Được sự đồng ý của nhà trường, Viện Môi trường, được sự hướng dẫn thầy Phạm Tiến Dũng, em đã thực hiện đồ án tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu các tác động của chất thải có dầu đến môi
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với mỗi sinh viên đại học, khóa luận tốt nghiệp là một mốc cuối cùng đánh dấu việc kết thúc 4 năm học tập trên giảng đường và cũng là bước khởi đầu làm quen với công việc nghiên cứu và công tác sau này.
Được sự đồng ý của nhà trường, Viện Môi trường, được sự hướng dẫn thầy
Phạm Tiến Dũng, em đã thực hiện đồ án tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu các tác động của chất thải có dầu đến môi trường biển và đề xuất một số biện pháp xử lí để bảo vệ môi trường tại khu vực cảng Hải Phòng”.
Em xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến thầy Phạm Tiến Dũng, trong suốt thời gian thực hiện khóa luận, mặc dù rất bận rộn trong công việc giảng dạy, nhưng thầy vẫn dành nhiều thời gian trong việc hướng dẫn em thực hiện đề tài của mình Thầy đã định hướng, góp ý, và sửa chữa những lỗi sai, thiếu sót để em có thể hoàn thiện bài khóa luận của mình một cách tốt nhất.
Em cũng xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ phòng Pháp chế tại cảng vụ Hải Phòng đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc thu thập thông tin, số liệu thực tế cho bài viết của mình.
Mặc dù em đã có nhiều cố gắng hoàn thiện đồ án tốt nghiệp bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên, không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hải Phòng, ngày…tháng…năm 2015 Người thực hiện
Sinh viên Nguyễn Thành Trung
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1 Sự cần thiết của đề tài i
2 Mục đích của đề tài i
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ii
4 Phương pháp nghiên cứu khoa học ii
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ii
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1
1.1 Sự phát triển của cảng biển và các tác động môi trường của việc khai thác cảng 1
1.2 Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ngành hàng hải 2
1.2.1 Luật và công ước quốc tế 2
1.2.2 Luật pháp Việt Nam về BVMT 4
1.2.3 Quy chế BVMT trong lĩnh vực Hàng Hải 8
1.3 Tính chất hóa lí của dầu 8
1.4 Tổng quan về ô nhiễm dầu do tàu và các tác động của nó đối với môi trường biển .13
1.4.1 Các vấn đề trong hoạt động tàu biển 13
1.4.2 Tác động của nước thải lẫn dầu từ tàu tới môi trường biển 15
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG XỬ LÍ CHẤT THẢI CÓ DẦU TỪ TÀU TẠI HẢI PHÒNG 19
2.1 Giới thiệu về cảng biển hải phòng 19
2.1.1 Vị trí địa lý cảng biển 19
2.1.2 Hệ thống luồng vào cảng 21
2.1.3 Hoạt động của cảng Hải Phòng 23
2.2 Hiện trạng phát sinh và xử lí chất thải có dầu từ tàu 25
Trang 32.2.1 Hiện trạng phát sinh nước thải có dầu 25
2.2.2 Hiện trạng phát sinh chất thải rắn có dầu 27
2.2.3 Hiện trạng thu gom chất thải có dầu từ tàu 29
2.3 Đánh giá năng lực xử lí chất thải có dầu từ tàu biển 32
2.3.1 Năng lực của các cảng tại khu vực Hải Phòng 32
2.3.2 Đánh giá năng lực của đơn vị tiếp nhận và xử lý nước thải 34
2.4 Năng lực giám sát quản lý 35
2.4.1 Năng lực giám sát của các cảng 35
2.4.2 Năng lực giám sát của cảng vụ 36
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÍ CHẤT THẢI CÓ DẦU TỪ TÀU 37
3.1 Xây dựng quy trình xử lí chất thải có dầu từ tàu 37
3.1.1 Quy trình thu gom chất thải có dầu 37
3.1.2 Thiết bị tiếp nhận và xử lí chất thải có dầu 37
3.2 Nâng cao năng lực xử lí chất thải có dầu từ tàu 41
3.2.1 Nâng cao năng lực xử lí tại các cảng biển 41
3.2.2 Nâng cao năng lực xử lí của các đơn vị thu gom 42
3.3 Về phía cơ quan chức năng 43
3.3.1 Hoàn thiện hành lang pháp lý để phòng ngừa ô nhiễm môi trường từ hoạt động của tàu biển 43
3.3.2 Nâng cao năng lực giám sát của cơ quan chức năng 44
3.3.3 Giáo dục và tuyên truyền 45
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
1 Kết luận 47
2 Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Nhu cầu oxy hóa học (lượng oxy cần thiết để oxy hoá
các hợp chất hoá học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ)
Trang 62.4 Khối lượng hàng hoá, lượt tàu thông qua cảng Hải Phòng
giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013
2.7 Thành phần và tính chất của chất thải từ tàu 27
2.8 Lượng chất thải từ tàu được thu gom từ khu vực cảng biển
Hải Phòng
27
2.9 Lượng chất thải thu gom tại cảng Hải Phòng năm 2013 28 2.10 Danh sách các đơn vị thu gom nước thải lẫn dầu khu vực Hải Phòng 29 2.11 Bảng tổng hợp số lượng rác thải mà các đơn vị thu gom được 30 2.12 Lượng chất thải thu gom lượng tại cảng Hải Phòng 30 2.13 Bảng thống kê các cảng biển, bến cảng có hoặc không có 31
Trang 7thiết bị tiếp nhận cặn dầu, cặn hỗn hợp lẫn dầu, cặn hỗn hợp
chứa các chất lỏng độc hại, hóa chất theo các quy định tại
phụ lục I, II Công ước MARPOL 73/78
2.14 Lượng nước thải thu gom được tại cảng Hải Phòng - 2013 33
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
1.1 Mạng lưới giao thông cảng biển đến năm 2020 và định
1.2 Sơ đồ quá trình biến đổi của dầu trong môi trường biển 8
1.3 Thời gian lan tỏa và quy mô tương đối của các quá trình
hoạt động khi dầu tràn ra ngoài môi trường biển 11 1.4 Nước thải nhiễm dầu tại khu neo đậu tàu thuyền 14
3.2 Sơ đồ cấu tạo thiết bị phân ly dầu nước ly tâm 38
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Phát triển cảng biển là một trong những lĩnh vực quan trọng, đáp ứng nhu cầu vận tải biển và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Cảng biển là cầu nối quan trọng trong việc giao lưu hàng hóa trong và ngoài nước, đóng góp rất lớn cho nền kinh tế của cả nước thông qua các hoạt động kinh doanh, khai thác cảng biển, các ngành dịch vụ hàng hải phụ trợ, vận tải đường bộ, kho bãi và hàng loạt các loại hình dịch vụ phụ trợ vận tải khác.
Tuy mang lại lợi ích kinh tế lớn cho đất nước, song các hoạt động này cũng tạo nên những tác động tiêu cực lớn đến môi trường Các hoạt động bốc xếp hàng hóa, hoạt động thu gom, xử lí rác thải, nước thải từ tàu và chất thải có dầu… vẫn còn gây ô nhiễm rất lớn Các nguồn gây ô nhiễm này thực sự đã trở thành nguy cơ đối với môi trường biển, tác động nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, hủy hoại các nguồn tài nguyên biển, gây ảnh hưởng nghiêm trọng cho sức khỏe con người và góp phần không nhỏ vào biến đổi khí hậu toàn cầu Do đó, vấn đề ô nhiễm môi trường luôn được quan tâm và cần các giải pháp hiệu quả.
2 Mục đích của đề tài
Xuất phát từ thực tiễn, em đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu các tác động của chất thải có dầu đến môi trường biển và đề xuất một số biện pháp xử lí để bảo vệ môi trường tại khu vực cảng Hải Phòng” nhằm tìm hiểu các tác động cụ thể của các chất thải từ tàu tới môi trường, tìm hiểu quá trình thu gom chất thải từ tàu, từ
đó đề xuất 1 số giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường tại cảng biển Hải Phòng nói riêng và vùng biển Việt Nam nói chung Đánh giá tổng hợp hiện trạng môi trường cảng biển và công tác quản lý thu gom chất thải của các cảng trên khu vực địa bàn
Đề xuất một số biện pháp quản lý phù hợp và hiệu quả hơn trong hoạt động quản lý chất thải có dầu từ tàu.
Trang 103 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu những tác động của ngành công nghiệp khai thác hàng hải đối với môi trường biển trong các hoạt động khai thác, vận chuyển, lưu trữ và những tai nạn bất ngờ trong suốt quá trình hoạt động Bên cạnh đó, cũng đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường hiệu quả hơn Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các cảng biển khu vực Hải Phòng.
Phạm vi: thành phố Hải Phòng.
4 Phương pháp nghiên cứu khoa học
Đề tài được thực hiện dựa trên phương pháp điều tra, kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên của Việt Nam và các tài liệu hướng dẫn đánh giá tác động của ngành hàng hải đối với môi trường biển
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Với tầm quan trọng là ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, sự tập trung phát triển ngành hàng hải ngày càng lớn mạnh là một bước đi tất yếu trong công cuộc phát triển kinh tế nước nhà Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, chúng ta cần nhận thức rõ những tác động toàn diện từ các hoạt động hàng hải từ đó tìm ra những biện pháp nhằm hạn chế triệt để các ảnh hưởng gây hại đến môi trường.
Nghiên cứu các tác động của chất thải có dầu đến môi trường biển và đề xuất một số biện pháp xử lí để bảo vệ môi trường tại khu vực cảng Hải Phòng Đồng thời, cũng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu qủa công tác quản lý môi trường trong ngành hàng hải có thể áp dụng vào tình hình hiện tại của nước ta
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Sự phát triển của cảng biển và các tác động môi trường của việc khai thác cảng
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị
và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có Với bờ biển dàitrên 3.260km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển,các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới, Việt Nam rất thuận lợi cho việc phát triểnngành Hàng hải, xây dựng các công trình ven biển, du lịch, dịch vụ và thương mạiquốc tế, thuận lợi cho sự phát triển cảng biển
Hình 1.1 Mạng lưới giao thông cảng biển đến năm 2020
và định hướng đến năm2030
Hệ thống cảngbiển Việt Nam đã
và đang phát triển,lượng tàu trongnước, quốc tế vàlượng tàu thôngqua cảng ngày mộttăng Việt Nam đãxây dựng được 44cảng biển các loại,trong đó có 14cảng biển loại I, 23cảng biển loại II
và 13 cảng biểnloại III Hệ thống cảng biển có khoảng 219 bến cảng với gần 43,6 km cầu cảng vàhàng chục khu chuyển tải, hình thành các cụm cảng nước sâu tại ba miền Bắc, Trung,
Trang 12Nam, phục vụ cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá và phát triển kinh tế của đất nước.Đồng thời để nâng cao năng lực của ngành kinh tế biển, từ năm 2004 Chính phủ đãtiến hành xây dựng và đưa vào khai thác cảng biển Cái Lân, bên cạnh đó là rất nhiều
dự án xây dựng các cảng mới đang được gấp rút triển khai và đưa vào hoạt động (cảngLạch Huyện cho khu vực miền Bắc, cảng Mép Cái Thị Vải cho khu vực Đồng Nai-thành phố Hồ Chí Minh…)
Việc phát triển hệ thống cảng biển, đội tàu biển và sự gia tăng về lượng hàngthông qua cảng biển phản ánh sự gia tăng về lượng tàu ra vào các cảng biển Việt Nam,điều này đồng nghĩa với việc gia tăng mối đe doạ về ô nhiễm môi trường vùng nướccảng biển và vùng biển Việt Nam do gia tăng lượng nước thải, chất thải rắn và các chấtthải độc hại khác từ nước la canh, nước dằn, nước rửa tàu, nước thải chứa dầu và cáchoá chất độc hại khác
1.2 Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường ngành hàng hải
1.2.1 Luật và công ước quốc tế
Công ước về Luật biển đã được 117 quốc gia và thực thể, trong đó có Việt Namthông qua và ký kết vào ngày 10/12/1982 Với 17 phần, 320 điều khoản và 9 phụ lụcvới 100 điều khoản, 4 nghị quyết kèm theo, Công ước về Luật biển 1982 (Luật biểnquốc tế năm 1982) thực sự là một bản hiến pháp về biển của cộng đồng quốc tế, tổnghợp toàn diện, bao quát được tất cả những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lýcủa biển cả và đại dương thế giới; quy định được những quyền lợi và nghĩa vụ vềnhiều mặt của mọi loại quốc gia (có biển cũng như không có biển) đối với các vùngbiển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như đối với những vùng biển thuộc phạm viquốc tế, quy định nghĩa vụ của các nước trong việc bảo vệ môi trường biển trong phầnquy định về các vùng biển như bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh vật của biển cả haybảo vệ môi trường và sự sống của con người, mà còn dành một phần riêng với 46 điều
đề cập tới vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển (từ Điều 192 đến 237) [4]
Theo Điều 192 của Công ước, việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển trở thànhnghĩa vụ chung của mọi quốc gia
Theo điều 194-UNCLOS, các quốc gia phải thi hành biện pháp cần thiết để hạnchế tối đa ô nhiễm do tàu thuyền gây ra, đặc biệt là những biện pháp nhằm đề phòng
sự cố và đối phó các trường hợp khẩn cấp, nhằm bảo đảm cho các hoạt động trên biển,
Trang 13ngăn ngừa những hoạt động thải bỏ, dù cố ý hay không, và quy định về cách thiết kế,cấu trúc trang bị, hoạt động và định biên của tàu.
Việc tham gia vào Công ước này tạo cơ sở pháp lý giúp chúng ta bảo vệ và gìngiữ môi trường biển của Việt Nam nói riêng, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế đểngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển nói chung
b Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 và được bổ sung bởi Nghị định thư 1978 (MARPOL 73/78)
Công ước này là một trong những công ước chủ chốt về BVMT biển Công ướcđưa ra những quy định nhằm ngăn ngừa ô nhiễm gây ra do vận chuyển hàng hóa là dầu
mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại, cũng như do nước, rác và khí thải ra từ tàu Công ướcgồm 6 phụ lục:
- Phụ lục I: Quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do dầu
- Phụ lục II: Các quy định về kiểm soát ô nhiễm do chất lỏng độc chở xô, có hiệulực từ ngày 06/4/1987
- Phụ lục III: Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do các chất độc hại được vậnchuyển trên biển dưới dạng bao gói, có hiệu lực từ ngày 01/7/1992
- Phụ lục IV: Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do nước thải của tàu, có hiệulực từ ngày 27/9/2003
- Phụ lục V: Quy định về ngăn ngừa ô nhiễm do rác thải của tàu, có hiệu lực từngày 31/12/1988
- Phụ lục VI: Các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí do tàu gây ra, đượcphê chuẩn từ tháng 9/1997 và có hiệu từ ngày 19/5/2005
c Ngoài ra còn có các công ước quốc tế đề cập tới vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động hàng hải:
- Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy
- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới đối với các chất thảiđộc hại và việc thải bỏ chúng
- Công ước Rotterdam về quy trình cho phép có báo trước đối với các hóa chấtđộc hại và thuốc trừ sâu trong thương mại quốc tế
- Công ước quốc tế về kiểm soát hệ thống chống hà độc hại của tàu năm 2001(Công ước AFS 2001)
- Công ước quốc tế về kiểm soát, quản lý nước dằn và cặn nước dằn năm 2004(Công ước BWM 2004)…
Trang 14Việc tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế về BVMT biển có ý nghĩa rấtquan trọng đối với Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện khung chính sách,pháp luật nhằm bảo vệ hiệu quả môi trường biển, góp phần thúc đẩy và xây dựng ýthức pháp luật về BVMTB biển
Mặt khác, việc tham gia và thực hiện nghiêm túc các điều ước này sẽ khẳng định
vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, là thế mạnh của Việt Nam để thu hút đầu tư,
mở rộng hợp tác quốc tế nhằm phát triển, kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống dân cư,thực hiện mục tiêu phát triển bền vững mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra [5]
1.2.2 Luật pháp Việt Nam về BVMT
Điều 35 quy định rõ: Khi hoạt động trong vùng biển Việt Nam, tàu thuyền, tổchức, cá nhân phải tuân thủ mọi quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế
có liên quan đến việc gìn giữ, BVMT biển
Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân không được thải, nhấn chìm hay chôn lấp các loạichất thải công nghiệp, chất thải hạt nhân hoặc các loại chất thải độc hại khác trongvùng biển Việt Nam Khi vận chuyển, bốc, dỡ các loại hàng hóa, thiết bị có khả nănggây hại đối với tài nguyên, đời sống của con người và ô nhiễm môi trường biển, tàuthuyền, tổ chức, cá nhân phải sử dụng thiết bị và các biện pháp chuyên dụng theo quyđịnh để ngăn ngừa và hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra cho người, tài nguyên vàmôi trường biển
Tàu thuyền, tổ chức, cá nhân vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam và phápluật quốc tế có liên quan làm ảnh hưởng đến tài nguyên và môi trường biển trong vùngbiển, cảng biển, bến hay nơi trú đậu của Việt Nam thì bị xử lý theo quy định của phápluật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên; nếu gây thiệt hại thì phải làm sạch, khôi phục lại môi trường và bồithường theo quy định của pháp luật [5]
Nghiêm cấm: mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam Cấm thải chất thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường;các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước
Trang 15Quy định về thu gom, xử lý nước thải: Nước thải, bùn thải có yếu tố nguy hạiphải được quản lý theo quy định về chất thải nguy hại.
Trách nhiệm quản lý chất thải: Chất thải phải được xác định nguồn thải, khối
lượng, tính chất để có phương pháp và quy trình xử lý thích hợp với từng loại chấtthải Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu,tái chế, tái sử dụng để hạn chế đến mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ[5]
Luật tài nguyên quy định rõ:
- Tổ chức, cá nhân hoạt động trên biển phải có phương án, trang thiết bị, nhân lựcbảo đảm phòng ngừa, hạn chế ô nhiễm nước biển
- Trường hợp để xảy ra sự cố gây ô nhiễm nước biển phải kịp thời xử lý, khắcphục sự cố và phải thông báo ngay tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu gây thiệthại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- Nguồn thải từ các hoạt động ở vùng ven biển, hải đảo, các hoạt động trên biểnphải được kiểm soát, xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải vào biển [5]
Yêu cầu tất cả các tàu, không phân biệt trong nước và nước ngoài, phải thực hiệncác quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật Việt Nam và các điềuước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên về phòng ngừa ô nhiễm môitrường
Ngoài ra bộ luật cũng quy định trách nhiệm dân sự chủ tàu; quy định tàu biểnchuyên dùng chở dầu phải có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự; giới hạntrách nhiệm bồi thường ô nhiễm dầu
Trang 16- Nghị định số 21/2012/NĐ-CPngày 21 /3/ 2012 của Chính phủ về quản lý cảng
biển và luồng hàng hải:
+ Tất cả các tổ chức, cá nhân, tàu thuyền khi hoạt đông tại cảng biển phải có nghĩa
vụ thực hiện quy định của pháp luật về phòng ngừa ô nhiễm môi trường
+ Tàu thuyền khi hoạt động tại cảng biển phải đảm bảo tất cả các van và thiết bị củatàu thuyền mà chất độc hại có thể thoát ra ngoài được đều phải được đóng kín đưa vềtrạng thái ngừng hoạt động, niêm phong kẹp chì và phải có biển thông báo tại chỗ.Việc tháo bỏ niêm phong hoặc việc bơm thải các chất thải, nước bẩn qua những vanhoặc thiết bị quy định tại điều khoản này chỉ được thực hiện với sự đồng ý của Giámđốc Cảng vụ Hàng hải và có sự giám sát trực tiếp của nhân viên Cảng vụ Hàng hải đó;khi tiến hành bơm các loại nước bẩn, nước thải có chứa dầu hoặc các chất có đặc tínhnguy hiểm khác qua đường ống trên mặt boong phải bịt kín các lỗ thoát nước mặtboong và có khay hứng ở những khớp nối của ống dẫn, tất cả các hoạt động liên quanđến việc bơm, xả dầu hoặc các chất nguy hiểm khác đều phải được ghi chép cụ thể vàonhật ký riêng và sẵn sàng xuất trình cho nhân viên cơ quan có thẩm quyền của ViệtNam kiểm tra khi cần thiết [5]
trường quy định về quản lý chất thải nguy hại:
+ Điều 7: yêu cầu kĩ thuật, quy trình quản lí đối với chủ nguồn thải CTNH
+ Điều 8: yêu cầu kĩ thuật, quy trình quản lí liên quan đến các điều kiện cấp phép.+ Điều 25 của thông tư nêu rõ “Trách nhiệm của chủ nguồn thải CTNH phải nhanhchóng đưa CTNH đi xử lý, thực hiện đúng quy trình kê khai và sử dụng Chứng từCTNH mỗi lần chuyển giao CTNH theo quy định”
+ Điều 26 quy định các đơn vị quản lý CTNH phải có Giấy phép QLCTNH, phảilập báo cáo QLCTNH với kỳ báo cáo 06 (sáu) tháng theo quy định
vận tải quy định về quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển tại cảngbiển Việt Nam:
+ Thông tư này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài cóliên quan đến quản lý tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển tại cảng biểnViệt Nam
+ Cảng biển, bến cảng phải trang bị phương tiện tiếp nhận hoặc trạm xử lý chất thảilỏng có dầu nếu có các hoạt động tiếp nhận tàu nhận dầu thô mà ngay trước khi cập
Trang 17cảng đã thực hiện chuyến đi chạy dằn không quá 72 giờ hoặc không quá 1.200 hải lý;tiếp nhận tàu nhận dầu không phải dầu thô dạng xô với số lượng trung bình lớn hơn1.000 tấn trong một ngày; có các xưởng sửa chữa tàu hoặc có thiết bị vệ sinh két; tiếpnhận các tàu biển có két dầu cặn; tiếp nhận các tàu biển khác có nước la canh lẫn dầu
và cặn khác không được phép thải ra biển; nhận hàng dạng xô mà những cặn dầu từcác tàu chở hàng hỗn hợp không thể thải ra biển
+ Đối với cảng biển, bến cảng thuộc đối tượng quy định chưa trang bị phương tiệntiếp nhận hoặc trạm xử lý chất thải lỏng có dầu từ tàu biển, phải có danh mục các tổchức, cá nhân cung cấp dịch vụ tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu do Cảng vụhàng hải tại khu vực cung cấp
+ Các tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu
từ tàu biển phải được cấp phép hành nghề quản lý chất thải nguy hại
Sau mỗi lần thực hiện giao nhận, xử lý chất thải lỏng có dầu tổ chức, cá nhân cóphương tiện tiếp nhận và hệ thống xử lý chất thải lỏng có dầu tại khu vực cảng có tráchnhiệm báo cáo kết quả giao nhận và xử lý tới Cảng vụ hàng hải
+ Tàu biển cập cảng phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu theo quy định về quản lý cảngbiển và luồng hàng hải, phải khai báo về lượng chất thải lỏng có dầu hiện có trên tàu,
có yêu cầu về phương tiện tiếp nhận và xử lý chất thải lỏng có dầu, có kế hoạch giaonhận chất thải lỏng có dầu tại khu vực cảng biển, bến cảng nơi tàu đến Nghiêm cấmviệc chuyển giao chất thải lỏng có dầu từ tàu biển tới phương tiện tiếp nhận khi chưađược đồng ý của Cảng vụ hàng hải tại khu vực [4]
1.2.3 Quy chế BVMT trong lĩnh vực Hàng Hải
Cảng biển chỉ được tiếp nhận tàu thuyền ra vào hoạt động khi đảm bảo điều kiện
an toàn hàng hải, an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường
Thực hiện đầy đủ các nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường đã đượcphê duyệt Có đầy đủ thiết bị, dụng cụ và hệ thống thu gom và xử lý nước thải tậptrung đạt chuẩn môi trường và được vận hành thường xuyên Cấm mọi hành vi xả chấtthải, rác ra vùng nước cảng biển [4]
Điều 8 chương XIII luật bảo vệ môi trường: áp dụng các quy định về bảo vệ môitrường trong lĩnh vực xây dựng: Tổ chức, cá nhân lập dự án, thiết kế, xây dựng, cảitạo, nâng cấp các cảng biển, công trình phục vụ hoạt động hàng hải phải tuân thủ cácquy định về BVMT lĩnh vực xây dựng và những quy định khác của pháp luật có liênquan
Trang 18Điều 9 chương XIII luật bảo vệ môi trường: quy định về ứng phó sự cố tràn dầu
và những chất độc hại gây ô nhiễm tại cảng biển: Người khai thác cảng biển, vùng neođậu, chuyển tải và những nơi có nguy cơ gây sự cố tràn dầu và những chất độc hại gây
ô nhiễm ra biển phải: xây dựng kế hoạch, đầu tư trang thiết bị và tổ chức lực lượngứng phó khi có sự cố xảy ra, khi sự cố xảy ra mà tự thấy không đáp ứng được phảithông báo khẩn cấp cho cơ quan có thẩm quyền nơi gần nhất
1.3 Tính chất hóa lí của dầu
a Thành phần, tính chất của dầu thô và các phân nhánh của dầu thô:
- Thành phần
Thành phần hóa học của dầu mỏ được chia thành hai phần:
Các hydrocacbon (HC), là các hợp chất mà trong thành phần của nó chỉ chứa hainguyên tố là cacbon và hydro
Các dẫn xuất hydrocacbon, là các hợp chất mà trong thành phần của nó ngoài H
và C chúng còn chứa thêm các nguyên tố khác như S, N, O…
Hình 1.2 Sơ đồ quá trình biến đổi của dầu trong môi trường biển
Trang 19Dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ là chất lỏng có độ hòa tan rất thấp trong nước, đặcbiệt là nước biển Do đó, khi khối dầu rơi vào nước sẽ xảy ra hiện tượng chảy lan trên
bề mặt nước Quá trình này được chú ý đặc biệt nhằm ứng cứu sự cố tràn dầu hiệu quả.Trong điều kiện tĩnh, một tấn dầu có thể lan phủ kín 12km2 mặt nước, một giọt dầu(nửa gam) tạo ra một màng dầu 20m2 với độ dày 0,001mm có khả năng làm bẩn 1 tấnnước Quá trình lan tỏa diễn ra như sau : dầu lan từ nguồn ra phía có bề mặt lớn nhất,sau đó thì tiếp tục lan chảy vô hướng Khi tạo thành màng đủ mỏng, màng sẽ bị vỡ dần
ra thành những màng có diện tích nhỏ hơn và trên bề mặt dầu xuất hiện các vệt không
có dầu Do quá trình bốc hơi, hòa tan mà mật độ, độ nhớt tăng, sức căng bề mặt giảmdần cho đến khi độ dày của lớp dầu đạt cực tiểu thì quá trình chảy lan chấm dứt.Trường hợp không có các yếu tố nhiễu thì dầu lan tỏa thành một vòng tròn, bao phủmột diện tích tối đa là: Smax=R2
max. (R2
max:bán kính tương đối cực đại của vệt dầu).Trongthực tế thì quá trình chảy lan trên biển chịu tác động lớn bởi các yếu tố sóng, gió vàthủy triều [5]
Quá trình bay hơi:
Song song với quá trình lan tỏa, dầu sẽ bốc hơi tùy thuộc vào nhiệt độ sôi và ápsuất riêng phần của hydrocacbon trong dầu mỏ cũng như các điều kiện bên ngoài:nhiệt độ, sóng, tốc độ gió và diện tích tiếp xúc giữa dầu với không khí Cáchydrocacbon có nhiệt độ sôi càng thấp thì có tốc độ bay hơi càng cao Ở điều kiệnbình thường thì các thành phần của dầu với nhiệt độ sôi thấp hơn 2000C sẽ bay hơitrong vòng 24 giờ Các sản phẩm nhẹ như dầu hỏa, gasoli có thể bay hơi hết trong vàigiờ, còn dầu thô nặng hoặc dầu nặng thì ít bay hơi, thậm chí không bay hơi Tốc độbay hơi giảm dần theo thời gian, làm giảm khối lượng dầu, giảm khả năng bốc cháy
và tính độc hại, đồng thời quá trình bay hơi cũng làm tăng độ nhớt và tỉ trọng củaphần dầu còn lại, làm cho tốc độ lan tỏa giảm
Quá trình khuếch tán:
Đây là quá trình xảy ra sự xáo trộn giữa nước và dầu Các vệt dầu chịu tác độngcủa sóng, gió, dòng chảy tạo thành các hạt dầu có kích thước khác nhau, trong đó cócác hạt đủ nhỏ và đủ bền có thể trộn tương đối bền vào khối nước Điều này làm diệntích bề mặt hạt dầu tăng lên, kích thích sự lắng đọng dầu xuống đáy hoặc giúp chokhả năng tiếp xúc của hạt dầu với các tác nhân oxi hóa, phân hủy dầu tăng, thúc đẩyquá trình phân hủy dầu
Hiện tượng trên thường xảy ra ở những nơi sóng vỗ và phụ thuộc vào bản chấtdầu, độ dày lớp dầu cũng như tình trạng biển Tại điều kiện thường, các hạt dầu nhẹ
có độ nhớt nhỏ có thể phân tán hết trong một vài ngày, trong khi đó các loại có độnhớt lớn hoặc loại nhũ tương dầu nước ít bị phân tán
Trang 20 Quá trình hòa tan:
Sự hòa tan của dầu trong nước chỉ giới hạn ở những thành phần nhẹ Tốc độ hòatan phụ thuộc vào thành phần dầu, mức độ lan truyền, nhiệt độ cũng như khả năngkhuếch tán dầu Dầu FO ít hòa tan trong nước Dễ hòa tan nhất trong nước là xăng vàkerosen Tuy nhiên hàm lượng dầu hòa tan không vượt quá 1 phần triệu tức 1mg/l.Đây chính là yếu tố làm tăng tính độc của dầu đối với nước, gây mùi, đầu độc hệ sinhthái động thực vật trong nước, đặc biệt đối với động vật, dầu thấm trực tiếp và từ từvào cơ thể sinh vật dẫn đến suy giảm chất lượng thực phầm
Quá trình nhũ tương hóa:
Đây là quá trình tạo thành các hạt keo giữa dầu và nước hoặc nước và dầu
Keo dầu nước: là hạt keo có vỏ là dầu, nhân là nước; là các hạt dầu ngậm nướclàm tăng thể tích khối dầu 3 - 4 lần Các hạt khá bền, khó vỡ ra để tách lại nước Loạikeo đó có độ nhớt rất lớn, khả năng bám dính cao, gây cản trở cho công tác thu gom,khó làm sạch bờ biển
Keo nước dầu : hạt keo có vỏ là nước, nhân là dầu; được tạo ra do các hạt dầu có
độ nhớt cao dưới tác động lâu của sóng biển, nhất là các loại sóng vỗ Loại keo nàykém bền vững hơn và dễ tách nước hơn [5]
Nhũ tương hóa phụ thuộc vào tốc độ gió và loại dầu Gió cấp 3,4 sau 1-2 giờ tạo
ra khá nhiều các hạt nhũ tương dầu-nước Dầu có độ nhớt cao thì dễ tạo ra nhũ tươngdầu nước Nhũ tương hóa làm giảm tốc độ phân hủy và phong hóa dầu Nó cũng làmtăng khối lượng chất ô nhiễm
Quá trình lắng kết:
Do tỷ trọng nhỏ hơn 1 nên dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ thường nổi lên mặt nước
mà không tự chìm xuống đáy Các loại nhũ tương sau khi hấp thụ các vật chất hoặc
cơ thể sinh vật có thể trở nên nặng hơn nước rồi chìm dần Cũng có một số hạt lơlửng, hấp thụ tiếp các hạt phân tán rồi chìm dần lắng đọng xuống đáy Trong đó cũngxảy ra quá trình đóng vón tức là quá trình tích tụ nhiều hạt nhỏ thành mảng lớn Quátrình lắng đọng làm giảm hàm lượng dầu có trong nước, tăng DO nhanh, gây hại cho
hệ sinh thái đáy Hơn nữa, sau lắng đọng, dầu vẫn có thể lại nổi lên mặt nước do tácđộng của các yếu tố đáy, gây ra ô nhiễm lâu dài cho vùng nước [5]
Quá trình oxy hóa:
Nói chung, các hydrocacbon trong dầu khá bền vững với oxy Nhưng trong thực
tế dầu mỏ tồn tại trong nước hoặc không khí vẫn bị oxi hóa một phần rất nhỏ (khoảng1% khối lượng) Các quá trình này xảy ra do oxy, ánh sáng mặt trời và quá trình xúctác sinh học tạo thành các hydropeoxit rồi thành các sản phẩm khác Sản phẩm củaquá trình rất đa dạng như : axit, andehit, xeton, peroxit, superoxit,…
Trang 21 Quá trình phân hủy sinh học:
Có nhiều chủng thủy vi sinh vật khác nhau có khả năng tiêu thụ một đoạn nào đó.Mỗi loại vi sinh chỉ có khả năng phân hủy một nhóm hydrocacbon cụ thể nào đó Tuynhiên, trong nước có rất nhiều chủng vi khuẩn Do đó, rất ít loại hydrocacbon có thểchống lại sự phân hủy này Các vi sinh vật có thể phân hủy 0,03-0,5 g dầu/ngày đêmtrên mỗi mét vuông Khi dầu rơi xuống nước, chủng vi sinh vật hoạt động mạnh Quátrình khuếch tán xảy ra tốt thì quá trình ăn dầu cũng xảy ra mạnh Điều kiện các visinh ăn dầu có thể phát triển được là phải có oxy Do đó, ở trên mặt nước dầu dễ bịphân hủy vi sinh, còn khi chìm xuống đáy thì khó bị phân hủy theo kiểu này Khảnăng phân hủy sinh học phụ thuộc vào các yếu tố: thành phần dầu, diện tích dầu trảitrên mặt nước, nhiệt độ môi trường, …
Hình 1.3 Thời gian lan tỏa và quy mô tương đối của các quá trình hoạt động
khi dầu tràn ra ngoài môi trường biển
b Tính chất hóa lí của dầu tinh luyện (xăng, dầu dizen, dầu mazut,…):
Xăng dầu là sản phẩm từ dầu mỏ với thành phần cơ bản là các loại hydrocacbon.Đặc điểm chung của nhóm sản phẩm này là: dễ cháy, đặc biệt khi ở nhiệt độ cao sẽchuyển thành thể khí Khi cháy chúng phát sáng, thể tích tăng đột ngột và sinh nhiệt.Xăng dầu là một loại hàng hoá được sử dụng rất rộng rãi trong cuộc sống và trong cácngành công nghiệp Xăng dầu được dùng để thắp sáng và tạo nhiệt: xăng, dầu hoả,
Trang 22nhiên liệu diezen, nhiên liệu phản lực Xăng dầu dùng cho các loại động cơ đốt trong.Nhiên liệu diezen dùng cho động cơ nổ diezen Nhiên liệu phản lực dùng cho động cơphản lực Nhóm dầu nhờn dùng trong các động cơ nổ với mục đích làm mát động cơ,bôi trơn làm giảm masat cho các bộ phận và chi tiết chuyển động làm tăng tuổi thọthiết bị Xăng dầu dùng làm dung môi trong nhiều ngành công nghiệp đặc biệt là côngnghiệp sơn do có khả năng hoà tan nhiều chất hữu cơ Tuỳ theo công dụng xăng dầuđược chia thành: xăng, dầu hoả thông dụng, nhiên liệu phản lực, nhiên liệu diezen vàdầu bôi trơn.
Đặc điểm chung của xăng dầu tinh luyện là dễ tan trong các dung môi hữu cơnhưng hầu như không tan trong nước Khối dầu khi rơi xuống bề mặt nước sẽ chịunhững tác động của những yếu tố nội tại như độ nhớt, thành phần hidrocacbon, sứccăng bề mặt… và các yếu tố môi trường như gió, dòng chảy, sóng… làm cho khối dầunhanh chóng bị biến đổi Đây là quá trình gồm một tập hợp các biến đổi thành phần và
do đó là một quá trình phức tạp Tuy nhiên có thể phân tích chúng thành những biếnđổi cơ bản như biến đổi theo kiểu lan tỏa, bay hơi, khuếch tán, nhũ tương hóa, hòatan, oxy hóa, lắng đọng, phân hủy sinh học, tạo keo với nước, chìm tạm thời dưới bềmặt nước, trôi dạt trên mặt nước
1.4 Tổng quan về ô nhiễm dầu do tàu và các tác động của nó đối với môi trường biển
1.4.1 Các vấn đề trong hoạt động tàu biển.
Phát sinh trong hoạt động của động cơ, quá trình cháy xảy ra không hoàn toàndẫn đến phát thải các chất ô nhiễm như CO, NOx… Bên cạnh đó, các loại tàu biểnthường dùng các động cơ diesel loại lớn sử dụng nhiên liệu có chất lượng tương đốithấp (FO và RO) chứa lưu huỳnh với nồng độ cao (khoảng 2,7%S) nên toàn bộ lưuhuỳnh chứa trong nhiên liệu khi cháy sẽ bị chuyển hóa thành SO2
Phát sinh do hoạt động của các loại động cơ loại lớn phát thải nhiều NOx và bụihơn các động cơ diesel của xe do tàu hoạt động với công suất rất lớn
Bên cạnh đó, khí thải phát sinh do hoạt động của các máy phát điện diesel trêntàu để cung cấp năng lượng phục vụ cho hệ thống chiếu sáng, hệ thống điều hòa, hệthống điều khiển Tàu còn có hệ thống lò hơi (đốt dầu) để gia nhiệt nhiên liệu và cungcấp hơi để cho các động cơ turbin hoạt động
Trang 23b Nước thải
- Nước thải sinh hoạt:
Đặc trưng của loại nước thải này là có nhiều chất lơ lửng, dầu mỡ (từ việc nấu ăntrên tàu, sửa chữa…), nồng độ chất hữu cơ cao (từ nhà vệ sinh trên tàu) nếu khôngđược tập trung và xử lý thì sẽ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước bề mặt
Ngoài ra, khi tích tụ lâu ngày, các chất hữu cơ này sẽ bị phân hủy gây ra mùi hôithối
- Nước thải lẫn dầu:
Hiện tượng ô nhiễm nước thải nhiễm dầu và nhũ dầu xảy ra từ việc các tàuthuyền neo đậu trong cảng tiến hành rửa xả hầm chứa nhiên liệu; vệ sinh sàn tàu hoặccác dụng cụ chứa; xả nước dằn tàu
Ngoài ra còn phải kể đến trường hợp các phương tiện này xảy ra sự cố như va đụng(giữa các phương tiện thủy với nhau hoặc với các công trình của cầu cảng) hoặc bị rò
rỉ đường ống dẫn, hầm chứa nhiên liệu… vì vậy sẽ có một lượng lớn dầu và nước thảinhiễm dầu chảy vào nguồn nước mặt
Hình 1.4 Nước thải nhiễm dầu tại khu neo đậu tàu thuyền
- Nước vệ sinh hầm hàng:
Trang 24Nước thải mang đặc tính của loại hàng mà tàu chuyên chở:
Nếu tàu chở dầu thì tạo ra 1 lượng chất thải nhiễm dầu đáng kể (lượng cặn dầu-cólẫn mùn cưa và mạt sắt sinh ra trong quá trình vệ sinh tàu dầu)
Nếu tàu chở hàng là gia súc, gia cầm thì nước thải từ việc rửa hầm hàng chứanhiều thành phần hữu cơ, các loại vi trùng gây bệnh
Nếu tàu chở hàng xi măng, than, thì nước vệ sinh hầm hàng sẽ chứa nhiều chấtrắn lơ lửng …
- CTR sinh hoạt của thuỷ thủ đoàn, thành phần chính là giấy bao gói, nylon, vỏ
đồ hộp bằng kim loại và nhựa
- CTR từ buồng máy: các giẻ lau dầu, các ốc vít cũ, mòn…
- CTR hầm hàng: các mùn cưa, mùn gỗ từ hầm hàng chở gỗ; phần than còn sótlại trong hầm hàng chở than…
1.4.2 Tác động của nước thải lẫn dầu từ tàu tới môi trường biển.
Các sản phẩm dầu mỏ trong nước thải có tỷ trọng nhỏ hơn 1, do đó trong môitrường nước chúng sẽ có xu hướng nổi lên trên bề mặt nước, trước mắt làm thay đổimàu sắc của bề mặt nước (ngả sang màu vàng đến đen sẫm tùy thuộc vào lượng dầutồn tại và thời gian tồn tại của nó)
Ngoài ra, lượng dầu tồn tại trên mặt nước còn làm giảm quá trình hòa tan oxi vàotrong nước làm oxy hòa tan của nguồn nước giảm kích thích sự hoạt động của các visinh vật yếm khí sinh ra các khí CH4, H2S gây lên mùi hôi thối
Các thành phần khác của nước thải nhiễm dầu khi bị phân hủy sẽ gây ra các ảnhhưởng khác tới nguồn nước
Trang 25Hình 1.5 Hiện tượng nước nhiễm dầu
Khi tiếp xúc với môi trường đất dầu và các thành phần khác có trong nước thảinhiễm dầu sẽ làm giảm độ phì của đất, làm thay đổi tính cơ-lý-hóa của đất, và có thểgây độc tính cho đất
Khi dầu và các thành phần này ngấm xuống đất sẽ làm ô nhiễm nguồn nướcngầm, có thể ô nhiễm các mạch nước ngầm lan tỏa cách nhanh chóng do dầu có tỷtrọng nhỏ hơn tỷ trọng của nước và gây độc cho thực vật cũng như những sinh vậtsống trong đất làm cho đất bị bạc màu và thoái hóa
Đối với các rạn san hô: chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ các thành phần độc tính trongdầu bao phủ Các rạn san hô nhiễm dầu sẽ gây tử vong đối với một số sinh vật ngụ
Trang 26sinh, đồng thời gây cản trở cho quá trình sinh sản Một số sinh vật không bị tử vongnhưng bị gây mê do độc tính của dầu và nhanh chóng bị cuốn khỏi rạn san hô do sóng
và dòng chảy Ảnh hưởng của dầu đối với sinh vật phụ thuộc vào các yếu tố: kíchthước và tính chất của vết dầu loang, các đặc tính lý hóa và độc tính của mỗi loại dầu;các điều kiện hải dương học (dòng chảy, thủy triều, đối lưu nước), điều kiện nước (gió
và sóng), thời điểm tràn dầu liên quan đến mùa sinh sản của các loài
Dầu tác động lên thế giới sinh vật trong nước bằng con đường trực tiếp khi chúngbám vào cơ thể sinh vật, ngăn cản quá trình hô hấp, trao đổi chất và sự di chuyển củasinh vật trong môi trường nước Trong giai đoạn đầu, độc tính của dầu đối với các sinhvật biển liên quan đến số lượng các hợp chất thơm có thể tan được trong nước Cácloại dầu nhẹ thường có tiềm năng độc hơn các dầu nặng và nó phân tán rất nhanh, điều
đó cũng có nghĩa là việc tiếp xúc với dầu xảy ra nhanh chóng Ảnh hưởng gián tiếpcủa dầu loang đến sinh vật thông qua quá trình ngăn cản trao đổi oxy giữa nước vớikhí quyển tạo điều kiện phát sinh các khí độc hại như H2S, CH4, làm giảm pH môitrường Cụ thể đối với từng loài sinh vật như sau:
Sinh vật phù du: sinh vật phù du là các động thực vật đơn bào hay đa bào trôi lơlửng trong nước, khả năng vận động kém, hoặc không thể vận động (chủ yếu theodòng chảy) Chúng là mắt xích thức ăn đầu tiên, quan trọng trong vùng nước và là thức
ăn của các loài hải sản khác (tôm, cá…) Theo đánh giá của các chuyên gia, khi nồng
độ dầu trong nước đạt 0,1mg/l có thể gây chết các loài sinh vật phù du
Sinh vật đáy: sinh vật đáy là những sinh vật sống trong trầm tích đáy hay dichuyển trong lớp nước sát đáy Dầu ô nhiễm có thể ảnh hưởng rất lớn đến con non và
ấu trùng Đối với các cá thể trưởng thành, dầu ô nhiễm có thể bám vào cơ thể hoặcđược sinh vật hấp thụ qua quá trình lọc nước, dẫn đến làm giảm giá trị sử dụng do cómùi dầu trong cơ thể sinh vật
Chim biển: chim biển thường sinh sống trong các bãi triều, rừng ngập mặn Ảnhhưởng của dầu đối với chim biển chủ yếu là làm thấm ướt lông chim, làm giảm khảnăng cách nhiệt của bộ lông và làm mất tác dụng bảo vệ thân nhiệt của chim, làm mấttác dụng của bộ lông như là chiếc phao bơi, giúp chim nổi trên mặt nước Khi bị nhiễmdầu, chim thường di chuyển khó khăn, ở mức độ nhẹ chúng tỏ ra khó chịu, có khi phải
di chuyển chỗ ở Ở mức độ nặng có thể bị chết Dầu còn ảnh hưởng đến khả năng nởcủa trứng chim
Cá biển: tác động tiêu cực của dầu đến cá biển phụ thuộc vào mức độ tan của cáchợp chất độc hại có trong dầu vào nước Dầu bám vào cá, làm giảm giá trị sử dụng do
Trang 27gây mùi khó chịu Đối với trứng cá, dầu có thể làm trứng mất khả năng phát triển,trứng có thể bị “ung, thối”.
Đối với hệ sinh thái rừng ngập mặn:
+ Khi rừng ngập mặn bị nhiễm dầu, dầu sẽ bám lên thân cây, lá, rễ cây, ngăn cản sựtrao đổi chất của cây với môi trường, đồng thời phá huỷ quá trình lọc muối của thựcvật ngập mặn, làm cho thực vật bị chết hàng loạt
+ Khi cây ngập mặn bị chết thì bản chất môi trường trầm tích và nước cũng bị thayđổi theo chiều hướng xấu đi
Theo kết quả nghiên cứu, khi sự cố ô nhiễm dầu xảy ra, các HST đã bị ảnh hưởngnghiêm trọng và thể hiện rõ nét nhất là HST rừng ngập mặn, cỏ biển, vùng triều bãicát, đầm phá và các rạn san hô Ô nhiễm dầu đã làm giảm sức chống đỡ, tính linh hoạt
và khả năng khôi phục của các HST từ tác động của các tai biến Cụ thể, các tác độngtiêu cực của ô nhiễm dầu đến các HST được hiểu theo 3 cấp độ: suy thoái, tổn thương
và mất HST [5]
Nước thải trên tàu xả trực tiếp xuống vùng nước gần bờ sẽ là nguồn gây bệnh chocác cư dân trong vùng, các vùng nuôi trồng thủy hải sản, các quan khách nghỉ dưỡngtrên các bãi tắm liền kề
Nước thải, nếu xả trực tiếp xuống vùng nước trong cảng, nó sẽ hút mạnh oxynước, vùng nước cảng sẽ bị ô nhiễm nhanh chóng vì thiếu oxy
CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG XỬ LÍ CHẤT THẢI CÓ DẦU TỪ TÀU TẠI
HẢI PHÒNG 2.1 Giới thiệu về cảng biển hải phòng
2.1.1 Vị trí địa lý cảng biển
Hải Phòng có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, và an ninh, quốc phòng củavùng Đông Bắc Bộ và cả nước, nằm trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tếViệt Nam - Trung Quốc, một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm, là cửa ngõ