1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả của công cụ phí môi trường trong quản lý nước thải công nghiệp tại việt nam và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý

56 496 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 358,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nghiệp đã xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra ngoài môi trường sông,hồ.Trước tình hình đáng báo động đó thì Chính phủ đã đề ra các công công cụquản lý khác nhau như công cụ về kinh

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với mỗi sinh viên đại học, khóa luận tốt nghiệp là một mốc cuối cùng đánhdấu việc kết thúc 4 năm học tập trên giảng đường và cũng là bước khởi đầu làmquen với công việc nghiên cứu và công tác sau này

Để hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đếnthầy giáo Ths Bùi Đình Hoàn là người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt thờigian làm luận văn tốt nghiệp Em xin chân thành cảm ơn đến các thầy cô giáotrong Viện Môi Trường và các thầy cô trường Đại học Hàng Hải Việt Nam đãdạy dỗ giúp đỡ em trong suốt 4 năm học qua và tạo điều kiện thuận lợi giúp emhoàn thành khoá luận tốt nghiệp này

Đồng thời, em gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã đã hỗ trợ, động viên

em trong thời gian qua

Em xin chân thành cảm ơn!

Hải Phòng, ngày…tháng…năm 2015 Sinh viên

Bùi Thị Quế

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU i

1 Tính cấp thiết của đề tài i

2 Mục đích của đề tài ii

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ii

4 Phương pháp nghiên cứu ii

5 Nội dung nghiên cứu iii

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÍ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP……….1

1.1 Khái quát về phí môi trường 1

1.1.1 Khái niệm về phí môi trường 1

1.1.2 Cơ sở tính phí môi trường 3

1.1.3 Phương pháp luận tính phí môi trường 3

1.1.4 Tiêu chuẩn môi trường và và vấn để xác định phí môi trường 8

1.1.5 Tính phí dựa vào đặc tính của chất gây ô nhiễm 9

1.2 Kinh nghiệm thu phí nước thải ở một số quốc gia trên thế giới 10

1.3 Phí nước thải theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp 14

1.3.1 Đối tượng chịu phí và người nộp phí 14

1.3.2.Mức phí và cách xác định số phí phải nộp đối với nước thải công nghiệp 15

1.3.3 Yêu cầu và các yếu tố đảm bảo việc chấp hành phí môi trường đối với nước thải công nghiệp 19

CHƯƠNG 2 HIỆU QUẢ CỦA CÔNG CỤ PHÍ MÔI TRƯỜNG TRONG QUẢN LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 22

2.1 Tình hình phát triển các khu công nghiệp và thực trạng ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp 22

2.1.1 Sự phát triển của các khu công nghiệp 22

2.1.2 Thực trạng ô nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp 23

2.2 Tình hình thu phí nước thải công nghiệp tại Việt Nam 26

Trang 3

2.3 Những hạn chế và nguyên nhân trong việc chấp hành phí của các doanh

nghiệp sản xuất công nghiệp 31

2.3.1 Những hạn chế trong việc nộp phí của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp 31

2.3.2.Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc nộp phí của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp 33

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ 35

3.1 Biện pháp quản lý 35

3.2 Biện pháp kinh tế 37

3.3 Biện pháp kĩ thuật 38

3.4 Biện pháp nâng cao nhận thức của cộng đồng 39

KẾT LUẬN 42

1 Kết luận 42

2 Khuyến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

PHỤ LỤC 45

Trang 4

MỘT SỐ TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

BVMT Bảo vệ môi trường

DN SX CN Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp

KH-STNMT Kế hoạch-Sở Tài nguyên & Môi trường

NSNN Ngân sách nhà nước

NTCN Nước thải công nghiệp

DANH MỤC BẢNG

Trang 5

Số bảng Tên bảng Trang

Bảng 1.1 Mức thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải

công nghiệp tính theo hàm lượng COD và TSS

Trang 6

Hình 2.2 Khu công nghiệp Mỹ Phước 3 23

Hình 2.3 Cá chết hàng loạt do nước thải từ các khu công

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nền kinh tế toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi sự nỗ lực vươn lênkhông ngừng của các nước kém phát triển và các nước đang phát triển để bắt kịptốc độ của các nước phát triển trên thế giới.Nhưng cùng với sự phát triển củakinh tế là vấn đề môitrường đang rất đáng lo ngại, nhất là ở các nước đang pháttriển Ở các nước này để phát triển kinh tế họ khai tài nguyên thiên nhiên quámức kèm theo các hoạt động thải chất thải tràn lan ra ngoài môi trường màkhông qua các khâu xử lí hoặc xử lý sơ sài chống đối làm tổn hại nghiêm trọngđến môi trường Trước tình hình đó,vấn đề được đặt ra là phải có những biệnpháp và công cụ hiệu quả nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trườngsinh thái và môi trường sống của con người Và thực tế cho thấy các công cụkinh tế là một trong những công cụ hiệu quả nhất đã được nhiều nước áp dụng

và thu được những hiệu quả nhất định trong quản lý môi trường và bảo vệ môitrường

Ở nước ta hiện nay đang trong giai đoạn thực hiện CNH-HĐH đất nướcnên có thể thấy rằng vấn đề ô nhiễm nhiễm môi trường đang là vấn đề vô cùngbức thiết và nóng bỏng cần được quan tâm Khi lấn sâu vào hội nhập kinh tếquốc tế yêu cầu chúng ta phải không ngừng nỗ lực phát triển để nhanh chóngthoát khỏi đói nghèo, đưa nên kinh tế nước nhà bắt kịp với sự phát triển chungcủa các nước khu vực và trên thế giới.Nhưng cùng với sự nỗ lực vươn lên ấy là

sự xâm hại nghiêm trọng đến môi trường, lợi ích mà kinh tế đem lại đã làm conngười quên đi ý thức bảo vệ môi trướng nhất là trong nền kinh tế thị trường nhưhiện nay Hàng loạt các vấn đề xảy ra với môi trường: ô nhiễm nguồn nước,không khí do các hoạt động xả thải không được xử lý tại các nhà máy, các khucông nghiệp; sự suy giảm, cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, suy giảm

sự đa dạng sinh học, một số loài tuyệt chủng và đang đứng trước nguy cơ bịtuyệt chủng…những vấn đề đó đang ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống sinh hoạt,lao động sản xuất của con người Môi trường nước của nước ta đang bị đe doạnghiêm trọng, đặc biệt là nước thải tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, cácthành phố lớn Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân

và sự phát triển đi lên của đất nước Thời gian qua các lực lượng chức năng nhưCảnh sát môi trường đã vào cuộc điều tra và phát hiện rất nhiều công ty, doanh

Trang 8

nghiệp đã xả nước thải không qua xử lý trực tiếp ra ngoài môi trường sông,hồ.Trước tình hình đáng báo động đó thì Chính phủ đã đề ra các công công cụquản lý khác nhau như công cụ về kinh tế, công cụ giáo dục và truyền thông,công cụ quản lý,…nhằm mục đích xử lý, giảm thải ô nhiễm, bảo vệ môi trường.

Để hạn chế ô nhiễm do nước thải Chính phủ đã ban hành nghị định67/2003/NĐ-CP ngày 13/06/2003 và mới nhất là nghị định 25/2013/NĐ-CPngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước nướcthảiđã thu được nhiều kết quả khả quan trong quản lý và giảm thiểu ô nhiễm donước thải công nghiệp Để hiểu rõ hơn về phí bảo vệ môi trường đối với nướcthải công nghiệp, mục đích của việc ban hành Nghị định về phí này, hiệu quảthu được khi áp dụng phí bảo vệ môi trường trong quản lý nước thải công

nghiệp và các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, em chọn đề tài: “ Đánh giá hiệu quả của công cụ phí môi trường trong quản lý nước thải công nghiệp tại Việt Nam và đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý”.

2 Mục đích của đề tài

Nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của công cụ phí môi trường đối với nướcthải, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc sửdụng công cụ này trong quản lý nước thải công nghiệp ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trườngtrong đó đặc biệt chú trọng đến công cụ phí môi trường trong quản lý nước thảicông nghiệp

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là việc áp dụng công cụ phí nước thải trênlãnh thổ Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra, thống kê, tổng hợp dữ liệu

Phương pháp phân tích số liệu

Trang 9

5 Nội dung nghiên cứu

Chương 1 Tổng quan về công cụ phí môi trường đối với nước thải công nghiệpChương 2 Hiệu quả của công cụ phí môi trường đối với nước thải công nghiệpChương 3 Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý

Trang 10

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG CỤ PHÍ MÔI TRƯỜNG ĐỐI VỚI

NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP 1.1 Khái quát về phí môi trường

1.1.1 Khái niệm về phí môi trường

Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã sử dụng các công cụ kinh tế nhằmkhuyến khích hành vi tích cực đối với môi trường Trong các công cụ thì thu phídưới hình thức này hay hình thức khác hiện đang được áp dụng nhiều tại cácnước OECD Các công cụ này tạo ra các khuyến khích kinh tế sau:

- Thay đổi trực tiếp các mức giá hoặc chi phí;

- Thay đổi gián tiếp các mức giá cả hoặc chi phí thông qua những biệnpháp tài chính hoặc thuế khoá ngân sách;

- Tạo lập và hỗ trợ thị trường

Có thể áp dụng cách thay đổi trực tiếp mức giá hoặc chi phí như phí đánhtrên sản phẩm sản xuất (phí theo sản phẩm) hoặc trên qui trình sản xuất (chi phíphát thải, phí năng lượng, phí nguyên vật liệu), hay khi các hệ thống ký tháchoàn trả được đưa vào hoạt động Ngoài ra có thể áp dụng trợ cấp trực tiếp, tíndụng ưu đãi hay khuyến khích tài chính (như khấu hao nhanh) để khuyến khíchcác công nghệ sạch, khuyến khích kinh tế để thực hiện qui định môi trường cũng

có thể xếp vào loại này Tạo lập thị trường được thực hiện trên cơ sở luật lệ hayqui định được thay đổi như mua bản giấy phép phát thải, đấu giá hạn ngạchnhằm hạn chế mức phát thải hay mức đánh bắt cá trong một khu vực nhất địnhhoặc các chương trình bảo hiểm đáp ứng sự thay đổi luật lệ về phạm vi tráchnhiệm Hỗ trợ thị trường xảy ra khi các cơ quan nhận trách nhiệm ổn định giá cảhay ổn định một số thị trường nhất định (ví dụ đối với nguyên liệu thứ cấp nhưgiấy tái sinh hay sắt tái sinh)

Nếu mở rộng định nghĩa về các công cụ khuyến khích kinh tế, nghĩa là đưavào cả các công cụ tài chính và thuế khoá ngân sách không nhằm làm biến đổitrực tiếp hành vi của người gây ô nhiễm và những người tái sử dụng tài nguyên,

ta sẽ có một hệ thống các công cụ khuyến khích kinh tế đa dạng việc lựa chọn

Trang 11

công cụ hay nhóm các công cụ phụ thuộc vào nhiều điều kiện, phải vừa có tínhhiệu quả kinh tế vừa có tính công bằng, khả thi về mặt quản lý, độ tin cậy vàthực sự góp phần cải thiện môi trường Trong thực tế có thể sử dụng một hệthống các công cụ, trong đó, mỗi công cụ tập trung vào một phần của vấn đề bảo

vệ môi trường

Thuế là khoản thu của cho ngân sách nhà nước, dùng để chi cho mọi hoạtđộng của nhà nước Thuế môi trường nói chung hay thuế ô nhiễm môi trườngnói riêng đều do nhà nước định ra thu về cho ngân sách, dùng để chi chung,không chi riêng cho lĩnh vực bảo vệ môi trường

Phí môi trường là khoản thu của Nhà nước nhằm bù đắp một phần chi phíthường xuyên và không thường xuyên đối với công tác quản lý, điều phối hoạtđộng của người nộp phí Như vậy khác với thuế môi trường, phần lớn kinh phíthu phí sẽ được sử dụng, điều phối lại cho công tác quản lý, bảo vệ môi trường

và giải quyết một phần các vấn đề môi trường do những người đóng góp gây ra

Lệ phí là khoản thu có tổ chức, bắt buộc với những người hưởng lợi hoặc

sử dụng một dịch vụ nào đó do nhà nước hoặc một cơ quan được nhà nước chophép cung cấp Khác với phí môi trường lệ phí phải chỉ rõ lợi ích của dịch vụ màngười trả lệ phí được hưởng, còn đối với phí môi trường, đôi khi lợi ích nàykhông rõ ràng

Trong thực tế có nhiều cách tính, đánh phí phụ thuộc vào đối tượng đánhphí, điều kiện thực tế, khả năng thông tin, dưới đây là một số loại phí đang được

áp dụng ở nhiều nước:

Phí phát thải: Đây là phí đánh vào việc phát chất ô nhiễm ra môi trường và

gây tiếng ồn, phí phát thải liên quan đến số lượng, đặc tính của chất gây ô nhiễm

và chi phí gây tác hại ô nhiễm cho môi trường

Phí sản phẩm: Phí này đánh vào sản phẩm có hại cho môi trường khi sử

dụng chúng trong các quy trình sản xuất, tiêu thụ hoặc thải nó Mức phí nàyđược xác định tuỳ thuộc vào chi phí thiệt hại đến môi trường có liên quan đếnsản phẩm đó

Phí sử dụng: Phí sử dụng có chức năng làm tăng nguồn thu và liên quan

đến chi phí xử lý, chi phí thu gom và thải bỏ hoặc thu hồi lại chi phí quản lý tuỳ

Trang 12

thuộc vào tình huống mà chúng được áp dụng, phí sử dụng không liên quan trựctiếp đến chi phí tác hại đến môi trường.

1.1.2 Cơ sở tính phí môi trường

Trước tình hình ô nhiễm nghiêm trọng và phổ biến đang gia tăng trong cácnền kinh tế công nghiệp phát triển, tổ chức OECD đã soạn thảo và chấp nhậnnguyên tắc “ người gây ô nhiễm phải trả tiền” đây là một nguyên tắc cơ bản chochính sách môi trường

Nguyên lý cơ bản của PPP là giá cả của một hàng hóa hay dịch vụ phảiđược thể hiện đầy đủ trong tổng chi phí sản xuất hàng hóa, dịch vụ đó bao gồm

cả chi phí của tất cả các tài nguyên môi trường sử dụng Theo đó, việc sử dụngkhông khí, nước hay đất để đổ thải các chất thải cũng là sử dụng tài nguyêngiống như sử dụng tài nguyên, nhiên liệu cho sản xuất Tình trạng chưa tính đếnhoặc giá cả chưa đúng mức đối với tài nguyên môi trường và đặc tính sử dụngcông cộng đối với nhiều tài nguyên như đất, nước, không khí… đang là nguy cơnghiêm trọng dẫn đến khai thác quá mức có thể làm cạn kiệt hoàn toàn nguồn tàinguyên đó

Để khắc phục ngoại ứng trong quá trình sản xuất, nhà nước cần có sự tácđộng tích cực tới người gây ô nhiễm Một trong các biện pháp đó là đánh thuếhoặc phí đối với các hãng thải chất thải gây ô nhiễm

1.1.3 Phương pháp luận tính phí môi trường

Pigou, nhà kinh tế học người Anh đưa ra sáng kiến tiếp cận kinh tế vào giảiquyết vấn đề tác động ngoại ứng gây ô nhiễm môi trường Ông chỉ ra rằng do cónhững tác động ngoại ứng này, mà các chi phí cận biên của một đơn vị sản xuấtkinh doanh để sản xuất ra một sản phẩm có sự khác biệt hoàn toàn các chi phícận biên mà toàn xã hội phải chịu để có được sản phẩm đó Thực tế thường xảy

ra là: Người sản xuất một loại sản phẩm cụ thể nào đó, trong quá trình sản xuấtluôn thải ra các chất ô nhiễm gây tổn hại đối với sức khoẻ hay tài sản của nhữngngười khác mà không phải chịu các chi phí bồi hoàn nào cho những tổn hại đó.Như vậy chi phí cận biên của người sản xuất để cho ra sản phẩm đó đã khôngphản ánh hết chi phí cận biên toàn xã hội gánh chịu, để có được sản phẩm này

và vì thế trong một thị trường có cạnh tranh, nơi các xí nghiệp đó sẽ sản xuất ra

Trang 13

loại hàng hoá này với số lượng lớn hơn mức cân bằng trên thị trường, đồng thời

sẽ thải ra các chất ô nhiễm vượt quá mức cân bằng thị trường, vượt quá mức sứcchịu đựng của môi trường Vì vậy, Pigou cho rằng để khắc phục mức sản lượngvượt quá mức cân bằng thị trường do các tác động ngoại ứng gây ra, bằng cáchđiều chỉnh số lượng sản phẩm sản xuất thông qua việc đặt một hệ thống thuế/phíthích hợp đối với từng đơn vị sản phẩm gây ô nhiễm

Pigou đã đề ra mức thuế/phí như sau: mức thế tính cho mỗi đơn vị sảnphẩm gây ô nhiễm có giá trị bằng chi phí bên ngoài do đơn vị sản phẩm gây ônhiễm tại mức hoạt động tối ưu Q*

Trên hình 1.1, mức thuế Pigou chính bằng MEC tại mức hoạt động Q*,nghĩa là bằng giá trị t* Như vậy sau khi trừ đi thuế/phí Pigou, đường lợi nhuậnbiên MNPB sẽ trở thành (MNPB – t*) là đường lợi nhuận biên mới

Thật vậy, với mức thuế Pigou t*, nhà sản xuất sẽ điều chỉnh mức hoạt động

về Q* Vì đánh phí vào từng đơn vị sản phẩm nên chỉ khi nào MNPB lớn hơnmức thuế thì người sản xuất mới có lãi Điều này chỉ đạt được khi sản xuất ởmức Q* Do đó ý tưởng đánh thuế đã đạt được hoạt động tối ưu được thực hiện.Trên thực tế, xác định mức tối ưu t* rất khó khăn Để xác định được mứcphí này thì phải xác định được mức hoạt động Q* Sau đó xác định mức thải dohoạt động Q* gây ra, đồng thời phải tính được mức thiệt hai (chi phí ngoại ứng)

do ô nhiễm gây ra tại mức hoạt động Q*

Hình 1.1 Mức thuế/phí ô nhiễm

Trang 14

Xét về mặt toán học, có thể tính phí tối ưu như sau:

Gọi NSB là lợi nhuận xã hội do hoạt động sản xuất mang lại P là giá củasản phẩm, Q là mức hoạt động hoặc mức sản lượng (P được coi là không phụthuộc vào mức hoạt động Q) C là chi phí riêng (chi phí cá nhân) cho hoạt độngsản xuất (C phụ thuộc vào Q kí hiệu là C(Q)), EC là chi phí bên ngoài do hoạtđộng ô nhiễm gây ra (EC phụ thuộc vào Q, kí hiệu EC(Q)) thì lợi nhuận xã hội

do hoạt động sản xuất đem lại bằng doanh thu của hoạt động gây ô nhiễm trừ đitổng chi phí cá nhân và chi phí bên ngoài

Ta có:

NSB = Q.P – C(Q) – EC(Q) (1.1)Trong đó thì Q.P là doanh thu do hoạt động sản xuất đem lại Mục tiêu của

xã hội là tối đa hoá lợi nhuận NSB (NSB phụ thuộc vào mức hoạt động Q)

Để tìm được cực trị của hàm ta đạo hàm theo Q, sau đó cho bằng 0 ta được:

dNSB

dQ =P−

dC

dQ- dEC dQ = 0 (1.2)Như vậy, điều kiện cần để có lợi nhuận xã hôi cực đại là:

P = dC dQ -dEC dQ - dSC dQ (1.3)Trong đó, SC bằng chi phí biên riêng của người sản xuất cộng với chi phí ngoạiứng, gọi là chi phí xã hội

Trang 15

Từ công thức (1.3) cho thấy, giá của sản phẩm (gây ra ô nhiễm) bằng chiphí xã hội trên đơn vị sản phẩm đó Từ (1.5) cho thấy, để đạt được mức tối ưulợi nhuận riêng cá nhân phải băng chi phí bên ngoài do ngoại ứng gây ra.

Nếu biến số Q tiến tới điểm Q* ta có:

P = dC dQ - dQ∗ dEC

¿¿(1.6)

Vậy dEC/dQ* trong (1.6) chính là mức thuế mà Pigou đã đề ra:

Gọi t là mức phí đánh vào một đơn vị đo chất thải ta có:

Trang 16

ra có nghĩa là chi phí ngoại biên sẽ lớn hơn và khi MSC càng lớn thì thuế/phígây ô nhiễm càng lớn Do đó, để đạt được lợi nhuận cao nhất của doanh nghiệp

sả n xuất thì phải tự điều chỉnh để có được sản lượng tối ưu Q*

Khi một doanh nghiệp đầu tư thay đổi quy trình công nghệ để làm giảmthải chất gây ô nhiễm, mà doanh nghiệp vẫn giữ được mức sản lượng tối ưuđồng thời giảm được ngoại ứng nghĩa là doanh nghiệp chi chi ra một chi phí đểlàm giảm chất thải gây ô nhiễm hay để xử lý chất thải trước khi thải ra môitrường Chi phí để làm giảm thải thêm một đơn vị chính là chi phí cận biên giảmthải gây ô nhiễm Khi doanh nghiệp giảm bớt chất thải gây ô nhiễm đối với môitrường càng nhiều thì chi phí giảm thải càng cao Đây là căn cứ cho việc xácđịnh suất phí trên một đơn vị chất thải thích hợp sao cho xã hội lẫn doanhnghiệp đều có lợi, hoặc không bên nào chịu thiệt

Mục tiêu của việc thu phí ô nhiễm môi trường có thể là khác nhau: cải thiệnchất lượng môi trường thông qua thay đổi hành vi của người gây ô nhiễm hoặclàm tăng doanh thu cho ngân sách nhà nước Nhưng phí môi trường cần mangtính trung lập nghĩa là không nhằm buộc các nhà sản xuất ngừng sản xuất vàcũng không vì mục tiêu lợi nhuận mà hủy hoại môi trường

Để xác định phí môi trường, cần phải xét thêm mối quan hệ giữa chi phíbiên làm giảm ô nhiễm (MAC) và phí gây ô nhiễm Chi phi biên làm giảm ônhiễm của một hãng hay một ngành công nghiệp cho biết chi phí để giảm bớtmột lượng chất thải Thông thường chi phí biên giảm thải chất ô nhiễm giảmtheo chất thải ô nhiễm Vì vậy, khi nào chi phí biên giảm ô nhiễm thấp hơn phí ônhiễm môi trường mà doanh nghiệp phải nộp, doanh nghiệp sẽ lựa chọn phương

án đầu tư làm giảm chất thải gây ô nhiễm thay vì nộp phí, phương án này có lợicho các doanh nghiệp vì rẻ hơn Ngược lại khi MAC cao hơn phí gây ô nhiễmphải trả, doanh nghiêp sẽ lựa chọn phương án trả phí vì rẻ hơn so với tiếp tụccác phương pháp giảm thải chất thải gây ô nhiễm Như vậy, doanh nghiệp phảichịu hai lần chi phí: thứ nhất để giảm ô nhiễm chừng nào MAC thấp hơn phí ônhiễm, thứ hai, đóng phí khi MAC lớn hơn mức phí phải đóng Thực tế cho thấycác doanh nghiệp và các ngành công công nghiệp thường có hàm chi phí biêngiảm chất ô nhiễm khác nhau Đây là những yếu tố quyết định chi phí làm giảm

Trang 17

ô nhiễm để doanh nghiệp cân nhắc trước khi xây dựng hệ thống xử lý hay nộpphí.

Vấn đề đặt ra với xác định phí gây ô nhiễm là phí thải có tác dụng khuyếnkhích các doanh nghiệp tiếp tục sản xuất để có lợi nhuận, đồng thời phải đảmbảo được tiêu chuẩn, chất lượng môi trường quy định Theo kinh nghiệm củanhiều nước, việc xác định mức phí vẫn là vấn đề phức tạp gây nhiều tranh cãi,trong đó nguyên nhân quan trọng chính là thiếu thông tin hay thông tin khôngchính xác dẫn đến không đủ cơ sở để xác định chi phí thiệt hại chính xác.[1]

1.1.4 Tiêu chuẩn môi trường và và vấn để xác định phí môi trường

Tiêu chuẩn môi trường được coi là một chuẩn mực để xác định trách nhiệmcủa đối tượng gây ra ô nhiễm môi trường, nói cách khác, khi người sản xuất chấtthải ô nhiễm có nồng độ vượt tiêu chuẩn môi trường thì họ đã vi phạm qui định.Khi đó việc xác định mức phí phải cao hơn nhiều và được coi là tiền phạt khi viphạm tiêu chuẩn.[1]

Hiện nay ở Việt Nam đang áp dụng một bộ tiêu chuẩn môi trường bao gồmgiới hạn nồng độ của các chất thải vào môi trường không khí, môi trường nước

và tiếng ồn Những tiêu chuẩn này đưa ra giới hạn đối với các khu vực xungquanh cũng như cho các điểm nguồn Các tiêu chuẩn tại điểm nguồn phần lớndựa vào nồng độ ô nhiễm thay vì tổng lượng chất thải Khi tính phí ô nhiễm môitrường phải căn cứ vào các tiêu chuẩn môi trường, thường chi phí ô nhiễm đánhvào nguồn gây ô nhiễm có nồng độ các chất dưới mức cho phép, còn khi nồngnày vượt quá tiêu chuẩn được cho phép thì sẽ bị phạt và mức phạt phải lớn hơnrất nhiều so với mức phí Điều này sẽ bắt buộc đối tượng bị phạt bằng mọi cáchphải giảm nồng độ chất gây ô nhiễm và giúp họ hiểu được rằng: đóng phí làtrách nhiệm và nghĩa vụ đối với môi trường

Để tính phí với các chỉ tiêu BOD5, COD gây ô nhiễm nước phải xem xéttiêu chuẩn của các chất này trong tiêu chuẩn chất lượng môi trường Việt Nam.Theo quy định của một số nước ,việc quy định tiêu chuẩn chất lượng môitrường của chương trình phí không nhất thiết phải thống nhất trên toàn lãnh thổ.Quy định các loại tiêu chuẩn khác nhau đối với các loại chất thải tại các nguồnthải hay nơi phải chịu ô nhiễm là do có sự chênh lệch về khả năng chịu tải của

Trang 18

môi trường và do đảm bảo tính phí công bằng trong việc thu phí Vì vậy khi xácđịnh được mức phí thải phải căn cứ vào đặc tính, mức độ nhạy cảm của môitrường chịu ô nhiễm Thông thường, người ta chia lãnh thổ thành các vùng cómức chịu phí tải khác nhau làm căn cứ cho việc xác định mức phí theo cáchướng sau:

1 Quy định tiêu chuẩn chất lượng môi trường đối với chất thải phải nộpphí khác nhau theo trình độ công nghệ của xí nghiệp, chẳng hạn phân theo:

- Các doanh nghiệp áp dụng công nghệ mới tại thời điểm đang xét;

- Các doanh nghiệp áp dụng công nghệ cũ tính tại cùng thời điểm

Cũng có thể quy định tiêu chuẩn chất lượng môi trường theo ngành côngnghiệp, ví dụ: ngành công nghiệp sản xuất giấy, hóa chất, chế biến… Tuy nhiên,cách phân loại này không thực chính xác vì các ngành công nghiệp đó sử dụngcông nghệ khác nhau

2 Quy định tiêu chuẩn môi trường khác nhau cho cùng một chất tại mộtvùng theo khả năng chịu tải của ô nhiễm môi trường tại khu vực đó

Đối với Việt Nam, đây là một vấn đề quan trọng cần xem xét để chọn đươcphương án thích hợp Tuy nhiên, không nên qui định một tiêu chuẩn chất thảigiống nhau cho một loại chất thải khi chúng thải ra khu vực khác nhau Giảipháp giải quyết cho vấn đề này là xác định hệ số chịu tải riêng cho từng khu vực

và từ đó qui dịnh tiêu chuẩn môi trường thích hợp

1.1.5 Tính phí dựa vào đặc tính của chất gây ô nhiễm

Đặc tính của chất gây ô nhiễm là một trong các yếu tố quan trọng để xácđịnh mức phí Dưới đây sẽ phân tích đặc tính và khả năng gây hại của một sốchất ô nhiễm môi trường nước:

Nhu cầu oxi sinh hóa –BOD

Nhu cầu oxy sinh hóa là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác định mức ô nhiễmchất hữu cơ có thể phân hủy bởi vi sinh vật trong nước thải đô thị và chất thảicông nghiệp BOD là nhu cầu oxy cần cho vi sinh vật trong quá trình phân hủychất hữu cơ

Nhu cầu oxy hóa học – COD

Trang 19

Thông số này đặc trưng cho hàm lượng chất hữu cơ của chất thải trongnước tự nhiên COD là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa các chất hữu

cơ trong nước thành CO2 và nước Lượng oxy này tương đương với hàm lượngchất hữu cơ có thể bi oxy hóa Trong thông số COD biểu thị tất cả các lượng cácchất hữu cơ, kể cả phẩn không bị oxy hóa bằng vi sinh vật, do đó nó có giá trịcao hơn BOD

Tổng chất rắn lơ lửng

Chất rắn lơ lửng là tác nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến tài nguyên đồngthời gây tác hại về mặt cảm quan (tăng độ đục của nước) gây bồi lắng dòngchảy Đây là chỉ tiêu xác định chất lượng nước thải và nước tự nhiên.[1]

1.2 Kinh nghiệm thu phí nước thải ở một số quốc gia trên thế giới.

Từ những năm 70, công cụ phí môi trường mới chỉ được áp dụng trong một

số ít nước có nền kinh tế phát triển hơn như các nước thuộc nhóm OECD, cácnước công nghiệp mới NIC, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc với phạm vi cònhạn chế trong một số ngành hoặc lĩnh vực

Phí nước thải công nghiệp đã được sử dụng thành công ở một số nước:

Đức và Italia

Hình thức phí đánh vào chất gây ô nhiễm và nguồn gây ô nhiễm lại được

sự ủng hộ của quần chúng vì nếu đánh vào chất gây ô nhiễm như các chất lắngđọng, các chất có thể oxi hóa, thủy ngân, cadimi, COD thì sau khi công bố suất

lệ phí, nếu doanh nghiệp nào tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn về lượng phát thải,doanh nghiệp đó sẽ được giảm 50% phí

Hàn quốc

Phí nước thải đánh vào nguồn gây ô nhiễm được Hàn Quốc áp dụng từnhững năm 1983 Ban đầu phí được áp dụng dưới dạng phạt do không thực hiệnđược đúng cam kết Cơ quan môi trường (hiện nay là Bộ Môi trường của HànQuốc) được quyền phạt tiền các cơ sở gây ô nhiễm nếu như vi phạm tiêu chuẩnmôi trường và sau đó yêu cầu phải có biện pháp xử lí nếu vẫn tiếp tục vượt quágiới hạn cho phép

Trang 20

Từ năm 1986 biện pháp này đã thay đổi bằng thu phí về phần thải vượt tiêuchuẩn Mức phí được xác định trên cơ sở nồng độ chất gây ô nhiễm, vị trí thải ônhiễm, thời gian vượt tiêu chuẩn cho phép và tùy vào số lần vi phạm tiêu chuẩn.Nhưng sau một thời gian thực hiện biện pháp này đã bộc lộ một số nhượcđiểm:

Xuất phí đặt ra quá thấp, trong một số trường hợp còn thấp hơn cả chi phívận hành và mua các thiết bị xử lý ô nhiễm nên không có tác dụng khuyến khíchgiảm ô nhiễm

Việc chỉ dựa vào nồng độ chất gây ô nhiễm để tính phí có thể buộc các cơ

sở sản xuất kinh doanh giảm lượng ô nhiễm thải ra ngoài môi trường bởi họ cốtình lẩn tránh bằng cách pha loãng nồng độ chất thải trong khi đó lượng chất thảikhông thay đổi

Để khắc phục những nhược điểm trên từ năm 1990 Hàn Quốc đã đánh phícăn cứ vào lượng thải vượt tiêu chuẩn cho phép và kết hợp nồng độ chất thảitrong công thức tính phí Ngoài ra, Hàn Quốc đã điều chỉnh xuất phí cao hơn chiphí vận hành hệ thống xử lý ô nhiễm để khuyến khích giảm ô nhiễm

Trung Quốc

Từ nhiều năm qua Trung Quốc đã áp dụng một hệ thống phí phạt với hơn

100 mức phí đánh giá vào các nguồn gây ô nhiễm đối với nước thải, khí thải,phế thải tiếng ồn và các loại khác do vi phạm tiêu chuẩn môi trường Hệ thốngnày được áp dụng theo 3 giai đoạn, bắt đầu từ năm 1979 bằng việc thực nghiệmtại thành phố Suzhou, sau đó được mở rộng ra toàn quốc vào những năm 1981

và ba giai đoạn được tiếp tục cho đến ngày hôm nay Kết quả của việc áp dụng

hệ thống phí này đã giảm tới 60,4% tổng lượng chất gây ô nhiễm thải ra môitrường trong giai đoạn 1979-1996 Mức phí ô nhiễm được căn cứ vào cả lượng

và nồng độ của các chất thải ra ngoài môi trường Tuy nhiên hệ thống này cũngbộc lộ những nhược điểm là mức phí đặt ra quá thấp nên đã hạn chế được tácđộng tích cực khiến người gây ô nhiễm phải thay đổi hành vi của mình

Mục đích chính của việc áp dụng hệ thống này là tăng nguồn thu cho các

ủy ban bảo về môi trường ở địa phương Theo quy định, các ủy ban này đượcgiữ phép lại 20% nguồn thu từ phí và 100% tiền phạt để dùng cho các hoạt động

Trang 21

của họ Trên thực tế, nguồn thu được từ phí đã được sử dụng để trợ cấp cho các

xí nghiệp để họ thực hiện biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm Hệ thống phínày hiện đã được cải cách theo hướng không dùng nguồn thu để trợ cấp chocông việc kiểm soát và xử lý ô nhiễm Ngày nay, 80% nguồn thu từ quỹ đượcđưa vào quỹ của các địa phương để cho các xí nghiệp vay cho mục đích môitrường, 20% còn lại dùng để duy trì bộ máy kiểm soát và chi phí thực hiệnchương trình này bao gồm cả cán bộ môi trường, mua sắm, vận hành thiết bịquan trắc, đo đạc

Bên cạnh đó việc thu phí nước thải công nghiệp ở một số nước cũng chưađem lại hiệu quả kinh tế cao điển hình như tại Pháp Ở Pháp việc sử dụng hệthống phí nước thải công nghiệp không có tính chất khuyến khích bởi xuất phí

và lệ phí thấp Việc tăng suất phí và lệ phí đối với các chất gây ô nhiễm nguồnnước bởi các ngành công nghiệp bị phản đối kịch liệt vì họ không muốn phảichịu thêm gánh nặng về tài chính Đây là điểm yếu của hệ thống phí và lệ phícủa Pháp Người gây ô nhiễm sẵn sàng thực hiện biện pháp chống ô nhiễm nếuđược họ giúp đỡ về mặt tài chính nhưng lại không muốn chịu các khoản đónggóp cao hơn để tạo nguồn cho hỗ trợ tài chính này

Qua tìm hiểu kinh nghiệm thu phí ở một số nước trên thế giới ta có thể rút

ra được một số kết luận như sau:

Trước hết, muốn quản lý chất thải nguy hại nói riêng và triển khai các giảipháp chống ô nhiễm môi trường nói chung đạt tới sự thành công thì phải làmcho từng cơ sở gây ô nhiễm (nhà sản xuất) và các liên đới (người tiêu dùng) hiểu

rõ và thấy được trách nhiệm của mình trong bảo vệ môi trường

Thứ hai, cần thiết phải sử dụng đa dạng các công cụ để cùng bảo vệ môitrường

Cho đến nay, ở nước ta việc quản lý và bảo vệ môi trường chủ yếu vẫn dựavào các công cụ pháp lý và mệnh lệnh hành chính Gần đây, một số công cụ tàichính mới bước đầu được quan tâm sử dụng như một số chính sách thuế, phí, lệphí và thành lập một số định chế tài chính hoạt động với mục tiêu hỗ trợ vàkhuyến khích việc bảo vệ môi trường như Quỹ môi trường quốc gia và một sốquỹ môi trường của ngành, của địa phương Tuy nhiên, việc tìm kiếm các công

Trang 22

cụ thích hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta vẫn là một vấn đề bất cậpcần giải quyết.

Trong khi NSNN còn nhiều khó khăn, khả năng bố trí cho các mục tiêu vềquản lý, giữ gìn và bảo vệ môi trường còn hạn chế, thì việc sử dụng các công cụkinh tế tài chính để huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia bảo vệ môi trườngđược coi là các biện pháp tốt, vừa giảm gánh nặng cho NSNN, vừa giúp đạtđược các mục tiêu về môi trường có hiệu quả cao hơn

Kinh nghiệm tại các nước cũng chỉ ra rằng quyết định sử dụng công cụkinh tế không đồng nghĩa với việc quá nhấn mạnh các công cụ này mà bỏ đi cácbiện pháp hành chính và kiểm soát truyền thống Cần phải có một hệ thống hỗnhợp để vừa duy trì được những yếu tố tích cực của các biện pháp hành chính,vừa phải sử dụng các công cụ kinh tế để phát huy tính linh hoạt, giảm chi phíthực hiện, khuyến khích phát triển bền vững

Việc sử dụng các công cụ kinh tế tài chính sẽ mang lại hiệu quả cao hơnkhi nó được sử dụng một cách đồng bộ ở tất cả các khâu, các hoạt động chủ yếucủa công tác quản lý và bảo vệ môi trường trên cơ sở kết hợp các biện pháphành chính Các công cụ kinh tế rất đa dạng nhưng cần ưu tiên sử dụng nhữngcông cụ có tác động làm thay đổi hành vi của con người

Thứ ba, nên thực hiện tốt phương châm phòng ngừa hơn chữa trị

Trong lĩnh vực môi trường, việc phòng ngừa và ngăn chặn những bất lợigây ra đối với môi trường sẽ đỡ tốn kém hơn rất nhiều so với chi phí xử lý, khắcphục hậu quả Để giúp các chủ thể kinh doanh giảm bớt khó khăn do việc phảichi các khoản phí được xem là “bất thường” trong việc khắc phục các hậu quảmôi trường và tạo nguồn tài chính cho hoạt động phòng ngừa, khắc phục rủi ro

về môi trường, thì việc sử dụng các công cụ kinh tế là cần thiết

Kinh nghiệm các nước cho thấy, trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, cáccông cụ kinh tế có thể được sử dụng ở hầu hết các khâu và việc sử dụng cáccông cụ kinh tế này thường mang lại hiệu quả một cách tổng hợp, cả về kinh tế,

xã hội và môi trường

Các công cụ kinh tế cũng tiềm tàng các hiệu quả phòng ngừa và cả chữa trịbởi việc bắt buộc trả tiền khi xâm hại đến môi trường đã đủ làm cho các chủ thể

Trang 23

gây ô nhiễm môi trường phải cân nhắc, tính toán trước khi gây hại đến môitrường Đồng thời, nguồn tiền thu được sẽ được tập hợp vào NSNN hoặc cácquỹ để tăng khả năng tài chính cho việc khắc phục sự cố, cải thiện chất lượngmôi trường.

1.3 Phí nước thải theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

1.3.1 Đối tượng chịu phí và người nộp phí

Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định số 25/2013/NĐ-CPngày 29/3/2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải được

xâ dựng theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả”

Đối tượng chịu phí

Đối tượng chịu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải là nước thải ra môitrường từ hoạt động công nghiệp:

a) Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến: nông sản, lâm sản, thủy sản;

b) Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến: thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc

lá;

c) Cơ sở chăn nuôi, giết mổ: gia súc, gia cầm tập trung;

d) Cơ sở nuôi trồng thuỷ sản;

đ) Cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề;

e) Cơ sở: thuộc da, tái chế da;

g) Cơ sở: khai thác, chế biến khoáng sản;

h) Cơ sở: dệt, nhuộm, may mặc;

i) Cơ sở sản xuất: giấy, bột giấy, nhựa, cao su;

k) Cơ sở sản xuất: phân bón, hoá chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật,vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng;

l) Cơ sở: cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy và phụ tùng;m) Cơ sở sản xuất: linh kiện, thiết bị điện, điện tử;

n) Cơ sở: sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu;

Trang 24

o) Nhà máy cấp nước sạch;

p) Hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp, khu đô thị (trừ cáctrường hợp được miễn phí bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật);q) Cơ sở sản xuất công nghiệp khác.[4]

Người nộp phí

- Tổ chức, cá nhân xả nước thải công nghiệp ra ngoài môi trường là ngườinộp phí bảo vệ môi trường

- Trường hợp các tổ chức, cá nhân xả nước thải vào hệ thống thoát nước

và nộp phí thoát nước thì đơn vị quản lý, vận hành hệ thống thoát nước là ngườinộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã tiếp nhận và thải ra ngoài môitrường

- Đối với các cơ sở sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản thủy sản quyđịnh tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 25/2013/NĐ-CP này sử dụng nguồn nước từđơn vị cung cấp nước sạch cho hoạt động sản xuất, chế biến phả nộp phí bảo vệmôi trường đối với nước thải công nghiệp (không phải nộp phí bảo vệ môitrường đối với nước thải sinh hoạt).[5]

1.3.2.Mức phí và cách xác định số phí phải nộp đối với nước thải công nghiệp

1.3.2.1 Mức phí đối với nước thải công nghiệp

a) Phí bảo vệ môi trường đối với nước thải của cơ sở sản xuất, cơ sở chếbiến không thuộc Danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thảichứa kim loại nặng do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành (sau đây gọi tắt

là Danh mục), được tính theo công thức:

Trang 25

Bảng 1.1: Mức thu phí đối với nước thải theo hàm lượng COD và TSS STT Chất gây ô nhiễm tính phí Mức thu (đồng/kg)

- F, f và C như quy định tại Điểm a Khoản này;

- K là hệ số tính phí theo lượng nước thải của cơ sở sản xuất, cơ sở chếbiến thuộc Danh mục và được xác định như sau:

Bảng 1.2: Hệ số tính phí theo lượng nước thải của các cơ sở sản xuất STT Lượng nước thải (m 3 /ngày đêm) Hệ số K

K bằng 1

d) Không áp dụng phí biến đổi đối với cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến cólượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 30 m3/ngày đêm (C = 0) [5]

Trang 26

1.3.2.2 Xác định số phí phải nộp đối với nước thải công nghiệp

a) Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến không thuộc Danh mục:

- Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 30m3/ngày đêm, chỉ phải nộp phí theo mức cố định f = 1.500.000 đồng/năm;

- Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí từ30m3/ngày đêm trở lên, ngoài việc phải nộp phí cố định f = 1.500.000 đồng/năm,hàng quý phải nộp phí biến đổi (Cq) được tính theo công thức sau:

(mg/l)

x

Mức thu đốivới

COD(đồng/kg)

+

HàmlượngTSStrongnướcthải

(mg/l)

x

Mức thuđối vớiTSS

b) Cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thuộc Danh mục:

- Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí dưới 30m3/ngày đêm, số phí phải nộp bằng mức phí cố định nhân với hệ số K bằng 2 là:3.000.000 đồng/năm;

- Trường hợp có lượng nước thải trung bình trong năm tính phí từ30m3/ngày đêm trở lên, số phí phải nộp hàng quý được tính theo công thức sau:

Fq = (f x K)/4 + Cq trong đó:

Trang 27

+ Fq là số phí phải nộp trong quý (đồng);

+ f = 1.500.000 đồng;

+ K được quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 4 Thông tư Liên tịch

số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT được xác định theo lượng nước thải trung bìnhngày đêm trong quý tính phí;

+ Cq được tính theo công thức quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 4 Thông

tư Liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT

c) Xác định lượng nước thải ra:

- Đối với các cơ sở có đồng hồ đo lượng nước thải, lượng nước thải rađược xác định căn cứ vào số đo trên đồng hồ;

- Đối với các cơ sở không có đồng hồ đo lượng nước thải thì lượng nướcthải được xác định dựa trên kết quả đo đạc thực tế của cơ quan quản lý nhà nước

về môi trường hoặc được tính bằng 80% lượng nước sử dụng.[5]

Danh mục lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến có nước thải chứa kim loại nặng

1 Thuộc da, tái chế da;

2 Khai thác than; khai thác, chế biến khoáng sản kim loại;

3 Nhuộm vải, sợi;

4 Sản xuất hóa chất;

5 Cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, chế tạo máy, phụ tùng;

6 Sản xuất linh kiện, thiết bị, điện, điện tử;

7 Tái chế kim loại; tái chế chất thải luyện kim, chất thải công nghiệp khác;

8 Phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu;

9 Hệ thống xử lý nước thải công nghiệp tập trung (có tiếp nhận nước thải

từ cơ sở thuộc lĩnh vực, ngành sản xuất, chế biến nằm trong Danh mục này) [6]

Trang 28

1.3.3 Yêu cầu và các yếu tố đảm bảo việc chấp hành phí môi trường đối với nước thải công nghiệp

1.3.3.1 Yêu cầu thực hiện nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

- Thực hiện nộp phí BVMT đối với NTCN chính là thực hiện các quy địnhcủa nhà nước về bảo vệ môi trường Các nội dung quy định trong Nghị định củaChính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải nhằm thể chế hoá đườnglối, quan điểm của Đảng, chủ chương chính sách của nhà nước, nhu cầu kháchquan của xã hội Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường không chỉ là việc xâydựng được một hệ thống thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải côngnghiệp đầy đủ, mà điều quan trọng hơn cả là phí bảo vệ môi trường đối với nướcthải công nghiệp có được chủ các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, cũngnhư các công ty,cơ sở sản xuất kinh doanh tôn trọng và chấp hành một cáchnghiêm chỉnh và triệt để, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệpphải đi vào cuộc sống và phải biến thành hành động của các cơ quan nhà nước,chủ các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, cũng như các công ty, cơ sởsản xuất kinh doanh

- Để phí BVMT đối với NTCN phát huy hiệu lực, đạt hiệu quả trong quátrình thực hiện, thì Nhà nước ngoài việc tạo lập môi trường chính trị, xã hộithuận lợi, nâng cao trình độ pháp lý cho cán bộ quản lý về môi trường và cácdoanh nghiệp, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thu phí có hiệu quả

- Như vậy, việc thực hiện nộp phí BVMT đối với NTCN trên là một nộidung đóng vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung vàmôi trường nước nói riêng

1.3.3.2 Các yếu tố bảo đảm thực hiện nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp

- Hệ thống văn bản: Nghị định, thông tư hướng dẫn việc chấp hành phíBVMT đối với NTCN

Môi trường nước của nước ta đang ngày càng ô nhiễm bởi nước thải côngnghiệp nhất là nền công nghiệp ngày càng phát triển như hiện nay Chính vì vậy,Chính phủ đưa ra các giải pháp: công cụ về quản lý, kinh tế, công cụ giáo dục và

Ngày đăng: 09/03/2018, 13:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w