Nghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồnNghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển ven bờ Thái Thụy Thái Bình và những áp lực từ kinh tế xã hội để có các hoạt động bảo tồn
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM
VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
- -
Ngô Thị Thu Hiền
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC VÙNG BIỂN VEN BỜ THÁI THỤY – THÁI BÌNH VÀ NHỮ Ự Ừ KINH TẾ - XÃ HỘI ĐỂ CÓ CÁC HOẠ ĐỘNG BẢO TỒN
Trang 2LỜI AM ĐOA
Tên tôi là: Ngô Thị Thu Hiền Chuyên ngành: Động vật học
Tôi xin cam đoan quyển luận văn được chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của
TS Lê Hùng Anh với đề tài nghiên cứu trong luận văn: “Nghiên cứu đa dạng sinh
học vùng biển ven bờ Thái Thụy – Thái Bình và nhữ từ kinh tế - xã hội
để có các hoạt động bảo tồn”
Đây là đề tài nghiên cứu mới, không trùng lặp với các đề tài luận văn nào trước đây, do đó, không phải là bản sao chép của bất kỳ một luận văn nào Nội dung của luận văn được thể hiện theo đúng quy định Các số liệu, nguồn thông tin trong luận văn là do tôi điều tra, trích dẫn và đánh giá Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung tôi đã trình bày trong luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
ƯỜI VIẾ AM ĐOA
Ngô Thị Thu Hiền
Trang 3LỜI CẢM Ơ
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Hùng Anh, giảng viên hướng dẫn đề tài luận văn, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện và hoàn thành nội dung của đề tài luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giáo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, những người đã cho tác giả kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập tại trường để tôi có thể hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Luận văn không thể hoàn thành nếu như không nhận được sự cho phép, tạo điều kiện và giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo và đồng nghiệp Cục Bảo tồn đa dạng sinh học, Tổng cục Môi trường, nơi tôi đang công tác
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Sở Tài nguyên môi trường Thái Bình, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thái Bình và Ủy ban nhân dân huyện Thái Thụy đã tạo điều kiện cho tôi khảo sát và thu thập tài liệu để có cơ sở dữ liệu phục vụ cho luận văn
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp của thầy cô và các bạn để hoàn thiện luận văn
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thế giới 3
1.2 Trong nước 7
1.3 Khu vực nghiên cứu 9
1.3.1 Vị trí địa lý 9
1.3.2 Địa hình, địa mạo 10
1.3.3 Đặc điểm thổ nhưỡng 11
1.3.4 Khí hậu 14
1.3.5 Chế độ thủy, hải văn 16
1.3.6 Diễn thế sinh thái đất ngập nước ven bờ Thái Thụy 19
II THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Thời gian thực hiện 27
2.2 Địa điểm thực hiện 27
2.3 Đối tượng nghiên cứu 29
2.4 Nội dung thực hiện 29
2.5 Phương pháp nghiên cứu 29
2.5.1 Cách tiếp cận 29
2.5.2 Phương pháp điều tra và kỹ thuật sử dụng 30
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31
3.1 Hiện trạng môi trường nước 31
Trang 53.2 Đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu 36
3.2.1 Đa dạng các kiểu đất ngập nước và nơi cư trú 36
3.2.2 Đa dạng thành phần loài sinh vật 44
3.3 Nguồn lợi sinh vật 67
3.4 Những lợi ích thu được từ các dịch vụ HST đất ngập nước ven biển Thái Thụy 69
3.4.1 Giá trị lưu giữ ĐDSH 71
3.4.2 Dịch vụ cung cấp 72
3.4.3 Dịch vụ điều tiết và bảo vệ môi trường 73
3.5 Những áp lực kinh tế-xã hội của huyện Thái Thụy và các xã ven biển Thái Thụy 75
3.5.1 Diện tích, dân số 75
3.5.2 Hiện trạng khai thác sử dụng đất, mặt nước 81
3.6 Các áp lực tác động tới đa dạng sinh học 84
3.6.1 Phát triển kinh tế biển và khu vực ven biển liên quan tới môi trường và ĐDSH 84
3.6.2 Khai thác trái phép tài nguyên sinh vật 87
3.6.3 Thay đổi phương thức sử dụng bãi triều, mặt nước 89
3.6.4 Ô nhiễm môi trường từ các hoạt động kinh tế 92
3.6.5 Biến đổi khí hậu 96
3.6.6 Sự du nhập các loài ngoại lai xâm hại 98
3.6.7 Dân số vùng đệm tăng gây áp lực khai thác tài nguyên sinh vật 99
3.6.8 Vấn đề quản l c n những bất cập 100
3.7 Các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học 101
ẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ TN & MT, MONRE Bộ Tài nguyên và Môi trường
Công ước CITES Công ước về thương mại quốc tế các loài,
Trang 7Chữ viết tắt Giải nghĩa
nguyên thiên nhiên
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UNESCO Tổ chức giáo dục khoa học và văn học của liên
hiệp quốc
Vietnature Trung tâm ảo tồn Thiên nhiên Việt
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Kết quả đo các yếu tố môi trường thủy l cơ bản tại hiện trường (tháng 1/2016) 31 ảng 3.2 ết quả phân tích các yếu tố thủy hóa vệ sinh và muối dinh dưỡng tại ven bờ Thái Thụy tháng 1 2016 32 Bảng 3.3 Kết quả đo đạc và phân tích thủy hóa tại vùng nước biển ven bờ Thái Thụy vào các mùa khô tháng 3 2013 và mùa mưa tháng 7 2013 33 ảng 3.4 Nồng độ trung bình hàm lượng sắt trong nước biển ven bờ cửa sông ở Thái Thụy 34 Bảng 3.5 Nồng độ các chất hữu cơ trên sông Hóa tại xã Thụy Trường trong năm
2014 34 ảng 3.6 Số liệu kiểm kê diện tích rừng 5 xã ven biển Thái Thụy năm 2015 theo các nguồn khác nhau 37 Bảng 3 7 Diện tích các kiểu ĐNN cơ bản ở vùng ven bờ huyện Thái Thụy, tỉnh Thái ình 42 Bảng 3.8 Cấu trúc các taxon thực vật bậc cao có mạch ở vùng đất ven biển Thái Thụy 45 Bảng 3.9 Số lượng loài, mật độ, sinh khối và chỉ số đa dạng động vật đáy ở ven bờ Thái Thụy 53 Bảng 3.10.So sánh cấu trúc thành phần loài côn trùng tại vùng ĐNN Thái Thụy (Thái Bình) và khu vực VQG Xuân Thủy (Nam Định) 55 Tuy cấu trúc thành phần loài côn trùng có sự tương đồng giữa khu vực nghiên cứu
và VQG Xuân Thủy nhưng độ tương đồng về thành phần loài giữa hai khu vực không cao, chỉ số tương đồng dijk = 0,4 với 84 loài côn trùng được tìm thấy ở cả hai điểm Rõ ràng mặc dù đều là các vùng ĐNN ven biển thuộc đồng bằng sông Hồng, khu vực Thái Thụy và Xuân Thủy vẫn có những nét đặc trưng riêng về sinh cảnh dẫn đến thành phần côn trùng ở hai nơi có những nét khác biệt .56 Bảng 3.11 Chỉ số đa dạng của côn trùng giữa hai sinh cảnh nghiên cứu tại Thái Thụy 57
Trang 9Bảng 3.12 Danh sách các loài bò sát bị đe dọa ghi nhận ở vùng đất ngập nướcven biển Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 58 Bảng 3.13 So sánh mức độ tương đồng (Sorensen-Dice) về thành phần loài ếch nhái và bò sát của vùng đất ngập nước ven biển Thái Thụy, tỉnh Thái Bình với các khu vực lân cận 58 Bảng 3.14.Các loài chim quý, hiếm có giá trị bảo tồn ở vùng ĐNN ven biển 60 Thái Thụy 60 Bảng 3.15 So sánh đa dạng thành phần các loài chim tại một số khu vực tại vùng Đồng bằng Sông Hồng .61 Bảng 3.16 Số lượng loài sinh vật đã biết ở vùng ĐNN ven bờ biển Thái Thụy 66 ảng 3.17 Cơ cấu dân số huyện Thái Thụy, Thái ình (người .75 Bảng 3.18 Diện tích, dân số và mật độ dân số các xã khu vực dự án năm 2015 75 ảng 3.19 Diện tích nuôi tôm, cá mặn, lợ vụ Xuân H năm 2016 (ha .79 ảng 3.20 Diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ và sản lượng thủy sản nuôi trồng huyện Thái Thụy thời kỳ 2010 - 2015 80 ảng 3.22 ế hoạch phát triển thuỷ sản mặn lợ ven biển của huyện Thái Thụy giai đoạn 2016-2020 85 ảng 3.23 Dự báo lượng nước sử dụng và nước thải tại Thái Thụy năm 2020
(m3 ngày .95
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Biến động hệ sinh thái rừng ngập mặn ven bờ Thái Thụy qua các năm từ
1987 tới 2015 thông qua phân tích, giải đoán ảnh vệ tinh 21
Hình 1.2 Diễn thế sinh thái vùng đất ngập nước ven bờ Thái Thụy 24
Hình 2.1 Các tuyến, điểm khảo sát môi trường và ĐDSH tại vùng ĐNN ven biển Thái Thụy năm 2016 (Tháng 1, Tháng 2 và tháng 3 .28
Hình 3.1 Một số kiểu ĐNN ven biển Thái Thụy 41
Hình 3.2 ản đồ các kiểu ĐNN ven biển Thái Thụy (lập từ ảnh viễn thám Landsat chụp ngày 26/6/2016) 43
Hình 3.3: Biểu đồ so sánh số loài loài côn trùng tại vùng ĐNN Thái Thụy (Thái Bình) và khu vực VQG Xuân Thủy (Nam Định) 56
Hình 3.4 Phân tích tập hợp nhóm về thành phần loài ếch nhái và bò sát của vùng đất ngập nước ven biển Thái Thụy, tỉnh Thái Bình với các khu vực lân cận (giá trị gốc nhánh lặp lại 1000 lần) 59
Hình 3.5: So sánh đa dạng thành phần các loài chim tại một số khu vực tại vùng Đồng bằng Sông Hồng 62
Hình 3.6 Sơ đồ tổng giá trị của dịch vị các HST ĐNN ven biển Thái Thụy 71
Hình 3.7 Hoạt động khai thác thủy sản vùng cửa sông Thái ình 89
Hình 3.8 Thay đổi vùng ĐNN sang nuôi, trồng thủy sản 92
Hình 3.9 Rác thải dân cư xả hàng ngày ra bên ngoài đê, trong RNM 96
Hình 3.10 Cá vược nuôi tại các xã ven biển Thái Thụy bị chết rét vào tháng 1/2016 97
Hình 3.11 Tác động kéo dài của biến đổi khí hậu tại khu vực nghiên cứu 98
Hình 3.12 Sơ đồ các tuyến và điểm quan trắc đa dạng sinh học 104
Trang 11tự nhiên có độ tuổi ước tính trên 50 năm với loài bần chua (Sonneratia caseolaris)
chiếm ưu thế (Pedersen và Nguyễn Huy Thắng 1996b, đã được cập nhật , chủ yếu
ở xã Thụy Trường
Rừng ngập mặn bên cạnh thành phần loài cây ngập mặn c n là nơi cư trú của quần xã động vật hoang dã rất đa dạng về thành phần loài và phong phú về số lượng cá thể, đồng thời cũng là nơi nuôi dưỡng rất nhiều các loài thủy, hải sản có giá trị kinh tế ở giai đoạn con non Các kết quả điều tra, nghiên cứu ở vùng ĐNN ven biển Thái Thụy từ trước đây đã cho thấy khu vực này có hơn 1 nghìn loài động vật sống trong các hệ sinh thái rừng ngập mặn, bãi triều và vùng nước cửa sông ven
bờ Trong số đó, có một số loài chim nước di cư, trú đông bị đe dọa trên toàn cầu được ghi trong Danh lục đỏ IUCN, đến đây trú ngụ và kiếm ăn như c thìa
(Platalea minor), mòng bể mỏ ngắn (Larus saundersi), rẽ mỏ thìa (Eurynorhynchus
pygmeus) và quắm đầu đen (Threskiornis melanocephalus) (Pedersen và Nguyễn
Huy Thắng, 1996b; Nguyen Duc Tu, Le Manh Hung, Le Trong Trai, Ha Quy Quynh, Nguyen Quoc Binh and Thomas, R., 2006) Do có tầm quan trọng quốc tế trong công tác bảo tồn các loài chim di trú nên Thái Thụy đã được công nhận là
một trong số những vùng chim quan trọng của Việt Nam (Tordoff, 2002)
Năm 2002, vùng ĐNN cửa sông Thái Thụy được ghi nhận là một trong số 68 khu ĐNN có tầm quan trọng quốc gia, quốc tế của Việt Nam (Bộ TN & MT, 2002) Đến ngày 2 tháng 12 năm 2004, UNESCO đã công nhận “ hu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng” gồm các vùng đất ngập nước phía Nam vùng duyên hải Bắc
Bộ nằm ở các cửa sông Thái Bình, sông Hồng và sông Đáy thuộc 3 tỉnh châu thổ sông Hồng là Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình là một khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam
Trang 12Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng của tỉnh Thái Bình nói chung, vùng ven biển Thái Thụy nói riêng, đã có những tác động tới các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, làm suy giảm mức độ ĐDSH thể hiện ở số lượng cá thể các loài chim di cư trú đông có giá trị bảo tồn giảm, đồng thời nguồn lợi thủy, hải sản ở đây, đặc biệt các loài có giá trị kinh tế cũng bị suy giảm
Trong bối cảnh như trên, việc thành lập khu bảo tồn đất ngập nước ven biển Thái Thụy là hết sức cần thiết, để qua hình thức bảo tồn tại chỗ này, các giá trị ĐDSH của vùng đất ngập nước ven biển Thái Thụy, tỉnh Thái ình được bảo tồn hiệu quả Các hoạt động phục hồi, phát triển và sử dụng khôn khéo tài nguyên ĐNN được tăng cường, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đồng thời ứng phó với biến đổi khí hậu
Do đó, học viên lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học vùng biển
ven bờ Thái Thụy – Thái Bình và nhữ từ kinh tế - xã hội để có các hoạt động bảo tồn” nhằm đáp ứng phần nào các vấn đề đặt ra
Mục tiêu của luận văn: Có được các dẫn liệu điều tra cơ bản được cập nhật về
điều kiện tự nhiên, môi trường sống và đa dạng sinh học vùng ĐNN Thái Thụy, về tình trạng hệ sinh thái RNM, hệ sinh thái bãi triều không có RNM và quần xã sinh vật, các loài chim di cư trú đông và các loài động vật quý hiếm khác, có giá trị bảo tồn và giá trị kinh tế
Nội dung triển khai:
1/ Tổng hợp các nguồn tài liệu sơ cấp, thứ cấp về nguồn lợi sinh vật, đa dạng sinh học, dịch vụ hệ sinh thái và những áp lực tới ĐDSH;
2 Điều tra thực địa thu thập mẫu, quan sát, phỏng vấn và ghi chép dẫn liệu, số liệu vào các bảng điều tra;
3 Đánh giá nguồn lợi sinh vật, mức độ đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu so sánh với các khu vực lân cận (Tiền Hải – Thái Bình, VQG Xuân Thủy – Nam Định);
4 Xác định được những nguyên nhân cơ bản tác động tới đa dạng sinh học và nguồn lợi các loài sinh vật quý hiếm, có giá trị bảo tồn cũng như khả năng phục hồi, phát triển HST RNM, bãi triều và các quần thể sinh vật có giá trị khác
Trang 13I Ổ QUA ÀI IỆU
1.1 hế giới
Một số mô hình, cách làm thực tế về sử dụng khôn khéo ĐNN nhằm giảm thiểu áp lực từ phát triển kinh tế - xã hội mà đảm bảo được hoạt động bảo tồn tương đối thành công trên thế giới và trong khu vực sẽ được phân tích và nghiên cứu và làm rõ trong luận văn dưới đây Ngoài ra, các mô hình này có điều kiện khá giống với Việt Nam nói chung và vùng biển ven bờ Thái Thụy – Thái Bình nói riêng, vì thế việc nghiên cứu áp dụng trong điều kiện thực tế là rất cần thiết Nội dung cụ thể các mô hình như sau:
1.1.1 Các mô hình trên thế giới
Mô hình tại Mehyco: Các vùng ĐNN ven biển ở phía nam Sonora nằm trong
ba vùng đồng bằng châu thổ quan trọng của các sông Yaqui, Mayo và Fuerte với diện tich 62.000 ha ĐNN, trong đó có 62% diện tích là cửa sông phần còn lại là các vịnh biển Đây là các vùng ĐNN có tính ĐDSH cao và nằm dọc theo một tuyến đường di cư quan trọng của các loài chim ven biển và chim nước Các ảnh hưởng
từ thâm canh nông nghiệp và thủy lợi tạo ra mối đe dọa chủ yếu nhất đến việc bảo tồn các vùng ĐNN, tiếp theo là các hoạt động như chăn nuôi đại gia súc, NTTS và
đô thị hóa Các bên liên quan quan trọng nhất đối với các vùng ĐNN là ngư dân đánh cá thường xuyên và theo mùa, các nhóm dân tộc (Yaquis và Mayos), người NTTS, nông dân, người chăn nuôi gia súc, thợ săn, du khách, các nhà công nghiệp
và cư dân địa phương Một kế hoạch chiến lược được các cơ chính phủ, các viện nghiên cứu, các NGO và đại diện cộng đồng xây dựng Qua nhiều hội thảo, các bên liên quan đã có cơ hội xác định các vấn đề bảo tồn chính đối với các vùng ĐNN và tham gia đóng góp vào việc xây dựng chiến lược bảo tồn ĐNN (Correa, 2006 [66]
Mô hình tại Nhật Bản: Yatsu Higata là một bãi bùn gian triều nằm ở tận
cùng phía bắc của vịnh Tokyo Nó hầu như bị bao quanh bởi đất đô thị nhưng vẫn duy trì liên hệ với vịnh Tokyo qua hai kênh hẹp cho phép các dòng thủy triều vào
ra 90% diện tích các bãi bùn ở vịnh Tokyo đã bị cải tạo, Yatsu Higata đóng vai tr quan trọng là nơi dừng chân và trú đông cho nhiều loài chim nước di cư trên đường bay Đông Á - Úc Châu Những mối đe dọa trước hết đến công tác bảo tồn liên quan đến chất lượng nước từ vịnh Tokyo Các nhà chức trách địa phương, các tổ chức bảo tồn và thị dân đều tham gia vào hỗ trợ quản lý vùng thông qua xây dựng kế
Trang 14hoạch quản lý, thu lượm rác, giám sát chất lượng nước và giám sát các loài chim (Tobai, 2008) [67]
Mô hình tại Canada: Vùng cửa sông Grand Codroy nằm ở bờ phía tây của
Đảo Newfoundland, khoảng 30 km về phía bắc của cảng Aux Basques, là một phần trong đường bay Đại Tây Dương ở Bắc Mỹ Khả năng sẽ có sự phát triển quá mức
ở đây do nó đang thu hút nhiều người đến mua các khu nghỉ dưỡng Người dân địa phương tham gia cung cấp các kiến thức sinh thái địa phương, tham dự vào việc xây dựng các thỏa thuận về quyền quản lý và cung cấp lao động và nguồn lực cho các hoạt động bảo tồn (Cahill, 2007) [68]
Mô hình quản lý ĐNN tại vùng La Segua, Ecuađo [69]: Những vấn đề môi
trường đe dọa HSTĐNN vùng La Segua bao gồm việc sử dụng phân bón hoá chất độc hại, xây dựng đập, săn bắn chim và thải chất thải rắn Hoạt động đầu tiên được thực hiện là xác định các mâu thuẫn ở khu vực cũng như những giải pháp có thể có Tiếp theo đó là xây dựng một khung nội dung cho kế hoạch quản lý, tiếp thu và thực hiện nó Cùng phối hợp với Bộ Môi trường, IUCN và Quỹ thiên nhiên (một tổ chức phi chính phủ), kế hoạch quản l La Segua đã xây dựng các chương trình khác nhau để cải thiện thực tiễn sản xuất nông nghiệp, phát triển du lịch sinh thái
và thành lập một chương trình giáo dục môi trường Quá trình bao gồm 3 giai đoạn:
dự báo nội dung, xây dựng kế hoạch quản lý và áp dụng của địa phương Các bước này đã được thực hiện thành công và một ban cố vấn pháp l đại diện cho người sử dụng của địa phương đã được thành lập Trong mô hình này, quản lý có sự tham gia là nền tảng của dự án đầu tư về kinh tế ở mức độ thấp nhưng liên tục được yêu cầu trong suốt quá trình lập kế hoạch; Người sử dụng tài nguyên ở địa phương mong muốn hợp tác trong việc bảo vệ môi trường của họ nếu lợi ích kinh tế, quyền
sở hữu và tiếp cận đất đai không bị xâm phạm; Kế hoạch quản lý La Segua là một chiến lược tốt cho sự tham gia và điều phối của địa phương
Mô hình sử dụng và quản lý tổng hợp RNM Tumbes ở Peru [70]: KBT RNM
quốc gia Tumbes ở miền bắc Peru có một số vấn đề về môi trường như những thay đổi về quyền sở hữu đất đai, sự phá hủy phần lớn RNM để làm ao tôm thương mại
và ô nhiễm sông và cửa sông Một tiếp cận quản lý tổng hợp được áp dụng cho
T để: (1) bảo đảm bảo tồn các HSTRNM phía bắc, (2) nâng cao phúc lợi cho người dân địa phương; (3 duy trì ĐDSH vì lợi ích của thế hệ hiện tại và tương lai Chiến lược bảo tồn với sự hợp tác của Pro-Naturaleza (là một tổ chức phi chính phủ địa phương và WWF đã được xây dựng Từ năm 1995, Pro-Naturaleza đã áp
Trang 15dụng một tiếp cận quản lý tổng hợp trong T Tumbes để đảm bảo cho hoạt động bảo tồn RNM Việc quản lý của T được tăng cường bằng những hoạt động sau: (1) tuần tra khu vực; (2) xây dựng qui hoạch tổng thể chi tiết; (3) thành lập hội đồng quản lý; (4) mô tả, giám sát và xác định những người sử dụng T; (5 đánh giá các khả năng du lịch; (6 xác định và thúc đẩy các doanh nghiệp thủ công nhỏ; (7) giáo dục môi trường và nâng cao khả năng của người sử dụng RNM, nhà báo, chính quyền địa phương, thầy cô giáo và trẻ em; (8) trồng RNM; (9 điều tra KTXH kể cả các vấn đề về giới; (10) xác định các hoạt động khai thác; (11 đánh giá tác động môi trường của hoạt động nuôi tôm; (12) công bố các kết quả của các
dự án; (13) chi tiết hoá các thoả thuận giữa các tổ chức phi chính phủ, chính quyền địa phương, các trường đại học và các công ty NTTS; và (14) tổ chức các hội thảo
về các quá trình lập kế hoạch có sự tham gia
1.1.2 Các mô hình trong khu vực
Mô hình phục hồi RNM Kalibo, Philippin [71]: dự án trồng lại RNM
uswang được khởi động năm 1990 tại huyện Kalibo Aklan thông qua hội bảo tồn RNM Kalibo Dự án được thực hiện tại một vùng 50 ha ven biển gần với cửa sông Barangay thuộc Kalibo với 28 hộ gia đình là những ngời được hưởng lợi Tổ chức phi chính phủ địa phương có tên là “Tổ chức phát triển Uswag” đã tham gia vào hoạt động phát triển cộng đồng làm việc trực tiếp với cộng đồng tại đây đóng vai trò cầu nối giữa những người dân địa phương với những cơ quan của chính phủ Kết quả là dự án đã trồng thành công 45 ha đước và 5 ha dừa nước Mỗi gia đình tham gia dự án được nhận trồng 1-2 ha bảo dưỡng và bảo vệ cây trong 3 năm Dự
án cũng đã tạo cho nhân dân một vùng đệm Việc trồng rừng đã đem lại nhiều lợi ích cho người dân bao gồm cả ổn định bờ biển, cải thiện những bãi bồi và hồi phục sinh cảnh cho chim, cá, giáp xác và nhuyễn thể Những cải thiện về sinh thái này đã giúp phát triển kinh tế địa phương và tiếp tục có những khuyến khích cho những nỗ lực trong quản lý bền vững nguồn tài nguyên của họ Khai thác nhuyển thể khi triều thấp không những bảo đảm an toàn thực phẩm cho những gia đình được hưởng lợi
từ dự án mà còn cho cả những người khác nữa thuộc cộng đồng Rừng dừa nước 4 tuổi cũng đã cho thu nhập thêm khi lá đã lợp được mái nhà Từ một cộng đồng không quan tâm đã trở thành hoàn toàn tham gia vào hoạt động trồng RNM khi họ thành lập cửa hàng tập thể
Những yếu tố thành công của mô hình phục hồi RNM Kalibo là: (1) có sự hợp tác trong nội bộ cộng đồng để hỗ trợ dự án, (2 có được sự chuẩn bị trước về mặt xã
Trang 16hội thông qua sự phát triển có tổ chức và học tập và kỹ năng tổ chức trong cộng đồng, (3) có cảm giác an toàn trong cộng đồng hay là “sở hữu” về tài nguyên do có
sự công bố chính thức về sở hữu giữa những người lãnh đạo cộng đồng, chính quyền phương, đại diện của chính phủ và (4) toàn bộ quá trình có sự trung gian giữa nhân dân và chính phủ nhờ một tổ chức phi chính phủ rất có kinh nghiệm Tổ chức phi chính phủ cũng thúc đẩy quá trình học tập có kết quả trong cộng đồng thông qua những lớp tập huấn cho những thành viên tham gia dự án về quản lý và nhận thức môi trường Sự bền vững lâu dài cần có sự tham gia tích cực của cộng đồng ngư dân địa phương với sự hỗ trợ mạnh mẽ của chính quyền địa phương và của NGO (Cục Bảo vệ môi trường, 2007) [72]
Mô hình tham gia cộng đồng phục hồi RNM của Thái Lan [73]: Thái Lan đã
mất khoảng trên một nửa RNM cho việc phát triển nuôi tôm Tổ chức phi chính phủ Yad Fon đã hiểu được vai trò RNM và những cộng đồng ven biển phụ thuộc và chúng Hơn một thập kỷ Pisit Chansnoh, một người cùng thành lập và chủ tịch hiện nay của Yad Fon, đã đưa tổ chức này thành đơn vị dẫn đầu về thúc đẩy cộng đồng địa phương tham gia vào quản lý tài nguyên ven biển bằng phương pháp cơ sở đi tiên phong Trong những năm lăn lộn trên thực địa này Khun Pisit và cộng sự đã xây dựng được phương pháp “tổ chức tại cấp xã” và phát huy tác dụng Trước tiên, chỉ một xã được Yad Fon chọn để thực hiện dự án Một cán bộ dự án được chỉ định
ở tại vùng dự án trong một năm hoặc nhiều hơn Cán bộ dự án của Yad Fon cố gắng để trở thành một bộ phận của cộng đồng và theo dõi sự hoạt động của cộng đồng mà thành viên đó đang sinh sống Sau một thời gian khi đã có sự tin tưởng lẫn nhau giữa cán bộ dự án và nhân dân địa phương thì cán bộ của Yad Fon sẽ hướng dẫn địa phương giải quyết một vài vấn đề bức xúc nhất của họ Qua các hội thảo và thảo luận một cách cởi mở với những người dân địa phương, những vấn đề của cộng đồng đã được thảo luận và chính cộng đồng sẽ đưa ra giải pháp
Những dự án nhỏ dựa vào cộng đồng như đào một giếng nước ăn đã được thực hiện và trong quá trình thực hiện những dự án kiểu này thì khả năng tổ chức của lãnh đạo địa phương lớn mạnh hơn ở những cộng đồng đã được tổ chức tốt Khi một cộng đồng địa phương được tổ chức tốt thì khả năng lãnh đạo cũng được tăng cường Với những kết quả rõ ràng của những dự án nhỏ kiểu này, sự tự tin của của người dân sẽ tăng lên và có thể đối phó được với những thách thức lớn hơn Người dân cũng đã bắt đầu hồi phục và quản lý nguồn tài nguyên ven biển của họ
kể cả RNM gần kề Cùng với những lời khuyên và giáo dục ban đầu của Yad Fon
Trang 17về sử dụng bền vững TNTN của mình, dân làng đã nỗ lực thực hiện chương trình tự quản lý và giám sát tài nguyên ven biển của họ Những cộng đồng lân cận cũng đã quan tâm và đặt ra một số câu hỏi với cộng đồng Từ bốn xã ban đầu đến nay Yad Fon đang làm việc với trên 30 xã với những kết quả đáng ghi nhận
Mô hình tại Malaysia: Kampung Kuantan nằm cách 18 km về thượng nguồn
của cửa sông Selangor Các RNM trong vùng đã thu hút một loài đom đóm (Pteroptyx tener) tạo nên những mảng sáng lập l e thành đợt như đ n trang trí cây thông Noel Một nhà buôn địa phương đã thành lập một doanh nghiệp cho thuê thuyền để du khách có thể đi quan sát đom đóm và từ đó dẫn đến các phát triển du lịch tiếp theo trong vùng Mối đe dọa đầu tiên đối với sinh cảnh của đom đóm là một dự án nắn dòng sông ở thượng nguồn dẫn đến làm giảm d ng nước ngọt và việc phát triển du lịch thiếu kiểm soát trong vùng Một số bên liên quan ở địa phương - bao gồm hội đồng phát triển và an ninh thôn và các nhà buôn địa phương
- đã tham gia vào việc quản lý vùng thông qua cung cấp hỗ trợ kỹ thuật, tư vấn về các hoạt động bảo tồn và quản lý, phổ biến các tài liệu giáo dục và nhận thức (Mohkeri, 2007) [74]
1.2 rong nước
Hiện nay tại Việt Nam có nhiều mô hình quản lý và sử dụng khôn khéo ĐNN nhằm giảm thiểu tác động của kinh tế xã hội đã được áp dụng và cho kết quả khả quan Mỗi mô hình, mỗi địa phương có cách làm và tiếp cận khác nhau để giải quyết các vấn đề, tuy nhiên điểm then chốt trong hầu hết các mô hình này là huy động được sự tham gia, hỗ trợ của các bên liên quan, đặc biệt là cộng đồng địa phương và có cơ chế phù hợp Một số mô hình có các loại hình ĐNN và điều kiện
tự nhiên, xã hội tương tự với vùng biển ven bờ Thái Thụy – Thái Bình đã được áp dụng trong thời gian qua như sau:
Mô hình quản lý hiệu quả ĐNN tại Vườn quốc gia Xuân Thủy, Nam Định
(Vườn quốc gia Xuân Thủy, 2012) [51] Vấn đề được xác định tại khu vực này là người dân tự do khai thác ngao giống không có sự quản lý phù hợp Mô hình sử dụng khôn khéo ngao giống đã được nghiên cứu và ứng dụng tại khu vực này Trong mô hình này đã xác định các bên liên quan tại địa phương: chính quyền tỉnh, chính quyền huyện và xã; vườn quốc gia; người dân địa phương; doanh nghiệp nhỏ thuê mặt nước Các bên liên quan tại khu vực vườn đã thống nhất và tuân thủ quy chế bảo tồn và sử dụng khôn khéo Quy chế này được Ủy ban nhân dân tỉnh thông qua Theo đó, các bên liên quan đều có trách nhiệm quản lý, bảo tồn cũng như chia
Trang 18sẻ lợi ích có được từ sử dụng tài nguyên ngao giống tại đây Đối với người dân, họ được phép khai thác ngao giống trong giới hạn nhất định, đồng thời họ có trách nhiệm đóng một phần kinh phí lợi nhuận họ thu được cho các bên liên quan khác trong vùng Đối với chính quyền địa phương họ có thêm nguồn kinh phí tăng cường công tác quản lý xã hội tại khu vực nuôi ngao Đối với vườn quốc gia, họ có thêm một nguồn thu, đồng thời họ tăng cường và phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương trong việc quản lý, bảo tồn ĐDSH trong khu vực Chính quyền cấp tỉnh điều phối chung công tác quản lý, bảo tồn tại khu vực này Như vậy có thể thấy trong mô hình này, trách nhiệm và quyền lợi đều được gắn chặt với nhau đối với các bên liên quan, và cuối cùng hình thành nên cơ chế quản lý khá bền vững
Mô hình này đã được áp dụng thành công và hiện nay đang tiếp tục mở rộng mô hình quản l , khai thác cũng như chia sẻ lợi ích đối với ngao quảng canh và một số tài nguyên ĐNN khác tại đây
Mô hình quản lý, sử dụng bền vững ĐNN cửa sông, ven biển huyện Nghĩa Hưng, Nam Định do Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu
và đề xuất năm 2003 là phân vùng quản lý tổng hợp Giải pháp này được xem như quy hoạch sử dụng đất dưới góc độ quản lý tổng hợp với mục đích chuyên môn hóa cao cho mỗi vùng của huyện Nghĩa Hưng, có thể chia Nghĩa Hưng ra làm 5 vùng quản lý tổng hợp cụ thể như sau: vùng cung cấp rau màu cho các đô thị lân cận; vùng cung cấp những sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao; vùng kết hợp sản xuất nông nghiệp và NTTS; vùng khai thác hạn chế; vùng quản lý bền vững ĐNN Mỗi vùng đều có tiêu chí xác định cùng với diện tích và dân số của vùng đó Ngoài
ra, các giải pháp khác bao gồm: giải pháp chuyên môn hóa các thành phần kinh tế trong địa phương; giải pháp quy hoạch, xây dựng các trung tâm kinh tế huyện; giải pháp bảo vệ ĐDSH và HST ĐNN ( an nghiên cứu HST RNM, 2004) [52]
Mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH, quản lý các HST nhạy cảm dựa vào cộng đồng tại đầm Thị Nại, Bình Định đã đề xuất giải pháp phát triển
NTTS bền vững thông qua việc tập huấn phát triển thủy sản bền vững tại khu vực đầm Thị Nại và mô hình ao tôm sinh thái Nội dung của mô hình ao tôm sinh thái gồm: đào mương khu trú cho tôm, cá, cua; kỹ thuật trồng lại RNM trong các ao tôm quảng canh đã suy thoái; chăm sóc quản lý RNM sau trồng; vận hành ao và thực hiện mô hình ao tôm sinh thái (Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, 2004) [76]
Trang 19Mô hình KBT biển Rạn Trào tại xã Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa (Trung tâm
bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng, 2010) [74] Bài học kinh nghiệm cho thấy hạt nhân địa phương làmột trong những yếu tố then chốt để triển khai mô hình KBT biển Rạn Trào Đa dạng huy động nguồn lực Bên cạnh những nguồn lực chính thống từ Ngân sách Nhà nước thì các nguồn lực bên ngoài khác cũng cần được coi trọng Sự tham gia của cộng đồng và các bên liên quan khác: Với đặc trưng của vùng ven biển là sử dụng đa mục tiêu thì sự tham gia và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan trong đó có cộng đồng là thực sự cần thiết cho sự điều phối hiệu quả Trên cơ sở đó, mọi hoạt động diễn ra đều được các bên liên quan hiểu rõ, tham gia và ủng hộ Tính tự chủ: Trong công tác quản lý tài nguyên vùng ven biển ở cấp cơ sở nói chung thì sự tự chủ, tích cực của chính quyền địa phương
là nhân tố then chốt đảm bảo cho quá trình triển khai hiệu quả các dự án cũng như duy trì và phát huy những thành quả do các dự án đó mang lại
1.3 Khu vực nghiên cứu
1.3.1 Vị trí địa lý
Huyện Thái Thụy nằm ở phía Đông ắc tỉnh Thái ình, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Tiền Hải, phía Tây Nam giáp huyện Kiến Xương, phía Tây giáp huyện Đông Hưng,phía Tây Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ (Thái Bình) Về phía Bắc, Thái Thụy giáp với các huyện của thành phố Hải Phòng là: huyện Vĩnh ảo ở phía chính Bắc (ranh giới là sông Hóa), huyện Tiên Lãng ở phía Đông ắc (ranh giới là đoạn cửa Thái Bình của sông Thái Bình) Phia Nam huyện có sông Trà Lý chảy men theo ranh giới với huyện Tiền Hải, đổ ra cửa Trà Lý Chính giữa huyện, có con sông Diêm Hộ chảy qua theo hướng Tây - Đông,
đổ ra cửa Diêm Hộ, chia huyện thành hai nửa gần tương đương về diện tích
Vùng đất ngập nước ven biển huyện Thái Thụy theo số liệu đo đạc từ ảnh vệ tinh chụp năm 2015, có diện tích hơn 13.000ha, bao gồm toàn bộ vùng đất ngập nước tính từ chân đê Quốc gia tại cửa sông Thái Bình ở phía Bắc đến cửa sông Trà
Lý ở phía Nam, nằm trên địa bàn 5 xã: Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô và thị trấn Diêm Điền, với chiều dài bờ biển khoảng 27 km, và 3 cửa sông là: Thái Bình, Diêm Hộ và Trà Lý
Thái Thụy là một trong 5 huyện nằm trong Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng đã được UNESCO công nhận (Thái Bình có 2 huyện: Thái Thụy, Tiền
Trang 20Hải; Nam Định có 2 huyện: Giao Thuỷ, Nghĩa Hưng; Ninh Bình có huyện Kim Sơn
1.3.2 Địa hình, địa mạo
Theo các dẫn liệu của các nhà địa l (trong Vũ Trung Tạng và cs., 2005 , Châu thổ sông Hồng nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng, được hình thành nhờ vào hoạt động bồi tụ của hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình từ hàng ngàn năm Châu thổ trước kia là một miền võng rộng lớn giữa núi, theo hệ thống núi đông bắc Đáy của miền võng là đá kết tinh Những dãy núi này bị sụt lở từ thời kỳ đại cổ sinh và trở thành vịnh biển Đáy biển lõm được bồi lấp đầy và vịnh trở thành đầm hồ ven biển Đất bãi bồi ven biển cửa sông là những vùng đất mới, luôn luôn biến động dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và con người
Thái Thụy là một vùng đất tương đối bằng phẳng, độ phân cắt sâu không đáng kể, tuy nhiên dựa vào sự phân hóa theo không gian lãnh thổ, có thể phân chia các dạng địa hình ở Thái Thụy như sau sau:
a) Địa hình lòng sông và bãi bồi hiện đại
Lòng sông và bãi bồi hiện đại là những thành tạo thường bị ngập nước dọc thung lũng của 3 sông chính ở Thái Thụy Tại các đoạn bờ lồi của sông Trà Lý phát triển các bãi bồi thấp mà nguyên là l ng sông vào mùa mưa lũ Chúng được cấu tạo bởi sét bột, bột sét pha cát mịn màu xám nâu tuổi Holocen muộn Dạng địa hình này tương đối bằng phẳng, hơi nghiêng về phía l ng sông, độ cao từ 0-3m, thường xuyên được bồi đắp vào mùa lũ Hiện nay, do bị khống chế bởi các con đê, bãi bồi ven sông và giữa lòng liên tục bị thay đổi hình dạng qua các mùa mưa lũ
b) Địa hình đồng bằng châu thổ (Delta)
Đây là dạng địa hình chiếm phần lớn diện tích huyện Thái Thụy, được hình thành trong quá trình tương tác các yếu tố biển và sông Thành phần vật liệu chủ yếu gồm bột-cát, bột-sét và sét-bột đặc trưng cho tướng bãi triều hình thành trong quá khứ
Bề mặt địa hình bằng phẳng, nghiêng thấp dần về phía biển và có nhiều đấu tích các lạch triều, lòng dẫn chết sót lại
c) Hệ thống địa hình cồn cát cổ được nâng lên
Đây là địa hình có nguồn gốc biển, có hướng kéo dài theo phương Đông ắc-Tây Nam hoặc phát triển không đồng đều, có dạng rẻ quạt rất điển hình ở phía bắc cửa
Trang 21Trà L Điều đó đã xác nhận chế độ hình thành các val bờ của một vụng biển mà nguồn cung cấp vật liệu chủ yếu được đưa từ phía bắc xuống
Bề mặt địa hình có độ cao 1-2m với loại vật liệu thành tạo chủ yếu là cát nhỏ, cát bột có độ chọn lọc tốt và nghèo chất hữu cơ
d) Bãi triều cao bị biến đổi bởi các hoạt động nhân tác
Thực chất đây là các vùng đất khai hoang trong khoảng thời gian từ năm 1955, chiếm diện tích không nhiều
e) Bãi triều cao: Đây là khu vực có rừng ngập mặn phát triển, bề mặt địa hình
tương đối bằng phẳng, nghiêng thấp dần về phía biển, độ cao thay đổi trung bình 1,5m Hoạt động bồi tụ ở đây diễn ra khá mạnh bởi sự phong phú vật liệu lơ lửng được sông mang ra và chịu ảnh hưởng của thủy triều trong điều kiện thực vật ngập mặn phát triển Vật liệu thành tạo trên mặt của địa hình chủ yếu là các hạt mịn bao gồm bột sét và sét bột màu nâu, xám lẫn nhiều tàn tích thực vật ưa mặn Theo chiều sâu trầm tích lắng đọng thành từng lớp không đều, đánh dấu những giai đoạn phát triển khác nhau của lòng dẫn cửa sông trong quá khứ
0-f) Bãi triều thấp: Dạng địa hình này có diện tích tương đối lớn, mở rộng dần về hai
phía cửa sông Đây là khu vực có điều kiện tương đối giống bãi triều cao nhưng còn chịu nhiều ảnh hưởng của biển, vật liệu cung cấp từ sông ra không lớn, lại bị ngập nước sâu nên thực vật ngập mặn ít phát triển
g) Cồn chắn ngoài (bar) cửa sông: Các cồn chắn ngoài cửa sông là các thành tạo
rất đặc trưng cho kiểu cửa sông châu thổ (delta tiến ra biển theo cơ chế lấp đầy Về mặt hình thái và cấu tạo trầm tích trên mặt, hệ thống các cồn chắn ngoài cửa sông của huyện Thái Thụy có cấu tạo 3 đới: đới cát ở phía biển; đới chuyển tiếp sang phía lục địa là vật liệu mịn hơn có các loại cỏ biển phát triển; đới bùn sét chuyển tiếp sang bãi tích tụ sông - triều rất phát triển các loại thực vật ngập mặn Hiện nay, các cồn chắn ngoài cửa sông bị xói lở bờ phía biển Vật liệu xói lở được các dòng sóng dọc bờ di chuyển về phía bắc (ở bắc cửa Trà L và tương tự về phía nam (ở nam cửa Trà Lý) kéo dài thành doi cát về hai phía cửa sông
1.3.3 Đặc điểm thổ nhưỡng
Tập hợp dẫn liệu của các nhà chuyên môn về thổ nhưỡng (trong Vũ Trung Tạng và cs., 2005; Nguyễn Xuân Qu nh và cs., 2011 , cho thấy cấu tạo đất, khu vực ven biển huyện Thái Thụy bao gồm những dạng đất sau:
Trang 22- Đất cát biển: Dạng đất chua yếu (pH = 5,5 - 6,0 ngh o dinh dưỡng Đây là
loại đất cát thô tạo địa hình bằng phẳng, thành phần cơ giới chủ yếu là cát mịn rời rạc, thường xuyên chịu tác động của thuỷ triều Chúng đã tạo ra các bãi khô, bãi triều, các giồng cát trẻ được phân bố ở ven biển huyện Thái Thụy Đây là loại đất xấu khó cải tạo, chỉ thích hợp cho trồng phi lao chắn sóng gió, xây dựng các khu du lịch bãi tắm hoặc tạo ao đầm giữ nước để nuôi hải sản chứ không phù hợp cho canh tác nông nghiệp Ngoài ra, dạng đất này còn nằm sâu trong đất liền ở những cồn cát
cũ, từ lâu đã thoát khỏi ảnh hưởng của nước biển Thành phần cơ giới giống với đất cát ở phía ngoài biển nhưng ngh o hơn, khả năng giữ phân, giữ nước kém, tuy nhiên lại rất dễ cải tạo, điều chỉnh độ phì thích hợp với nhiều loại cây trồng cạn Ở Thái Thụy, nhóm đất này phân bố tập trung ở các xã Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô
- Đất nhiễm mặn: Đất bãi bồi cửa sông ven biển sau khi được quai đê vẫn
c n có độ mặn rất cao Quá trình cải tạo bằng các hệ thống thuỷ lợi như thau chua rửa mặn, đã làm hạn chế sự ảnh hưởng của nước biển, song vẫn còn bị nhiễm mặn
do nước mạch ngầm mặn ngấm vào Độ nhiễm mặn nhiều hay ít phụ thuộc vào khoảng cách với biển, càng gần biển độ mặn càng cao Ngoài ra độ nhiễm mặn còn tuỳ thuộc vào lượng nước ngọt của các con sông theo mùa (mùa mưa và mùa khô Mùa mưa nước lũ ở thượng nguồn tràn về đẩy nước mặn ra biển, nhiều nơi có thể cấy lúa ngay gần cửa sông Mùa khô đất bị nhiễm mặn khá lớn Độ nhiễm mặn còn tuỳ thuộc vào thành phần cơ giới của đất, với khoảng cách gần biển như nhau, đất
có thành phần cơ giới nặng và tầng sét ở sâu thì độ nhiễm mặn ít, đất có thành phần
cơ giới nhẹ và tầng cát nông thì độ nhiễm mặn cao Có thể chia thành các dạng đất nhiễm mặn như sau:
+ Đất mặn sú vẹt: Phân bố chủ yếu ở ngoài đê hoặc trong các đê bối, chỉ có
các loại cây chịu mặn như sú, vẹt, cói, lau sậy sinh trưởng Xét về mặt thổ nhưỡng, đây là loại đất rất trẻ, bị ảnh hưởng của thuỷ triều Loại đất này phân bố hầu hết ở dọc bờ biển Thái Thụy, ở địa hình thấp dọc theo cửa sông Trà L đến cửa sông Thái Bình (chiếm khoảng 16,68% tổng diện tích đất mặn của huyện), tại các xã Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Đô Trên loại đất này chỉ thích hợp trồng các loại cây ngập mặn, tạo môi trường thuận lợi cho việc xây dựng đầm, ao nuôi trồng thuỷ sản
vì nhiều chất hữu cơ từ các cây ngập mặn và nhiều sinh vật phù du từ ngoài biển đưa vào
Trang 23+ Đất mặn nhiều: Là vùng đất đã được quai đê ngăn mặn, nhưng do gần cửa
sông ven biển nên bị ảnh hưởng mặn của biển còn nhiều Đất này đã qua nhiều năm cải tạo, độ mặn giảm, có thể cấy lúa chịu mặn và cấy được 1 vụ lúa vào mùa mưa nhiều, vào mùa khô độ mặn tăng lên nên thường bị bỏ hoang Loại đất này phân bố
ở khu vực ngoài đê, ven biển và nơi các cửa sông, chiếm khoảng 18% diện tích đất mặn, phân bố ở các xã Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái
Đô
+ Đất mặn ít và trung bình: Là vùng đất bồi tụ phù sa lâu đời và đã qua canh
tác nhiều năm, nằm ở xa bờ biển có khi đến 10 - 15 km hoặc gần biển nhưng ở trong đê Đất mặn chủ yếu do nguồn nước mạch ngầm thấm lên, rất không phù hợp với cấy lúa và làm rau màu Về mùa khô, nước sông cạn, nước triều theo các dòng sông vào sâu trong đất liền ngấm vào các tầng sâu của đất và thấm lên các tầng đất làm cho đất mặn Tại khu vực ven biển huyện Thái Thụy, loại đất này tập trung nhiều ở xã Thái Đô và dọc theo sông Diêm Hộ ở phía trong cửa sông
- Đất phèn: Nhóm đất này có thành phần cơ giới là thịt nặng, nhão dẻo khi
ướt, cứng rắn, nứt nẻ khi khô và thường xuất hiện một lớp bột màu vàng đậm bám trên mặt hoặc trong các khe nứt Theo hình thái địa hình người ta phân ra đất phèn tiềm tàng và đất ph n trong đê Đất phèn tiềm tàng xuất hiện ở ngoài đê ven biển, ven sông, bị ngập mặn, lắng đọng bùn lầy Cây trồng chủ yếu là các loại cây chịu mặn như năn, lác, sú, vẹt, Việc phát triển rừng ngập mặn có nghĩa quan trọng trong việc giữ đất, cải tạo môi sinh, bên cạnh đó, nó c n tạo nguồn mùn bã sinh vật biển sinh sống và đặc biệt cung cấp thức ăn cho nuôi trồng hải sản Đất phèn trong
đê có tầng đất ổn định, thành phần cơ giới là thịt nặng, có độ chua cao (pH = 3 – 4), giàu đạm và kali nhưng ngh o lân Trong khu vực ven biển của huyện Thái Thụy, đất phèn là một nhóm đất quan trọng, chiếm diện tích khá lớn trong khu vực Đất phèn tập trung ở vùng trong đê thuộc lãnh thổ các xã phía Bắc sông Diêm Hộ Hầu hết đất phèn trung bình trong khu vực nghiên cứu đều có thành phần cơ giới trung bình với lớp phủ chủ yếu là thực vật ưa mặn, chua như sú, vẹt
- Đất phù sa: Đây là loại đất bồi có diện tích lớn nhất tỉnh Thái Bình, phần
lớn được phân bố ở trong đê, ít được bồi hàng năm do ảnh hưởng của việc quai đê lấn biển Đất phù sa của hệ thống sông Thái ình là nhóm đất có màu nâu xám hoặc nâu nhạt, có hàm lượng các chất dinh dưỡng kém hơn đất phù sa của hệ thống sông Hồng Đất có thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, pH 4,5 - 5, các cation kiềm thổ ít hơn đất phù sa của hệ thống sông Hồng Đất phù sa phù hợp
Trang 24với nhiều loại hình canh tác khác nhau, kể cả nông nghiệp và thuỷ sản Tại khu vực ven biển huyện Thái Thụy, nhóm đất này được hình thành do sự bồi đắp của các con sông Trà Lý, sông Diêm Hộ, sông Thái Bình chiếm khoảng 23% tổng diện tích Nhóm đất này phân bố phần lớn ở trong đê, ít được bồi hàng năm, một diện tích nhỏ được bồi hàng năm dọc các sông chính ở khu đê nhưng xa biển
Trầm tích tầng mặt của dải ven biển Thái Thụy gồm có các loại: Cát bột, bột, bột sét Chất đáy trong các ao đầm vùng Thái Thụy chủ yếu là bùn, bùn-cát và chúng có sự phân bố tương đối khác nhau giữa hai vùng thuộc hai hệ thống sông khác nhau (hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình) bởi chúng luôn chịu sự tác động khác nhau của hai hệ thống sông này Đối với khu vực huyện Thái Thụy, lưu lượng nước từ thượng nguồn đổ về hạ lưu thuộc qua cửa sông Thái Bình, cửa sông Diêm Hộ và cửa Trà L là tương đối lớn, nhưng thấp hơn so với lưu lượng nước qua hệ thống sông Hồng (thuộc khu vực huyện Tiền Hải Do hàm lượng trầm tích hữu cơ từ thượng nguồn sông Hồng đổ ra biển qua hệ thống sông Thái Bình phải trải qua chặng đường dài, độ cong dòng sông lớn và nhiều phân lưu, nên khu vực này chủ yếu bị tác động bởi thuỷ triều mạnh hơn, nên chất đáy vùng triều ở đây chủ yếu là bùn-cát, tốc độ dòng chảy thấp, hàm lượng muối dinh dưỡng tương đối, thời gian phơi đáy dài, thích hợp đối với nuôi các đối tượng hải sản như tôm sú, tôm rảo, cua, cá nước lợ khác
1.3.4 Khí hậu
Khí hậu Thái Thụy mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam, với đặc trưng của khí hậu nhiệt đới ven biền Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng của gió mùa Khí hậu vùng Thái Thụy Đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh
Theo số liệu của các trạm khí tượng thủy văn trong khu vực, thì nhiệt độ trung bình năm trong vùng là từ 22 - 24o
C, với biên độ dao động từ tối thấp là 8oC đến tối cao 39o
C Tổng nhiệt năm 8.500oC Tháng nóng nhất là tháng 7 (nhiệt độ trung bình tháng là 29,1oC) Tháng lạnh nhất là tháng1(nhiệt độ trung bình là 16,7oC Độ ẩm tương đối trung bình năm là 85%, trong đó mùa đông (các tháng 11-4 độ ẩm 77-81%, mùa hè (các tháng 5-10 độ ẩm 84-86% Mùa đông lạnh thích hợp cho sự phát triển của các loại cây trồng á nhiệt đới như bắp cải, xu hào, xúp lơ Vào mùa h , hướng gió thịnh hành là hướng Đông Nam từ biển thổi vào làm giảm bớt không khí nóng
Trang 25Chế độ mưa thay đổi theo mùa, lượng mưa trung bình đạt 1.600-2.000
mm năm, lượng mưa trung bình 1.788 mm năm, xấp xỉ giá trị trung bình so với các vùng khác trên lãnh thổ nước ta Song lượng mưa phân bố không đều, mùa mưa chiếm tới 85-90% tổng lượng mưa cả năm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 (hình 3.1) Thời gian này, do thượng nguồn mưa nhiều nên lượng nước sông dâng cao và cũng mang nhiều phù sa, do đó nó làm giảm độ mặn ở vùng cửa sông ven biển Tháng mưa ít nhất là các tháng 12 và 1 hi đó, do nước nguồn về ít nên độ mặn của nước biển ven bờ tăng cao và xâm nhập mặn dịch chuyển theo sông về phía thượng lưu, gây tác động xấu đến canh tác nông nghiệp
Chế độ gió vùng nghiên cứu cũng mang tính chất mùa rõ rệt Mùa đông chịu
sự chi phối rõ rệt của gió Đông-Bắc và Bắc Ngược lại, mùa hè chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây-Nam biến tính khi thổi vào vịnh Bắc Bộ Trong các tháng chuyển tiếp (tháng 4 và tháng 9 , hướng gió thịnh hành là hướng đông, nhưng không mạnh bằng các hướng gió chính
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
- Bão: Nhìn chung, huyện Thái Thụy nằm trong khu vực chịu nhiều ảnh hưởng
trong mùa mưa bão Theo số liệu thống kê của Tổng cục hí tượng Thuỷ văn trong
v ng 110 năm từ 1884-1993 ở dải ven biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hoá có khoảng 231 cơn bão đổ bộ hoặc tiếp cận vào bờ biển của khu vực này Tính trung bình mỗi năm ở đây có khoảng 2,1 cơn bão đổ bộ vào Bão có thể xuất hiện vào thời kỳ từ tháng 5 đến tháng 11 nhưng nhiều nhất vào tháng 8 Trong thời gian có bão, lượng mưa lớn và đạt trung bình 200-300 mm, chiếm khoảng 30% tổng lượng mưa toàn mùa mưa, dẫn đến hiện tượng nước bị ngọt hoá, giảm pH và tăng độ đục trên diện rộng ão đổ bộ vào vùng ven biển và cửa sông thường gây ra sóng to, gió lớn, nước dâng phá hủy đê, k , nhà cửa và các công trình khác
- Giông: Ở khu vực này không có nhiều giông Trung bình mỗi năm ở đây quan
trắc được khoảng 33 - 55 ngày giông Giông xuất hiện chủ yếu vào thời kỳ từ tháng
4 đến tháng 9, với khoảng 4 - 10 ngày/tháng Sau những trận giông, chất lượng môi trường nước biển đổi mạnh đặc biệt là độ đục và pH
- Mưa phùn: Mưa phùn là hiện tượng thời tiết đặc trưng của miền duyên hải miền
Bắc Việt Nam Thời kỳ mưa phùn kéo dài từ giữa tháng 1 đến giữa tháng 4 Hàng năm có khoảng 20-25 ngày mưa phùn, tần suất mưa phùn lên cao nhất vào các
Trang 26tháng 2 và 3, khoảng 6-9 ngày/tháng Thời tiết mưa phùn thường dẫn đến độ ẩm lên rất cao trong những ngày này
- Sương mù: Trung bình mỗi năm có khoảng 7-22 ngày sương mù, chủ yếu vào
mùa đông từ tháng 12 đến tháng 4
1.3.5 Chế độ thủy, hải văn
- Đặ điểm thủy vă
Theo dẫn liệu của các nhà chuyên môn về thủy văn (trong Vũ Trung Tạng và cs., 2005; Nguyễn Xuân Qu nh và cs., 2011 , Huyện Thái Thụy nằm ở hạ du của 3 sông lớn: sông Thái Bình, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý, là một vùng tiếp giáp với biển, nên hệ thống dòng chảy cũng như chế độ nước của chúng rất phức tạp do ảnh hưởng của cả hai hệ thống sông Hồng và sông Thái ình, trong đó chủ yếu chịu ảnh hưởng của sông Hồng - dòng sông lớn thứ 2 của nước ta về cả chiều dài lẫn diện tích lưu vực Các sông này với lượng nước lớn (30 tỷ m3 năm m theo lưu lượng nước là lượng phù sa rất lớn từ các hệ thống sông này, trong đó ước tính ở cửa sông Thái Bình có khoảng 20 triệu tấn bùn cát bồi tích hàng năm, ở cửa Trà Lý khoảng 15 triệu tấn năm Hàm lượng phù sa cao (sông Thái Bình 250kg/m3), có khả năng lắng đọng phù sa, mở rộng bãi bồi về phía biển mỗi năm trung bình từ 60-80m, đồng thời chi phối các đặc trưng của nước biển ven bờ
Chế độ thuỷ văn ở khu vực này chịu ảnh hưởng của cả chế độ thuỷ văn vùng thượng và trung du đồng thời lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ thuỷ triều Riêng với các sông nội đồng, nước được cung cấp chủ yếu do mưa, chế độ thủy văn hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ mưa Chế độ dòng chảy các sông lớn ở đây khá phức tạp chủ yếu do chế độ nước sông ở thượng lưu quyết định Dòng chảy năm cũng phân thành 2 mùa rõ rệt
- Mùa lũ: Mùa lũ trên dải ven biển đồng bằng sông Hồng, sông Thái ình thường
đến chậm hơn mùa mưa 1 tháng, bắt đầu từ tháng 6 kết thúc vào tháng 10 Lượng nước trong mùa lũ chiếm khoảng 75 - 80% lượng nước năm Nước lũ ở hạ lưu sông Hồng rất lớn vì cả 3 sông Đà, Lô, Thao đều tập trung chảy vào đồng bằng đoạn gần Việt Trì Lưu vực sông Hồng có dạng nan quạt nên mức độ tập trung lũ nhanh với lưu lượng lớn Dòng sông Hồng lại bị đê khống chế làm giảm khả năng tiêu thoát
lũ Lũ sông Hồng thường xuất hiện lớn nhất vào các tháng 7 và 8 Nước lũ sông Hồng được chia vào các phân lưu (trong đó một phần chia sang hệ thống sông Thái ình trước khi đổ ra biển, trong đó sông Trà L tiêu thoát khoảng 11 - 12% lưu
Trang 27lượng Với lượng nước lũ từ thượng nguồn đưa về lớn, địa hình dải ven biển đồng bằng sông Hồng lại khó có khả năng tiêu thoát nên thường gây ngập úng trong mùa
lũ
- Mùa kiệt: Mùa kiệt dòng chảy từ thượng lưu đổ về giảm nhiều so với mùa lũ Mùa
kiệt kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 chỉ chiếm khoảng 20 - 25% tổng lượng dòng chảy năm Có thể thấy dòng chảy kiệt và sự phân phối dòng chảy ở hạ du đã ảnh hưởng quan trọng tới sự xâm nhập mặn ở khu vực ven biển
Nhìn chung, hệ thống đê điều đã chia đồng bằng sông Hồng, trong đó có huyện Thái Thụy thành các ô độc lập, tạo nên một hệ thống sông lạch nhỏ và nông (sông nội đồng) Dòng chảy được hình thành theo đường trũng nhất của mỗi ô Nguồn nước của các sông nội đồng được cung cấp chủ yếu là do mưa Chế độ thuỷ văn của các sông nội đồng hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ mưa ở đồng bằng Bắc Bộ Tuy nhiên, trong mùa mưa lũ, đặc biệt khoảng tháng 8 và cũng là tháng mực nước các sông chính cao do lũ từ thượng nguồn về, nên thường xảy ra sự trùng pha, nước các sông nội đồng không tiêu thoát được gây ra tình trạng ngập úng ở các huyện ven biển đồng bằng sông Hồng
- Đặ điểm hải vă
Chế độ sóng biển: Chế độ sóng thường gắn liền với hướng gió chủ đạo tại khu vực
Trong mùa đông (từ tháng 12 đến tháng 3), vùng ven biển Thái Thụy chịu tác động mạnh mẽ nhất của các hướng sóng do hệ thống gió mùa Đông ắc gây ra Vào mùa đông, hướng sóng thịnh hành ngoài khơi là Đông ắc với tần suất khá cao và ổn định từ 51 đến 70% Ngược lại khu vực gần bờ thịnh hành các hướng sóng Đông Bắc (11% , Đông (34% và Đông Nam (22% , trong đó các hướng sóng Đông, Đông ắc thịnh hành ở ven biển Thái Thụy Cấp độ cao sóng trung bình ngoài khơi 0,5 - 1,3 m và ven bờ 0,4 - 0,9 m; độ cao sóng lớn nhất ngoài khơi 1,5 - 6,0 m và ven bờ 0,75 - 3,0 m Trong mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 9 , hướng sóng chủ đạo ngoài khơi là Nam với tần suất cao, ổn định từ 37 - 60%, và ven biển là các hướng sóng Đông Nam (24% , Nam (20% Cấp độ cao sóng trung bình ngoài khơi 0,8 - 1,3 m và ven bờ 0,7 - 1,2 m; độ cao sóng lớn nhất ngoài khơi 4,0 - 9,0 m và ven bờ 2,6 - 6,0 m Nhìn chung mùa này trị số độ cao sóng lớn hơn nhiều trong mùa đông
do thường xuyên chịu ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới và dông, lốc Đây là yếu tố bất lợi rất lớn đối với sự ổn định các bãi bồi cũng như vấn đề khai thác và sử dụng chúng Dưới tác động của sóng có độ cao lớn, tạo nên áp lực sóng có trị số
Trang 28cao gây xói lở bờ, phá vỡ các tuyến đê xung yếu nhất là các tuyến đê quai ở các bãi bồi
Chế độ Thủy triều: Vùng biển huyện Thái Thụy có chế độ nhật triều đều với với
chu kỳ dao động khoảng 25 giờ và biên độ lớn Theo tài liệu quan trắc nhiều năm (1930-1994) tại trạm Hòn Dấu, thì độ lớn triều cực đại đo được là 4,25 mét (ngày
25 10 1985 và độ lớn triều cực tiểu đo được là 0,27 mét (ngày 21/12/1964) Thông thường trong ngày xuất hiện một đỉnh triều và một chân triều Trung bình trong tháng có 2 kỳ nước lớn với biên độ dao động nước từ 2-4m, mỗi kỳ kéo dài 2-3 ngày Hàng năm, có khoảng 111 ngày triều cường, trong 1 tháng có từ 3-5 ngày nước lên xuống mạnh có thể đạt 0,5m/giờ, kéo dài sau đó 4-5 ngày liên tiếp Kỳ triều kém thường kéo dài 2-3 ngày Các tháng có mức triều lớn nhất là tháng 1, 6, 7
và tháng 12 Do biên độ thủy triều lớn và độ dốc địa hình đáy trong vùng nghiên cứu nhỏ, nên bãi triều có chiều rộng rất đáng kể, có thể đạt tới 4-5 km, thậm chí 7-8
km như ở trước cửa sông Thái ình Đây là một thuận lợi rất lớn cho việc quai đê lấn biển ở Thái Thụy
Chế độ dòng chảy: Khu vực nghiên cứu nằm ở bờ phía tây vịnh Bắc Bộ, hầu hết
thời gian trong năm d ng chảy đều có hướng Tây - Nam vào mùa gió Đông - Bắc, còn khi có gió mùa Tây - Nam hoặc gió nam vào mùa hè, dòng chảy lại có hướng Đông - Bắc Các đặc trưng của dòng chảy có sự phân hóa theo năm D ng chảy biển ven bờ có vai trò quan trọng trong việc phân bố lại trầm tích và hình thành các bãi triều
Dao động mực nước biển: Sự dâng lên của mực nước biển, dù theo nguyên nhân
nào (hạ lún mặt đất hay dâng mực nước chân tĩnh cũng sẽ dẫn đến làm thay đổi độ nghiêng phần trong của trắc diện bãi biển hi độ nghiêng tăng, thì năng lượng sóng tác động đến bờ cũng sẽ tăng Vì thế, khả năng xói lở bờ cũng tăng, đặc biệt
bờ cấu tạo bởi trầm tích bở rời Kết quả nghiên cứu sự thay đổi mực nước biển dọc
bờ Việt Nam từ năm 1957 đến năm 1994 cho thấy, tại trạm Hòn Dấu (Đồ Sơn tốc
độ dâng lên cửa mực biển là 2,15mm năm Nếu trừ đi tốc độ sụt lún kiến tạo thì tốc
độ dâng lên của mực nước biển ở đây đạt giá trị khoảng 0,5 mm/năm
Sự dâng lên của mực nước biển vừa có tác động trực tiếp đến các quá trình xói lở
và bồi tụ ở đới bờ biển và cửa sông, đồng thời cũng có thể làm ngập các vùng đất thấp Vì vậy, ở vùng ven biển Thái Thụy cũng như suốt dải ven biển đồng bằng sông Hồng, quá trình bồi tụ và xói lở trong tương lai sẽ xảy ra đồng thời và phức
Trang 29tạp, do đó cần có nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này để phòng tránh các tai biến môi trường có thể xảy ra
1.3.6 Diễn thế sinh thái đất ngập nước ven bờ Thái Thụy
- Diễn thế rừng ngập mặ iê qua đế đất
Ở các quần xã thực vật nội địa, diễn thế xảy ra hai hướng tiến hóa và thoái hóa trong điều kiện môi trường khác nhau C n đối với các quần xã thực vật ngập mặn ven biển thì nhiều khi hai quá trình lại nối tiếp xảy ra trên cùng một nơi Môi trường bãi triều có các cây tiên phong cố định đất, giữ phù sa và trầm tích lại, đất bùn ngày càng chặt hơn, độ ngập triều giảm, lượng nước ngọt được tăng cường đã tạo điều kiện cho các loài đến sau sinh trưởng thuận lợi hơn, nên số loài phong phú dần lên, sinh khối cũng cao hơn quần xã trước đó Nhưng đến một mức phát triển nhất định lại nảy sinh sự cạnh tranh về thức ăn, ánh sáng, nên những loài đến trước yếu hơn sẽ bị tiêu diệt dần để cho các loài ưu thế phát triển Do đó mà ở các giai đoạn ổn định về sau các quần xã sẽ đơn giản hơn về thành phần loài và cấu trúc quần xã
Trong giai đoạn cuối, khi đất không còn ngập nước triều, lớp bùn khô, pyrit
bị ôxy hóa thành đất axit sunphat thì diễn thế chuyển sang dạng thoái hóa do môi trường đã thay đổỉ không phù hợp với cây ngập mặn nữa Phía sau của diễn thế đó
có thể là một vùng thấp trũng ngấm nước mặn với thảm cỏ một vùng đất mặn hoang hóa, tùy theo vị trí địa hình, và bắt đầu chuyển sang một thảm thực vật khác không giống tính chất của rừng ngập mặn
- Biế động rừng ngập mặn ở i ụy t t ời gian
Nét độc đáo của vùng ĐNN ở vùng triều cửa sông của hệ thống sông Hồng là
sự tiến hóa trầm tích kiểu bãi triều lầy gắn liền với tiến hóa cảnh quan RNM Theo dõi trên các ảnh vệ tinh Landsat chụp trong các năm 1987, 1995, 2003, 2004 và
2015 thấy rừng ngập mặn ở ven bờ Thái Thụy biến động rất lớn kể cả về diện tích cũng như về không gian phân bố Xem ảnh vệ tinh năm 1987, RNM ở Thái Thụy chỉ phân bố với diện tích nhỏ ở cửa sông Thái ình và rất nhỏ ở phía nam cửa Diêm điền tới Thái Đô Tuy nhiên, phong trào trồng RNM ngăn sóng khởi đầu từ năm 1992, đặc biệt từ năm 1994, chương trình trồng RNM ở Thái Thụy với sự tài trợ của Đan Mạch thông qua Hội Chữ thập đỏ được thực hiện, thì qua ảnh vệ tinh năm 1995 thấy RNM đã phát triển ở vùng ven bờ Thụy Xuân, Thụy Hải
Trang 30Tới năm 2003, RNM đã phát triển thành dải suốt vùng ven bờ Thái Thụy Thông qua phân tích ảnh vệ tinh năm 2015, thấy rằng kể từ 2003 tới nay, sau hơn
10 năm, RNM đã phát triển mạnh ra phía ngoài bãi triều cửa sông và sát mép vùng nước ven bờ, được mở rộng nhất ở Thụy Trường (vùng cửa sông Thái ình
Quá trình dịch chuyển rừng ngập mặn từ Thụy Trường ở vùng cửa sông Thái ình xuống phía Nam (vùng cửa sông Diêm Điền bắt đầu từ đầu những năm 1994
và sau đó phát triển khắp vùng ven bờ Thái Thụy từ năm 2003 đến nay có thể xem
là xu hướng tất yếu bởi khi bãi triều ven bờ Thái Thụy đã được bồi tích dần dần từ
d ng bùn cát lục địa qua các cửa sông Thái ình và Trà L
Trang 31Vùng ven biển huyện Thái Thụy chịu sự chi phối trực tiếp của hệ thống sông Thái ình và sông Văn Úc ở phía bắc, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý ở phía nam Mặt khác, do cấu tạo của đường bờ lồi, lõm, các dòng ven bờ, hướng gió, đặc biệt là hướng gió Đông ắc (về mùa đông và Đông Nam (về mùa hè) đã đẩy toàn bộ lượng bùn cát từ cửa sông Văn Úc, cửa sông Thái Bình về ven biển Thái Thụy, hình thành những bãi gian triều rất rộng, tương đối bằng phẳng
Trang 32Tuy nhiên, là một vùng biển có chế độ nhật triều với biên độ triều lớn đáng kể (3,9 m), cho nên thủy triều đóng vai tr rất quan trọng đến các quá trình tự nhiên và các hoạt động sử dụng, khai thác nguồn tài nguyên ĐNN ven biển của con người Mặt khác, là một vùng biển nằm trong miền khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nên thích hợp cho lớp phủ thực vật ưa mặn phát triển, đồng thời cũng gây ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển địa hình ở đây, một dạng địa hình tích tụ hiện đại bán chìm ngập, kéo dài từ Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải đến Thái Đô, tạo ra những bãi triều rộng lớn phía ngoài đê biển quốc gia
Nét nổi bật nhất của huyện Thái Thụy là quỹ đất tự nhiên không ngừng gia tăng do
sự bồi đắp liên tục phù sa của sông Thái Bình và Trà Lý Dễ dàng nhận biết điều này theo các tài liệu lịch sử và theo các hệ thống đê biển.Phạm Quang Sơn (2004
đã sử dụng bản đồ địa hình và ảnh vệ tinh các thế hệ khác nhau để đánh giá định lượng quá trình mở rộng diện tích đất về phía biển, phân tích quá trình xói lở bồi tụ
và xu thế chung tiến ra biển của đường bờ biển huyện Thái Thụy Hệ thông tin địa
lý GIS và phần mền Mapinfo được sử dụng để chồng xếp các bản đồ đường bờ ứng với các giai đoạn thời gian khác nhau, từ 1912 đến nay, từ đó suy ra tốc độ dịch chuyển đường bờ và diện tích đất mới được gia tăng
Ví dụ, xem xét đường bờ đoạn Thụy Trường - Thụy Xuân cho thấy theo hướng từ lục địa ra biển, phần phía bắc Thụy Trường gần cửa sông Thái Bình tốc độ dịch chuyển đường bờ rất lớn (trung bình 47 m năm , vùng này được phù sa sông Thái Bình bồi tụ, làm cho diện tích đất mới bồi phát triển rất nhanh ra biển, theo đó rừng ngập mặn cũng phát triển, dần dần làm cho vùng này nhô cao lên khỏi mực nước biển, đó chính là điều kiện thuận lợi để xã Thụy Trường tiếp tục quai đê lấn biển trong các thời gian tới
Tương tự, đường bờ biển ven xã Thụy Xuân cũng dịch chuyển dần về phía biển, nhưng tốc độ bồi đắp ở đây ít hơn (trung bình 21,5 m năm , chậm hơn so với bắc Thụy Trường, nguyên nhân là do vùng bờ này nằm xa so với các cửa sông Thái Bình và sông Diêm Hộ
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, theo thời gian, tùy từng nơi, bờ biển Thái Thụy
bị xói lở hoặc bồi tụ, nhưng với xu thế chung là các bãi triều luôn được hình thành
và mở rộng về phía biển Như vậy, đất bãi bồi ven biển, ven sông ở Thái Thụy là vùng đất mới, luôn luôn biến động dưới tác động phức tạp của các yếu tố tự nhiên
và nhân sinh, nhưng nhìn chung xu hướng mở rộng chiếm ưu thế Kết quả là quỹ đất ở huyện Thái Thụy gia tăng trung bình là 10,8 ha năm Đất bãi bồi ven biển cửa
Trang 33sông là một tiềm năng rất lớn về tài nguyên của dải ven biển, nếu biết khai thác sử dụng hợp lý theo quy hoạch sẽ mang lại giá trị vô cùng to lớn về kinh tế Nhưng nếu khai thác không đúng quy luật, hoặc không phù hợp với điều kiện tự nhiên thì
sẽ để lại hậu quả và tác hại to lớn như ở một số vùng ven biển của nước ta đã mắc phải
Cồn Đen ở xã Thái Đô là dải cồn cát dài khoảng 3km, chiều rộng chỗ lớn nhất khoảng 700m, chỗ hẹp nhất 450m; được hình thành do kiến tạo bồi đắp phù sa và bùn cát của sông Trà L dưới tác động của dòng chảy giữa sông và chế độ thủy động lực vùng ven biển tạo thành nên có địa hình tương đối bằng phẳng Phía Nam của Cồn Đen hiện nay vẫn đang tiếp tục được bồi tụ và phát triển thành Cồn L n chạy song song với đường bờ
Trang 34ức tranh diễn thế sinh thái từ lục địa ra biển theo quy luật phát triển tự nhiên của vùng ĐNN Thái Thụy theo thời gian có thể khái quát như sau:
nh 1.2 Di n thế sinh thái v ng đ t ngập nước ven ờ hái hụ
Các văn bản liên quan tới bảo vệ môi trường và nguồn lợi sinh vật vùng ĐNN ven biển Các văn bản mang tính pháp l ở địa phương, các chính sách và hoạt động ưu tiên về bảo vệ tài nguyên thiên nhiên khu vực ven biểnđã được ghi trong các Nghị quyết của HĐND và Quyết định của U ND tỉnh Thái ình và huyện Thái Thụy Hiện tại, ở cấp tỉnh và cấp huyện đều tổ chức triển khai thực hiện các chính sách định hướng, các chính sách chung của Trung ương gồm những chính sách liên quan đến bảo vệ môi trường, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và nguồn lợi thủy sản Các văn bản mang tính pháp l , chính sách gần đây của tỉnh Thái ình và huyện Thái Thụy ban hành chủ yếu về phát triển kinh tế biển và vùng ven biển, liên quan đến bảo tồn ĐDSH các vùng ĐNN ven biển và khai thác nguồn lợi thủy sản ở địa phương, được thể hiện trong các nghị quyết của HĐND, quyết định của U ND tỉnh Thái ình và huyện Thái Thụy, cụ thể như sau:
và phát
ãi triều Thụy Trường và Cồn Đen được nâng lên với
hệ thống đầm nuôi tôm, cua
và khu Du lịch Cồn Đen phát triển
ãi triều Thụy Trường (cưả sông Thái ình
với thảm thực vật ngập mặn phát triển
Đất được bồi cao liên tục
vùng nước giữa Cồn Đen và
Cồn Lèn thành sông nhánh
Cồn cát cửa sông mới sẽ xuất hiện
Dải rừng ngập mặn dịch chuyển phân bố ra bãi triều nuôi ngao hiện nay và phát triển
Đất được bồi cao liên tục
Đất được bồi cao liên tục
Quai đê lấn biển từng khu vực
Trang 35- Nghị quyết số 19 2015 NQ-HĐND tỉnh Thái ìnhvềMục tiêu, nhiệm vụ và giải
pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội năm 2016
- Nghị quyết số 20/2015/NQ-HĐND tỉnh Thái ìnhvề Mục tiêu, nhiệm vụ và giải
pháp chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2020
- Quyết định số 1519 QĐ-UBND ngày 5/8/2011 của UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt
Quy hoạch tổng thể vùng nu i ngao vùng ven biển tỉnh hái Bình giai đoạn
2011-2015 và tầm nhìn đến năm 2020
- Quyết định Số:11 2012 QĐ-UBND ban hànhQuy chế quản lý vùng và cơ sở nuôi
ngao tại Thái Bình
- Quyết định Số:1417 2013 QĐ-U ND k ngày 12 7 2013 phê duyệt Qu hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đ t 5 năm k đầu 2011-2015) của
hu ện hái hụ
- Quyết định Số:163 2014 QĐ-U ND k ngày 16 1 2014 phê duyệt Qu hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đ t 5 năm k đầu 2011-2015) của hị trấn Diêm Điền, hu ện hái hụ
- Quyết định Số01 2014 QĐ-UBND ban hành Quy chế thu thập, quản lý, cập nhật,
khai thác và sử dụng dữ liệu tài ngu ên và m i trường tỉnh Thái Bình
- Quyết định số 16 2014 QĐ-UBND ngày 24/9/2014 (thay thế Quyết định số
3044 QĐ U ND ngày 30 12 2013 trong đó có chính sách hỗ trợ đóng mới, nâng cấp tàu phục vụ hoạt động khai thác hải sản góp phần thúc đẩy phát triển khai thác thủy, hải sản của tỉnh
- Quyết định số 23 2014 QĐ-UBND ban hành Quy chế phối hợp quản lý tổng hợp
tài nguyên và bảo vệ m i trường biển trên địa bàn tỉnh Thái Bình
- Quyết định số 1573 2014 QĐ-UBND phê duyệt Đềán phát triển kinh tế biển và
khu vực ven biển hái Bình đến năm 2020
Riêng huyện Thái Thụy, đã có một số các hoạt động để thực hiện các nghị quyết và quyết định của HĐND và U ND tỉnh Thái ình như xây dựng được bản
đồ quy hoạch sử dụng đất của Thái Thụy tới năm 2020, trong đó đáng lưu có vùng ven biển; Xây dựng các báo cáo định hướng phát triển kinh tế biển và vùng ven biển Thái Thụy giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2025
Trang 36- áo cáo của Ủy ban Nhân dân huyện Thái Thụy, 2015 Tình hình phát triển Kinh
tế- Xã hội năm 2015;mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2016
- áo cáo số 01 C-UBND huyện Thái Thụy 2016 về “ ình hình phát triển kinh
hội về phát triển biển hái hụ giai đoạn 2016-2020 định hướng đến 2025”
- Ph ng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Thái Thụy, 2015 áo cáo
Đánh giá kết quả tình hình kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015, phương hướng phát triển 5 năm giai đoạn 2016-2020
Ngoài ra, các xã và thị trấn trong khu vực Dự án phải xây dựng các báo cáo về tình hình phát triển TXH hàng năm và mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ cho năm sau
Từ những vấn đề tổng quan nêu trên, luận văn lựa chọn mục tiêu cho đề tài nhằm giải quyết vấn đề cấp thiết đặt ra là:
- Có được các dẫn liệu điều tra cơ bản được cập nhật về điều kiện tự nhiên, môi trường sống và đa dạng sinh học vùng ĐNN Thái Thụy, về tình trạng hệ sinh thái RNM, hệ sinh thái bãi triều không có RNM và quần xã sinh vật, đặc biệt các loài chim di cư trú đông và các loài động vật quý hiếm khác, có giá trị bảo tồn và giá trị kinh tế;
- Có được hướng phát triển kinh tế biển của khu vực nghiên cứu cũng như tình trạng quản l tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn của địa phương; Xác định được những nguyên nhân cơ bản tác động tới đa dạng sinh học và nguồn lợi các loài sinh vật quý hiếm, có giá trị bảo tồn cũng như khả năng phục hồi, phát triển HST ở RNM, bãi triều và các quần thể sinh vật có giá trị khác
Trang 37II ỜI IA , ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI ƯỢ , ỘI DU VÀ ƯƠ
IÊ ỨU
2.1 hời gian thực hiện
Thời gian thực hiện thu thập số liệu cho luận văn từ tháng 1 2016 đến tháng 8/2017
2.2 Địa điểm thực hiện
Vùng đất ngập nước ven biển huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Xác định 7 tuyến khảo sát chung cho tất cả các nhóm điều tra môi trường và
đa dạng sinh vật tại các kiểu ĐNN ven biển tiêu biểu ở Thái Thụy: 1 Vùng nước cửa sông (các cửa sông Thái ình, Trà L ; 2 Rừng ngập mặn và các lạch triều; 3
ãi triều không có rừng ngập mặn, gồm cả bãi nuôi ngao; 3 Đầm nuôi hải sản bên ngoài đê; 4 Đầm nuôi thủy sản bên trong đê; 5 HST nông nghiệp trong đê Ngoài
ra, c n có các buổi tiếp xúc, phỏng vấn với lãnh đạo và nhân dân địa phương tại các
xã Thụy Trường và Thái Đô
Trang 38nh 2.1 Các tuyến, điểm khảo sát môi trường và ĐDS tại v ng Đ ven
biển Thái Thụ năm 2016 háng 1, háng 2 và tháng 3
Trang 392.3 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn lợi sinh vật và đa dạng sinh học trong hệ sinh thái đất ngập nước ven biển
2.4 ội dung thực hiện
- Tổng hợp các nguồn tài liệu sơ cấp, thứ cấp về nguồn lợi sinh vật, đa dạng sinh học, dịch vụ hệ sinh thái và những áp lực tới ĐDSH;
- Tổng quan tài liệu trong và ngoài nước;
- Điều tra thực địa thu thập mẫu, quan sát, phỏng vấn và ghi chép dẫn liệu, số liệu vào các bảng điều tra;
- Đánh giá nguồn lợi sinh vật, mức độ đa dạng sinh học khu vực nghiên cứu so sánh với các khu vực lân cận (Tiền Hải – Thái Bình, VQG Xuân Thủy – Nam Định);
- Xác định được những nguyên nhân cơ bản tác động tới đa dạng sinh học và nguồn lợi các loài sinh vật quý hiếm, có giá trị bảo tồn cũng như khả năng phục hồi, phát triển HST RNM, bãi triều và các quần thể sinh vật có giá trị khác
2.5 hương pháp nghiên cứu
sử dụng để phát triển kinh tế-xã hội
- Tiếp cận hệ sinh thái: trên cơ sở xác định các hệ sinh thái ở vùng triều, cửa sông ven biển được có 3 thành phần cơ bản tương đương nhau: môi trường tự nhiên, xã hội và kinh tế Nguyên l vận hành tiếp cận hệ sinh thái là không xem nhẹ một thành phần nào và tất cả các thành phần trong hệ sinh thái đều là yếu tố cần thiết để hệ sinh thái cân bằng và duy trì được các chức năng, dịch vụ của chúng Tuy nhiên, hệ sinh thái cũng có những giới hạn về khả năng duy trì chức năng và năng xuất của hệ
Trang 402.5.2 hương pháp điều tra và kỹ thuật sử dụng
Về cơ bản, mỗi nhóm điều tra, nghiên cứu chuyên đề có những phương pháp và kỹ thuật sử dụng khác nhau theo các quy trình, quy phạm điều tra của IE R, MONRE ban hành, tuy nhiên, hầu hết các nhóm chuyên đề đều có một số bước thực hiện chung như nhau, bao gồm:
a Hồi cứu các tài liệu, dẫn liệu liên quan đã có từ trước tới nay (dẫn liệu thứ cấp ; thu thập và xử l các tài liệu thống kê của địa phương, tham khảo Niên giám thống
d Phương pháp tổng hợp số liệu (tính toán các chỉ số sinh học bằng công cụ Primer, lập bảng số liệu trên Excel sheets
e) Viết báo cáo kết quả nghiên cứu
Các thiết bị, vật tư, hóa chất sử dụng tại hiện trường và ở ph ng thí nghiệm:
- Máy đo nhanh 6 chỉ tiêu chất lượng nước cơ bản tại hiện trường (Nhiệt độ, pH, độ mặn, độ đục, độ dẫn điện và ô xy h a tan
- Các thiết bị thu mẫu nước, các lưới mẫu sinh vật nổi, động vật đáy và hóa chất cố định mẫu
- Các dụng cụ thu mẫu thực vật và đo đếm các chỉ số thực vật
- Các thiết bị thu mẫu côn trùng: lưới tay, màn bẫy ánh sáng và máy phát điện
- Máy định vị GIS, ống nh m, máy ảnh với ống tê lê để quan sát chim
- Ảnh vệ tinh Landsap
- ản đồ quy hoạch sử dụng đất đến 2020 của huyện Thái Thụy