
Khi hậu: Khí hậu của khu vực mang đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia
làm 2 mùa là mùa mưa và mùa khô
- Mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, có gió Tây Nam khô nóng và ít mưa
- Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, có gió mùa Đông Bắc mang theo hơi ẩm, khí hậu lạnh Mưa nhiều nhất tập trung từ tháng 9 đến tháng 11 chiếm 60 đến 70% lượng mưa cả năm
Thủy văn: Toàn bộ khu vực được đề xuất là vùng đầu nguồn của sông Long
Đại - một trong những con sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình Trong khu vực rất nhiều khe suối nhỏ chằng chịt tạo thành 2 hệ sông suối chính là hệ sông Sa Ram và Khe Bang Hệ Sa Ram gồm nhiều suối lớn đổ về như Suối Vàng, Khe Bung, suối Sa Ram Hệ Khe Bang cũng gồm nhiều suối lớn như: An Bai, Rào Chân và Khe Bang
Các sông suối trong khu vực thường ngắn, có độ dốc lớn, xâm thực sâu, vì thế thường gây lũ quét làm sạt lở đất, gẫy đổ cây rừng, và ảnh hưởng tới giao thông
đi lại trong vùng
Trang 25- Rừng thường xanh đất thấp nhiệt đới
Rừng thường xanh đất thấp nhiệt đới ở độ cao dưới 600m, có nhiều loại thực vật thường xanh lá rộng với tán lớn và thân cây to Những họ thường gặp là: Họ Xoan (Meliaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Trám (Burceraceae), họ Côm (Eleocarpaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dung (Simplocaceae), họ Trôm (Sterculiaceae), họ Mùng quân (Flacoutiaceae), họ Nhân sâm (Araliaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae) Kiểu rừng này cũng có nhi ều họ dây leo to, có thể dài đến 30 m, đường kính thân có thể đạt tới 10 cm Thường gặp các loài thuộc các họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Na (Annonaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Nho (Vitaceae), họ Thiên lý (Aslepiadaceae) Cây gỗ nhỏ, cây bụi dưới tán thường gặp các loài trong
họ Cà phê (Rubiaceae), họ Ôrô (Acanthaceae), họ Mua (Melastomataceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Cau dừa (Arecaceae), Dương xỉ mộc (Cyatheaceae) Trong tầng cỏ quyết: phổ biến gặp là các loài Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc họ Môn ráy (Araceae), họ Gai (Urticaceae), họ Dứa gai (Pandanaceae), họ Dong (Maranthaceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Đơn nem (Myrsinaceae) Ở những khoảng trống nhiều ánh sáng có thể có sự có mặt nhiều loài của họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cúc (Asteraceae) và họ Thu hải đường (Begoniaceae) Loại rừng này có các tầng sau:
Trang 26- Tầng vượt tán: Gồm các cây lớn, các cây thuộc tầng này cao 20-25m
Đường kính thân cây từ 40 đến 80 cm, có cây đạt tới 120cm Các loài cây phổ biến
là Trám hồng Canarium subulatum, Trám trắng Canarium album và các cây khác
thuộc họ Trám
- Tầng tán: Chủ yếu các cây gỗ có chiều cao tương đối đồng đều 10-20m, đường kính thân cây trung bình 30-40cm Tầng này có tính đa dạng cao và phụ thuộc vào vị trí mà có các họ thực vật ưu thế khác nhau: họ Dẻ (Fagaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Xoan (Meliaceae) và họ Bồ hòn (Sapindaceae)
- Tầng dưới tán: Chủ yếu gồm các cây nhỏ, chiều cao 7-10m và các cây tái sinh của tầng tán và tầng vượt tán Thường gặp các cây thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae), họ Sim (Myrtaceae), họ Ngũ gia bì (Araliaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae), họ Côm (Eleocarpaceae), họ Dẻ (Fagaceae),
họ Mùng quân (Flacourtiaceae), họ Na (Annonaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Cam quýt (Rutaceae), họ Thị (Ebenaceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Dung (Simplocaceae), họ Máu chó (Myristicaceae) Những nơi thung lũng ẩm có Dương
xỉ gỗ chi Cyatheca, nhiều loài Sung vả chi Ficus họ Dâu tằm (Moraceae), họ Dương đào (Actinidiaceae), chi Sổ (Dillenia) họ Sổ (Dilleniaceae)
- Tầng cây bụi: Bao gồm bụi nhỏ và các cây non cao dưới 5m Thường gặp là những loài ưa bóng Phổ biến hơn cả là các loài họ Mua (Melastomataceae), họ Ôrô (Acanthaceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cau dừa (Arecaceae)
- Tầng thảm tươi: Thành phần thực vật bao gồm các loài dương xỉ, cỏ quyết
Ưu thế của tầng này thuộc về các loài Dương xỉ (Polypodyophyta), nhiều loài thuộc
họ Môn ráy (Araceae), họ Gừng (Zingiberaceae), họ Dong (Maranthaceae), họ Gai (Urticaceae), họ Thài lài (Commelinaceae), họ Hòa thảo (Poaceae) Rừng ổn định
về cấu trúc và ánh nắng mặt trời hiếm khi chiếu đến nơi Do vậy, thực vật tầng này thưa thớt và chỉ bắt gặp các thảm tươi phong phú ở những nơi gần mép suối nơi có nhiều ánh sáng
Trang 27Thực vật ngoại tầng gồm nhiều loài trong họ Phong lan - Orchidaceae, các
loài Gắm - Gnetum spp., Kim cang - Smilax spp., họ Ráy - Araceae, họ Cau dừa - Arecacea, họ Na - Annonaceae và Giang - Dendrocalamus patellaris
Đây là kiểu rừng đóng vai trò quan trọng nhất và có giá trị bảo tồn cao trong
hệ sinh thái rừng của khu vực Chúng là sinh cảnh quan trọng của hầu hết các loài thú lớn, các loài chim, bò sát ếch nhái, cũng như côn trùng trong khu vực
- Rừng thường xanh trên núi đá
Có ở tiểu khu 537 với diện tích 2,972 km2 Trên núi đá thảm thực vật có nét đặc trưng, khác biệt so với thảm thực vật mọc trên núi đất Núi đá chỉ có một lớp đất rất mỏng phía trên và mặc dù vẫn có cấu trúc 5 tầng, rừng núi đá có tán mở rộng hơn và cây thấp hơn Rừng chủ yếu là cây cao từ 10 đến 15 mét, đường kính 50cm Thảm thực vật chủ yếu là các loài chịu khô và có thể mọc trên nền đá Các loài và
họ đặc trưng là: Lòng mang (Pterospermum), Trôm (Sterculliaceae), Trâm (Syzygium), Sim (Myrtaceae), Thị rừng (Diospyros), Bứa (Garcinia), Măng cụt (Guttiferae), Cóc rừng (Spondias), Dâu da xoan (Allospondias), Xuyên cóc (Choerospondias), Sung đào (Semecarpus), Bình linh (Vitex), Cỏ roi ngựa (Verbenaceae), Gai (Ulmaceae), Sếu (Celtis), Đay (Tiliaceae), Bần (Sonneratiaceae), Đùng đình (Caryota), Cau dừa (Arecaceae), Lụi (Rhapis), Phay (Duabanga sonneratoides) Trên núi đá vôi, thảm thực vật bò leo cũng có nhiều đại diện của các họ Môn ráy (Araceae), Tầm ma (Urticaceae), Hồ tiêu (Piperaceae) và
các loài Han trâu (Dendrocnide urentissima), Han tím (Laportea interrupta), Han
bò (Laportea thorelli) Trên những vách đá có họ Đa sung (Ficus), và ở những chỗ
ẩm hơn thường gặp loài Ngũ gia bì (Schefflera) họ Nhân sâm (Araliaceae)
- Rừng thường xanh núi thấp
Thảm thực vật che phủ vùng núi trên 600m, phát triển trên đất có hàm lượng cát thấp Cấu trúc rừng không đồng nhất phụ thuộc vào độ dốc của núi Ở vùng thung lũng bằng phẳng, rừng có cấu trúc 5 tầng giống với rừng thường xanh đất thấp, ở vùng dốc đứng và đỉnh núi, không có cây to cao nên chỉ thấy rõ 4 tấng Trên
Trang 28các đỉnh núi cao tầng đất mặt mỏng, cường độ ánh sáng và gió mạnh nên thành phần thực vật nghèo, chủ yếu là các loài chịu được điều kiện khắc nghiệt Ở vùng
này, rừng chỉ có 3 tầng và chủ yếu là họ Hòa thảo (Poaceae), Chè vè (Miscanthus floridulus), Chít (Thysanoloena maxima) hay Trúc gai (Sinarundinaria griffithiana)
Ở các vùng ít khắc nghiệt hơn, họ Dẻ (Fagaceae) có ưu thế tuyệt đối, chiếm 60% cá thể trong quần xã Trong kiểu thảm này còn có một số loài như Thông tre lá dài
(Podocarpus neriifolius), Thông nàng – Thông lông gà (Dacrycarpus imbricatus), Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri) Phổ biến trong khu vực này còn có loài
thuộc họ Thích (Aceraceae), Chẹo (Engelhardtia), Óc chó (Juglandaceae), Sau sau
(Hamamelidaceae), Chè (Theaceae), Chắp tay (Symingtonia populnea), Trúc gai (Sinarundinaria griffithiana), Giổi lá nhẵn (Michelia faveolata), Giổi găng (Paramichella baillonii), Sến (Madhuca pasquieri) và Lan hài (Paphiopedilum amabile)
Rừng trung bình
Môi trường sống của rừng thường xanh đất thấp và rừng thường xanh núi thấp bị tác động do hoạt động khai thác của con người Rừng thường xanh đất thấp đã bị khai thác để lấy gỗ quý Rừng thường xanh lưng núi cũng bị khai thác lấy gỗ
và cũng giống rừng đất thấp, rừng này chịu ảnh hưởng việc rải hóa chất gây rụng lá trong thời kì chiến tranh Việt Nam Đa dạng thực vật học của rừng trung bình cũng thấp hơn đáng kể so với rừng chất lượng cao
Rừng nghèo
Kiểu rừng này đ ất thoái hóa được bao phủ bởi những loài Trúc sặt
(Arundiunria peteloti) Loài tre này có thể cao từ 3 đến 5m và mọc ở những nơi rậm
rạp Mọc xen kẽ với tre là các cây thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Chè (Theaceae), họ
Bồ đề (Styraceae), họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae), họ Côm (Eleocarpaceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Phong (Aeraceae) Đôi khi cũng bắt gặp các họ Dẻ (Fagaceae), Óc chó (Juglandaceae), họ Chè (Theaceae), họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae), họ Long não (Lauraceae) và họ Côm (Eleocarpaceae)
Trang 29Rừng thứ sinh / phục hồi
Đây là loại rừng ở độ cao dưới 600m có ở tiểu khu 529 Rừng thứ sinh hình thành sau nương rẫy khoảng trên 10 năm Cấu trúc rừng và thành phần loài thực vật khác so với rừng nguyên sinh Có rất ít loài dây leo, các loài dương xỉ và không có thực vật bì sinh trên thân cây Nhìn chung, rừng thứ sinh ở đây r ất rậm rạp và cấu trúc rất hỗn độn, không phân tầng rõ ràng nhưng đôi khi vẫn có thể xác định được bốn tầng sau:
- Tầng vượt tán: Bao gồm chủ yếu các loài cây ưa ánh sáng mọc từ chồi hay hạt Các cây thường cao từ 8 đến 10m, đường kính từ 10 đến 15cm Thường thấy các loài thu ộc họ Màng tang (Litsea), Kháo (Machilus), Ô dược (Lindera), Long não (Lauraceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae), Cam quýt (Rutaceae), Du (Ulmaceae), Đậu (Fabaceae), Dâu tằm (Moraceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Xoài
(Anacardiaceae), và các chi Mã rạng Macaranga, Đại kích Mallotus, Sòi Sapium, Bridelia,Trám Canarium, Sung Ficus, Vang Trứng Endospermum sinensis, Ba gạc
lá xoan Euodia melifolia, Bưởi bung Acronychia pedunculata, Ngát Gironniera subaequalis, Hu đay Trema orientalis và Sếu Centis sinensis
- Tầng dưới tán: Bao gồm chủ yếu các loài cây nhỏ, thường giống với loài của tầng tán cao nhưng thấp hơn 5 đến 7m và các loài cây bụi Các họ thường thấy
là họ Cà phê (Rubiaceae) (đặc biệt là Camellia spp and Eugenia spp), họ Chè (Theaceae) (đặc biệt là Grewia spp.) và họ Đay (Tilliaceae)
- Tầng giữa: Chủ yếu bao gồm các cây nhỏ và cây bụi Điển hình là các loài đại diện cho họ Hoa mua (Melastomataceae), họ Cà phê (Rubiaceae), họ Cỏ roi
ngựa (Verbenaceae), họ Cau (Arecaceae), và đặc biệt là loài Lụi (Rapis excelsa)
- Tầng thảm tươi: Bao gồm chủ yếu dương xỉ và cỏ, thuộc các họ Gừng và Ráy Ở những khu vực ánh sáng có thể xâm nhập tới, có thể tìm thấy các loài thuộc
họ Hòa thảo, ở những nơi ẩm thấp, có thể tìm thấy các loài thuộc họ Cà phê (Rubiaceae), Hydeotis và Ô rô (Acanthaceae)
Trang 302.1.2.5 Khu hệ động vật
Cho đến nay, các nghiên cứu về khu hệ động vật ở KBTTN đề xuất Khe Nước Trong đã được thực hiện khá đầy đủ Các kết quả nghiên cứu đã thống kê được 39 loài thú thuộc 19 họ, 7 bộ; 170 loài chim thuộc 46 họ, 11 bộ, 17 loài bò sátthuộc 7 họ, 2 bộ; 15 loài lưỡng cư thuộc 5 họ, 1 bộ [7]
Các loài có giá trị bảo tồn cao nổi bật tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong là
Vượn đen má trắng siki (Nomascus siki), Chà vá chân nâu (Pygathryx nemaeus), Thỏ vằn (Nesolagus timminsi), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Trĩ sao (Rheinardia ocellata), Hông hoàng (Buceros birconis) và có thể còn tồn tại Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi)
2.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.3.1 Dân số, dân tộc
Dân cư sinh sống liền kề với rừng của KBTTN đề xuất Khe Nước Trong,phần lớn là đồng bào dân tộc Vân Kiều, có trình độ dân trí và tập quán canh tác còn hạn chế, chủ yếu dựa vào rừng để sinh sống, săn bắt động vật và khai thác lâm sản,
tỷ lệ gia tăng dân số cao Sản lượng lương thực bình quân đầu người thấp
Cơ sở hạ tầng: Mạng lưới giao thông qua các thôn bản và trong khu vực rất khó khăn, chủ yếu là đường lâm nghiệp, đường quốc phòng nhưng chất lượng không cao Đường qua nhiều khe suối, có độ dốc lớn, vào mùa mưa lũ thường xuyên phải sửa chữa
Tình hình kinh tế - xã hội: Đời sống nhân dân vùng liền rừng, gần rừng còn ở mức thấp Dân số gia tăng, lực lượng lao động thiếu việc làm chủ yếu dựa vào rừng
để mưu sinh, nhu cầu sử dụng gỗ ngày càng cao gây áp lực đối với nguồn tài nguyên rừng và đất rừng
2.1.3.2 Về nông nghiệp
Trồng trọt và chăn nuôi là hoạt động kinh tế chính của nhân dân sống gần KBTTN đề xuất Khe Nước Trong Toàn bộ khu vực có 50ha đất nông nghiệp [7]
Trang 31Người dân địa phương thu nhập chủ yếu từ các hoạt động như: Trồng lúa, ngô và chăn nuôi trâu, bò
Hoạt động sản xuất nông nghiệp trong khu vực còn gặp nhiều khó khăn và phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên: địa hình đồi núi dốc, thời tiết khắc nhiệt Kỹ thuật canh tác còn hạn chế
2.1.3.2 Về lâm nghiệp
Hầu hết các hộ gia đình được tham gia vào công tác bảo vệ rừng của Ban
quản lý RPH Động Châu theo các hợp đồng khoán bảo vệ rừng Hiện tại các hộ gia
đình tại xã Kim Thủy đó được giao đất rừng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Toàn bộ diện tích được giao này không nằm trong khu vực đề xuất xây dựng KBTTN Xã Kim Thủy có nguồn thu chính từ trồng rừng, trung bình 3 ha/hộ
có hộ nhiều nhất lên tới 60ha Cây trồng rừng chủ yếu là keo lá tràm, một số hộ đang chuyển đổi sang trồng cao su [7]
2.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 8 năm 2017, trong đó thực hiện 04 đợt điều tra với tổng số 93 ngày thực địa
- Đợt 1: 19/4 - 11/5/2016 (Điều tra theo tuyến và điểm nghe)
- Đợt 2: 25/8 - 13/9/2016 (Điều tra theo tuyến và điểm nghe)
- Đợt 3: 08/6 - 29/6/2017 (Điều tra theo tuyến)
- Đợt 4: 03/8 - 30/8/2017 (Điều tra theo tuyến)
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp phỏng vấn
Tiến hành phỏng vấn các cán bộ của Ban quản lý và người dân địa phương
về khu vực ghi nhận được tiếng hót của Vượn đen má trắng siki Để đảm bảo độ tin cậy của thông tin thu được , phỏng vấn được thực hiện nhiều lần với nhiều người ở nhiều thôn bản khác nhau Kết quả điều tra được sử dụng để giới hạn khu vực điều tra, xây dựng hệ thống tuyến điều tra và hệ thống các điểm nghe
Trang 322.3.2 Phương pháp điều tra theo tuyến
2.3.2.1 Thiết kế điều tra
Chúng tôi đã xây dựng 21 tuyến điều tra trên di ện tích 103,998 km2 thuộc 13 tiểu khu của KBTTN đề xuất Khe Nước Trong Các tuyến điều tra được thiết lập dựa trên bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng rừng , các lối mòn có sẵn hoặc tạo mới, có chiều dài từ 2,0 - 3,5 km đi qua rừng thường xanh có sinh cảnh thích hợp cho Vượn đen má trắng siki Thời gian điều tra trên tuyến từ 7h00 đến 17h00
Trong quá trình điều tra theo tuyến , các thành viên nhóm điều tra đi b ộ dọc theo tuyến với tốc độ chậm 1-2 km/giờ, chú ý quan sát , lắng nghe ti ếng kêu, tiếng hót của Vượn đen má tr ắng siki đồng thời tiến hành ghi nhận các tác động, bao gồm các hoạt động của con người và gia súc bắt gặp, xác định toạ độ vị trí khi bắt gặp các tác động, đánh giá mức độ tác động, chụp ảnh
2.3.2.2 Thu thập số liệu
Khi phát hiện , Vượn đen má trắng siki được quan sát và theo dõi bằng mắt thường, ống nhòm, chụp ảnh hoặc quay phim (nếu có thể ) Dùng GPS để xác định tọa độ điểm gặp Vượn, mô tả sinh cảnh khu vực và ghi các thông tin vào Phiếu Điều tra Vượn theo tuyến (Phụ lục 1)
2.3.2.3 Xử lý số liệu
Các số liệu quan sát được thống kê và tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 1 Bảng tổng hợp số liệu quan sát theo tuyến
Tên đàn Ngày Tiểu Khu
Tọa độ Độ
cao
Thời gian
Số lượng Người
Q Sát
Ghi chú
Trang 332.3.3 Phương pháp điều tra theo điểm nghe
2.3.3.1 Thiết kế điều tra
Các loài Vượn hầu hết đều nhạy cảm với sự hiện diện của con người Vì thế việc ghi nhận hình ảnh của Vượn là rất khó khăn Tuy nhiên, Vượn có thể được phát hiện thông qua tiếng hót to và dài Vì vậy, phương pháp điều tra Vượn dựa trên tiếng hót tại các điểm nghe được sử dụng để đánh giá quy mô quần thể và mật độ Vượn trong đợt khảo sát
Chúng tôi đã thi ết lập 30 điểm nghe (trong đó có 23 điểm nghe 3 ngày và 7 điểm nghe 2 ngày) trên diện tích 103,998 km2 thuộc 13 tiểu khu của KBTTN đề xuất Khe Nước Trong (bảng 2 và hình 5)
Bảng 2 Số ngày điều tra tại các điểm nghe
Vị trí các điểm nghe được xác định tọa độ (GPS) và thể hiện trên bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng rừng KBTTN đề xuất Khe Nước Trong Khoảng cách nghe được tiếng Vượn hót khoảng 1,5 km phụ thuộc vào địa hình vì thế các đ ịa điểm nghe được bố trí cách xa nhau khoảng 2 km
Trang 34Do Vượn đen má trắng siki có tập tính thường bắt đầu hót từ sáng sớm (khi mặt trời mọc) vì thế thời gian tr ực ở các đi ểm nghe là từ 5 giờ đến 9 giờ sáng Mỗi điểm nghe được điều tra ba ngày liên tục
Hình 4 Hình minh họa xác định các đàn Vượn hót trên các điểm nghe
Nguồn: Vu Tien Thinh and B Rawson, 2011 [84]
Trong thời gian tr ực tại điểm nghe , các thành viên không t ạo ra tiếng ồn, không nói chuyện riêng, không hút thuốc lá, tập trung nghe và quan sát Vượn đen
má trắng siki từ các điểm nghe (nếu có thể)
Trang 35Hình 5 Bản đồ các tuyến điều tra và các điểm nghe
2.3.3.2 Thu thập số liệu
Khi phát hiện tiếng hót của Vượn, dùng máy ghi âm ghi l ại tiếng hót , dùng địa bàn để xác định góc phương vị từ điểm nghe đ ến đàn Vượn hót, xác định th ời gian Vượn b ắt đầu, kết thúc đợt hót và ước lượng khoảng cách từ điểm nghe đến đàn Vượn Các thông tin về tọa độ điểm nghe, sinh cảnh xung quanh điểm nghe cũng được ghi vào Phiếu điều tra Vượn theo điểm nghe (phụ lục 2)
Sau mỗi ngày điều tra , các thành viên của các điểm nghe thông báo kết quả điều tra trong ngày Dựa trên bản đồ địa hình, cùng nhau thảo luận để xác định vị trí số đàn Vượn dựa trên góc phương vị và thời gian các đàn Vượn bắt đầu , kết thúc hót
3.3.3.3 Xử lý số liệu
Vị trí của một đàn Vượn có thể được xác định bằng việc sử dụng các góc phương vị và khoảng cách ước lượng từ các điểm nghe khác nhau
Đàn được phân biệt theo vị trí hót của chúng Các đàn được coi là riêng biệt nếu khoảng cách giữa các vị trí hót được xác định lớn hơn 500m, và mật độ đàn sau
Trang 36đó được ước tính [24] Tuy nhiên, trong một số trường hợp, tại cùng một thời điểm, các đànVượn hót được ghi nhận có khoảng cách dưới 500m cũng được chấp nhận.
Trên cơ sở số lượng đàn và cá thể Vượn đã được xác định , sử dụng phương
pháp của Jiang, X., et al (2006) [50] để tính xác suất hót trong 1 ngày Theo Vu Tien Thinh and Dong Thanh Hai (2015) [85] để ước tính kích thước quần thể và mật độ đàn Vượn trong toàn khu vực
Trong các cuộc điều tra Vượn rất khó để tránh chồng lấn diện tích của các điểm nghe Khi các điểm nghe gần nhau được khảo sát, các khu vực chồng lấn được khảo sát trong nhiều ngày hơn các khu vực không chồng lấn Vì thế, việc dự đoán
sử dụng một số hiệu chỉnh chung có vẻ không phù hợp Kết quả ước tính số lượng đàn Vượn có thể cao hơn thực tế Và đặc biệt quan trọng nếu khu vực chồng lấn có diện tích lớn hơn các khu vực không chồng lấn Vì vậy, việc sử dụng một Hệ số hiệu chỉnh có trọng số là một điều cần thiết Ngoài ra, hệ số hiệu chỉnh có trọng số cũng cho phép sự linh hoạt trong thiết kế điều tra, các nỗ lực khác nhau có thể được
áp dụng cho các điểm nghe khác nhau
ai: Diện tích điều tra trong i ngày
Ci: Hệ số hiệu chỉnh áp dụng cho khu vực điều tra trong i ngày
với Ci = 1 – (1 - pi)i
A: Tổng diện tích điều tra
m: Số ngày khảo sát tối đa một diện tích nghiên cứu
Trang 37Số ngày khảo sát tối đa một diện tích nghiên cứu được tính như sau:
Hình 6 Giải thích về cách xác định “Hệ số hiệu chỉnh có trọng số”
Khu A được khảo sát trong 1 ngày: Hệ số hiệu chỉnh C1 = 1- (1-p1)1
Khu B được khảo sát trong 2 ngày: Hệ số hiệu chỉnh C2 = 1- (1- p1)2
Khu C sẽ được khảo sát trong 3 ngày: Hệ số hiệu chỉnh C3 = 1- (1- p1)3
Các yếu tố điều chỉnh luôn luôn <1
Số lượng các đàn Vượn đen má trắng siki trong khu vực khảo sát được ước tính bằng cách chia số lượng các đàn nghe được cho hệ số hiệu chỉnh có trọng số
Từ đó tổng số các đàn Vượn đen má trắng siki ở 13 tiểu khu của KBTTN đề xuất Khe Nước Trong được ngoại suy dựa trên mật độ và kích thước môi trường sống
Các thông tin và số liệu sẽ được phân tích, và xử lý dựa trên việc ứng dụng các phần mềm thông thường như Excel, Mapinfo 11.5 Trong đó phần mềm MapInfo được sử dụng cho việc phân tích, xử lý bản đồ, tính toán diện tích các khu vực nghe chồng lấn…
2.3.4 Phương pháp xác định và đánh giá hiện trạng các đe dọa
Việc đánh giá mức độ các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh của Vượn đen má trắng siki tại khu vực nghiên cứu, dựa trên cơ sở việc xếp hạng và cho điểm từ 1 – đến 5, sau đó sắp xếp giảm dần theo mức độ ảnh hưởng của mối đe dọa theo 3 tiêu chí Diện tích, cường độ và tính nguy hại
- Diện tích vùng bị ảnh hưởng của mối đe dọa: Là tỉ lệ diện tích bị ảnh
hưởng bởi mối đe dọa tại khu vực nghiên cứu: ảnh hưởng đến toàn sinh cảnh hay
A C B
Trang 38chỉ ảnh hưởng giới hạn tới một vùng nhỏ Cho điểm 5 với những mối đe dọa có vùng ảnh hưởng rộng nhất, và giảm dần cho tới điểm 1 tương ứng diện tích vùng bị ảnh hưởng bởi đe dọa là nhỏ nhất
- Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa: Mức độ phá hủy hay tính chất khốc
liệt của mối đe dọa tới sinh cảnh Cường độ mạnh, yếu của mối đe dọa sẽ tương ứng với sự phá huỷ hoàn toàn sinh cảnh hay chỉ là ảnh hưởng cục bộ tới một phần nhỏ nào đó Tương ứng với đó, tiến hành cho điểm từ cao xuống thấp tùy thuộc cường
độ tác động
- Tính nguy hại của mối đe dọa: Được hiểu là tầm ảnh hưởng của mối đe dọa
theo thời gian, liệu mối đe dọa này chỉ ảnh hưởng ở thời điểm hiện tại hay cả trong tương lai Tương tự như trên, ta cũng cho điểm từ cao xuống thấp tương ứng với tính cấp thiết của từng mối đe dọa
Trang 39Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Hiện trạng quần thể Vượn đen má trắng siki tại KBTTN đề xuất Khe Nước Trong
3.1.1 Kích thước quần thể của Vượn đen má trắng siki
Từ 30 điểm nghe được điều tra trong 2-3 ngày, chúng tôi đã ghi nhận được
251 đợt hót vủa Vượn đen má trắng siki Trên các điểm nghe, số lượng các đợt hót ghi nhận được giao động từ 1 - 19 đợt, trong đó có 9 điểm nghe ghi nhận được trên
10 đợt hót, 14 điểm nghe nghi nhận được từ 5 - 9 đợt hót, 7 điểm nghe ghi nhận được từ 1 - 4 đợt hót (bảng 3 và phụ lục 6)
Bảng 3 Số lượng đàn Vượn đen má trắng siki xác định được tại các điểm nghe
Điểm nghe Số đợt hót Số đàn
Vượn Điểm nghe Số đợt hót
Số đàn Vượn
Trang 40Trên cơ sở phân tích 251 đợt hót đã xác định được 147 đợt hót của 82 đàn ghi nhận trên 1 điểm nghe, 68 đợt hót của 18 đàn được ghi nhận trên 2 điểm nghe,
36 đợt hót của 6 đàn được ghi nhận trên 3 điểm nghe Như vậy, qua kết quả phân tích đã xác định được 106 đàn Vượn đen má trắng siki
Dựa trên vị trí các đàn Vượn được xác định trên bản đồ, chúng tôi đã xác định được 103 đàn Vượn đen má trắng siki nằm trong diện tích của 13 tiểu khu thuộc KBTTN đề xuất Khe Nước Trong