1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Chất liệu dân gian trong bộ ba tiểu thuyết đảo hoang, nhà chử, chuyện nỏ thần của tô hoài

105 585 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 868,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bộ ba tiểu thuyết này, nhà văn đã chắt lọc và đưa vào tác phẩm của mình những chất liệu dân gian cùng với khả năng sáng tạo độc đáo để xây dựng nên bộ ba tác phẩm đặc sắc cả về nộ

Trang 1

NGUYỄN THỊ HÂN

CHẤT LIỆU DÂN GIAN TRONG BỘ BA TIỂU THUYẾT

ĐẢO HOANG, NHÀ CHỬ, CHUYỆN NỎ THẦN

CỦA TÔ HOÀI

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ NGỌC LAN

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Ngọc Lan – người đã tận tâm, nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn các quý thầy cô trong Ban Giám hiệu; Khoa Ngữ Văn; Ban Chủ nhiệm; quý thầy cô trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu khoa học

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến người thân, bạn bè đã ủng hộ, trợ giúp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ HÂN

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài

khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 24 tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

NGUYỄN THỊ HÂN

Trang 4

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 8

6 Đóng góp của luận văn 8

7 Cấu trúc của luận văn 8

NỘI DUNG 10

Chương 1 TÔ HOÀI VÀ MẢNG VĂN HỌC DÀNH CHO THIẾU NHI 10

1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài 10

1.1.1 Cuộc đời 10

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác 11

1.1.2.1 Trước Cách mạng tháng tám 11

1.1.2.2 Sau Cách mạng tháng tám 12

1.2 Mảng truyện cũ viết lại của Tô Hoài về đề tài thiếu nhi 13

1.3 Vị trí của bộ ba tiểu thuyết trong sự nghiệp văn học của Tô Hoài 18

Chương 2 CHẤT LIỆU VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG BỘ BA TIỂU THUYẾT ĐẢO HOANG, NHÀ CHỬ, CHUYỆN NỎ THẦN 25

2.1 Những tập tục đặc trưng 25

2.1.1 Tục ăn trầu 25

2.1.2 Tục uống trà 29

2.1.3 Tục xăm mình 31

2.1.4 Tục nhuộm răng đen 33

2.2 Lễ hội truyền thống 35

2.2.1 Hội thổi cơm thi 36

Trang 5

2.3 Trang phục 42

2.4 Ẩm thực 45

2.5 Ứng xử 50

2.5.1 Ứng xử của con người trước thiên nhiên và hoàn cảnh khó khăn 50

2.5.2 Ứng xử giữa con người với con người 53

Chương 3 CHẤT LIỆU VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG BỘ BA TIỂU THUYÊT ĐẢO HOANG, NHÀ CHỬ, CHUYỆN NỎ THẦN 58

3.1 Cốt truyện 58

3.1.1 Vay mượn cốt truyện dân gian 59

3.1.2 Sáng tạo lại trên cơ sở cốt truyện dân gian 62

3.1.2.1 Thêm sự kiện, chi tiết 63

3.1.2.2 Lược bớt những chi tiết kì ảo 69

3.2 Nhân vật 72

3.2.1 Nhân vật được đặt trong những tình huống khó khăn thử thách 72

3.2.2 Nhân vật bổ trợ 76

3.2.3 Nhân vật có nội tâm, có đời sống tình cảm phong phú 78

3.3 Các phương thức nghệ thuật khác 88

3.3.1 Kì ảo hóa sự thật 88

3.3.2 Xâu chuỗi móc nối các thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích 89

3.3.3 Đan xen vào trong lời kể những câu hát, câu hò, đoạn vè, dân ca, thơ 91

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nếu như trong cuộc sống bất cứ một sự vật hiện tượng nào, một lĩnh vực nào cũng đều có những mối quan hệ, có sự ảnh hưởng, tác động qua lại nhất định với nhau thì trong văn học cũng vậy! Văn học dân gian và văn học viết là hai bộ phận văn học tồn tại độc lập, có những đặc trưng riêng biệt nhưng giữa chúng có mối quan hệ nhất định, có sự ảnh hưởng, tác động qua lại Điều đó tạo cho nền văn học dân tộc ta phong phú hơn, phát triển hơn

Hiện nay, đất nước đang trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa và

xu thế toàn cầu hóa, chúng ta mở rộng giao lưu, hợp tác với nhiều nước trên thế giới Kéo theo đó nền văn học nước nhà cũng có những bước tiến mới rõ rệt, tiếp thu những xu hướng, những chất liệu hiện đại góp phần hiện đại hóa nền văn học dân tộc Tuy nhiên lại có không ít những nhà văn, nhà thơ trở về với cội nguồn, với “chiếc nôi”, với “bầu sữa ngọt ngào” đã nuôi dưỡng nền văn học dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn con người thuần Việt bấy lâu nay – không gì khác đó chính là văn học dân gian Nhiều nhà văn hiện đại vừa hấp thu những chất liệu truyền thống, vừa có những cách tân, sáng tạo nhất định làm phong phú thêm nền văn học nước nhà đồng thời cũng khẳng định, thể hiện được tài năng và phong cách riêng của bản thân mình

Trong số nhiều nhà văn đương đại, Tô Hoài là một người viết cần mẫn, với nguồn năng lượng sáng tác phong phú, dồi dào Ở ông không chỉ có khối lượng tác phẩm đồ sộ mà còn tập hợp đa dạng các thể loại như một cánh rừng đại ngàn với nhiều loại thảo mộc lớn nhỏ, chủng loại khác nhau (truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, tiểu luận phê bình…) Những tác phẩm của nhà văn không chỉ

là một kho tri thức khổng lồ mà còn là những bài học ý nghĩa khiến mỗi thế

hệ bạn đọc đều phải nghiền ngẫm, suy nghĩ, tìm ra được nhiều tầng vỉa ẩn sau lớp chữ nghĩa giản dị, đời thường Nói đến Tô Hoài là người ta nghĩ ngay đến

Trang 7

tác giả của tập truyện “gối đầu giường” dành cho thiếu nhi đó là “Dế Mèn phiêu lưu kí”, ở mảng truyện viết cho thiếu nhi này nhà văn rất thành công,

thể hiện những nội dung sâu sắc, ý nghĩa, là bài học quý giá giáo dục cho các

em về nhiều mặt Và nếu chúng ta đã từng đọc những tác phẩm hay của nhà

văn viết cho thiếu nhi thì không thể bỏ qua bộ ba tác phẩm Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần Trong bộ ba tiểu thuyết này, nhà văn đã chắt lọc và đưa

vào tác phẩm của mình những chất liệu dân gian cùng với khả năng sáng tạo độc đáo để xây dựng nên bộ ba tác phẩm đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật Vì thế, đi vào nhận diện và khám phá những biểu hiện cụ thể của chất liệu dân gian trong bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài, chúng tôi mong muốn tìm đến những giá trị văn hóa, văn học mà nhà văn đã dày công tạo dựng và trân trọng gìn giữ qua từng trang viết của mình

Đề tài mà chúng tôi lựa chọn không hoàn toàn mới mẻ, bởi trước đó cũng đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề này, song qua khảo sát có

thể thấy các nhà nghiên cứu chủ yếu quan tâm đến chất liệu văn học dân gian (cốt truyện, nhân vật…) mà chưa thực sự chú ý đến chất liệu văn hóa dân gian (phong tục, tập quán, lễ hội ) Nhận thấy đây là một vấn đề còn để ngỏ,

trên cơ sở gợi ý của những người đi trước, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Chất

liệu dân gian trong bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần

của Tô Hoài”1

Bản thân tôi là một giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông, tôi rất yêu thích văn học dân gian và những sáng tác của Tô Hoài viết cho thiếu nhi Do đó, việc nghiên cứu sự ảnh hưởng của chất liệu dân gian đối với bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài, giúp tôi thỏa mãn niềm yêu thích của bản thân Song hơn hết, tôi thấy rõ hơn những giá trị văn hóa, văn học dân gian

1

Từ đây trở đi, trong văn bản luận văn chúng tôi xin phép được viết ngắn gọn cụm

từ “bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần của Tô Hoài” là: bộ ba tiểu

thuyết của Tô Hoài

Trang 8

lâu đời của dân tộc, thấy được cả quá trình dựng nước, giữ nước; những phong tục tập quán lâu đời, những con người nguyên sơ, giản dị mà gan góc, kiên cường… Tất cả đều hiện ra gần gũi và sinh động qua tiểu thuyết của Tô

Hoài, với những cách tân, sáng tạo độc đáo của nhà văn - một con người cần

mẫn, lao động nghệ thuật nghiêm túc và sức sáng tạo dồi dào

2 Lịch sử vấn đề

Sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết là vấn đề không thể phủ nhận Đối với nền văn học của bất kì một quốc gia nào, văn học dân gian cũng đóng vai trò “ngọn nguồn” của văn học viết Ở Việt Nam, nhiều tác phẩm văn học viết đã được sáng tạo dựa trên sự kế thừa văn học dân gian Nhiều tác phẩm, nhiều hình tượng của văn học dân gian là nguồn cảm hứng,

là thi liệu, văn liệu của văn học viết Nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc

đã tiếp thu có kết quả văn học dân gian để sáng tạo nên những tác phẩm văn chương ưu tú Trong số các nhà văn hiện đại, Tô Hoài là nhà văn có sức lao động nghệ thuật dồi dào, nghiêm túc, việc viết lách của ông diễn ra như việc

ăn uống hàng ngày Là nhà văn hiện đại nhưng Tô Hoài luôn có ý thức tìm về với cội nguồn, với bản sắc, với chất liệu văn hóa, văn học dân tộc cùng với

sự sáng tạo, tài năng của bản thân tạo ra những đứa con tinh thần có sức sống lâu bền với thời gian

Giáo sư Phan Cự Đệ trong cuốn Kỷ yếu 20 năm Nhà xuất bản Kim Đồng (1977) đã có những nhận định về tiểu thuyết Đảo hoang: “Tiểu thuyết Đảo hoang của Tô Hoài muốn thông qua câu chuyện Mai An Tiêm nêu lên sức

mạnh của ý chí và nghị lực con người gắn chặt với truyền thống chinh phục thiên nhiên, chống ngoại xâm của dân tộc” [11, tr.494] Tác giả khẳng định:

“Tô Hoài biết khai thác những đặc điểm của thần thoại, truyền thuyết và cổ tích để thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ riêng biệt của lứa tuổi thiếu niên Thần thoại là một pho lịch sử thiêng liêng, pho kinh nghiệm sản xuất và chiến đấu,

Trang 9

là kết tinh trí tuệ của thị tộc, bộ lạc Truyện cổ tích và ngụ ngôn cũng ghi lại những kinh nghiệm sống và vốn kiến thức rất phong phú về thiên nhiên và xã

hội của nhân dân qua các thế kỷ” [11, tr.495] Có thể nói, tiểu thuyết Đảo hoang không những thỏa mãn những ước vọng muốn tìm hiểu, khám phá

khoa học của các em mà còn đưa lứa tuổi thiếu niên vào một không gian mênh mông, tít tắp của tưởng tượng và một niềm vui lạc quan, lấp lánh màu

hy vọng Trí tưởng tượng phong phú và những ước mơ lãng mạn tích cực vốn

là đặc điểm của thần thoại và truyện cổ tích Trong truyện viết cho các em Tô Hoài đã biết khai thác những mặt mạnh đó của nền văn học dân gian

Đánh giá Đảo hoang là “cuốn sách tuyệt vời”, trong bài Đọc Đảo hoang

ở Liên Xô (1981) tác giả Ac-ca-đi Xtơ-ru-ga-xki đã thể hiện ấn tượng sâu sắc

của mình về cốt truyện phiêu lưu hấp dẫn, những nhân vật hết sức sinh động

và trí tưởng tượng phong phú của Tô Hoài Tác giả bài viết cũng bày tỏ sự ngưỡng mộ Tô Hoài ở nhiều phương diện: nhà văn, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, con người khiêm nhường, chân thành, thủy chung trong tình bạn, một người tốt “không bị vinh quang làm hỏng” [21]

Tác giả Đỗ Bạch Mai – báo Văn nghệ (19-1-1985) đã ngợi ca tiểu thuyết Chuyện nỏ thần: “Chuyện nỏ thần An Dương Vương là một đề tài lịch sử hấp

dẫn, xưa nay đã có nhiều người viết, nhiều thể loại: thơ có, kịch có, truyện cũng có Nhưng kể chuyện nỏ thần thành hình thức tiểu thuyết như nhà văn

Tô Hoài làm thì đây là lần đầu” [11, tr.502]

Cũng theo Đỗ Bạch Mai, thành công ở tiểu thuyết Chuyện nỏ thần, nghĩa

là Tô Hoài đã chinh phục được độc giả nhỏ tuổi bằng chính lối văn gần gũi, giản dị của mình: “Giọng kể và lời văn đối thoại của nhà văn Tô Hoài có một phong vị đặc biệt, vừa không xa cách với lối nghĩ, lối nói của chúng ta ngày nay, vừa gợi được lối nghĩ, lối nói của con người ngày xưa Có thể nói cuốn tiểu thuyết có một giọng văn thuần Việt khá mẫu mực Và điều này, đối với

Trang 10

các bạn đọc nhỏ tuổi của nhà xuất bản Kim Đồng sẽ có một tác dụng tốt trong việc giáo dục các em về lời ăn tiếng nói hằng ngày” [11, tr.503]

Tác giả Văn Hồng – Tạp chí văn học (số 4-tháng 7-1985) có bài viết về

tiểu thuyết lịch sử dành cho thiếu nhi của Tô Hoài: “Bút pháp hiện thực đòi hỏi trước hết là sự chân thực của các chi tiết Sự chân thực này, đối với tiểu thuyết lịch sử cần phải xem xét nhiều bình diện, trước hết là cách nhìn, cách cảm nhận của tác giả và bạn đọc hôm nay Đây vốn là mặt mạnh của ngòi bút

Tô Hoài Chuyện nỏ thần chứa đầy những phong tục, tập tục, cách làm ăn

sinh sống của người Âu Lạc Từ cảnh làng mạc, bờ bãi, sông nước đến cảnh núi rừng hoang sơ, từ những buổi săn voi, tập võ đến những ngày hội hè, đình đám; từ không khí tấp nập lao động xây thành, đào hào đến không khí trang nghiêm cẩn mật khi rót đồng vào khuôn, khi đốt trầm rửa nỏ…Nhiều người khen sự từng trải và tài quan sát, miêu tả của Tô Hoài” [11, tr.504]

Giáo sư Hà Minh Đức trong “Tuyển tập Tô Hoài – tập I (Nxb Văn học,

H 1987) có viết: “Đặc điểm đầu tiên dễ nhận thấy qua những sáng tác của Tô Hoài là tinh thần dân tộc rõ nét và đậm sắc thái Có thể nói rằng tất cả những cái ông viết ra đều thuộc về phần bản chất và tiêu biểu của đời sống dân tộc Ông muốn trở về ngọn nguồn của những truyền thuyết, thần thoại, những câu chuyện cổ để tìm hiểu sự sống của dân tộc trong thời kì xa xưa và những cảm nghĩ và hình thái tư duy, với những hành động sáng tạo của người lao động trong quá trình đấu tranh giữ nước và dựng nước Tô Hoài với lòng mến yêu sâu sắc truyền thống của dân tộc đã gửi bao tâm huyết và trí sáng tạo qua những trang viết” [11, tr.128] Nhận xét xác đáng của nhà nghiên cứu đã chỉ

ra đặc điểm nổi bật trong sáng tác của Tô Hoài

Vũ Quần Phương – Tạp chí văn học (số 8 - 1994) có ý kiến: “Trong văn

xuôi Tô Hoài có lối đi riêng Ông nhảy qua các chuyện thời sự mà quay về xa xưa Ông viết về An Tiêm, về Loa thành, về quân cờ đen đánh Pháp Nhiều

Trang 11

huyền thoại lịch sử được ông viết lại thành chuyện cho nhi đồng Đọc ông, người ta được tắm tâm hồn mình vào không khí Việt Nam truyền thống Ông

là người lưu giữ được nhiều nét xưa, nhiều hương vị xưa mà không sa vào hoài cổ” [11, tr.162]

Trên Tạp chí văn học, tác giả Phạm Thị Trâm có bài viết: Sự phát triển

từ các truyện cổ dân gian đến ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần của nhà văn Tô Hoài (2002) Tác giả đã phân tích sự ảnh hưởng rõ rệt

của truyện cổ dân gian trong bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài, đồng thời cũng cho thấy rõ sự phát triển, sự sáng tạo mới mẻ của Tô Hoài trên cơ sở tiếp thu, hấp thụ tinh hoa nghệ thuật truyền thống

Tiếp tục hướng nghiên cứu này, trong luận án Vai trò của văn học dân gian trong sáng tác của một số nhà văn hiện đại (2002) tác giả Phạm Thị

Trâm đã nhận diện, khảo sát những dấu ấn của truyện cổ dân gian đối với bộ phận truyện trong văn học Việt Nam giai đoạn trước và sau 1975, những ảnh hưởng sâu rộng của nó trong đời sống văn hóa xã hội và văn học Trong đó,

có sáng tác của Tô Hoài với bộ ba tác phẩm Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần “Nhà văn Tô Hoài khi xây dựng ba cuốn tiểu thuyết trên đã chú ý khai

thác những thế mạnh của tiểu thuyết để mở rộng mọi chiều kích tác phẩm Cốt truyện được nhà văn lấy từ truyện cổ, nhân vật cũng là nhân vật của truyện cổ, mạch cảm hứng cũng đi từ truyện cổ… Nhưng nội dung tác phẩm

đã ở một tầm vóc mới” [19, tr.91]

Năm 2012, trong luận văn Truyện kể dân gian với văn xuôi hiện đại về

đề tài thiếu nhi [16] tác giả Nguyễn Thị Hồng Thắm có đề cập đến yếu tố văn

học dân gian, cụ thể là việc vay mượn cốt truyện dân gian trong một số tác

phẩm của Tô Hoài, trong đó có bộ ba tiểu thuyết: Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần Đồng thời tác giả luận văn cũng nói đến những sáng tạo,

cách tân của Tô Hoài trên cơ sở của những yếu tố dân gian

Trang 12

Trên đây là một số bài viết, ý kiến đánh giá của một số tác giả có liên quan đến đề tài mà chúng tôi lựa chọn Mỗi bài viết, mỗi tác giả có cách nhìn nhận, đánh giá sự ảnh hưởng của yếu tố dân gian trong sáng tác của Tô Hoài

ở mức độ đậm nhạt, nông sâu khác nhau Đây là những gợi ý, những tham khảo hết sức quý báu, bổ ích, có thể định hướng phần nào cho chúng tôi trong quá trình triển khai các nội dung của luận văn

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn chỉ ra được cụ thể trong bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần Tô Hoài đã vận dụng những chất liệu dân gian nào (bao

gồm cả chất liệu văn hóa dân gian và chất liệu văn học dân gian) Từ đó thấy được nhà văn đã tiếp thu, kế thừa truyền thống ở những mặt nào, mức độ nào…

Luận văn giúp người đọc thấy được tài năng, cá tính sáng tạo của nhà văn khi kế thừa tinh hoa nghệ thuật truyền thống

Từ việc tìm hiểu sự vận dụng chất liệu dân gian, kế thừa nghệ thuật truyền thống và sự sáng tạo của Tô Hoài trong bộ ba tiểu thuyết để thấy được những đóng góp của nhà văn trong nền văn học Việt Nam nói chung và mảng văn học thiếu nhi nói riêng

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Chất liệu dân gian (yếu tố văn hóa và văn học) trong bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Tư liệu: Luận văn tập trung khảo sát xoay quanh bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần của Tô Hoài

+ Nội dung: Tìm hiểu những yếu tố văn hóa dân gian trong bộ ba tiểu

thuyết của Tô Hoài qua các phương diện: những tập tục đặc trưng, lễ hội

truyền thống; trang phục; ẩm thực; ứng xử; Tìm hiểu những yếu tố văn học

Trang 13

dân gian trong bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài qua các phương diện: cốt

truyện, nhân vật, các phương thức nghệ thuật khác

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành triển khai các nội dung luận văn, chúng tôi sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: đặt bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài trong đặc điểm của những chất liệu dân gian để thấy được tính kế thừa và sự sáng tạo của nhà văn, đồng thời giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về vai trò

và sự ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng phương pháp phân tích để tìm hiểu cụ thể hơn, rõ hơn những đặc điểm về nội dung, nghệ thuật, những vấn đề cần triển khai… của bài viết Và phân tích nên đi đôi với tổng hợp để các kết luận không mang tính vụn vặt, để sự đánh giá mang tính khái quát và thuyết phục hơn

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: đưa ra sự so sánh, đối chiếu sự ảnh hưởng của chất liệu dân gian đến cách viết của Tô Hoài như thế nào, kế thừa

ở điểm nào, sáng tạo ở điểm nào… Đồng thời so sánh với một số nhà văn khác cùng thời với Tô Hoài xem Tô Hoài nổi bật ở khía cạnh nào…

6 Đóng góp của luận văn

- Luận văn có những đóng góp nhất định trong việc nghiên cứu mảng truyện dân gian viết lại của nhà văn Tô Hoài, từ đó góp phần khẳng định những giá trị văn hóa, văn học dân gian đặc sắc được biểu hiện trong tác phẩm của ông Đồng thời thấy được những nét sáng tạo mới mẻ, thể hiện phong cách riêng và tài năng của một nhà văn hiện đại như Tô Hoài

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu học tập, tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam nói chung và văn học dân gian nói riêng

7 Cấu trúc của luận văn

Trang 14

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn được triển khai thành ba chương:

- Chương 1: Tô Hoài và mảng văn học dành cho thiếu nhi

- Chương 2: Chất liệu văn hóa dân gian trong bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần

- Chương 3: Chất liệu văn học dân gian trong bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần

Trang 15

NỘI DUNG

Chương 1

TÔ HOÀI VÀ MẢNG VĂN HỌC DÀNH CHO THIẾU NHI

1.1 Khái quát về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài

1.1.1 Cuộc đời

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen (1920-2014) Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức Ngoài bút danh Tô Hoài nhà văn còn có các bút danh khác như: Mai Trang, Mắt Biển, Hồng Hoa, Thái Yên, Vũ Đột Kích

Tô Hoài sinh ra ở quê nội, tại thôn Cát Động, thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ trong một gia đình thợ thủ công Còn ông lớn lên tại quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội)

Quãng thời gian niên thiếu, Tô Hoài cũng rất vất vả, ông làm đủ mọi nghề để có thể trang trải cho cuộc sống, nào là dạy học, bán hàng, rồi kế toán hiệu buôn… hơn nữa có lúc còn bị thất nghiệp

Tô Hoài chịu ảnh hưởng của mặt trận Bình dân và tham gia vào hoạt động của tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội khoảng năm 1938

Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc vào năm 1943 và thời gian này

ông bắt đầu viết bài cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng

Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm chủ nhiệm của báo Cứu quốc Ông dã từng Nam tiến và tham gia một số chiến dịch ở mặt trận phía Nam như Nha Trang, Tây Nguyên

Trang 16

Tô Hoài kết nạp Đảng vào năm 1946 Đến năm 1950, nhà văn về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam

Quãng thời gian từ 1957 đến 1996, ông được giao nhiều trọng trách, giữ nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn đó là: chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi, rồi Phó Tổng thư ký

Từ khi bước vào nghệ thuật (khoảng những năm ba mươi) cho đến bây giờ, Tô Hoài đã sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác… và cho ra đời một khối lượng đồ

sộ về tác phẩm Với sự lao động nghệ thuật miệt mài như vậy, nhà văn đã đạt được nhiều giải thưởng có giá trị để đền đáp lại sự cố gắng, chăm chỉ, nỗ lực của bản thân như: giải nhất tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam năm 1956

với Truyện Tây Bắc; giải A giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội năm1970 với tiểu thuyết Quê Nhà; giải thưởng của Hội Nhà văn Á - Phi năm 1970 với tiểu thuyết Miền Tây; giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – nghệ thuật đợt 1 –

năm 1996 và giải thưởng Bùi Xuân Phái – vì tình yêu Hà Nội năm 2010 Tô Hoài đã có những đóng góp vô cùng to lớn cho nền văn học dân tộc nói chung

và cho nền văn học Việt Nam hiện đại nói riêng

Ngày 06-07-2014, Tô Hoài đã trút hơi thở cuối cùng, thọ 94 tuổi Sự ra

đi của nhà văn thật sự để lại trong lòng công chúng niềm tiếc thương vô hạn

và niềm thương nhớ khôn nguôi

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác

1.1.2.1 Trước Cách mạng tháng tám

So với nhiều nhà văn cùng thời khác, Tô Hoài là một nhà văn sớm bước vào đời, vào nghệ thuật và ông cũng tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm Như đã nói ở trên, Tô Hoài sáng tác ở nhiều thể loại khác nhau như: tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác… và ở bất cứ thể loại nào, ông đều đạt được những thành công nhất định, có những tác phẩm

vô cùng đặc sắc

Trang 17

Trước cách mạng tháng Tám, có thể chia những sáng tác của Tô Hoài tập trung thành hai mảng chính: một là truyện về loài vật, hai là truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo

Thứ nhất, truyện về loài vật, tiêu biểu như Dế Mèn phiêu lưu kí, O chuột,

Gã chuột bạch, Mụ ngan, Đực…trong đó nổi bật nhất là truyện Dế Mèn phiêu lưu kí (1941) – truyện được coi là cuốn sách gối đầu giường của nhiều thế hệ

bạn đọc đặc biệt là các bạn đọc lứa tuổi thiếu nhi.Thông qua những câu chuyện về loài vật này, nhà văn đã gửi gắm rất nhiều ý nghĩa trong đó Nhà văn thường khẳng định những cái thiện, những điều hay lẽ phải trong cuộc sống, mong muốn một cuộc sống tốt đẹp, hạnh phúc, xã hội yên bình…

Thứ hai, Truyện về cảnh sống đói nghèo: tiêu biểu như Nhà nghèo, Xóm Giếng ngày xưa, Ông cúm bà co, Mẹ già, Khách nợ… viết về vấn đề này Tô

Hoài đã thể hiện một cách chân thực, sinh động cuộc sống khó khăn, nghèo đói, nhiều cuộc đời bất hạnh khác nhau của con người Thông qua đó, nhà văn cũng thể hiện được niềm cảm thương sâu sắc của mình đối với những cảnh đời, những con người bất hạnh bấy giờ Chúng ta có thể cảm nhận được tấm lòng chân thành đáng quý của Tô Hoài thấm sâu trong từng trang viết

khăn, bế tắc nhưng ông luôn lạc quan, luôn đứng vững Dù cho cảnh đời tối tăm thì tâm hồn nhà văn vẫn trong sáng, giản dị Sáng tác của ông thời kì này

dù viết về đề tài nào, đối tượng nào thì vẫn luôn in đậm tinh thần nhân văn cao đẹp và đặc biệt cũng mang đậm bóng dáng nhà văn rất rõ cùng với quãng đời, cuộc sống của ông

1.1.2.2 Sau Cách mạng tháng tám

Sau cách mạng, ngòi bút của Tô Hoài có những bước chuyển mới cả về chủ đề, đề tài và tư tưởng sáng tác Tô Hoài không chỉ viết về cuộc sống nghèo khổ của những con người ngoại thành Hà Nội, mà ông còn mở rộng ngòi bút

Trang 18

tới nhiều đối tượng khác nhau, đến với nhiều vùng đất mới, con người mới để khám phá, để viết Thời kì này ngòi bút của ông vô cùng linh hoạt, dồi dào, nhà văn đã cho ra đời vô số tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau

Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài có những tác phẩm chính đó là:

- Về tiểu thuyết: Phải kể đến các tiểu thuyết như: Mười năm (1957), Miền Tây (1967), Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ (1971), Tự truyện (1978), Những ngõ phố, người đường phố (1980), Quê nhà (1981), Nhớ Mai Châu (1988)…

- Về truyện ngắn: Tiêu biểu là Núi cứu quốc (1948), Xuống làng (1950), Truyện Tây Bắc (1953), Khác trước (1957), Vỡ tỉnh (1962), Người ven thành

(1972)…

- Về thể loại Kí: nổi bật có Thành phố Lênin (1961), Tôi thăm Campuchia (1964), Nhật kí vùng cao (1969), Trái đất tên người (1978), Hoa hồng vàng song cửa (1981) và đặc biệt là Cát bụi chân ai (1992)

- Về mảng truyện thiếu nhi: gồm vô số những tác phẩm về loài vật và về

những tấm gương thiếu nhi yêu nước được tập hợp trong Tuyển tập Văn học thiếu nhi, tập I & II (1999) Có thể kể đến: Dế Mèn phiêu lưu kí, O chuột, Gã chuột bạch, Mụ ngan, Đực, Vừ A Dính, Kim Đồng

- Về tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác: Tiêu biểu có Một số kinh nghiệm viết văn của tôi (1959), Người bạn đọc ấy (1963), Sổ tay viết văn (1977)

Có thể khẳng định, sau Cách mạng tháng Tám, những tác phẩm của Tô Hoài đã thể hiện được những vấn đề của hiện thực cuộc đời mới Tô Hoài xứng đáng là một tấm gương sáng trong lao động nghệ thuật văn chương

1.2 Mảng truyện cũ viết lại của Tô Hoài về đề tài thiếu nhi

“Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai” – những mầm xanh tương lai của đất nước chắc chắn phải được yêu thương, nâng niu, bảo vệ, chở che… các

em xứng đáng có được những gì ưu ái nhất trong cuộc sống này Ngay cả

Trang 19

trong văn học cũng có một bộ phận văn học gọi là văn học thiếu nhi, có thể coi đó là món quà tinh thần quý giá và ý nghĩa nhất dành cho các em

Nhìn lại quá trình lịch sử văn học Việt Nam, có thể thấy văn học thiếu nhi luôn đồng hành cùng văn học dân tộc Đây là một bộ phận văn học xuất hiện từ rất sớm, từ những bài vè, bài đồng dao, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn… Nếu tổng kết cả quá trình lịch sử văn học dân tộc, liệt kê tất cả những tác giả, tác phẩm viết về thiếu nhi thì không thể liệt kê hết được bởi số lượng tác giả, tác phẩm viết về đề tài này vô cùng phong phú và đa dạng

Trong số tất cả những nhà văn có sáng tác dành cho thiếu nhi thì chúng

ta không thể không xướng lên cái tên Tô Hoài Ông có những sáng tác dành cho thiếu nhi vô cùng đặc sắc Tô Hoài viết khoảng 60 tác phẩm dành cho trẻ

em, trên nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí… Ở thể loại nào ông cũng

có những đóng góp nhất định và dấu ấn đáng chú ý Các sáng tác cho thiếu nhi của Tô Hoài chủ yếu hướng đến ba đối tượng: một là viết về loài vật, hai

là viết về những tấm gương thiếu nhi yêu nước và ba là những câu chuyện tích xưa kể lại

Truyện về loài vật của Tô Hoài rất phong phú, hàng loạt những con vật không phân biệt loài to nhỏ, xấu hay đẹp, hiền lành hay hung dữ đều đi vào

trang viết của nhà văn Có thể liệt kê ra đây những tác phẩm tiêu biểu như: Dế Mèn phiêu lưu ký, Trê và Cóc, O chuột, Cậu Miu, Vện ơi là Vện, Đực, Mụ Ngan, Gấu ăn trăng, Bướm Rồng Bướm Ma… Mỗi câu chuyện về loài vật là

một thông điệp ý nghĩa mà nhà văn muốn gửi gắm Trong số những tác phẩm

nêu trên thì Dế Mèn phiêu lưu kí có thể xem là tác phẩm xuất sắc nhất Qua

cuộc phiêu lưu của chú Dế Mèn, tác giả thể hiện ước mơ về một cuộc sống hòa bình, đoàn kết, nhân ái, một thế giới đại đồng, thân thiện Thể hiện một niềm tin mãnh liệt của thế hệ thanh niên trước Cách mạng tháng Tám có thể thay đổi được hoàn cảnh, làm chủ cuộc sống Có thể khẳng định “Tô Hoài có

Trang 20

một xê-ri sách viết về các con vật: dế, chuột, chim, mèo, cá… được gọi là truyện loài vật Truyện loài vật của Tô Hoài là một cống hiến độc đáo vào văn học hiện đại nói chung và văn học dành cho thiếu nhi nói riêng, ở nước ta chưa có ai viết về loài vật được như ông Nhiều nhà văn có lẽ do chịu ảnh hưởng của tác giả Dế Mèn phiêu lưu kí đã viết rất nhiều sách về giống vật, nhưng đa số họ chưa thành công và cho đến nay, Tô Hoài vẫn là người “giải cạn” trong thể loại này” [11, tr.167]

Truyện về những tấm gương thiếu nhi yêu nước: Tô Hoài đã xây dựng hình ảnh tiêu biểu về những tấm gương thiếu nhi anh dũng có thật trong lịch

sử, nổi bật là Vừ A Dính, Kim Đồng Thông qua những hình ảnh ấy nhà văn

nhằm giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng, khơi dậy lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương đồng loại; làm sống dậy ý chí quyết tâm, lòng dũng cảm, gan dạ…ở các em “Tô Hoài đã ít nhiều nắm được đặc điểm lứa tuổi của thiếu nhi Thông qua những gương chiến đấu dũng cảm, tác giả giáo dục các

em lớn tuổi về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa Thông qua những câu chuyện

xinh xắn, dí dỏm, tác giả giáo dục các em nhỏ những vấn đề lớn của xã hội”

[11, tr.475]

Truyện tích xưa kể lại (truyện cũ viết lại): Mảng truyện cũ viết lại này thoạt nghe thì tưởng rằng đơn giản và dễ viết, bởi nó có sẵn cốt truyện trong dân gian, chỉ cần dựa vào đó rồi viết Nhưng sự thật không đơn giản như vậy, cái khó là nhà văn vừa phải làm mới tác phẩm, mang đậm dấu ấn sáng tạo của mình đồng thời vẫn phải giữ được cái gốc của cốt truyện trong dân gian Hơn nữa đối tượng hướng đến ở đây lại là lứa tuổi thiếu nhi, nhà văn càng phải dụng công và khéo léo trong sáng tạo để cho ra những đứa con tinh thần làm say mê, hấp dẫn các độc giả nhí Nhà văn viết cho thiếu nhi phải là người hiểu được tâm hồn trẻ thơ “một tác phẩm viết cho trẻ em không chỉ để trẻ em thích thú mà còn phải kích thích ở các em những khát vọng và niềm tin Vì thế,

Trang 21

không chỉ là tưởng tượng thuần túy, tưởng tượng trong tư duy hiện thực, gắn

bó sâu sắc với hiện thực, dựa trên sự chiêm nghiệm của nhà văn về cuộc sống

mà còn là tưởng tượng có tính chất dự cảm, dự báo về tương lai Văn học viết cho trẻ em phải đánh thức được khả năng rung động sâu sắc của tâm hồn trẻ thơ, hình thành ở các em niềm tin gắn với những giá trị thẩm mĩ và vẻ đẹp, để

từ vấn đề này trẻ em có thể nâng lên tầm tư tưởng, có ý nghĩa nhân sinh, nhân

loại” [12, tr.165]

Tô Hoài là một nhà văn lao động nghệ thuật cần mẫn, nghiêm túc Để viết lại những câu chuyện cũ, Tô Hoài đã dày công tìm hiểu, sưu tầm những câu chuyện cổ thuộc nhiều vùng miền, nhiều dân tộc khác nhau trên cả nước

Tô Hoài đã sáng tạo lại trên cơ sở của gốc các truyện cũ ấy và cho ra mắt bạn

đọc rất nhiều tác phẩm đặc sắc Dân tộc Kinh có: Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần, Các tướng tài của Hai Bà Trưng, Lê Lợi, Lý Ông Trọng, Người hóa Dế, Vua Heo… Dân tộc Mường có: Chuyện Cuội; dân tộc Chăm

có Hòn vợ hòn chồng; dân tộc Tày có Hồ Ba Bể, Hai anh em; dân tộc Nùng

có Kho báu trên núi Phia Mạ; dân tộc Khơme có Mẹo của Thỏ…

Sự phong phú của các câu chuyện tích xưa kể lại thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã mang đến cho các em nhiều sự hứng thú, sự am hiểu về nguồn gốc, bản sắc văn hóa mỗi dân tộc; giúp các em có thêm nhiều kiến thức, hành trang cũng như gợi cho các em lòng yêu quê hương đất nước, yêu thương con người “Đấy là một hướng đi cần thiết, bổ ích đối với bạn đọc nhất là các bạn đọc lứa tuổi thiếu niên đang khao khát muốn vén tấm màn huyền thoại để biết

sự thật cuộc sống và con người thuở xa xưa Tô Hoài đã đem đến cho các bạn đọc nhỏ tuổi một cảm quan về lịch sử dân tộc qua nét vẽ tài hoa, tinh tế bức

tranh phong cảnh và phong tục…” [12, tr.116]

Như chúng tôi đã trình bày ở trên, xu hướng mượn truyện cũ của dân gian để viết lại không phải là đơn giản và dễ viết Không phải tác giả nào

Trang 22

cũng viết hay, viết thành công ở mảng truyện này Tô Hoài là nhà văn viết dồi dào như thế! Sâu sắc là thế! Nhưng không phải tất cả các tác phẩm viết lại của ông đều thành công Chỉ có một số tác phẩm tiêu biểu, đặc sắc hơn cả đó là

Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần, Lê lợi, Lý Ông Trọng, Các tướng tài của Hai Bà Trưng…Trong đó, chúng tôi đánh giá cao bộ ba tác phẩm Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần Cả ba tiểu thuyết này đều có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố hiện thực với cổ tích và truyền thuyết lịch sử Bằng

giọng văn hóm hỉnh, bằng sự thông minh, sắc sảo và bút pháp tài hoa lãng mạn Tô Hoài đã tiểu thuyết hóa truyện cổ, dựng lên bức tranh cuộc sống thời đại Hùng Vương, Âu Lạc một cách chân thực, sinh động

Tóm lại, bằng sự sáng tạo lại độc đáo các truyện cổ dân gian và bằng sự thấu hiểu tâm lí trẻ em, Tô Hoài đã có những thành công và đóng góp tiêu biểu cho nền văn học nước nhà qua mảng truyện cũ viết lại về đề tài thiếu nhi này Ông xứng đáng là nhà văn của trẻ em, là người lao động nghệ thuật nghiêm túc, biết khai thác, tôn trọng, nâng niu những giá trị truyền thống đồng thời biết phát huy khả năng vốn có của mình để cho ra đời những đứa con tinh thần ý nghĩa, đặc sắc So với các nhà văn cùng thời cũng sáng tác dành cho thiếu nhi dựa trên cốt truyện dân gian như Phạm Hổ, Võ Quảng thì

Tô Hoài vẫn là người nổi bật hơn cả, để lại dấu ấn cá nhân riêng biệt trong lòng độc giả mọi lứa tuổi Nếu như Phạm Hổ chủ yếu sử dụng các yếu tố thi pháp dân gian, phong cách dân gian để sáng tác cổ tích thời nay với những hiện tượng “nhại lại” hoặc “mô phỏng” theo cổ tích; nhà văn Võ Quảng sử dụng các yếu tố thi pháp dân gian, phong cách dân gian để sáng tác lên những câu chuyện đồng thoại thì Tô Hoài đã viết tác phẩm văn xuôi hiện đại của mình theo xu hướng tiểu thuyết hóa truyện cổ Đây là cấp độ mà nhà văn sử dụng nội dung từ những tác phẩm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích để nhào nặn, gia công phát triển cốt truyện thành dung lượng tiểu thuyết mấy trăm trang, đồ sộ hơn, phản ánh được những vấ đề lớn lao, sâu sắc của thời

Trang 23

đại mới Đặc biệt là những tác phẩm dành cho thiếu nhi của ông luôn có giá trị sâu sắc, để lại bài học đầy ý nghĩa cho các em sau mỗi lần gấp trang sách lại “Những chuyện cổ tích, thần thoại, những câu chuyện thơ mộng trong văn học dân gian đã khơi dậy trí tưởng tượng, lòng khao khát muốn hiểu biết, khám phá đến mênh mông vô tận của các em Tô Hoài chủ trương viết lại câu chuyện ấy dưới một ánh sáng mới nhằm giáo dục thế hệ trẻ, đồng thời cũng nhằm bồi đắp thêm vào kho truyện huyền ảo, thi vị mà trí tuệ loài người đã để

lại cho con cháu về sau” [11, tr.94]

1.3 Vị trí của bộ ba tiểu thuyết trong sự nghiệp văn học của Tô Hoài

Tô Hoài sáng tác ở rất nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, bút kí, hồi kí, tiểu luận, kinh nghiệm sáng tác… Ở thể loại nào ông cũng có những thành công và để lại dấu ấn nhất định Nói riêng về thể loại tiểu thuyết, Tô Hoài đã rất thành công ở mảng tiểu thuyết hóa truyện cổ Thế nào là tiểu thuyết hóa truyện cổ? Nghĩa là nhà văn lấy chất liệu từ nguồn truyện cổ dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích…) sau đó kết hợp với sự sáng tạo của mình, có thể cụ thể hóa truyện cổ, khơi sâu và phát triển nó một cách tỉ mỉ, chi tiết; diễn giải một cách có cơ sở, lôgic Kết quả của quá trình sáng tạo ấy sẽ cho ra đời những tác phẩm mới mang đặc trưng của thể loại văn học mới và đó là tiểu thuyết (chưa hoàn toàn là tiểu thuyết theo nghĩa chuẩn mực nhất)

Tiểu thuyết là thể loại không chịu ảnh hưởng bởi những quy phạm chật hẹp, gò bó như một số thể loại khác Thông qua tiểu thuyết, cuộc sống sẽ được phản ánh một cách toàn vẹn với tất cả tính chất sinh động, phức tạp, nhiều màu nhiều vẻ của nó “Đó là một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn soát lại tất cả những hình thức đã thành hình của mình Một thể loại như vậy chỉ có thể là thể loại được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển” [2, tr.87-88] Chính vì vậy mà

Trang 24

tiểu thuyết là thể loại văn học gần gũi nhất với cuộc sống Tô Hoài khi phát triển những truyện cổ thành tiểu thuyết đã dựa vào tính chất và đặc trưng thẩm mĩ của thể loại này để mở rộng hướng sáng tạo Tiêu biểu cho xu hướng

tiểu thuyết hóa truyện cổ là bộ ba tác phẩm Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần Mặc dù nó chưa hoàn toàn là tiểu thuyết theo nghĩa chuẩn mực nhất

nhưng đó là một sự sáng tạo và trải nghiệm mới mẻ của tác giả theo xu hướng này và chắc chắn mang lại sự thú vị, hấp dẫn người đọc, đặc biệt là các độc giả nhí

Nhà văn Tô Hoài viết bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang (1976), Nhà Chử (1985), Chuyện nỏ thần (1982) vào khoảng trên dưới 40 năm sau khi viết Dế mèn phiêu lưu kí Vào những năm đầu thập kỷ 80 ấy, những cuốn sách này

được coi như một thể nghiệm mới của nhà văn Những con người, những phong tục tập quán, cuộc sống thuở hồng hoang như hiện ra rõ rệt trong từng trang sách “Ông muốn trở về ngọn nguồn của những câu chuyện truyền thuyết, cổ tích để tìm hiểu đời sống của dân tộc trong thời kì xa xưa với những cảm nghĩ và hình thái tư duy, với những hành động sáng tạo của người lao động trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước” [3]

Bộ ba tiểu thuyết của Tô Hoài đã tái hiện hình ảnh đất nước Việt Nam từ thuở khai thiên lập địa Những câu chuyện với những con người đã đi vào lịch

sử đó là An Tiêm trong Đảo hoang, Chử Đồng Tử trong Nhà Chử và An Dương Vương Thục Phán trong Chuyện nỏ thần Từ những câu chuyện lưu

truyền trong dân gian về các nhân vật đó, Tô Hoài đã bằng sự hiểu biết sâu sắc của mình về phong tục tập quán, về con người Việt Nam, kết hợp với khả năng tưởng tượng, sáng tạo độc đáo đã viết lên “những trang sách vàng” với dung lượng gần một nghìn trang

Truyện Đảo hoang được viết lại dựa trên truyện Sự tích dưa hấu Truyện

được bắt đầu bằng việc Mai An Tiêm tài giỏi cùng người dân Bãi Lở sau khi

Trang 25

trị được trâu nước, trâu thần, cõi Bãi Lở được về dự hội Kinh đô cùng với mười lăm bộ trên đất nước Dù là lần đầu nhưng cõi Bãi Lở đã giật cả ba giải nhất đám, làm lên kì tích xuất sắc Cũng chính từ sự kiên này, gia đình An Tiêm bị nghi ngờ và vô cớ bị tống giam vào ngục rồi đày ra đảo hoang Sống trên đảo hoang mấy chục năm trời, gia đình An Tiêm đã trải qua vô vàn khó khăn khắc nghiệt, mối hiểm họa đe dọa từng ngày, ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh Nhưng tất cả mọi gian khổ ấy không thể làm gục ngã những con người sắt đá, bằng ý chí lớn lao và đôi bàn tay lao động bền bỉ họ đã vượt qua tất cả Cuối cùng họ trồng được giống dưa quý, lạ, tin này đến tai nhà vua, nhà vua hối hận cho thuyền ra đảo đón gia đình An tiêm trở về đất liền

Chuyện nỏ thần được viết lại dựa trên cốt truyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa Vua Thục đã tiến hành xây thành Cổ Loa để phòng chống giặc

ngoại xâm Trong quá trình xây thành An Dương Vương đã gặp rất nhiều khó khăn, nhưng cuối cùng được sự giúp đỡ của Cao Lỗ, An Dương Vương đã xây được thành ốc kiên cố Đặc biệt Cao Lỗ chế tạo ra một chiếc nỏ thần có thể giúp nhân dân Âu Lạc chiến thắng quân Tần xâm lược Nhưng khi có thành ốc và nỏ thần trong tay, vua Thục đã chủ quan, ỷ lại, không cảnh giác với quân giặc; hơn nữa lại nhận lời cầu hòa bằng việc cho con gái kết hôn với Trọng Thủy – con trai Triệu Đà Sai lầm nghiêm trọng là vua đã để cho Trọng Thủy ở rể ngay trong thành Trọng Thủy đã đánh tráo lẫy nỏ thần, vì vậy khi quân Triệu Đà tiến đánh sang thì An Dương Vương mất hết khả năng phòng thủ Cha con vua Thục chạy trốn khỏi thành nhưng Mị châu vô tình đã rắc lông ngỗng để chỉ đường cho giặc đuổi theo Khi chạy đến biển, vua Thục được thần linh nhắc nhở ông mới tỉnh ngộ và vung kiếm chém Mị Châu Kết thúc truyện là cảnh nhân vật Trưng Trắc, Trưng Nhị tiếp tục lấy cánh nỏ mũi tên chống lại giặc Hán, do đó có hình ảnh mùa xuân trẩy hội ăn mừng chiến

Trang 26

thắng cùng tiếng hò hát, tiếng trống đồng, cồng chiêng âm vang Giữa khung cảnh ấy, vua Thục và Cao Lỗ gặp nhau trong một không khí nửa hư nửa thực

Truyện Nhà Chử được xây dựng từ truyện cổ tích Chử Đồng Tử Truyện

kể về cuộc sống của gia đình Chử ở vùng sông nước Trong cuộc hành trình tìm về bến quê, Chử cùng chiếc thuyền độc mộc phải vật lộn với cơn bão cạn

Dù chưa biết bến Tự Nhiên ở đâu nhưng chàng vẫn ước mong được tìm về, bởi từ thuở bé câu chuyện nơi bến quê xa xôi đã khắc sâu trong lòng Chử Chàng không hề ngại khó khăn, không hề sợ hãi trước thiên nhiên, không hề nản chí và cuối cùng chàng đã trở về được bến quê của mình Tại đây, vào một buổi sáng Chử vùi mình tắm trong cát và cũng chính nơi đây chàng đã gặp được nàng Dong – con gái của vua chủ Nàng Dong có sở thích dong thuyền đi chơi khắp các bến sông, qua bến Tự Nhiên thấy khung cảnh nên thơ, dễ chịu nàng đã quây màn tắm bên sông và dường như duyên trời đã định, tại bến sông này nàng gặp được Chử rồi hai người nên duyên vợ chồng Nàng Dong cho người hầu tên là Tàm về báo tin với vua chủ Kết thúc tác phẩm là hình ảnh đoàn thuyền của vợ chồng Chử đang lướt trên sông Cái cùng với tiếng hát , tiếng trống thúc giục Chử khao khát được giẫm chân lên

cửa sông Cái để “vực sức của chính bản thân mình, mai kia trên cửa sông nhìn ra, nắng soi lên cát những bến bãi, chợ búa mọc như nấm Thuyền bè ra vào phơi phới, nhiều không kể xiết Hoa xoan tím ngắt thơm say cả những người ngả gỗ làm nhà” [8, tr.147]

Với bộ ba tiểu thuyết này, Tô Hoài đã góp phần làm cho bộ phận văn học thiếu nhi nước nhà thêm phong phú Nhà văn không chỉ làm mới các nhân vật: Mai An Tiêm, Chử Đồng Tử, An Dương Vương có từ truyền thuyết mà còn làm sống lại cả một thời kì dựng nước đầu tiên của dân tộc Việt, thời các

vua Hùng “Truyện Đảo hoang gắn với thời đại Hùng Vương dựng nước Người Việt cổ trong Đảo hoang còn bộn bề những lo âu, phải làm kiệt sức để

Trang 27

kiếm sống, phải gồng lên trước bão tố, trước sự đe dọa của thiên nhiên nhưng

đã có ý thức rào phên dậu để che chắn, mở mang đất nước và dành nhiều tâm huyết cho việc làm đẹp cuộc đời” [12, tr.116-117]

Bằng khả năng quan sát, miêu tả tinh tế; bằng vốn hiểu biết về phong tục tập quán dân tộc; bằng sự chăm chỉ sưu tầm nghiên cứu các tài liệu lịch sử…Tô Hoài đã tái tạo, thể hiện một cách chân thực, sinh động không khí thiêng liêng của dân tộc một thời; của cuộc sống nguyên sơ, giản dị, muôn vàn khó khăn thời kì đầu dựng nước, giữ nước Qua đây, nhà văn giúp các bạn nhỏ hiểu hơn về ý chí, về cuộc sống con người thuở ấy, hiểu hơn về mối quan hệ giữa con người với con người, con người với thiên nhiên; thấy được nền văn hóa dân gian xưa phong phú như thế nào và từ đó soi chiếu vào cuộc sống ngày nay nó ra sao? “Tác giả tìm hiểu quá khứ trên những tư liệu thư tịch và khảo cổ học, nhưng ông cũng đã phát huy cao độ khả năng tưởng tượng và hư cấu của người viết tiểu thuyết để làm sống động không khí xa xưa, cho chúng ta được sống lại, được hòa nhập tâm linh vào hào khí của dân tộc, được chiêm nghiệm những cảnh sắc, những phong tục và những hoạt động trong đời sống của người Việt cổ Tô Hoài khai thác lịch sử gắn với cái thực trong màu sắc kì ảo có tính chất huyền thoại” [12, tr.116]

Như vậy bộ ba tác phẩm Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần có thể

coi là những cuốn sách quý giá, những cuốn sách gối đầu giường cho các em Thông qua đó mà các em am hiểu được nhiều điều bổ ích, hiểu được tất cả những gì mà nhà văn gửi gắm Cả một thời đại nguyên sơ mà hào hùng, thiêng liêng của dân tộc; cả những con người, những cảnh vật thuở hồng hoang hiện ra rõ rệt trên từng trang sách Từ đó làm cho tâm hồn các em phong phú hơn, thêm yêu quê hương đất nước và con người hơn Có thể nói,

Tô Hoài là một bậc thầy sáng tạo lại những truyện cổ dân gian, không một ai

có được khả năng tài tình như ông khi biến những truyện cổ dân gian thành một diện mạo mới, mang nội dung tư tưởng, ý nghĩa mới dưới hình thức tiểu

Trang 28

thuyết mấy trăm trang Và Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần là những

minh chứng xác đáng nhất Bộ ba tiểu thuyết này đã góp những thành công vô cùng quan trọng trong sự nghiệp văn học của Tô Hoài Không chỉ các bạn nhỏ say mê mà nó còn hấp dẫn mọi thế hệ độc giả Thành công của Tô Hoài ở ba

tác phẩm này đã “mở ra những phương hướng và kinh nghiệm trong việc khai thác một cách khoa học và nghiêm túc văn học dân gian để viết thành truyện và tiểu thuyết cho thiếu nhi” [13, tr.498]

Tiểu kết

Nếu như trong những cánh rừng đại ngàn kia chắc chắn sẽ có những cây

gỗ quý, trong hằng hà sa số đất và cát chắc chắn sẽ có những hạt kim cương thì trong vô số những con người, chắc chắn sẽ có người tài hoa xuất chúng

Và Tô Hoài không nằm ngoài quỹ đạo đó, xét về tài năng khác thì chúng ta không biết, nhưng xét về tài năng văn chương thì có thể khẳng định Tô Hoài

là một nhà văn đa tài Với 94 năm tuổi đời và hơn 60 năm tuổi nghề, Tô Hoài

đã để lại một khối lượng văn học đồ sộ góp phần lớn lao vào sự phát triển của

nền văn học nước nhà

Riêng về mảng văn học dành cho thiếu nhi thì chúng ta cũng không thể

kể hết ra đây những sáng tác của ông Nhà văn đã ưu ái cho các em bằng việc viết nhiều tác phẩm hay, ý nghĩa, phù hợp với từng lứa tuổi Mỗi tác phẩm là một bài học vô cùng quý báu, giúp các em hiểu hơn nhiều vấn đề trong cuộc sống, giáo dục các em hướng đến những điều tốt đẹp hơn… Có thể khẳng định, Tô Hoài là nhà văn của thiếu nhi Những tác phẩm viết cho thiếu nhi của ông về loài vật, về tấm gương các bạn nhỏ yêu nước hay về những truyện lịch

sử (tích xưa kể lại) vô cùng phong phú Nhiều tác phẩm của ông được coi là sách gối đầu giường cho thế hệ bạn đọc, cầm những cuốn sách, đọc những tác phẩm của ông nó quen thuộc như bữa ăn hàng ngày và không thể thiếu đối với

Trang 29

những ai đã từng yêu thích, say mê nó Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện nỏ thần

có lẽ cũng không nằm ngoài ý nghĩa ấy

Trang 30

Chương 2 CHẤT LIỆU VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG BỘ BA TIỂU THUYẾT

ĐẢO HOANG, NHÀ CHỬ, CHUYỆN NỎ THẦN

Bằng tài năng, bằng vốn kiến thức, hiểu biết sâu rộng về văn hóa dân gian, trong bộ ba tác phẩm này Tô Hoài đã thể hiện vô cùng phong phú, sinh động những giá trị truyền thống của dân tộc Từ nơi ăn chốn ở, những tập tục, những lễ hội, trang phục đến cách ứng xử của con người… Tất cả đều hiện ra

rõ nét qua từng câu chữ của tác phẩm

2.1 Những tập tục đặc trưng

2.1.1 Tục ăn trầu

Ăn trầu vốn là phong tục cổ truyền của dân tộc Việt Tương truyền có từ

thời Hùng Vương và gắn liền với một câu chuyện cổ tích nổi tiếng: Sự tích trầu cau Thông qua sự tích này, các tác giả muốn nói rằng dân tộc ta đã có

một đời sống văn hóa khá phong phú ngay từ xa xưa Ngay từ thuở đó, dân tộc ta có truyền thống coi trọng gia đình, anh em biết đoàn kết, yêu thương quý mến nhau; vợ chồng lấy nhau, chung sống với nhau vì nghĩa vì tình, chung thủy sắt son… Không phải đợi đến khi phong kiến Trung Hoa sang đô

hộ, giáo hóa nước ta, dân ta mới biết thế nào là hiếu, nghĩa Chính sự tích trầu cau có ý nghĩa sâu sắc vậy nên tục ăn trầu của nhân dân ta đã trở thành một tập tục đặc trưng của một nền văn minh cổ Đông Nam Á

Xa xưa, khi sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu, trong mùa đông, người dân thường ăn một miếng trầu để cơ thể ấm nóng, bớt đi cái lạnh giá khi lội ruộng; khách đến chơi nhà, miếng trầu thường được chủ nhà đem ra mời một cách trân trọng, “miếng trầu là đầu câu chuyện”, ăn một miếng trầu sẽ giúp môi đỏ, miệng thơm, răng chắc, giúp câu chuyện tâm tình giữa chủ và khách

thêm phần cởi mở Miếng trầu gắn liền với lời chào, lời thăm hỏi hay làm

quen, trong ca dao có câu:

Trang 31

Tiện đây ăn một miếng trầu Hỏi rằng quê quán ở đâu chăng là

Xưa kia ai biết ai đâu Chỉ vì điếu thuốc, miếng trầu nên quen

Qua miếng trầu và cách mời trầu, người xưa đã gửi gắm rất nhiều cung bậc tình cảm một cách tế nhị Miếng trầu cũng là ngôn ngữ thể hiện sự nhận lời hay từ chối trong tình cảm nam nữ, nói như trong ca dao:

“Đi đâu cho đổ mồ hôi Chiếu trái không ngồi, trầu để không ăn

Thưa rằng bác mẹ em răn Làm thân con gái chớ ăn trầu người”

Đặc biệt, trầu cau không thể thiếu trong đám hiếu, đám giỗ cũng như trong hôn nhân – một khi nhà gái đã đồng ý nhận trầu cau của nhà trai thì cũng có nghĩa là đồng ý lời cầu hôn của nhà trai, hai nhà đã có giao ước với nhau rằng: “Miếng trầu nên dâu nhà người”

“Trầu cau là một loại đặc biệt, không thuộc đồ ăn, đồ uống, cũng không thuộc đồ hút Với mọi gia đình người Việt chúng ta, trầu cau cũng thân thuộc như cơm ăn, nước uống, như bát chè xanh, như điếu thuốc lào” [20] Một khi

nó đã thân thuộc như vậy thì nó sẽ luôn luôn gắn bó và không thể thiếu trong

đời sống tinh thần của người Việt

Tô Hoài là nhà văn có biệt tài về miêu tả phong tục, vậy nên trong tác phẩm của mình, nhà văn không thể nào lại không nói đến tục ăn trầu vốn quen thuộc, gắn bó như máu thịt với đời sống tinh thần của người Việt Chắc hẳn nhà văn rất am hiểu tập tục này và chính ông cũng đã từng thưởng thức trầu nên hương vị ấy theo ông đi vào cả trong những sáng tác

Trong Nhà Chử, Tô Hoài có nói đến sự xuất hiện của trầu cau Ngay cả

khi con người vùng sông nước đang phải đối mặt với những nguy hiểm của

Trang 32

đám giặc nước, ngay cả khi con người đang tất bật, lo lắng, tìm cách chiến đấu với thuồng luồng thì họ vẫn tổ chức, cùng nhau quây quần làm cỗ, cùng nhau têm trầu, ăn những miếng trầu, uống những ngụm trà… Ấy là họ biết gìn giữ những giá trị truyền thống của dân tộc, của quê hương; họ ý thức được đó

là tập tục lâu đời không thể xóa nhòa đi “Chẳng còn người nào ngồi yên trong nhà Các lão bà lom khom chạy việc, têm trầu, làm cỗ” [8, tr.70] Và

cũng chính vì vậy mà trong mỗi lần dịp lễ hội đến thì trầu cau là thứ không

thể thiếu là điều dĩ nhiên “Hai bên sông man mác hội hè Người đi hội như nước chảy Trầu vàng cau tươi nồng nàn đêm ngày” [8, tr.113]

Trong Chuyện nỏ thần, Tô Hoài đã nhiều lần nhắc đến tục lệ này Nhân

vật cố Ông Trọng nửa đời người làm tướng đi trấn giữ Trường Thành nước Tần, nay đã về quê Được trở về nơi chôn rau cắt rốn thì có gì vui mừng và hạnh phúc hơn nữa, về với nơi “cha mẹ cho mình thành người” Ông Trọng thấy nhớ tất cả những gì quen thuộc của quê hương, đặc biệt không thể quên

mùi trầu cau nồng ấm thuở nào Ông nói: “răng chưa rụng, nhưng phải làm cối nghiền mới nhai được miếng trầu thơm ấm Lại nhớ mùi trầu cau nồng nàn từ thuở còn rúc vú mẹ” [8, tr.500] Nay cố Ông Trọng đã già, mà ông vẫn

nhớ mùi trầu cau từ thuở còn rúc vú mẹ, đồng nghĩa với việc tập tục ăn trầu

đã có từ trước đó lâu lắm rồi – từ cái thời ông mới chỉ là một đứa trẻ còn được

ẵm bồng trên tay mẹ Đến tận bây giờ khi ông đi trấn giữ Trường Thành nước Tần được trở về thì hương vị quê đầu tiên mà ông nghĩ tới chắc hẳn phải là mùi trầu cau nồng ấm Hương vị đó sẽ theo mãi, gắn bó không rời đối với mỗi con người, kể cả các thế hệ sau cố Ông Trọng cũng sẽ học Cố mà biết gìn giữ

nét đẹp văn hóa tinh thần quý giá này Hay chi tiết “các bà lão nhai trầu phóm phém vào bắc bếp đồ xôi” [8, tr.580] đẹp biết bao! “nhai trầu phóm

phém” gợi cảm giác các bà lão đang say sưa, nhai trầu một cách ngon lành, miếng trầu ấy được hòa quện, mùi vị cay cay, nồng ấm lan tỏa trong miệng

Trang 33

của các bà lão Cũng trong Chuyện nỏ thần, khi miêu tả người dân khắp các

cõi đất Kẻ Chủ nô nức, nhộn nhịp chuẩn bị cho hội rửa nỏ, Tô Hoài không thể

bỏ qua hình ảnh trầu cau “lại từng mẹt trầu không, cau tươi, một cây vỏ ăn trầu đỏ lịm dựng giữa ngã ba đường Người đi qua nhặt ăn một khẩu trầu cho

ấm miệng” [8, tr.670] Rồi Tô Hoài miêu tả cuộc sống của người dân trên bến

Lú hai năm sau kể từ khi Vua Thục thua Triệu Đà, nhà vua cùng con gái là Mị Châu cưỡi ngựa bỏ chạy, được thần Rùa mách bảo con gái vua chính là giặc, vua quay lại chém chết con, rồi từ đó chẳng biết tất cả bị cuốn vào lòng bể hay đi đâu nữa… Hai năm sau đó, cuộc sống dĩ nhiên có thay đổi nhưng “vẫn làng ấy, phường ấy, đồng bãi ấy”, vẫn hối hả, vẫn có những lần mở hội nhộn nhịp như thế! Và hình ảnh trầu cau vẫn không thể thiếu đối với mỗi con

người, mỗi vùng quê “không biết nhà ai, mà nhà ai cũng ganh đua làm thế - người ta đặt ra các ngã ba ngã tư đường, những chiếc nong đại đựng cau tươi đã bổ sẵn, những xếp trầu không, bình vôi, cây vỏ đỏ sẫm Có chỗ trầu

đã têm ra miếng, cẩn thận đặt trong tàu lá chuối lót Có chỗ để nguyên, người

ăn cúi xuống nhặt, têm lấy Mùi trầu cau đầm ấm quyện khói hương đen tỏa nồng nàn” [8, tr.731]

Ta có thể thấy cuộc sống khi đất nước có giặc giã xâm lược hay khi đất nước tạm thời được yên ổn thì hình ảnh trầu cau ấy vẫn không thể mất đi Khi hỗn loạn, tất bật lo đánh giặc nhưng nếp sống tinh thần vẫn được duy trì, các hội hè, phong tục vẫn bình thường diễn ra và dĩ nhiên trong khi quây quần bên nhau, hát vui cùng lễ hội thì không thể không có trầu cau để mời nhau, để thưởng thức hương vị cay cay nồng ấm quen thuộc ấy Và đến khi đất nước được yên bình thì việc gìn giữ nững giá trị xưa cũ lại càng trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết

Tập tục ăn trầu vốn gần gũi, thân thuộc, đi vào trang viết của Tô Hoài lại càng gần gũi, thân thuộc hơn Thông qua đó nhà văn như nhắc nhở chúng ta

Trang 34

phải biết gìn giữ, trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Cuộc sống hiện đại ngày nay hối hả, tấp nập, xô bồ có thể vô tình khiến chúng

ta quên đi những giá trị ấy, có thể ít nhiều nó đã bị mai một, nhưng tất cả những gì thuộc về quá khứ, thuộc về giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc thì mãi mãi không bao giờ biến mất

2.1.2 Tục uống trà

Cùng với tục ăn trầu thì tục uống chè xanh cũng rất quen thuộc và có từ lâu đời của dân tộc Việt Từ xa xưa, uống trà đã là một thói quen, một thú vui thanh tao, vừa hướng nội, vừa hướng ngoại Hướng nội để tâm thanh tịnh, hướng ngoại để kết giao tri kỉ, tri âm Uống trà là một nét văn hóa không thể thiếu trong phong tục của người Việt Uống trà giúp gắn kết tình làng nghĩa xóm, làm mối quan hệ giữa người với người trở nên thân thiện, gần gũi, thắm thiết Dần dần, trà trở thành một phương tiện giao tiếp không thể thiếu, mở đầu cho những cuộc gặp gỡ, giao đãi người thân, bạn bè, đối tác Trà giống như một lễ nghi giữ vai trò giao lưu giữa các giai tầng trong xã hội, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, đẳng cấp Người Việt xưa, dù sống ở đồng bằng hay vùng ven biển; dù là người sang hay kẻ hèn; từ nơi cung đình đến chốn thiền môn hay những nơi dân dã… thì vẫn luôn giữ tập tục quý đó là uống trà Trà là cái bắt đầu và cũng là sự kết thúc…

Có trà để uống nhưng phải biết cách mời trà, mời trà là một hành vi biểu hiện sự thanh nhã, hiếu khách của con người Tách trà để tiếp khách là sự thể hiện tình cảm tối thiểu nhất, không thể tùy tiện coi thường, không nhất thiết phải là loại trà ngon thượng hạng mà quan trọng là thái độ, tình cảm của chủ đối với khách Vì vậy kỵ nhất là việc tiếp khách bằng một ấm nước trà nguội hay những tách trà còn đóng ngấn hoen ố nước trà cũ

Uống trà cũng phải biết cách uống, uống từ từ, uống từng ngụm nhỏ mới cảm nhận hết hương vị thơm ngon của trà, hơi ấm của chén trà tỏa ra làm ấm

Trang 35

lòng viễn khách trong mùa đông giá lạnh Còn gì thú vị hơn khi có ấm trà ngon cùng với người tâm đầu ý hợp, dưới trăng thanh gió mát, khung cảnh yên tĩnh, cùng trò chuyện, hàn huyên…

Chính vì đây là một tập tục lâu đời và gắn bó nên Tô Hoài không thể bỏ qua nó Có thể khi cầm bút viết lên những trang sách thì bên cạnh Tô Hoài không thể thiếu tách trà giản dị, thơm ngon Nhà văn vừa thưởng thức, vừa sáng tác, đặt bút viết xong lại nghỉ ngơi nhâm nhi ngụm trà rồi lại viết, cứ thế biết đâu cảm hứng sáng tác càng dồi dào hơn, thăng hoa hơn và cho ra những

đứa con tinh thần có giá trị Bộ ba tiểu thuyết Đảo hoang, Nhà Chử, Chuyện

nỏ thần là một minh chứng rõ ràng

Trong Chuyện nỏ thần, có đoạn Tô Hoài miêu tả khá tỉ mỉ hai anh em

Đống và Vực chuẩn bị khâu nấu nước chè để cho cố Ông Trọng, Đô Nồi và

Đô Lỗ uống trong buổi tập roi “Đống ra ngoài bờ cỏ Bếp lửa vừa tàn Ba cọc cây dựng lên làm vua bếp, một đống than, trên đặt tàu lá cọ tươi buộc túm, vỏ bùn đã khô, ám khói đen kịt Túm lá cọ trát bùn đun nước vừa sôi, bếp cũng vưa tắt Vực vào trong nhà bê ra một cái liễn đại da lươn, đặt giữa cửa Lúc nãy, khi Ông Trọng ra gốc đa quở mắng chú voi, hai anh em đã trèo lên hái chè, rồi cầm hòn cuội làm chày đá giã chè ngay trong liễn (…) Đống xách hai túm lá gối vào, mở lạt ra đổ nước sôi đầy liễn Khói bốc um, mùi chè xanh thơm ngát khắp nhà” [8, tr.495] Và sau khi tập roi xong, bố Đô Nồi cùng chú

Đô Lỗ nghỉ giải lao thì Đống và Vực đã nấu nước chè xong “Đống và Vực bưng đến một chồng bát đàn, rồi nghiêng liễn, đổ từng bát nước chè xanh ngắt, bốc khói nghi ngút" [8, tr 497]

Đặc biệt, nhà văn miêu tả đoạn Đô Lỗ nấu nước chè mời Ông Trọng thật xúc động, bởi lần này có lẽ là lần cuối Ông Trọng được uống nước chè – hương vị quen thuộc của quê hương, rồi ông ra đi mãi mãi, mang theo hương

vị “không đâu có được” ấy “Đô Lỗ nghiền xong cối chè vò, nước cũng vừa

Trang 36

sủi sùng sục trong bọc lá Đô Lỗ đổ ra liễn, ủ lại vào rơm một chốc, lấy chiếc bát đàn, múc, bưng đến đầu giường Ông Trọng Bát đàn nước còn nóng, xanh ngắt, khói tỏa trắng mờ” [8, tr.511] Uống một bát thôi chưa đủ, chưa thỏa được hương vị thơm ngon này, “Ông Trọng bảo Đô Lỗ ra múc bát chè tươi nữa Rồi Ông Trọng từ từ ngã người xuống giường” [8, tr.512]

Cái hương vị quê hương nó thân thương là thế, gắn bó là thế, cho nên cả đến khi lìa xa cõi đời này, con người ta vẫn vương vấn, luyến tiếc Tục uống trà cũng như tục ăn trầu, nó không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Tô Hoài rất hiểu giá trị văn hoá, tinh thần ấy nên ông mới thể hiện cụ thể,

rõ rệt và xúc động trong tác phẩm của mình Phải đến khi đọc những trang viết của nhà văn về những tập tục như vậy, chúng ta mới giật mình nhìn lại bản thân, hóa ra đã quá nhiều lần chúng ta không để ý đến nó, bỏ qua nó, không biết thưởng thức nó Cảm ơn nhà văn đã cho chúng ta phải thay đổi và chắc chắn sau đó mỗi người sẽ tự nấu cho mình một tách trà rồi thưởng thức ngay

2.1.3 Tục xăm mình

Tục xăm mình của người Việt cổ ra đời cách đây từ 2000- 3000 năm trước, kéo dài đến khoảng cuối thế kỉ XIII, đầu thế kỉ XIV, là tục lệ lâu đời

nhất, cổ xưa nhất của dân tộc ta Theo sách Lĩnh Nam chích quái (phần Hồng

Bàng thị truyện) chép: Bấy giờ, dân trên núi xuống nước đánh bắt cá thường

bị thuồng luồng gây thương tổn, bèn cùng nhau tâu việc ấy với Vua Vua nói:

“Các giống ở trên núi khác với các loài ở dưới nước Các loài ở dưới nước chỉ

ưa những gì giống với mình và ghét những gì khác mình, vì vậy, ta mới bị gây hại” Thế rồi, nhà vua bèn ra lệnh cho ai nấy cũng phải lấy màu xăm hình thủy quái vào người Từ đó, không bị thuồng luồng gây thương tích nữa Tục

vẽ mình của dân Bách Việt bắt đầu có kể từ đấy Tục xăm mình của người Việt cổ không chỉ thể hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, mà còn mang ý nghĩa quyết tâm chống địch, thậm chí là hình thức làm đẹp của người đương thời

Trang 37

Trong bộ ba tiểu thuyết của mình, Tô Hoài cũng không thể bỏ qua tập

tục cổ xưa này Trong Đảo hoang đoạn miêu tả các đô vật về dự hội đầu năm ở kinh đô đã thể hiện rõ tục xăm mình: "Mặt vuông, cằm bạnh, vai nổi, ngực bè, lưng và lườn, chân tay chàm vằn vèo hình thủy quái, cả trên những bắp vế quặn chão" [8, tr.175] Rồi đoạn kể về An Tiêm lúc lên mười "đã dày dạn lắm, khắp mình đã trổ chàm vằn vèo, xám xịt, để hàng ngày xuống mò cái ăn dưới nước thì cá mập, cá trình khó nhìn thấy mà đuổi bắt ăn thịt" Đặc biệt, cuộc

gặp gỡ của hai cha con An Tiêm và Mon Sau bao năm bị lạc bố mẹ và em gái bởi trận bão nước, cuối cùng Mon cũng gặp được bố Hai bố con ôm nhau không khỏi hết ngỡ ngàng, xúc động, rồi hai bố con bước nhanh vào rừng để mau về gặp mẹ và em gái Lúc này khi đi sau bố, Mon mới có dịp nhìn kĩ bố mình, Mon thấy bố già đi rất nhiều: râu ria mọc kín mặt, tóc dài xõa và điểm nhiều tóc bạc Nhưng có một sự thật không bao giờ thay đổi, không bao giờ

biến mất đó là vết xăm chàm của bố Mon “khắp mình các bắp tay, lốt xăm chàm mới vẫn vằn lên” [8, tr.382] Chi tiết này cho thấy trong mọi hoàn cảnh,

An Tiêm vẫn giữ tục xăm mình với mong muốn có được sức mạnh chiến thắng các loài thủy quái

Trong Chuyện nỏ thần, nhà văn miêu tả đội quân nỏ của vua Thục trong

lễ hội rửa nỏ thật oai nghiêm, mạnh mẽ: “Những hàng quân đeo nỏ ngồi ngay chăm chắm trên lưng ngựa Người nào cũng mình trần lưng ngực nổi vết xăm chàm vằn vèo” [8, tr.670]

Như vậy, tục xăm mình là một tục lệ cổ xưa cũng được Tô Hoài nhắc đến trong tác phẩm Ngày nay, có thể tục xăm mình không còn mang ý nghĩa quyết tâm chống địch hay thể hiện sự hòa hợp, thích ứng với thiên nhiên nữa,

mà nó mang tính chất nghệ thuật hơn, xu hướng hình xăm nghệ thuật được các bạn trẻ rất yêu thích Một lần nữa thế hệ hôm nay phải cảm ơn Tô Hoài vì

đã cho họ thấy được một tập tục được coi là cổ xưa nhất của người Việt đó là tục xăm mình

Trang 38

2.1.4 Tục nhuộm răng đen

Nhuộm răng là tục cổ của dân tộc Việt, cùng với tục ăn trầu đã trở thành nét văn hóa đặc trưng của bộ tộc người Việt Thời kì đó nó trở thành một nét văn hóa không thể thiếu trong cộng đồng Ai không nhuộm răng thì nhất định

bị coi là đi ngược lại tập tục và không được đón nhận

Theo nhiều tài liệu ghi chép lại thì tục nhuộm răng đen của người Việt

có từ thời sơ sử (cách đây 4000 năm), giai đoạn hình thành nhà nước sơ khai Văn Lang – Âu Lạc Theo Trương Hữu Quýnh “Người Văn Lang có thói quen ăn trầu, nhuộm răng đen” [15, tr.53] và “cư dân Văn Lang, Âu Lạc đều

có ý thức cùng chung một cội nguồn, một tổ tiên, một tập quán chung là nhuộm răng, ăn trầu” [15, tr.55]

Theo quan niệm thẩm mỹ xưa thì hàm răng đen được coi là chuẩn mực của cái đẹp đối với mỗi con người, đặc biệt là người phụ nữ Do đó, vẻ đẹp của hàm răng đen đã dần được đưa vào ca dao, thi ca như một chuẩn mực về nét đẹp của phụ nữ Việt Nam:

Răng đen ai nhuộm cho mình Cho duyên mình đẹp, cho tình anh say

Được xếp thứ 4 trong 10 chuẩn mực đo nét duyên của người con gái:

Một thương tóc bỏ đuôi gà Hai thương ăn nói mặn mà có duyên

Ba thương má lúm đồng tiền Bốn thương răng láng hạt huyền kém thua

Người thiếu nữ má hồng, răng đen đã trở thành hình ảnh làm si mê biết bao chàng trai:

Mình về mình nhớ ta chăng

Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

Năm quan mua lấy miệng cười Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen

Trang 39

Không chỉ là chuẩn mực của cái đẹp, tục nhuộm răng đen trở nên phổ biến đến nỗi được coi là chuẩn mực đạo đức Trong xã hội bấy giờ, người ta

cho rằng người nào răng trắng là người không tử tế

Trong tác phẩm của mình, Tô Hoài cũng nhiều lần nhắc đến tập quán

này Ấy là An Tiêm trong Đảo hoang với hàm răng “đen nhoáng”, là Gái với

"miệng cười chợt hé hàm răng đen rưng rức như hạt na" Là Lý Ông Trọng trong Chuyện nỏ thần với “hai hàm răng đen rức, vẫn chưa rụng chiếc nào” Cũng trong Chuyện nỏ thần, nhà văn có nói đến Thái thú Tô Định đã nhuộm

răng đen, giả làm người cắt cỏ để trốn thoát khi bị quân của Hai Bà Trưng vây thành Luy Lâu Tô Hoài còn để cho Lý Ông Trọng, trong câu chuyện của mình,

luôn nhắc nhở mọi người việc giữ gìn phong tục: "Vấn tóc ngắn để tiện đi lại trong rừng Vẽ mình cho giống hình long quân, khi bơi lội dưới sông, loài giao long không dám phạm tới Đi chân đất để tiện trèo cây Cày bằng dao, trồng bằng lửa Trời nắng để đầu trần cho đỡ nóng bức Ăn trầu cau, răng đen trừ được ô uế" [8, tr 499]

Đặc biệt là ở Đảo hoang, có đoạn Tô Hoài thể hiện một cách ngắn gọn

nhưng tập hợp đầy đủ nhiều tập quán quen thuộc của dân tộc đó là cảnh sinh hoạt của gia đình An Tiêm sau khi đã tìm được Mon và ra làm nhà trên bãi

biển: "An Tiêm và Mon đắp lò, đào hố lấy đất nung nồi trã, bát, đọi Đất đây quánh làm được đồ ăn thức đựng, làm được bánh ngói, làm được cái khánh, con cá treo tết Mon đào đất thó, nặn khuôn, cùng Gái chơi đập pháo đất, tiếng pháo đất kêu toác như nứa nổ suốt ngày Mẹ con lấy cuốn trúc xâu lại lỗ tai để đeo khuyên rồi đi lấy tổ cánh kiến về nhuộm răng cánh gián, nhuộm cả răng đen cho cả nhà Bố con đi tìm lá chàm về ngâm, đợi ngày nắng thì xăm chàm lại mình Rồi ai cũng có vòng tay, có khuyên vàng Nàng Hoa thổi lửa rèn vàng kỳ cạch được mấy bộ Hai mẹ con ăn trầu bỏm bẻm, đeo khuyên, đeo vòng sáng ngời ra đứng xem bố con An Tiêm và Gấu em vào sới, như tết ngày

Trang 40

trước xem đánh vật ở ven sông Cái" [8, tr 394-395] Qua đây, tác giả đã cho

thấy các nhân vật, dù sống trong hoàn cảnh hết sức vất vả, thiếu thốn và đơn độc trên đảo hoang, tách biệt với cộng đồng nhưng luôn có ý thức giữ gìn, khôi phục những phong tục tập quán lâu đời của cha ông truyền lại

Trải dài theo mấy nghìn năm lịch sử, nhuộm răng đen là một trong những phong tục cổ truyền góp phần định hình bản sắc văn hóa người Việt Hiện nay, tục nhuộm răng đen hầu như đã không còn tồn tại trong văn hóa người Việt, có chăng là ở những người thật lớn tuổi, họ nhuộm răng từ thuở nhỏ, còn lưu dấu đến bây giờ Thế nhưng ở Việt Nam, mặc dù đã có nhiều mai một nhưng tục lệ này vẫn còn tồn tại ở một số dân tộc như người Mường

ở Hòa Bình, người Lự ở Lai Châu Một phong tục cổ truyền mất đi, ta cũng không thể trách những người đã thay đổi, vì quan niệm mỗi thời mỗi khác, quan niệm về cái đẹp cũng không ngoại lệ Cũng bởi văn hóa chẳng bao giờ bất biến, không có nền văn hóa nào chịu đứng yên một chỗ, nhất là khi nền văn hóa đó lại đang nằm trong vòng xoay của sự giao lưu và tiếp biến Trong tác phẩm của mình, Tô Hoài vẫn nói đến ít nhiều phong tục này, có ý nhắc nhở con cháu biết đến một nét văn hóa đặc trưng này, dù cho trong cuộc sống hiện đại ngày nay thì tập tục ấy đã không còn phổ biến nữa nhưng nó vẫn mãi

là một nét văn hóa đẹp đẽ trong tâm thức của mỗi con người Việt Nam

2.2 Lễ hội truyền thống

Theo tác giả Trần Ngọc Thêm: "Vào mùa xuân và mùa thu, khi công việc đồng áng rảnh rỗi nhất, lễ hội diễn ra liên tiếp hết chỗ này đến chỗ khác, mỗi vùng có lễ hội riêng của mình Lễ hội có phần lễ và phần hội Phần lễ mang ý nghĩa tạ ơn và cầu xin thần linh bảo trợ cho cuộc sống của mình Phần hội gồm các trò vui chơi giải trí hết sức phong phú Xét về nguồn gốc, phần lớn các trò chơi này đều xuất phát từ những ước vọng thiêng liêng của con người nông nghiệp" [17, tr.153] Có rất nhiều lễ hội dân gian, truyền thống

Ngày đăng: 09/03/2018, 11:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w