1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Chương 2 Tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc

26 184 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 44,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 2 Tư tưởng HCM về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộcI. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC1. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa Luận cương của Lênin Về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa quyết định bước ngoặt và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh.+ Lênin: Bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” gồm 12 luận cương, ở đó Lênin đã đề cập tới những vấn đề cơ bản sau: Giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trừu tượng và hình thức vấn đề dân tộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Lênin đã đặt ra một loạt các vấn đề có tính nguyên lý và những phương hướng giải quyết các vấn đề dân tộc của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. + “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” 1848 với các Lời tựa của nó do Ăngghen viết cho các lần tái bản 1892 và 1893 khẳng định: giải phóng dân tộc là điều kiện để đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa tư bản, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. + Thì “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến cách mạng Việt Nam và ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam. + Hồ Chí Minh Nhận thức được điều này, năm 1924, trong “Lênin và các dân tộc phương Đông” Hồ Chí Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hết tầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vào phong trào cách mạng. Lênin là người đầu tiên chỉ rõ rằng, nếu không có sự tham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được”. Trong “Đường kách mệnh” 1927, Người viết: “An Nam dân tộc cách mệnh thành công thì tư sản Pháp yếu, tư sản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giai cấp cách mệnh cũng dễ” Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” năm 1924, Người đã chủ trương đoàn kết dân tộc phải kết hợp với đoàn kết quốc tế: “Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới”, và đã phát hiện ra “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”, “Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản... Giờ đây người ta không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ” Trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960), Hồ Chí Minh đã viết về ảnh hưởng của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đối với Người như sau: “Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”.Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.” Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc + Tố cáo tội ác: Bản án chế độ thực dân Pháp (Le Procès de la Colonisation Française), tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, viết bằng tiếng Pháp, in lần đầu tại Pari (1925), xuất bản bằng tiếng Pháp (1946) ở Hà Nội, bằng tiếng Việt (1960) và tái bản nhiều lần. Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục. Tác phẩm tố cáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt dân bản xứ phải đóng thuế máu cho chính quốc... để phơi thây trên chiến trường Châu Âu; đày đoạ phụ nữ, trẻ em thuộc địa; các thống sứ, quan lại thực dân độc ác như một bày thú dữ, vv⇨Muốn thoát khỏi sự áp bức bóc lột đó thì phải đấu tranh Phương hướng, lựa chọn con đường phát triển của dân tộc+ Lựa chọn con đường phát triển là một trong những con đường khẳng định độc lập( quyền tự quyết dân tộc => thể hiện độc lập)+ Hồ Chí Minh chọn con đường khác con đường của người đi trước: Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứng hai câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc Việt Nam: làm thế nào để giải phóng dân tộc khỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho nhân dân; và lựa chọn con đường, phương thức nào để bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước phù hợp với xu thế đi lên của thời đại mới. Từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vận động của phong trào cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, “ Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc các phong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tư sản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”

Trang 1

Chương 2

I TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

1 Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa

- Luận cương của Lênin " Về vấn đề dân tộc và dân tộc thuộc địa " quyết địnhbước ngoặt và sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh

+ Lênin: Bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dântộc thuộc địa” gồm 12 luận cương, ở đó Lênin đã đề cập tới những vấn đề cơbản sau:

* Giai cấp tư sản đã giải quyết một cách trừu tượng và hình thức vấn đề dântộc và quyền bình đẳng giữa các dân tộc

* Lênin đã đặt ra một loạt các vấn đề có tính nguyên lý và những phươnghướng giải quyết các vấn đề dân tộc của chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng + “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” 1848 với các Lời tựa của nó do Ăngghenviết cho các lần tái bản 1892 và 1893 khẳng định: giải phóng dân tộc là điềukiện để đoàn kết quốc tế chống chủ nghĩa tư bản, đó là sứ mệnh lịch sử củagiai cấp công nhân

+ Thì “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và dân tộcthuộc địa” của Lênin đã chỉ ra những nguyên tắc liên quan trực tiếp đến cáchmạng Việt Nam và ảnh hưởng đến tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cáchmạng Việt Nam + Hồ Chí Minh

* Nhận thức được điều này, năm 1924, trong “Lênin và các dân tộc phươngĐông” Hồ Chí Minh đã viết: “Lênin là người đầu tiên đã hiểu và đánh giá hếttầm quan trọng lớn lao của việc lôi cuốn nhân dân các nước thuộc địa vàophong trào cách mạng Lênin là người đầu tiên chỉ rõ rằng, nếu không có sựtham gia của các dân tộc thuộc địa, thì cách mạng xã hội không thể có được”

* Trong “Đường kách mệnh” 1927, Người viết: “An Nam dân tộc cách mệnhthành công thì tư sản Pháp yếu, tư sản Pháp yếu thì công nông Pháp làm giaicấp cách mệnh cũng dễ”

* Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” năm 1924, Người đã chủtrương đoàn kết dân tộc phải kết hợp với đoàn kết quốc tế: “Sự nghiệp củangười bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới”, và đã phát

Trang 2

hiện ra “chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”, “Phát động chủnghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản Giờ đây người ta khôngthể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, vàduy nhất của đời sống xã hội của họ”

* Trong “Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin” (1960), Hồ Chí Minh đã viết

về ảnh hưởng của bản “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dântộc và dân tộc thuộc địa” của Lênin đối với Người như sau: “Ngồi một mìnhtrong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡiđồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là conđường giải phóng chúng ta”

Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba.”

- Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc

+ Tố cáo tội ác: Bản án chế độ thực dân Pháp ("Le Procès de la ColonisationFrançaise"), tác phẩm của Nguyễn Ái Quốc, viết bằng tiếng Pháp, in lần đầu tạiPari (1925), xuất bản bằng tiếng Pháp (1946) ở Hà Nội, bằng tiếng Việt (1960)

và tái bản nhiều lần Tác phẩm gồm 12 chương và phần phụ lục Tác phẩm tốcáo thực dân Pháp dùng mọi thủ đoạn khốc liệt bắt "dân bản xứ" phải đóng

"thuế máu" cho chính quốc để "phơi thây trên chiến trường Châu Âu"; đàyđoạ phụ nữ, trẻ em "thuộc địa"; các thống sứ, quan lại thực dân độc ác nhưmột bày thú dữ, vv

⇨ Muốn thoát khỏi sự áp bức bóc lột đó thì phải đấu tranh

- Phương hướng, lựa chọn con đường phát triển của dân tộc

+ Lựa chọn con đường phát triển là một trong những con đường khẳng địnhđộc lập( quyền tự quyết dân tộc => thể hiện độc lập)

+ Hồ Chí Minh chọn con đường khác con đường của người đi trước:

* Sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản của Nguyễn Ái Quốc đã đáp ứnghai câu hỏi lớn đặt ra cho dân tộc Việt Nam: làm thế nào để giải phóng dân tộckhỏi ách cai trị của đế quốc, thực dân, giành lại nền độc lập, tự do cho nhândân; và lựa chọn con đường, phương thức nào để bảo vệ, xây dựng và pháttriển đất nước phù hợp với xu thế đi lên của thời đại mới

Trang 3

* Từ nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn vận động của phong trào cách mạngViệt Nam, Hồ Chí Minh kết luận: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không

có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”, “ Đối với nước ta,không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnhphúc cho nhân dân Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử,

sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta trong lúc cácphong trào cứu nước từ lập trường Cần Vương đến lập trường tư sản, tiểu tưsản, qua khảo nghiệm lịch sử đều lần lượt thất bại”

2 Độc lập dân tộc - nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc thuộc địa

- Hồ Chí Minh tiếp cận từ quyền con người

+ Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ: Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ làvăn bản chính trị tuyên bố ly khai khỏi Vương quốc Anh của 13 bang thuộc địaBắc Mỹ Tuyên ngôn được đọc ngày 4/7/1776, nội dung chính của bản tuyênngôn dựa trên tư tưởng John Locke, một triết gia người Anh Theo ông, conngười có ba quyền cơ bản không thể bị tước đoạt là quyền được sống, được tự

do và được sở hữu Quyền sở hữu được Tổng thống Mỹ Thomas Jefferson đềcập tới trong bản tuyên ngôn là "quyền được mưu cầu hạnh phúc" Câu tríchdẫn nổi tiếng của bản tuyên ngôn là "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyềnbình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được;trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầuhạnh phúc"

+ Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1791 của cách mạng Pháp: “Người tasinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bìnhđẳng về quyền lợi”

+ Hồ Chí Minh đã khái quát và nâng cao quyền con người thành quyền dân tộc:

“ Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng cóquyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”

- Nội dung của độc lập dân tộc

+ Độc lập tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc

* Khi chưa có độc lập, quyết tâm đấu tranh đòi độc lập:

Trang 4

• Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế quốc tham gia chiến tranh họp Hộinghị ở Vécxây Thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, NguyễnTất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách củanhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây Bản yêu sách được luật sư Phan VănTrường viết bằng tiếng Pháp (vì lúc này Nguyễn Tất Thành chưa thạo tiếngPháp) Dưới bản Yêu sách Nguyễn Tất Thành ký tên: Nguyễn Ái Quốc Đây là lầnđầu tiên tên gọi Nguyễn Ái Quốc xuất hiện Bản Yêu sách gồm tám điểm:

“(1) Tổng ân xá cho tất cả những người bản xứ bị án tù chính trị;

(2) Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng đượcquyền hưởng những đảm bảo về mặt pháp luật như người Âu châu; xóa bỏhoàn toàn các toà án đặc biệt dùng làm công cụ để khủng bố và áp bức bộphận trung thực nhất trong nhân dân An Nam;

(3) Tự do báo chí và tự do ngôn luận;

(4) Tự do lập hội và hội họp;

(5) Tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương;

(6) Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cả cáctỉnh cho người bản xứ;

(7) Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật;

(8) Đoàn đại biểu thường trực của người bản xứ, do người bản xứ bầu ra, tạiNghị viện Pháp để giúp cho Nghị viện biết được những nguyện vọng của ngườibản xứ” Bản Yêu sách này đã được Nguyễn Ái Quốc tới lâu đài Vécxây gửi chovăn phòng Hội nghị, sau đó lần lượt gửi đến các đoàn đại biểu các nước Đồngminh dự hội nghị Tại Hội nghị, Bản yêu sách đã không được “đả động đến” dùhầu hết các đoàn đại biểu và các nghị sĩ Pháp sau khi nhận được bản Yêu sáchđều đã gửi thư trả lời Nguyễn Ái Quốc, bởi mục đích của các nhà tư bản đến dựHội nghị Vécxây chỉ là bàn việc chia lại thị trường và tranh giành lợi ích

• Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930:

✓ Đường lối chiến lược cách mạng là tiến hành “Tư sản dân quyền cáchmạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”

✓ Nhiệm vụ của cách mạng: Đánh đổ đế quốc Pháp, phong kiến và tư sảnphản cách mạng, làm cho nước Việt Nam được độc lập tự do; lập chính

Trang 5

phủ công nông binh, tổ chức quân đội công nông Tịch thu hết sảnnghiệp lớn của đế quốc; tịch thu ruộng đất của đế quốc và bọn phảncách mạng chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất.

✓ Lực lượng cách mạng: Công nhân, nông dân, tiểu tư sản, trí thức Đối vớiphú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản thì lợi dụng hoặc trung lập, đồngthời phải liên lạc với các dân tộc bị áp bức và vô sản thế giới

✓ Lãnh đạo cách mạng: Đảng Cộng sản Việt Nam – đội tiên phong của giaicấp vô sản

=> Tư tưởng cốt lõi trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là độc lập và

“Mười chính sách của Việt Minh Việt Nam độc lập đồng minh

Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây

Quyết làm cho nước non này,

Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền:

Làm cho con cháu Rồng, Tiên, Dân ta giữ lấy lợi quyền của ta

Có mười chính sách bày ra, Một là ích nước, hai là lợi dân

Trang 6

…Muốn làm đạt mục đích này, Chúng ta trước phải ra tay kết đoàn

…Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh “

- Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 2/1945: ” NướcViệt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự

do, độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lựclượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”

* Khi có độc lập rồi thì quyết tâm giữ và giữ cho bằng được

• Trong các văn bản ngoại giao: Trong các thư và điện văn gửi tới Liên hợpquốc và Chính phủ các nước vào thời gian sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ ChíMinh trịnh trọng tuyên bố: "nhân dân chúng tôi thành thật mong muốn hòabình Nhưng nhân dân chúng tôi cũng kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệnhững quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập chođất nước"

• Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi :"Không! Chúng tathà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịulàm nô lệ"

• Ngày 20-7-1954, Pháp ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến tranh ở ĐôngDương

• Khi đế quốc Mỹ điên cuồng mở rộng chiến tranh, ồ ạt đổ quân viễn chinh vàphương tiện chiến tranh hiện đại vào miền Nam, đồng thời tiến hành chiến

Trang 7

tranh phá hoại miền Bắc với qui mô và cường độ ngày càng ác liệt, Hồ Chí Minhnêu cao chân lý lớn nhất của thời đại: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"

- Độc lập thật sự, độc lập trên tất cả các phương diện:

+ Hiệp ước Élysée (tiếng Pháp: Accords de l'Elysée) là một văn kiện được ký kếtngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại và Tổngthống Pháp, theo đó công nhận Quốc gia Việt Nam là một nước độc lập nằmtrong Liên hiệp Pháp

+ Chính sách ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau ngày toàn quốc khángchiến: Dù hoàn cảnh còn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn nỗ lực chủ độngtriển khai các hoạt động quốc tế để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhândân thế giới

• Ngày 21/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho nhân dân Việt Nam,nhân dân Pháp và nhân dân các nước Đồng minh tố cáo chính sách lật lọng củathực dân Pháp, phá hoại Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước14/9/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Những hành động của thực dânPháp định chiếm lấy nước chúng tôi thực rõ rệt, không thể chối cãi được Dântộc Việt Nam nay bị đặt trước hai đường: một là khoanh tay, cúi đầu trở lại nôlệ; hai là đấu tranh đến cùng để giành lấy tự do và độc lập"

• Trước đó, trong lời tuyên bố với phóng viên báo "Pari - Sài Gòn", Chủ tịch HồChí Minh đã nói: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình Chúng tôikhông muốn chiến tranh Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng đủmọi cách Chúng tôi tha thiết với nền độc lập, nhưng nước Việt Nam độc lập ởkhối Liên hiệp Pháp Nước Việt Nam cần kiến thiết, nước Việt Nam khôngmuốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu nhân mạng Nhưng cuộc chiến tranh ấy,nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm Chúng tôi không lạ

gì những điều đang đợi chúng tôi Nước Pháp có những phương tiện ghê gớm,

và cuộc chiến đấu sẽ khốc hại, nhưng dân tộc Việt Nam đã sẵn sàng chịu đựngtất cả, chứ nhất định không chịu mất tự do "

• Cuối tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Lời kêu gọi tới Liên hợpquốc và Hội đồng Bảo an, nêu rõ nguồn gốc và tình hình cuộc chiến tranh ởĐông Dương và đề nghị ủng hộ việc vãn hồi hòa bình ở Việt Nam Trình bàychính sách đối ngoại cởi mở của Việt Nam

Trang 8

• Ngày 16/7/1947 trả lời một nhà báo nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳngđịnh Việt Nam hoan nghênh tư bản Pháp và tư bản các nước cộng tác Chủ tịch

Hồ Chí Minh nêu các quan điểm về chính sách đối ngoại hữu nghị và hợp táccủa Việt Nam, khẳng định: Việt Nam muốn "làm bạn với tất cả mọi nước dânchủ và không gây thù oán với một ai"; "Độc lập của Việt Nam luôn luôn nhờ nơilực lượng của Việt Nam"; "Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tácthật thà và bình đẳng với Việt Nam"

• Để thể hiện thiện chí hòa bình của mình, từ tháng 12/1946 đến tháng3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 lần gửi thư cho Chính phủ Pháp, Quốc hộiPháp và cả Tổng thống Vincent Auriol, đề nghị lập lại hòa bình để tránh hainước cùng khỏi bị hao người thiệt của, và gây lại sự cộng tác của tình thânthiện giữa hai dân tộc Việt - Pháp Song Chính phủ Pháp đã không đáp ứng

• Đối với các nước châu Á, ngoài việc xây dựng khối liên minh chiến đấu Việt Lào - Cam pu chia, Chính phủ ta đã tích cực xây dựng mối quan hệ thân thiệnvới các nước dựa trên lập trường chống đế quốc thực dân, bảo vệ độc lập, dântộc, dân chủ và tiến bộ xã hội

-• Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam ngay từ đầu đã được nhiều tầng lớpnhân dân các nước đồng tình ủng hộ

• Năm 1950, tranh thủ chiến thắng của Chiến dịch Biên giới, Việt Nam Dân chủCộng hòa đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với hai đồng minh quantrọng là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa

Xô Viết (Liên Xô), sau đó còn có các nước khối xã hội chủ nghĩa châu Á, ĐôngÂu

- Quan nhiệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước

+ Yêu văn hóa, yêu lịch sử, yêu con người Việt Nam: Chủ tịch Hồ Chí Minh đãnhận định: “ Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn Lịch sửhàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam đã ghi nhận những trang oanh liệt củanhân dân đấu tranh để xây dựng nước nhà… Đó là truyền thống quý báu củata.” Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước là giá trị tốt đẹp đã khẳng định tầm caonhân cách, chiều sâu văn hóa của mỗi công dân đối với Tổ quốc; đồng thời làsức mạnh tiềm tàng, nội sinh thường trực trong lòng dân tộc; là nguồn lựckhông bao giờ cạn trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước Đây còn là đặctrưng tiêu biểu về nhân cách của con người Việt Nam

Trang 9

+ So sánh quan niệm của Hồ Chí Minh với chủ nghĩa dân tộc nước lớn và tưtưởng con:

* Chủ nghĩa dân tộc nước lớn:

• Giống Hồ Chí Minh: Đề cao coi trọng dân tộc mình

• Khác với Hồ Chí Minh: Coi thường, khinh thường các dân tộc khác, cho phépmình trà đạp và xâm lược các dân tộc khác

⇨ Quan niệm của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc chân chính

* Tư tưởng dân tộc con:

• Chỉ ra, nhìn ra, thấy được các hạn chế của dân tộc mình => Hồ Chí Minh đãchỉ ra một cách gay gắt

• Khác: Mất niềm tin vào dân tộc mình, chấp nhận sự xâm lược, thống trị của

kẻ khác đối với dân tộc mình

- Hồ Chí Minh chỉ ra và chứng minh sức mạnh to lớn của chủ nghĩa yên nước:Trong báo cáo Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ Về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc ởViệt Nam

+ Chủ nghĩa dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đề cập trong tác phẩm là chủ nghĩayêu nước và tinh thần dân tộc của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh chốngchủ nghĩa đế quốc xâm lược, giành độc lập và là một bộ phận của cách mạng

vô sản Nguyễn Ái Quốc, dựa trên quan điểm mácxít, thừa nhận đấu tranh giaicấp trong xã hội có giai cấp là một động lực to lớn của lịch sử, nhưng khôngphải là động lực duy nhất Là người dân thuộc địa, đang đấu tranh chống chủnghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thức đúngđắn sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc Người xem chủ nghĩa dân tộc là mộtđộng lực vĩ đại, thậm chí là duy nhất của các dân tộc thuộc địa, nhấn mạnh vấn

đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mà coi nhẹ hoặc bỏ qua vấn đề dân tộc ởthuộc địa là không đúng

+ Các nước thuộc địa, nhất là ở Á - Phi, đều là những nước nông nghiệp nghèonàn và lạc hậu, bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc kìm hãm và bóc lột tàn bạo.Trong cuộc đấu tranh giải phóng, họ không có vũ khí nào khác là chủ nghĩa yêunước và tinh thần dân tộc Trong đấu tranh chống đế quốc để giành độc lập,mâu thuẫn dân tộc với đế quốc là mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất; mâu

Trang 10

thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc tuy vẫn tồn tại nhưng chưa sâu sắc và đứngsau mâu thuẫn dân tộc với đế quốc Dù là tư sản hay địa chủ cũng đều là ngườidân nô lệ, mất nước, bị áp bức và ít nhiều đều có tinh thần chống đế quốc.Nguyễn Ái Quốc chứng minh điều đó bằng những cuộc đấu tranh yêu nướccuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ở Việt Nam lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dântham gia và tất cả đều được thúc đẩy bởi chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dântộc Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”.

“Giờ đây, người ta sẽ không thể làm được gì cho người An Nam nếu không dựatrên các động lực vĩ đại, và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”

⇨ Đây là một luận điểm mới mẻ và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc, vì Người

đã sớm đề cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc ở trung tâm của phongtrào cộng sản và công nhân quốc tế, khi chủ nghĩa dân tộc còn bị phânbiệt và bị xem là thuộc phạm trù của hệ tư tưởng tư sản, nhận thức củanhiều Đảng Cộng sản và công nhân về vấn đề dân tộc và chủ nghĩa dântộc còn hạn chế

- Từ đó Hồ Chí Minh kiến nghị:” Chính do tinh thần yêu nước mà quân đội vànhân dân ta đã mấy nǎm trường chịu đựng trǎm đắng nghìn cay, kiên quyếtđánh cho tan bọn thực dân cướp nước và bọn Việt gian phản quốc, kiên quyếtxây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do, phú cường,một nước Việt Nam dân chủ mới.”

2 Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp

a) Vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có quan hệ chặt chẽ với nhau

- Hồ Chí Minh rất coi trọng vấn đề dân tộc, đề cao sức mạnh của chủ nghĩa yêunước, những Người luôn đứng trên quan điểm giai cấp để nhận thức và giảiquyết vấn đề dân tộc

- Sự kết hợp nhuần nhuyễn vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc của Hồ Chí Minhthể hiện : khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạoduy nhất của Đảng Cộng sản trong quá trình Cách mạng Việt Nam ; chủ trươngđại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân vàtầng lớp trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng ; sử dụng bạo lực cách mạng củaquần chúng để chống lại bạo lực phản cách mạng của kẻ thù ; thiết lập chínhquyền nhà nước của dân, do dân, vì dân ; gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc vớichủ nghĩa xã hội

Trang 11

b) Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết ; độc lập dân tộc gắn liền vớichủ nghĩa xã hội

- Khác với con đường cứu nước của ông cha, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩaphong kiến (cuối thế kỷ XIX) hoặc chủ nghĩa tư bản đầu thế kỷ XX), conđường cứu nước của Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xãhội

+ Năm 1920, ngay khi quyết định phương hướng giải phóng và phát triển dântộc theo con đường cách mạng vô sản, ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thốngnhất giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa

xã hội

+ Năm 1960, Người nói :"Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giảiphóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏiách nô lệ"

- Tư tưởng Hồ Chí Minh vừa phản ánh quy luật khách quan của sự nghiệp giảiphóng dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, vừa phản ánh mối quan hệkhăng khít giữa mục tiêu giải phóng dân tộc với mục tiêu giải phóng giai cấp vàgiải phóng con người Chỉ có xóa bỏ tận gốc tình trạng áp bức, bóc lột ; thiết lậpmột nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân mới đảm bảo cho người lao động

có quyền làm chủ, mới thực hiện được sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và xãhội, giữa độc lập dân tộc với tự do và hạnh phúc của con người Hồ Chí Minhnói "Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lậpcũng chẳng có nghĩa lý gì"2 Do đó, sau khi giành độc lập, phải tiến lên xâydựng chủ nghĩa xã hội làm cho dân giàu nước mạnh, mọi người được sungsướng, tự do

=> Người khẳng định : "Yêu tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủnghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một no

ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm"

c) Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp

- Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề dân tộc theo quan điểm giai cấp, nhưng đồngthời đặt vấn đề giai cấp trong vấn đề dân tộc Giải phóng dân tộc khỏi ách thốngtrị của chủ nghĩa thực dân là điều kiện để giải phóng giai cấp Vì thế, lợi íchcủa giai cấp phải phục tùng lợi ích của dân tộc

- Tháng 5-1941 Người cùng với Trung ương Đảng khẳng định : "Trong lúc nàyquyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc

Trang 12

gia, của dân tộc Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giảiphóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng nhữngtoàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộphận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được"

d) Giữ vững độc lập của dân tộc mình, đồng thời tôn trọng độc lập của các dântộc khác

- Là một chiến sĩ quốc tế chân chính Hồ Chí Minh không chỉ đấu tranh cho độclập của dân tộc Việt Nam, mà còn đấu tranh cho độc lập của tất cả các dân tộc

bị áp bức

+ Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, thực hiện nguyên tắc về quyền dân tộc tựquyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế trong việc ủng hộ cáccuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trên thế giới

+ Người nhiệt liệt ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân TrungQuốc, các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâmlược của nhân dân Lào và Campuchia, đề ra khẩu hiệu: "giúp bạn là tự giúpmình" và chủ trương phải bằng thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà đóng gópvào thắng lợi chung của cách mạng thế giới

⇨ Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cáchmạng sâu sắc, thể hiện sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp,chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng Đúngnhư Ph.Ăngghen từng nói : Những tư tưởng dân tộc chân chính trongphong trào công nhân bao giờ cùng là những tư tưởng quốc tế chân chính

II TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÁCH MẠNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC

1 Tính chất, nhiệm vụ và mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc

- Sự phân hóa xã hội:

+ Ở phương Tây: Giai cấp vô sản mâu thuẫn với giai cấp tư sản => Cách mạnggiai cấp

+ Ở phương Đông: Toàn bộ dân tộc thuộc địa mâu thuẫn với thực dân đế quốcxâm lược => Cách mạng giải phóng dân tộc

⇨ Mâu thuẫn và xung đột xã hội

- Nhiệm vụ của cách mạng

+ Phương Tây: Đánh đổ giai cấp Tư sản

Trang 13

+ Phương Đông: Đánh đổ thực dân đế quốc và bọn phản động

* Đối tượng của cách mạng ở thuộc địa không phải là giai cấp tư sản bản xứ,càng không phải là giai cấp địa chủ nói chung, mà là chủ nghĩa thực dân và taysai phản động Cách mạng xã hội là lật đổ nền thống trị hiện có và thiết lập mộtchế độ xã hội mới Cách mạng ở thuộc địa trước hết phải "lật đổ ách thống trịcủa chủ nghĩa đế quốc", chứ chưa phải là cuộc cách mạng xóa bỏ sự tư hữu, sựbóc lột nói chung

* Hồ Chí Minh luôn phân biệt rõ bọn thực dân xâm lược với nhân dân các nước

tư bản chủ nghĩa Người kêu gọi nhân dân các nước phản đối chiến tranh xâmlược thuộc địa, ủng hộ cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc của nhân dân ViệtNam

* Yêu cầu bức thiết của nhân dân các nước thuộc địa làộc lập dân tộc Trongphong trào cộng sản quốc tế, có quan điểm cho rằng "vấn đề cơ bản của cáchmạng thuộc địa là vấn đề nông dân" và chủ trương nhấn mạnh vấn đề ruộng đất,nhấn mạnh đấu tranh giai cấp

* Trong tác phẩm Đảng cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc phân biệt ba loại cáchmạng : cách mạng tư sản, cách mạng vô sản và cách mạng giải phóng dân tộc ;đồng thời, Người nhấn mạnh tính chất và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam làcách mạng giải phóng dân tộc

* Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo, xácđịnh những nhiệm vụ về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, nhưng nổi lên hàngđầu là nhiệm vụ chống đế quốc giành độc lập dân tộc Trong tư duy của Hồ ChíMinh, giải phóng dân tộc đã bao hàm một phần giải phóng giai cấp và giảiphóng con người

* Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941) do HồChí Minh chủ trì đã kiên quyết giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, nhấnmạnh đó là "nhiệm vụ bức thiết nhất'', chủ trương tạm gác khẩu hiệu "cáchmạng ruộng đất" và chỉ tiến hành nhiệm vụ đó ở một mức độ thích hợp nhằmphục vụ cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc

* Trong nhiều bài nói, bài việt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đếquốc Mỹ, Hồ Chí Minh tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ giải phóng dân tộc Trongkháng chiến chống thực dân Pháp, Người khẳng định : "Trường kỳ kháng chiếnnhất định thắng lợi, thống nhất, độc lập nhất định thành công"! Trong kháng

Ngày đăng: 09/03/2018, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w