Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.
Trang 1NGUYỄN THỊ THƠ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NGƯỜI DÂN TẠI THỊ TRẤN NÀ PHẶC, HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2NGUYỄN THỊ THƠ
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU CÁC NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO NGƯỜI DÂN TẠI THỊ TRẤN NÀ PHẶC, HUYỆN NGÂN SƠN, TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ trong việc thực hiện khóa luận này đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Trang 4Được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Kinh tế
& PTNT, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo ThS Cù Ngọc Bắc, tôi đã thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”
Sau một thời gian tìm hiểu tại địa phương, đến nay đề tài đã được hoàn thiện Ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ của các tập thể và cá nhân
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Cù Ngọc Bắc,
người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thiện đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các thầy cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Cục Thống kê, Ủy ban nhân dân thị trấn Nà Phặc, các phòng ban trong thị trấn đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp một cách tốt nhất
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Thơ
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1: Cơ cấu nhóm hộ điều tra của thị trấn Nà Phặc năm 2014 24
Bảng 3.2: Cơ cấu mẫu được chọn để điều tra 24
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Nà Phặc qua 3 năm (2012 – 2014) 30
Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động thị trấn Nà Phặc giai đoạn 2012 – 2014 32
Bảng 4.3: GTSX các ngành kinh tế của thị trấn Nà Phặc 34
Bảng 4.4: Tình hình trồng trọt của thị trấn 35
Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi của thị trấn 38
Bảng 4.6: Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn thị trấn Nà Phặc năm 2014 42
Bảng 4.7: Tình hình đói nghèo tại địa phương giai đoạn 2012 - 2014 47
Bảng 4.8: Một số thông tin cơ bản về hộ điều tra 50
Bảng 4.9: Tình hình sử dụng đất đai của các hộ điều tra 51
Bảng 4.10: Lao động và nhân khẩu của nhóm hộ điều tra 53
Bảng 4.11: Vốn bình quân của hộ điều tra 54
Bảng 4.12: Các tư liệu sản xuất của nhóm hộ điều tra 55
Bảng 4.13: Chi phí trồng lúa bình quân của hộ điều tra 56
Bảng 4.14: Chi phí trồng ngô bình quân của hộ điều tra 57
Bảng 4.15: Chi phí trồng trọt các loại cây trên rẫy bình quân của hộ điều tra 57
Bảng 4.16: Chi phí bình quân ngành chăn nuôi của hộ điều tra 59
Bảng 4.17: Kết quả sản xuất ngành trồng trọt trung bình của hộ điều tra 61
Bảng 4.18: Kết quả sản xuất bình quân ngành chăn nuôi của hộ điều tra 63
Bảng 4.19: Kết quả sản xuất kinh doanh bình quân từ hoạt động phi nông nghiệp của hộ điều tra 64
Bảng 4.20: Tổng hợp thu nhập của hộ điều tra 65
Bảng 4.21: Nhà ở và các phương tiện sinh hoạt của các hộ điều tra (60 hộ) 66
Bảng 4.22: Tỷ lệ người sống phụ thuộc tại các hộ điều tra (60 hộ) 67
Bảng 4.23: Phân tích các nguyên nhân nghèo tại các hộ điều tra năm 2014 69
Trang 6CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
HĐND : Hội đồng nhân dân
ILO : Tổ chức lao động quốc tế
IC : Chi phí trung gian
XĐGN : Xóa đói giảm nghèo
VA : Giá trị gia tăng
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
1.4 Bố cục khóa luận 4
PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo 5
2.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 12
2.2.1 Hoạt động xoá đói giảm nghèo trên thế giới 12
2.2.2 Hoạt động xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam 16
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 21
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp 21
3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp 22
3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 25
3.3.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu 25
3.4 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài 26
Trang 83.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất kinh doanh
của hộ nông dân 26
3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và công thức tính 26
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 28
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế xã hội trên địa bàn 31
4.1.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng của thị trấn 40
4.2 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội của người dân tại thị trấn Nà Phặc 43
4.2.1 Thuận lợi 43
4.2.2 Khó khăn 44
4.3 Thực trạng đời sống người dân thị trấn Nà Phặc 45
4.3.1 Tình hình đói nghèo của địa phương 3 năm gần đây (2012-2014) 45
4.3.2 Đánh giá tình hình cơ bản của nhóm hộ điều tra 48
4.3.3 Nguồn lực và yếu tố sản xuất của hộ điều tra 50
4.3.4 Mức độ đầu tư chi phí sản xuất kinh doanh của nhóm hộ điều tra 56
4.3.5 Kết quả sản xuất của nông hộ 60
4.3.6 Tổng hợp và đánh giá thu nhập của nhóm hộ điều tra 65
4.3.7 Điều kiện sinh hoạt và việc làm của hộ điều tra 66
4.4 Nguyên nhân nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu 68
4.4.1 Nguyên nhân khách quan 68
4.4.2 Nguyên nhân chủ quan 68
4.5 Những vấn đề cần giải quyết 74
PHẦN 5: GIẢI PHÁP NHẰM XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TẠI THỊ TRẤN NÀ PHẶC HUYỆN NGÂN SƠN TỈNH BẮC KẠN 77
4.6 Giải pháp nhằm XĐGN tại thị trấn 77
4.6.1 Giải pháp chung 77
4.6.2 Giải pháp cụ thể 79
Trang 95.1 Kết luận 83
5.2 Kiến nghị 83
5.2.1 Đối với Đảng và Nhà nước 83
5.2.2 Đối với cấp tỉnh, huyện 83
5.2.3 Đối với xã, các đoàn thể, các tổ chức cộng đồng 84
5.2.4 Đối với hộ nông dân nghèo 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
I Tiếng việt 86
II Tài liệu dịch 86
III Tài liệu internet 86
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu, là vấn đề được các chính phủ, các tổ chức quốc tế quan tâm để tìm giải pháp hạn chế và tiến tới xóa bỏ nạn nghèo đói trên toàn thế giới
Ở nước ta đói nghèo là một vấn đề bức xúc trong xã hội, xóa đói giảm nghèo
là một cuộc cách mạng lâu dài và phức tạp Xóa đói giảm nghèo là yếu tố cơ bản để đảm bảo công bằng xã hội và tăng trưởng bền vững Vì vậy Việt Nam coi xóa đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Xóa đói giảm nghèo đòi hỏi mọi cấp mọi ngành quan tâm thường xuyên và liên tục từng bước thực hiện, đảm bảo công bằng
xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, có ý nghĩa nhân văn, văn hóa sâu sắc Đói nghèo là một lực cản trên con đường phát triển kinh tế của đất nước Những năm gần đây, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh, đời sống nhân dân từng bước nâng lên rõ rệt Tuy nhiên ở những nơi vùng sâu vùng xa, người dân đang gặp phải cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được điều kiện tối thiểu
Chủ trương xoá đói, giảm nghèo lần đầu tiên được đề cập trong Nghị quyết Đại hội VII của Đảng là: "Cùng với quá trình đổi mới, tăng trưởng kinh tế phải tiến hành công tác xoá đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, tránh sự phân hoá giàu nghèo quá giới hạn cho phép" Nghị quyết Hội nghị BCHTW lần thứ 5 (khoá VII) tiếp tục cụ thể hoá chủ trương này: " Phải trợ giúp người nghèo bằng cách cho vay vốn, hướng dẫn cách làm ăn, hình thành quỹ xoá đói giảm nghèo" Tại Đại hội VIII của Đảng (1986), vấn đề xoá đói, giảm nghèo chính thức được xác định là một trong những chương trình trọng điểm quốc gia: "Thực hiện việc lồng ghép Chương trình xoá đói, giảm nghèo với các chương trình khác, trong đó lấy Chương trình quốc gia về giải quyết việc làm và về phủ xanh đất trống, đồi trọc làm nòng cốt Bổ sung chính sách giúp cho người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo tổ chức sản xuất, bảo đảm cuộc sống được
Trang 11cải thiện, trước mắt thực hiện các giải pháp: giao đất cho các hộ nông dân nghèo chưa được giao đất hoặc chưa đủ mức; vận động và giúp đỡ hộ nông dân nghèo đến lập nghiệp ở vùng kinh tế mới; mở rộng các quỹ tín dụng cho các hộ nghèo vay vốn sản xuất với lãi suất ưu đãi; đào tạo nghề miễn phí cho người nghèo; xây dựng đội ngũ những người tình nguyện đến với người nghèo, hướng dẫn họ cách làm ăn và phổ biến các biện pháp kỹ thuật, giúp đỡ người nghèo sản xuất kinh doanh "
Đến đại hội IX (2001), Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: "Thực hiện chương trình xoá đói, giảm nghèo thông qua những biện pháp cụ thể, sát với tình hình từng địa phương, xoá nhanh các hộ đói, giảm mạnh các hộ nghèo"
Như vậy, chương trình xoá đói, giảm nghèo đã và đang trở thành vấn đề mang tầm chiến lược trong công cuộc xây dựng đất nước Tuy nhiên, để chuyển thành các biện pháp có tính khả thi cao, để có thể vận dụng cho từng vùng, từng địa phương thì vẫn còn rất khó khăn, đòi hỏi quá trình nghiên cứu, khảo sát công phu của nhiều cấp, nhiều ngành, của cả Trung ương và địa phương
Bắc Kạn là một tỉnh nghèo, điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, trải qua những năm thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, sự phấn đấu của các ngành các cấp và nhân dân, tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những kết quả nhất định trong xóa đói giảm nghèo, tỷ lệ nghèo giảm đáng kể Thị trấn Nà Phặc là thị trấn duy nhất của huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn, xóa đói giảm nghèo ở thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn đã đạt được những thành tựu trong những năm qua Tuy nhiên tình trạng đói nghèo vẫn còn khá nghiêm trọng, công tác xóa đói giảm nghèo của thị trấn vẫn còn nhiều tồn tại và đối mặt với nhiều khó khăn trong tình hình mới
Vì vậy, việc phân tích, đánh giá đồng thời nghiên cứu tìm các nguyên nhân, đưa ra những giải pháp xóa đói giảm nghèo có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn nói chung và thị trấn Nà Phặc nói riêng trong những năm tới là rất cần thiết
Xuất phát từ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết của vấn đề xóa đói giảm
nghèo của cả nước, tôi đã chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn” làm luận văn tốt nghiệp đại học
Trang 121.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Phân tích nguyên nhân, yếu tố ảnh hưởng dẫn đến đói nghèo, từ đó đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm giảm đói nghèo tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đói nghèo và những giải pháp xóa đói giảm nghèo
- Điều tra, khảo sát thực trạng nghèo đói tại thị trấn Nà Phặc
- Phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan của đói nghèo của thị trấn Nà Phặc
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm xóa đói giảm nghèo giúp địa phương từng bước vượt khó, vươn lên làm giàu
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học
- Bổ sung thêm các kiến thức về đói nghèo đã được học về lý thuyết trong nhà trường
- Bổ sung thêm kiến thức về thực trạng và xác định nguyên nhân nghèo đói
- Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng nghèo đói của cộng đồng người dân trên địa bàn xã
- Đề tài cũng được coi như một tài liệu tham khảo cho trường, khoa, các cơ quan trong ngành và sinh viên các khoá tiếp theo
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Đề tài đưa ra một số khó khăn mà hộ nông dân đang gặp phải và có thể thấy được
nguyện vọng của dân, từ đó công tác xóa đói, giảm nghèo đạt được hiệu quả cao hơn
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở thực tiễn nhằm phát huy những lợi thế, đề xuất một số giải pháp thực tế đối với chương trình xóa đói giảm nghèo của địa phương
Trang 131.4 Bố cục khóa luận
Bố cục khoá luận gồm:
- Phần 1 Mở đầu
- Phần 2 Tổng quan tài liệu
- Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Phần 5 Các giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại thị trấn Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn
Trang 14PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Những vấn đề cơ bản về đói nghèo và xoá đói giảm nghèo
2.1.1.1 Một số khái niệm
Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia hay từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo đói do hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok - Thái
Lan vào tháng 9 năm 1993: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng
và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” (Nguyễn Hằng, 1993)
Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen, Đan
Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” (Nguyễn Hằng, 1993)
Có nhiều quan niệm nghèo đói của các tổ chức và các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam trên nhiều phương diện và tiêu thức khác nhau như thời gian, không gian, thế giới, môi trường, theo thu nhập, theo mức tiêu dùng và theo những
đặc trưng khác của nghèo đói Song quan niệm thống nhất cho rằng: “Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư có mức thu nhập thấp với điều kiện ăn, mặc, ở và nhu cầu cần thiết khác bằng hoặc thấp hơn mức tối thiểu để duy trì cuộc sống ở một khu vực tại một thời điểm nhất định” (Nguyễn Hữu Hồng, 2008)
Thực chất, hai vấn đề đói và nghèo là khác nhau:
Trang 15+ Đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo, có mức sống dưới mức tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
+ Nghèo: Là tình trạng của một bộ phân dân cư chỉ có các điều kiện vật chất
và tinh thần để duy trì cuộc sống của gia đình họ ở mức tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng Mức tối thiểu được hiểu là các điều kiện ăn, ở, mặc và các nhu cầu khác như: Văn hoá, giáo dục, y tế, đi lại, giao tiếp Chỉ đạt mức duy trì cuộc sống rất bình thường và dưới đó là đói khổ
Nghèo luôn luôn là dưới mức trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện Giữa mức nghèo và mức trung bình của xã hội có một khoảng cách thường là
ba lần trở lên
+ Hộ nghèo là tình trạng một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng, xem trên mọi phương diện
Ngân hàng Châu Á đưa ra khái niệm về nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối như sau:
+ Nghèo tuyệt đối: Là việc không thoả mãn những nhu cầu tối thiểu để duy trì
cuộc sống của con người Nó là tình trạng con người không có ăn, không đủ lượng chất dinh dưỡng tối thiểu cần thiết Theo quy định của Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu dinh dưỡng đối với các nước Đông Nam Á phải đạt 2.100 calo/người/ngày
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng không đạt tới mức tối thiểu tại một thời
điểm nào đó Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự đáp ứng đầy đủ của xã hội đó
Nghèo tương đối có thể coi là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm giác của những người trong cuộc, khi mà những người nghèo trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào điều kiện khách quan Người ta gọi là nghèo tương đối
2.1.1.2 Các quan điểm đánh giá đói nghèo
Sẽ không có chuẩn nghèo nào chung cho tất cả các nước, vì nó phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, từng quốc gia
Trang 16Phương pháp thông dụng để đánh giá mức độ đói nghèo là xác định mức thu nhập có thể đáp ứng nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người, sau đó xác định xem ở trong nước hay vùng có bao nhiêu người có mức thu nhập dưới mức đó Tuy nhiên, phương pháp lượng hoá nhu cầu tối thiểu ở mỗi nước để biểu hiện đường ranh giới đói nghèo cũng khác nhau
Trên thế giới, các nước thường đưa ra những chỉ số thu nhập khác nhau của mình Tuy nhiên, thu nhập quốc dân tính theo đầu người chỉ là một trong những căn cứ
để đo mức độ phát triển chung của một số nước so với nước khác Chỉ số thu nhập có tính chất tương đối và có hạn chế nhất định, không phải chỉ số trung bình cao về thu nhập quốc dân (GDP) là hết đói nghèo Thực tế trên thế giới không thiếu gì những quốc gia tư bản chủ nghĩa có trình độ phát triển cao, có chỉ số thu nhập bình quân đầu người rất cao song cũng chính ở đó đang diễn ra cảnh đói nghèo và mất công bằng xã hội gay gắt Cho đến nay, tiêu chuẩn thu nhập quốc dân bình quân đầu người đang được sử dụng ngày càng phổ biến để đánh giá trình độ phát triển của một quốc gia XĐGN là tìm ra con đường cho sự phát triển tốt nhất, là làm tăng lên không ngừng mức sống và chất lượng cuộc sống của dân cư theo mục tiêu công bằng xã hội Để phân tích nước nghèo, nước giàu, ngân hàng thế giới (WB) đã đưa ra các tiêu chí đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia bằng mức thu nhập bình quân đầu người trên năm để đánh giá thực trạng giàu – nghèo của các nước ở cấp độ sau:
Nước cực giàu : Từ 20.000 – 25.000 USD/người/năm
Nước khá giàu: Từ 10.000 – 20.000 USD/người/năm
Nước trung bình: Từ 2.500 – 10.000 USD/người/năm
Nước cực nghèo: Dưới 500 USD/người/năm
Ở Việt Nam, Bộ Lao động thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH) là cơ quan thường trực trong việc thực hiện XĐGN Cơ quan này đã đưa ra mức xác định khác nhau về nghèo đói tuỳ theo từng thời kỳ phát triển của đất nước Từ năm 1993 đến nay chuẩn nghèo đã được điều chỉnh qua 5 giai đoạn, cụ thể cho từng giai đoạn như sau:
+ Lần 1 (giai đoạn 1993 - 1995)
Hộ đói: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/ tháng dưới 13kg đối với khu
Trang 17vực thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn
Hộ nghèo: Bình quân thu nhập đầu người quy gạo/tháng dưới 20kg đối với khu vực thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn
+ Lần 2 (giai đoạn 1995 - 1997)
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ một tháng quy
ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập như sau:
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Dưới 15kg/người/tháng
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: Dưới 20kg/người/tháng
Vùng thành thị: Dưới 25kg/người/tháng
+ Lần 3 (giai đoạn 1997 - 2000) (Công văn số 1751/LĐTBXH)
Hộ đói: Là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45.000đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng)
Hộ nghèo: Hộ có thu nhập tuỳ theo vùng ở các mức tương ứng như sau: Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Dưới 15kg/người/tháng (tương đương 55.000đồng)
Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: Dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70.000đồng)
Vùng Thành thị: Dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90.000đồng)
+ Lần 4 (giai đoạn 2001-2005) (Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH)
về việc điều chỉnh chuẩn nghèo (không áp dụng chuẩn đói)
Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng
Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng
Trang 18+ Lần 6: (Giai đoạn 2011-2015) theo quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày
30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015
Vùng thành thị: 500.000 đồng/người/tháng
Vùng nông thôn: 400.000 đồng/người/tháng
Với cách đánh giá chuẩn mực nghèo đói theo thu nhập như trên tuy đã có tiến bộ và định mức thu nhập được quy thành giá trị, dễ so sánh nhưng vẫn còn một
số hạn chế là: Không phản ánh được chi tiêu, tổng hợp mức sống của người nghèo (như tình trạng nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt, y tế, giáo dục và mức hưởng thụ các dịch vụ cơ bản khác); không phản ánh được sự mất cân đối giữa chuẩn mực so với đời sống thực của người nghèo
Ở mỗi vùng, mỗi địa phương cũng có thể quy định chuẩn nghèo khác nhau tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình tại thời điểm nhất định Ở thị trấn Nà Phặc nói riêng và tỉnh Bắc Kạn nói chung đều lấy chuẩn nghèo theo quy định chung của Bộ LĐ-TB & XH đã quy định
2.1.1.3 Cơ sở phân định hộ nghèo, cận nghèo trong khi tiến hành đề tài
Theo chỉ thị số: 1752/CP – TTg về việc tổ chức tổng điều tra hộ nghèo trên toàn quốc phục vụ cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội giai đoạn 2011 –
2015 (Thông tư 21, Thông tư 24 - Bộ LĐ-TB & XH)
Mức chuẩn nghèo áp dụng trong giai đoạn này như sau:
+ Khu vực nông thôn: những hộ thu nhập bình quân ≤ 400.000 đ/người/tháng + Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân ≤ 500.000đ/người/tháng
Mức cận nghèo áp dụng trong giai đoạn này như sau:
+ Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 – 520.000đ/người/tháng là hộ cận nghèo
+ Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 – 650.000 đ/người/tháng
Trang 192.1.1.4 Tính tất yếu, cấp thiết phải thực hiện xoá đói giảm nghèo
“Sống một cuộc sống nghèo khổ hiển nhiên sẽ gây ra những thất vọng mà thất vọng này là nguồn gốc của những hành động phá phách, gây phiền hà cho cuộc sống
và trật tự xã hội Hoàn cảnh nghèo khổ buộc người ta phải khai thác bừa bãi môi trường và làm giảm khả năng sản xuất của nó, là mầm bệnh cho các xung đột về chính trị, xã hội Phá hoại những giá trị cơ bản của con người và làm xói mòn hạnh phúc gia đình Những hành động kiểu này đang là bi kịch cho nhiều gia đình và xã hội” (Báo
cáo tổng kết chương trình giảm nghèo ở Châu Á - Thái Bình Dương)
Nghèo đói là nguyên nhân của hàng loạt những tác động tiêu cực tới sự phát triển xã hội và phát triển con người mà biểu hiện cụ thể của nó là:
Thu nhập thấp sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống của con người Mức sống không đảm bảo dẫn đến hậu quả tất yếu, đó là suy dinh dưỡng ở trẻ em và giảm tuổi thọ ở người lớn Nhu cầu sống, nhu cầu tồn tại là nhu cầu bản năng, nhu cầu đầu tiên của mỗi người Trong điều kiện thu nhập thấp, thì chi tiêu cho giáo dục, cho y
tế và cho các sinh hoạt khác sẽ bị cắt giảm để nhưỡng chỗ cho các chi tiêu về lương thực, về quần áo Thiếu sự chăm sóc về y tế, giáo dục, thiếu kiến thức về sức khoẻ sinh sản, phòng tránh thai cũng như chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em dẫn tới tỷ lệ sinh cao, tỷ lệ tử vong cao ở trẻ sơ sinh, thậm trí cả các bà mẹ
Trong báo cáo phát triển thế giới nêu rõ: “Hơn một tỷ người ngày nay đang sống trong tình trạng nghèo đói, đa số những người này sẽ sinh ra những gia đình nghèo ” (World Development Report 1992) Tuy nhiên, vấn đề không chỉ dừng lại
ở mức độ “nghèo đói duy trì sự nghèo đói ” mà nó còn làm cho tình trạng này
ngày một trầm trọng hơn và lây lan sang những lĩnh vực tưởng như không có liên quan, đó là môi trường và đạo đức xã hội Mức sống thấp cộng với lối sống du canh
du cư đã tồn tại từ lâu đời của đồng bào miền núi làm cho rừng bị tàn phá ngày một nặng nề hơn Còn ở những nơi không có rừng để tàn phá thì nghèo đói, thiếu việc làm sẽ nảy sinh tự phát dòng di dân ra thành phố, khu công nghiệp cửa khẩu biên giới để kiếm sống Mức độ di chuyển này ngày càng tăng, là nguồn gốc mất an ninh trật tự và lây lan các tệ nạn xã hội, kể cả phạm tội
Trang 20“Vì vậy trách nhiệm của thế giới là phải làm giảm nạn nghèo khổ Điều đó vừa là mệnh lệnh của đạo lý, vừa là cái tất yếu để có được sự bền vững của môi trường” (World Development Report 1992)
2.1.2 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
2.1.2.1 Các chỉ tiêu phản ánh thực trạng nghèo đói
Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trong toàn xã
Thu nhập của hộ
Bao gồm toàn bộ giá trị sản phẩm và các nguồn thu tính được của hộ, được
sử dụng để chi cho đời sống và tích luỹ Để phản ánh chính xác được mức độ đói nghèo và thực trạng đời sống của hộ, tôi nghiên cứu chỉ tiêu thu nhập bình quân trên đầu người theo tháng
Hệ thống các chỉ số
- Chỉ số phát triển con người: Human Development Index (HDI), bao gồm: Tuổi thọ bình quân được phản ánh bằng số năm sống
Trình độ giáo dục được đo bằng cách kết hợp giữa tỷ lệ người lớn biết chữ và
tỷ lệ người đi học đúng độ tuổi
Mức thu nhập bình quân/đầu người theo sức mua tương đương
HDI được tính theo phương pháp chỉ số, có giá trị lớn nhất bằng 1, nhỏ nhất bằng 0
- Chỉ số nghèo khổ: HumanPovertyIndex (HPI), được phản ánh ở các khía cạnh:
Khía cạnh 1: Liên quan đến khả năng sống như tỷ lệ % người sống đến 40 tuổi Khía cạnh 2: Liên quan đến trình độ giáo dục như tỷ lệ % người lớn
không biết chữ
Khía cạnh 3: Liên quan đến mức sống, được tổng hợp bởi 3 yếu tố:
+ Tỷ lệ % người dân không có khả năng tiếp cận với nguồn nước sạch
+ Tỷ lệ % người dân không có khả năng tiếp cận với các dịch vụ y tế
+ Tỷ lệ % trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng
Trang 212.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Hoạt động xoá đói giảm nghèo trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình nghèo đói trên thế giới
Đói nghèo là vấn đề đang đặt ra cho tất cả các quốc gia trên thế giới, nó trở thành vấn nạn trên toàn cầu Trong lịch sử đã có nhiều nạn đói chết hàng triệu người dân Châu Á, Châu Phi Thực trạng đói nghèo trên thế giới đang diễn ra theo chiều hướng rất đáng báo động Theo một nghiên cứu của WB, nguy cơ đối với người nghèo đang tiếp tục gia tăng trên quy mô toàn cầu, và tốc độ tăng trưởng kinh tế suy giảm trong năm 2009 đã đẩy thêm 53 triệu người nữa rơi vào tình trạng nghèo đói, thêm vào con số 130-155 triệu người của năm 2008, khi giá nhiên liệu và thực phẩm
tăng cao (www.baomoi.com)
Ngày 15/5/2012, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đưa ra nghiên cứu năm
2012 về thị trường lao động, nhấn mạnh từ nhiều năm qua, tình trạng nghèo khổ gia tăng không còn là vấn đề của riêng các nước đang phát triển mà đã trở thành vấn đề đáng lo ngại ở các nước phát triển Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu bùng nổ, tỷ
lệ nghèo khổ đã giảm mạnh ở 75% các nước đang phát triển, nhưng lại đang tăng
lên ở 25 nước trong 36 nước phát triển (www.baomoi.com)
Đói nghèo đã trở thành thách thức lớn, đe dọa đến sự sống còn, ổn định và phát triển của thế giới và nhân loại Sở dĩ như vậy bởi vì thế giới là một chỉnh thể thống nhất, và mỗi quốc gia là một chủ thể trong chính thể thống nhất ấy Toàn cầu hóa đã trở thành cầu nối liên kết các quốc gia lại với nhau, các quốc gia có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, sự ổn định và phát triển của một quốc gia có ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc đến sự ổn định và phát triển của các quốc gia khác
Nghèo đói đe dọa đến sự sống của loài người bởi “đói nghèo đã trở thành một vấn
đề toàn cầu có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng, nó là nhân tố có khả năng gây bùng nổ những bất ổn chính trị, xã hội và nếu trầm trọng hơn có thể dẫn tới bạo động và chiến tranh” không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà là cả thế giới Bởi,
những bất công và nghèo đói thực sự đã trở thành những mâu thuẫn gay gắt trong quan hệ quốc tế; và nếu những mâu thuẫn này không được giải quyết một cách thỏa
đáng bằng con đường hòa bình thì tất yếu sẽ nổ ra chiến tranh (www.baomoi.com)
Trang 222.2.1.2 Các giải pháp và kinh nghiệm XĐGN ở một số nước trên thế giới
Những giải pháp và những chính sách hướng vào phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội Những kết quả, thành tựu đạt được trong việc khắc phục tình trạng đói nghèo ở các nước trong giai đoạn xây dựng và cải cách kinh tế - xã hội đã vừa xác nhận vừa làm tăng lên ý nghĩa của bài học kinh nghiệm
Nó là điểm tựa, là cơ sở lý luận cho các quyết sách của Chính phủ Về mặt thực tiễn của xã hội, bài học kinh nghiệm này cho thấy tầm quan trọng thiết thực của các chính sách hỗ trợ, phát triển cho người nghèo bằng cách tạo việc làm, tăng thu nhập thực tế, tạo cơ hội và trợ giúp các điều kiện để cho họ thoát khỏi cảnh nghèo đói
Từ kinh nghiệm trên cho thấy rằng Nhà nước không nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông qua chính sách tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi
để hỗ trợ sản xuất cho người nghèo
Cùng với Nhà nước là sự tác động của các tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, các doanh nghiệp và các tổ chức phi Chính phủ Đây là lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình xã hội hoá chương trình XĐGN Ngoài ra, còn lựa chọn công nghệ thu hút nhiều lao động và phát triển doanh nghiệp tại vùng nghèo
Những giải pháp và chính sách trên phản ánh quan điểm tích cực của các Nhà nước trong khu vực về tăng trưởng phát triển XĐGN Từ đó mỗi quốc gia phải xác định mức tăng trưởng hợp lý nhằm tạo điều kiện duy trì sự tăng trưởng và cải thiện đời sống, phải tạo ra được sức mạnh đủ sức phát triển trên cơ sở hạ tầng vật chất nhằm giúp người nghèo có khả năng tiếp cận thị trường, hoà nhập với đời sống cộng đồng
Kinh nghiệm XĐGN của một số nước
Vấn đề nghèo đói và XĐGN đang trở thành chủ đề quan tâm của toàn nhân
Trang 23loại Việc hạn chế và từng bước xoá bỏ nghèo đói là nhiệm vụ quan trọng và nặng
nề của nhiều tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia Trong một vài thập kỷ gần đây, công tác XĐGN trên thế giới và một số quốc gia đã đạt được một số kết quả nhất định Các kết quả này được tổng kết và đúc rút thành kinh nghiệm để cho các nước khác tham khảo và học tập
+ Kinh nghiệm của Trung Quốc
Trung Quốc là một nước có số dân đông nhất thế giới và cũng là nước có số dân nghèo chiếm tỷ lệ cao Tỷ lệ nghèo khổ chiếm 20% dân số, trong đó 80 triệu người quá nghèo khổ chiếm 8% dân số (số liệu của FAO,1990) Bước vào thời kỳ cải cách kinh tế, nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi lớn, tuyệt đại đa số nông dân đã giải quyết được vấn đề no cơm ấm áo, tỷ lệ nghèo khổ giảm đáng kể do
Trung Quốc sớm quan tâm và thực hiện rất có hiệu quả chương trình “xoá đói giảm nghèo” ở trên phạm vi cả nước, nhất là khu vực nông thôn Kinh nghiệm thành
công của Trung Quốc trong công cuộc XĐGN cho thấy tầm quan trọng của việc kết hợp tăng trưởng kinh tế gắn với những biện pháp giải quyết việc làm ở nông thôn,
mở rộng hệ thống dạy nghề, tăng kỹ thuật mới, giảm nhẹ điều kiện việc làm, cải thiện đời sống, phát triển công nghiệp nông thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải
tạo nền kinh tế thuần nông với phương châm "ly nông bất ly hương" Đối với các
vùng nghèo, Chính phủ có các chương trình riêng như:
Giúp đỡ các huyện nghèo theo phương châm lấy phát triển kinh tế là chính với các công tác sau: Kết hợp khai thác tổng hợp nông nghiệp, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề địa phương, phòng chống về các bệnh tật, phổ cập giáo dục tiểu học nâng cao trình độ văn hoá, trình độ kĩ thuật cho người lao động Khống chế tốc
độ gia tăng dân số, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường sinh thái
Ngoài những nỗ lực đó còn có các chính sách tín dụng cho hộ nghèo vay vốn với lãi suất thấp thực hiện ưu đãi về thuế tín dụng Nhà nước tăng các khoản đầu tư vào các vùng khó khăn, động viên các lực lượng xã hội chi viện cho vùng nghèo khó về vốn sản xuất; khoa học kỹ thuật (KHKT) và đã thu được những kết quả tốt
Trang 24Giúp đỡ xã nghèo, thôn nghèo và các hộ nghèo như phổ biến kinh nghiệm, hợp tác kinh tế giúp đỡ lẫn nhau cùng có lợi để đưa xã nghèo, thôn nghèo, hộ nghèo thoát khỏi khó khăn tiến tới giàu có (Phạm Văn Tĩnh, 2010)
+ Kinh nghiệm của Ấn Độ
Trước đây Ấn Độ là một trong những nước có số người nghèo khổ nhiều nhất thế giới Theo tiêu chuẩn của liên hợp quốc, hiện nay Ấn Độ có khoảng 420 triệu người ở tình trạng nghèo đói chiếm 37,60% tổng số người nghèo khổ trên thế giới, chiếm 55,00% dân số đất nước
Từ những năm 1950 - 1970 chính phủ Ấn Độ đặt ra vấn đề phát triển toàn diện khơi dậy tiềm năng sẵn có trong nông thôn “Cuộc cách mạng xanh” với việc đưa tiến
bộ KHKT vào sản xuất, phẩm chất tốt cùng với chương trình phát triển nông nghiệp khác đã đưa Ấn Độ từ một nước phải nhập khẩu lương thực nay trở thành một nước có khả năng tự túc lương thực Chính phủ Ấn Độ đã có biện pháp giúp đỡ từng nhóm hộ gia đình phát triển sản xuất nên đã có 15 triệu hộ gia đình với khoảng 75 triệu người thoát khỏi cảnh nghèo khổ Hiện nay Ấn Độ có khoảng 12 - 15% số hộ nông dân khá, giàu Đây là một kết quả cũng là thành tựu mà Ấn Độ có được (Phạm Văn Tĩnh, 2010)
+ Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là quốc gia đất hẹp người đông, điều kiện phát triển kinh tế rất khó khăn, nghèo tài nguyên lại thường hay động đất Nhưng đặc điểm của người Nhật Bản là rất hay làm việc, biết tiết kiệm và căn cơ Chỉ hơn 20 năm sau chiến tranh, từ đống tro tàn đổ nát, Nhật Bản đã vươn lên thành cường quốc về kinh tế, đời sống nhân dân tăng cao, tình trạng đói nghèo đã giảm xuống thấp Hiện nay 90% dân số Nhật Bản là tầng lớp trung lưu Có được thành quả như vậy là do Nhật Bản đã đưa
ra kế hoạch và chính sách rất đúng đắn và thực hiện tích cực, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, XĐGN bền vững Nhật Bản đã áp dụng các giải pháp như: Thực hiện quá trình dân chủ hoá sau chiến tranh; Thực hiện dân chủ hoá lao động; Xoá bỏ cơ sở gây ra sự phân hoá giàu nghèo; Thực hiện chính sách thuế thu nhập để giảm bớt chênh lệch về thu nhập; Thực hiện chính sách vùng, khu vực: khuyến khích phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng, Hỗ trợ khu
Trang 25vực nông thôn nông nghiệp thông qua chính sách bảo hộ đối với sản xuất nông nghiệp; Thực hiện chính sách về phúc lợi xã hội: Thông qua hệ thống bảo hiểm rộng lớn trên các lĩnh vực, tương trợ công cộng, dịch vụ, phúc lợi bảo hiểm xã hội (chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp con cái, hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và tai nạn lao động), y tế công cộng, trợ cấp và giúp đỡ của Nhà nước cho các nạn nhân chiến tranh Các khoản chi cho bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản không nhỏ, năm 1989 con số này đã chiếm 14% thu nhập quốc dân và từ đó đến nay các khoản chi này không ngừng tăng lên Đây chính là biện pháp có hiệu quả để những người nghèo sớm thoát khỏi cảnh đói nghèo và những người không may gặp rủi ro nhanh chóng trở lại cuộc sống ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống (Phạm Văn Tĩnh, 2010)
2.2.2 Hoạt động xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
2.2.2.1 Thực trạng nghèo đói và công tác xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, đói nghèo đang là vấn đề xã hội bức xúc XĐGN toàn diện, bền vững luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm và xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội (PTKT-XH) và là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu góp phần phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong hơn 20 năm đổi mới, nhờ thực hiện cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn nước ta, công cuộc XĐGN đã đạt đuợc những thành tựu đáng kể, có ý nghĩa to lớn cả về kinh tế, chính trị, xã hội và góp phần quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước bền vững Theo chuẩn quốc gia thì tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc là 12,10% năm 2009 xuống còn 11,00% năm 2010 Đến cuối năm 2011, tỷ lệ nghèo đói của cả nước giảm xuống còn 15,00% (theo chuẩn nghèo mới) Phấn đấu năm
2012 giảm tỷ lệ nghèo đói xuống mức 10 – 11% (Trần Lê, 2007)
Việt Nam đã sớm đạt được mục tiêu thiên niên kỷ về XĐGN: “những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát triển kinh tế” (Báo cáo phát triển Việt Nam)
Do đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, để từng bước tiếp cận với trình độ của các nước phát triển trong khu vực, chuẩn nghèo đã được điều chỉnh lại, trong đó có tính đến các nhân tố ảnh hưởng
Trang 26Thống kê trong 3 năm (2009 - 2011), tổng số vốn ngân sách Trung ương đã
bố trí để hỗ trợ thực hiện chương trình xóa nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30A của Chính phủ là 8.535 tỷ đồng, bình quân mỗi huyện nghèo được hỗ trợ
130 tỷ đồng Dự kiến năm 2012, ngân sách đầu tư cho chương trình này sẽ tăng hơn
so với năm 2011 và trung bình mỗi huyện nghèo sẽ được đầu tư từ 200 đến 250 tỷ
đồng/năm (baothanhhoa.vn )
Để thực hiện mục tiêu giảm số hộ nghèo xuống còn 10% năm 2012, cải thiện đời sống người nghèo, hạn chế tốc độ gia tăng dân số, hạn chế gia tăng khoảng cách giữa mức sống thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, giữa nhóm hộ
nghèo và nhóm hộ giàu, trong thời gian tới, cần tập trung những nhiệm vụ sau đây:
- Dựa trên sự tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm để nâng cao đời sống cho người nghèo, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ổn định, cải cách cơ cấu kinh tế
và bộ máy quản lý Nhà nước đã trở thành một đòi hỏi cấp thiết trên các mặt chủ yếu như thể chế kinh tế, thúc đẩy thị trường phát triển, đẩy mạnh xuất khẩu, cải thiện môi trường đầu tư…, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cải cách hành chính và các hoạt động phục vụ đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh…
- Phát triển kinh tế đồng bộ từ miền xuôi đến miền núi, từ vùng thuận lợi đến vùng sâu vùng xa Chú trọng việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, phát triển sản xuất hàng hóa, đổi mới cơ cấu lao động theo hướng tăng dần tỷ trọng lao động công nghiệp và dịch vụ
- Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển các loại hình dịch vụ giáo dục y tế, văn hóa và bảo vệ môi trường, xã hội hóa các hoạt động XĐGN
- Đổi mới công tác tổ chức, đảm bảo tính công khai minh bạch và làm rõ trách nhiệm trong lập kế hoạch, tạo điều kiện để chính quyền địa phương chủ động, người dân bàn bạc tạo ra sự đồng thuận và hợp tác, quyết tâm vượt nghèo vươn lên làm giàu của các
xã nghèo, có cơ chế khuyến khích và giải pháp có tính đột phá, áp dụng tiến bộ KHKT
Mặc dù trong những năm qua số hộ nghèo trong cả nước đã giảm mạnh, song trên thực tế công cuộc XĐGN còn vô cùng gian nan Nguy cơ tái nghèo có thể tăng
do tác động của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế Sắp tới, để thực hiện
Trang 27thắng lợi kế hoạch 5 năm giai đoạn 2011 - 2015 và Nghị quyết đại hội lần thứ XI, XĐGN của Đảng, Chính phủ tiếp tục tạo động lực để phát triển mạnh mẽ kinh tế -
xã hội, đồng thời chủ động chỉ đạo thực hiện công tác XĐGN với sự đồng tâm hiệp lực của các ngành, các cấp, của cả cộng đồng, của các tổ chức kinh tế - xã hội và của chính người nghèo (Bộ LĐ-TB & XH, 2007)
2.2.2.2 Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
Theo đánh giá của Bộ Lao động thương binh và xã hội (LĐ-TB & XH), nguyên nhân đói nghèo là hậu quả của nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính gây ra đói nghèo có thể chia làm 3 nhóm như sau:
- Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên - xã hội: Khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lũ, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn, kinh tế chậm phát triển, hậu quả của chiến tranh
- Nhóm nguyên nhân thuộc cơ chế chính sách: Thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm ngư, chính sách giáo dục - đào tạo, y tế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới và đầu tư nguồn lực còn hạn chế
- Nhóm nguyên nhân thuộc về bản thân hộ nghèo: Do chính bản thân hộ nghèo không biết cách làm ăn, không có hoặc thiếu vốn để sản xuất, gia đình đông con, ít người làm, do chi tiêu lãng phí bừa bãi, lười lao động, mắc tệ nạn xã hội như:
Cờ bạc, rượu chè, nghiện hút Ngoài ra còn một bộ phận không nhỏ người nghèo vẫn còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước nên chưa chủ động vươn lên để thoát nghèo
Để xác định các biện pháp phù hợp trong công cuộc XĐGN, mỗi địa phương phải xác định rõ đâu là nguyên nhân chính và những thuận lợi, khó khăn của địa phương mình
2.2.2.3 Chính sách XĐGN của Việt Nam
Thực hiện Nghị quyết 30A của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X về công tác XĐGN từ tỉnh, xã nhiều nơi đã thực hiện đạt được kết quả tốt, cơ quan
Trang 28nghiên cứu đã quan tâm nhiều vấn đề này và đang tích cực kiểm tra, phân tích đánh giá và kiến nghị ngân hàng người nghèo Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo một số vấn
đề chính sách XĐGN cụ thể là:
+ Vấn đề ruộng đất, không để nông dân mất ruộng canh tác quanh năm phải sống bằng nghề thuê mướn thực hiện chính sách hạ điền ở các vùng đồng bằng, trung du, miền núi (với mức hạ điền khác nhau) Có chính sách hỗ trợ những hộ nghèo để những hộ nghèo đã nhượng đất có thể chuộc lại đất, thuê đất, thuê nông dân lao động chuyển nhượng cho những người lao động thiếu đất canh tác khai hoang, phục hoá thêm đất, nơi còn khai hoang thiếu đất canh tác vận dụng và giúp
đỡ các hộ nông dân nghèo đến các vùng kinh tế mới hoặc hỗ trợ đào tạo nghề để mở mang ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, tạo điều kiện cho họ có việc làm thu nhập đảm bảo đời sống Phát triển kinh tế trang trại trung du, miền núi, khuyến khích phát triển rừng đảm bảo cho người dân sống được bằng nghề rừng
+ Tập trung nguồn lực từ ngân sách Nhà nước cho công tác XĐGN Mở rộng các hình thức tín dụng cho các hộ vay vốn với cơ chế phù hợp, thủ tục đơn giản Có chính sách và cơ chế khôi phục, phát triển các ngành nghề truyền thống
ở nông thôn mở mang tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để tạo thêm việc làm và thu nhập cho các hộ nghèo
+ Tăng cường hoạt động của thương nghiệp quốc doanh ở thị trường nông thôn, đẩy mạnh xây dựng kinh tế hợp tác và hợp tác xã, thực hiện liên minh kinh tế giữa nông thôn với Nhà nước
+ Từng bước thực hiện chính sách, miễn giảm phí khám chữa bệnh cho người nghèo, từng bước mở rộng hình thức cấp miễn phí thẻ BHYT Nhà nước và tư nhân tham gia khám chữa bệnh không lấy tiền người nghèo
+ Nhà nước (Trung ương và địa phương) hỗ trợ ngân sách, vận động các tỉnh
và thành phố, các vùng giàu khá hơn, các doanh nghiệp hỗ trợ kinh phí để xây dựng các công trình công cộng như điện nước, trường học, trạm xá, đường giao thông, chợ cho các địa phương nghèo
Trang 292.2.2.4 Công tác xóa đói giảm nghèo của đồng bào dân tộc thiểu số
Để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số thì công tác xoá đói giảm nghèo là một mục tiêu quan trọng có ý nghĩa quyết định trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Đó cũng chính là nền tảng quan trọng để xây dựng thành công nông thôn mới hiện nay
Xuất phát từ mục tiêu đó, Đảng và Nhà nước đã triển khai nhiều chương trình,
dự án ưu tiên đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nổi bật là triển khai Quyết định 134, Chương trình 135, 139, Nghị quyết 30A và nhiều chương trình, dự án khác Bên cạnh những hiệu quả thiết thực mà các chương trình, dự án mang lại cho đời sống vùng đồng bào dân tộc như cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao dân trí… còn tạo động lực quan trọng góp phần XĐGN cho đồng bào các dân tộc thiểu số
Theo nguồn thống kê qua các cuộc khảo sát về mức sống dân cư Việt Nam
2011 cho biết: tỷ lệ hộ nghèo toàn quốc năm 2009 là 12,1% xuống còn 11% năm
2010 Đến cuối năm 2011, tỷ lệ nghèo đói của cả nước giảm xuống còn 15% (theo chuẩn nghèo mới) Hiện nay vùng có đồng bào dân tộc thiểu số có tỷ lệ nghèo giảm nhanh, song so với tỷ lệ chung của cả nước hiện nay vẫn là vùng có tỷ lệ cao cụ thể trong khi tỷ lệ chung của cả nước là 12% còn các vùng khác có tỷ lệ như sau: Vùng Tây Bắc: 25,26%; Vùng Đông Bắc: 10,32%; Vùng Bắc Trung Bộ: 11,12%; Vùng Duyên Hải Miền Trung: 12,73%; Vùng Tây Nguyên: 12,14% Cả nước hiện nay còn có 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% và 3006 xã có tỷ lệ nghèo trên 25%, nơi đây tập trung đông đồng bào dân tộc thiểu số ít người (Bộ LĐ-TB&XH, 2011)
Trang 30PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tình hình sản xuất của nhóm hộ gia đình thông qua điều tra, khảo sát theo phương pháp thống kê, chọn mẫu
- Các nguyên nhân gây nghèo cho hộ nông dân
- Các chính sách xóa đói, giảm nghèo của địa phương
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
3.1.2.1 Phạm vi nội dung: đề tài nghiên cứu các nguyên nhân đói nghèo và đề xuất một số giải pháp xóa đói, giảm nghèo tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
3.1.2.2 Phạm vi về không gian: đề tài nghiên cứu tại thị trấn Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn
3.1.2.3 Phạm vi về thời gian:
- Thời gian thực tập: 01/2015 - 05/ 2015
- Thời gian phản ánh số liệu nghiên cứu: 2012 – 2014
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Sơ lược về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
- Tìm hiểu những điều kiện thuận lợi và khó khăn ở thị trấn Nà Phặc
- Thực trạng phát triển kinh tế tại thị trấn Nà Phặc qua 3 năm (2012 – 2014) + Đánh giá chung về phát triển kinh tế của thị trấn
+ Đánh giá tình hình chung nhóm hộ điều tra
- Tìm hiểu các nguyên nhân gây nghèo đói tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo tại địa phương
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Thu thập thông tin thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các văn bản, báo cáo, tạp chí, các nghị
định, chính sách và các số liệu có liên quan tới tình hình phát triển kinh tế hộ gia
Trang 31đình tại địa phương Qua những số liệu thứ cấp chúng ta sẽ đánh giá được một cách khái quát về tình hình phát triển chung của toàn thị trấn Những gì đã làm được và những gì còn tồn tại để từ đó tìm ra những biện pháp khắc phục những tồn tại dựa trên những thuận lợi của địa phương
- Thu thập số liệu tại chính quyền địa phương, thống kê của UBND thị trấn, huyện, phòng tài nguyên môi trường, phòng nông nghiệp, thu thập từ các báo cáo, tạp chí, tổng hợp từ internet,…
3.3.2 Thu thập thông tin sơ cấp
Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp là phương pháp thu thập thông tin, số liệu chưa được công bố ở bất kỳ tài liệu nào, người thu thập có được thông tin qua tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau như: Tìm hiểu, quan sát trực tiếp, sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn bán cấu trúc
Trong phạm vi đề tài này, để thu thập các thông tin sơ cấp sử dụng một số công cụ sau:
3.3.2.1 Chọn mẫu điều tra
Xóa đói giảm nghèo có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh
tế của một vùng, một quốc gia Mức độ nghèo đói và nguyên nhân gây nghèo ở mỗi khu vực cũng khác nhau Do vậy, để nghiên cứu được các nguyên nhân và đề xuất được các giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo cho người dân một cách chính xác, hiệu quả cần phải lựa chọn những mẫu điều tra một cách khách quan và trung thực
Theo kết quả phân vùng sinh thái và kinh tế thị trấn có gồm 3 tổ dân phố và 22 thôn, bản là Tiểu khu I, II, III, Cốc Sả, Phia Đắng, Phia Chang, Mảy Van, Lùng Nhá, Lũng Lịa, Bản Mạch, Nà Nọi, Công Quản, Nà Khoang, Nà Này, Bó Danh, Nà Pán, Cốc Tào, Bản Cầy, Bản Hùa, Nà Làm, Nà Duồng, Nà Kèng, Nà Tò, Cốc Pái, Khuổi Tinh và chia làm 3 vùng sinh thái: Vùng trũng, vùng đồi núi thấp và vùng núi cao
Ba vùng sinh thái này có sự khác biệt tương đối rõ rệt về điều kiện đất đai, địa hình, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, điều kiện thị trường, cơ sở hạ tầng, trình độ dân trí Do vậy, để đảm bảo tính đại diện, tính ngẫu nhiên của số liệu ta chọn có đầy đủ các vùng sinh thái và cụm kinh tế trong thị trấn
Trang 32Việc chọn thôn nghiên cứu phải đảm bảo theo yêu cầu nghiên cứu và phân tích, đảm bảo các tiêu chuẩn như sau:
+ Đại diện và theo tỷ lệ các thôn trong vùng sinh thái và kinh tế của thị trấn
+ Có quỹ đất nông, lâm nghiệp ở mức trung bình khá so với các thôn khác trong thị trấn
+ Có điều kiện sản xuất, mức độ kinh tế, trình độ dân trí ở mức trung bình trong thị trấn
+ Được phân bố đều ở phía Bắc, Nam, Đông, Tây và vùng trung tâm
+ Có khoảng cách xa, gần khác nhau đến thị trường, đường quốc lộ và trung tâm thị trấn Nà Phặc
Vì vậy sau khi khảo sát chọn 3 thôn, tổ dân phố như sau: Lũng Lịa, Bản Cầy, Tiểu khu I là 3 địa điểm mang những nét đặc trưng đại diện được chọn để tiến hành điều tra Những tiêu chí và kết quả lựa chọn thôn:
- Ở vùng có địa hình đồi núi thấp
- Dân trí khá cao
- Đời sống người dân được cải thiện
- Các hộ chủ yếu là các nông hộ kiêm, nông hộ chuyên, buôn bán
- Dân số đông nhất toàn thị trấn
- Nằm ngay trung tâm thị trấn
- Ở vùng trũng
- Dân trí khá cao
- Đời sống người dân còn khá nhiều khó khăn nhưng đang tùng bước được cải thiện
- Các hộ chủ yếu là cán bộ viên chức, sản xuất kinh doanh,buôn bán, thương mại - dịch vụ
Lấy mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng, với dung lượng mẫu là 60 Được tiến hành như sau:
Trang 33Bảng 3.1: Cơ cấu nhóm hộ điều tra của thị trấn Nà Phặc năm 2014
Tên thôn
Tổng
hộ dân
Tổng
hộ khá
CC (%)
Tổng
hộ
TB
CC (%)
Tổng
hộ cận nghèo
CC (%)
Tổng
hộ nghèo
CC (%)
Bản Cầy 118 18 15,25 65 55,09 13 11,02 22 18,64 Tiểu khu I 165 80 48,48 22 13,34 15 9,09 48 29,09
(Nguồn: UBND thị trấn Nà Phặc)
Theo số liệu của UBND thị trấn Nà Phặc năm 2014 thì thôn Lũng Lịa có tổng số hộ là 79 hộ trong đó số hộ nghèo chiếm tới 69 hộ tương ứng 87,33 %, 10 hộ còn lại đều là các hộ cận nghèo tương ứng 12,67 %.Thôn Bản Cầy có tổng số hộ là
118 hộ trong đó số hộ khá là 18 hộ tương ứng với 15,25 %, hộ trung bình 65 hộ tương ứng với 55,09 %, hộ cận nghèo là 13 hộ chiếm 11,02 % và còn lại 22 hộ nghèo tương ứng với 18,64% Tiểu khu I có tổng số hộ là 165 hộ trong đó số hộ khá
là 80 hộ chiếm 48,48 %, hộ trung bình có 22 hộ chiếm 13,34 %, hộ cận nghèo là 15
hộ chiếm 9,09% còn lại 48 hộ nghèo chiếm 29,09%
Bảng 3.2: Cơ cấu mẫu được chọn để điều tra
Chỉ tiêu
Thôn Lũng Lịa Thôn Bản Cầy Tiểu khu I
SL (hộ)
CC (%)
SL (hộ)
CC (%)
SL (hộ)
CC (%)
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra năm 2015)
Tiến hành điều tra chọn mẫu 3/26 thôn bản và tổ dân phố bao gồm thôn Lũng Lịa, Thôn Bản Cầy và Tiểu khu I, chọn mẫu ngẫu nhiên trong 2 nhóm hộ nghèo và cận nghèo, tổng số mẫu là 60 hộ, mỗi thôn điều tra 20 hộ, trong đó có 10 hộ cận nghèo và 10 hộ nghèo Sau khi chọn thì có số hộ mẫu theo tỷ lệ như sau: Thôn Lũng
Trang 34Lịa chọn 10 hộ cận nghèo chiếm 100% hộ cận nghèo của thôn, 10 hộ nghèo chiếm 14,49% tổng số hộ nghèo của thôn Thôn Bản Cầy chọn 10 hộ cận nghèo chiếm 76,92% tổng số hộ cận nghèo của toàn thôn, chọn 10 hộ nghèo chiếm 45,45% hộ nghèo của thôn Tại Tiểu khu I chọn 10 hộ cận nghèo chiếm 66,77% tổng số hộ cận nghèo của tiểu khu, 10 hộ nghèo chiếm 20,83% tổng số hộ nghèo của toàn tiểu khu
3.3.2.2 Phương pháp phỏng vấn những người cung cấp thông tin chính (key persons)
Phương pháp này được sử dụng để phỏng vấn cán bộ (Về tình hình phát triển chung của toàn thị trấn; những chính sách, thể chế có tác động tới kinh tế thị trấn), trưởng thôn (Nhằm đánh giá được tình hình chung của thôn như: Dân số, đất đai, tình hình sản xuất, khó khăn, thuận lợi của thôn tác động của chính sách tới phát triển kinh tế hộ trong thôn như thế nào?)
3.3.2.3 Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình bằng cách sử dụng bộ phiếu điều tra
Sử dụng đối với việc điều tra hộ gia đình, điều tra 3 nhóm hộ với số phiếu là 60
3.3.2.4 Phương pháp quan sát trực tiếp
Phương pháp này cung cấp các thông tin về hành vi thực cho phép hiểu rõ hơn hành vi được nghiên cứu Phương pháp này sẽ được sử dụng để quan sát trong suốt quá trình điều tra
Mục đích khi sử dụng phương pháp này: Để kiếm chứng thông tin, quan sát các mô hình kinh tế và điều kiện thực tế của hộ
3.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích, so sánh: các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy được thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp thống kê mô tả: các thông tin, số liệu được mô tả liệt kê rõ ràng theo các phương pháp thống kê
3.3.4 Phương pháp xử lý thông tin, số liệu
- Thông tin, số liệu thứ cấp được tổng hợp, phân tích cho phù hợp với các mục tiêu của đề tài
- Tổng hợp, xử lý số liệu bằng các phần mềm chuyên dụng trên microsoft Excel
- Tổng hợp theo từng nội dung nghiên cứu
Trang 35- Xử lý các thông tin định tính: các số liệu thu thập được biểu thị thông qua phương pháp phân tích, tổng hợp
- Xử lý thông tin định lượng: thu thập từ các tài liệu thống kê, báo cáo được thể hiện qua hình vẽ bảng biểu
- Sử dụng một số phương pháp cụ thể trong nghiên cứu thống kê như:
+ Một số công cụ của PRA như biểu đồ, so sánh ghép đôi, phương pháp cho điểm + Các công cụ phụ trợ: các phần mềm ứng dụng microsoft excel,…
3.4 Hệ thống chỉ tiêu dùng trong nghiên cứu đề tài
3.4.1 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất kinh doanh của
hộ nông dân
3.4.1.1 Chỉ tiêu phản ánh trình độ của chủ hộ
- Trình độ học vấn, chuyên môn
- Độ tuổi bình quân, giới tính
3.4.1.2 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh
- Cơ cấu diện tích đất nông nghiệp bình quân/hộ theo từng nhóm hộ
- Vốn sản xuất bình quân/hộ
- Số nhân khẩu bình quân/hộ
- Lao động bình quân/hộ
3.4.1.3 Chỉ tiêu phản ánh các khoản thu và chi của hộ nông dân
- Tổng thu nhập của hộ nông dân
- Thu nhập bình quân/người/tháng
- Tổng chi tiêu trong năm
3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất và công thức tính
- Giá trị sản xuất (GO - Gross output): là toàn bộ của cải vật chất, dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm) GO phản ánh tổng giá trị của cải vật chất hộ thu được
Đối với GO hộ nông dân gồm có:
+ Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất ngành nghề
Trang 36+ Giá trị sản xuất buôn bán, dịch vụ
Công thức: GO = Qi * Pi
Trong đó:
Qi: Số lượng sản phẩm thứ i
Pi: Giá bán sản phẩm thứ i
GO phản ánh tổng giá trị của cải vật chất hộ thu được
- Chi phí trung gian (IC – Intermediate Cost): chi phí trung gian là toàn bộ các khoản chi phí vật chất và dịch vụ thường xuyên được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của từng cá nhân
Công thức tính: IC = Ci
Trong đó:
Ci là khoản chi phí thứ i trong quá trình sản xuất
- Giá trị gia tăng (VA – Value Added): Là chênh lệch giữa GO và IC, phản ánh phần giá trị mới tăng thêm do kết quả hoạt động sản xuất trong một kỳ (thường
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Thị trấn Nà Phặc là thị trấn duy nhất của huyện Ngân Sơn, tuy nhiên các cơ quan của chính quyền huyện đóng tại xã Vân Tùng, tuy vậy Nà Phặc cũng là trọng điểm kinh tế chính trị của Huyện Ngân Sơn, cách thị xã Bắc Kạn 36 km, có tổng diện tích tự nhiên là: 6280.00 ha.Vị trí điạ lý của thị trấn như sau:
- Phía Bắc giáp xã Tùng Hòa của huyện Ngân Sơn;
- Phía Đông giáp xã Vân Tùng, xã Thượng Quan của huyện Ngân Sơn;
- Phía Nam giáp xã Thuần Mang, xã Lãng Ngâm của huyện Ngân Sơn;
- Phía Tây giáp xã Mỹ Phương, xã Chu Hương, xã Hà Hiệu của huyện Ba Bể
Là một thị trấn có nhiều lợi thế để phát triển một nền kinh tế đa dạng với nền tảng
là nông nghiệp, các hoạt động giao lưu buôn bán - dịch vụ Với vị trí thuận lợi có hệ thống giao thông khá đa dạng giao giữa quốc lộ 3 và quốc lộ 279 là tiềm năng của một thị trường rộng lớn về tiêu thụ sản phẩm dịch vụ,
4.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
- Địa hình: Thị trấn Nà Phặc là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của huyện Ngân Sơn, địa hình tương đối bằng phẳng, một số thôn ở vùng đồi núi cao,được bao bọc bởi các dãy núi, diện tích đất tự nhiên chủ yếu là diện tích đồi núi, đất sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ
- Thổ nhưỡng: Theo kết quả thực tế thị trấn Nà Phặc có 2 dạng đất: Đất cát pha và đất thịt, loại đất này phù hợp với các cây trồng như ngô, sắn, lúa nước và các cây màu khác
4.1.1.3 Khí hậu
Nà Phặc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 38- Nhiệt độ trung bình năm thấp 20,70C Sự chênh lệch nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tương đối cao Tháng nóng nhất trong năm là tháng 7 nhiệt độ trung bình là 26,10C, thấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình là 11,9 0C, nhiệt độ tối thấp nhất tuyệt đối là 20C gây giá buốt ảnh hưởng rất lớn đến đời sống nhân dân và cây trồng vật nuôi
- Lượng mưa trung bình năm là 1.248,2 mm, phân bố không đều giữa các tháng trong năm, mưa tập trung vào các tháng 5, 6, 7, 8, vào tháng 11 lượng mưa không đáng kể
- Độ ẩm không khí khá cao 83%, cao nhất vào các tháng 7, 8, 9, 10 từ 84 - 86%, thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 năm sau Nhìn chung độ ẩm không khí trên địa bàn xã không có sự chênh lệch nhiều giữa các tháng trong năm
- Chế độ gió trên địa bàn điều tra xuất hiện hai hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam, tốc độ gió bình quân 1-3m/s, tháng 4 vào giai đoạn chuyển mùa gió thổi cả ngày với vận tốc trung bình từ 2 - 3 m/s, thời kỳ chuyển từ mùa thu sang mùa đông tốc độ gió yếu nhất trong năm
- Bão ít ảnh hưởng đến thị trấn cũng như trên toàn địa bàn huyện Ngân Sơn
vì nằm sâu trong đất liền và được che chắn bởi các dãy núi cao, lượng mưa trong năm không lớn nhưng lại tập trung nên xảy ra tình trạng lũ lụt ở một số vùng
- Độ ẩm không khí bình quân trong năm là 80% Lượng mưa đã ít giữa các tháng trong mùa khô, lượng bốc hơi lại cao nên đất đai bị khô hạn trong các thung lũng, do đó cần lưu ý trong canh tác và bố trí các loại cây trồng chịu hạn trong thời gian này
4.1.1.4 Thủy văn
Hệ thống thủy văn trên địa bàn thị trấn gồm các suối nhánh thuộc hệ thống sông Năng với suối Nà Chúa và các suối nhánh nhỏ khác Nhìn chung, các suối ở đây phần lớn có nước quanh năm Tuy nhiên do địa hình dốc và các suối thường ngắn và lưu vực nhỏ nên về mùa khô lưu lượng hạn chế
4.1.1.5 Tình hình đất đai
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và quan trọng trong sản xuất nông nghiệp,
nó vừa là tư liệu lao động, vừa là đối tượng lao động Do đó đất đai là một trong
Trang 39những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng và từ
đó quyết định đến năng suất cây trồng Vì vậy đất đai cần phải được bảo vệ và sử dụng một cách hợp lý nhằm phát triển bền vững trong tương lai Tình hình sử dụng đất của thị trấn được thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai của thị trấn Nà Phặc qua 3 năm (2012 – 2014)
Chỉ tiêu
Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 So sánh (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
DT (ha)
CC (%)
II Đất lâm nghiệp 4.996.58 79,56 4.987,97 79,43 4.976,29 79,24 99,83 99,76 99,79 III Đất nuôi trồng thủy sản 10,09 0,16 10,09 0,16 10,08 0,16 100 99,90 99,95
IV Đất phi NN 407,34 6,49 421,10 6,70 443,35 7,06 103,79 105,28 104,53 4.1 Đất ở 51,34 0,82 51,30 0,82 51,29 0,82 99,92 99,98 99,95 4.2 Đất chuyên dùng 247,29 3,94 261,09 4,16 283,35 4,51 105,58 108,52 107,05 4.3 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 1,04 0,02 1,04 0,02 1,04 0,02 100 100 100 4.4 Đất sông suối và mặt
nước chuyên dùng 107,67 1,71 107,67 1,71 107,67 1,71 100 100 100
V Đất chưa sử dụng 142,60 2,27 142,60 2,27 142,38 2,27 100 99,84 99,92
5.1 Đất bằng chưa sử dụng 90,27 1,44 90,18 1,43 89,96 1,43 99,90 99,76 99,83 5.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 28,91 0,46 29,00 0,46 29,00 0,46 100,31 100 100,15 5.3 Đất đá không có rừng cây 23,42 0,37 23,42 0,37 23,42 0,37 100 100 100
(Nguồn: UBND thị trấn Nà Phặc)
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn là 6.280,00 ha và không có sự thay đổi qua 3 năm, tuy nhiên thành phần từng loại đất lại có sự thay đổi như sau:
Trang 40Đất sản xuất nông nghiệp giảm xuống qua các năm, giảm cả về diện tích đất hàng năm và lâu năm Năm 2012 diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 723,39 ha đến năm 2014 giảm xuống 707,90 ha giảm 15,49 ha so với năm 2012 Nguyên nhân chính là do người dân trên địa bàn hoạt động sản xuất chủ yếu bằng nông nghiệp, nhưng họ thường bán, bỏ hoang hoặc chuyển sang các loại đất khác
Đất lâm nghiệp và đất nuôi trồng thủy sản cũng giảm qua các năm, nhưng giảm không đáng kể
Đất lâm nghiệp chiếm diện tích khá lớn, chiếm 79,56% trên tổng diện tích của toàn thị trấn, năm 2012 diện tích đất lâm nghiệp là 4.996,58 ha đến năm 2014
đã giảm xuống còn 4.976,29 ha, bình quân chung qua 3 năm giảm 0,21%
Diện tích đất nuôi trồng thủy sản không giảm qua 2 năm 2012 và 2013 là 10,09 ha, đến năm 2014 giảm nhẹ xuống còn 10,08 ha, chiếm 0,16 % tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn trong cả ba năm Bình quân qua ba năm tỷ lệ đất nuôi trồng thủy sản giảm 0,05%
Đất chưa sử dụng của thị trấn ba năm qua có xu hướng giảm về diện tích đất bằng chưa sử dụng và tăng không đáng kể ở diện tích đất đồi chưa sử dụng
Nhìn chung tổng diện tích đất tự nhiên của thị trấn trong ba năm qua không
có sự thay đổi tuy nhiên bên trong đó thì từng loại đất lại có những biến động vì vậy chính quyền địa phương cần phối hợp với người dân để sử dụng đất một cách hiệu quả và hợp lý hơn nữa nhằm mang đến cuộc sống tốt cho người dân trong hiện tại
và bền vững trong tương lai
4.1.2 Khái quát điều kiện kinh tế xã hội trên địa bàn
4.1.2.1 Tình hình dân số, lao động trên địa bàn qua 3 năm (2012 – 2014)
Thị trấn Nà Phặc có 25 thôn, bản, tổ dân phố Với tổng diện tích đất tự nhiên là 6.280,00 ha, toàn thị trấn có 1.613 hộ với 6517 nhân khẩu, trong đó nữ là 3434 người, chiếm 52,69%, nam 3083 người, chiếm 47,31% dân số, gồm 7 dân tộc anh em cùng sinh sống là Kinh, Tày, Nùng, Dao, H’Mông, Sán Chí, Hoa
Cơ cấu dân số: Mật độ dân số trung bình: 180 người/km2 Tỷ lệ tăng dân số hàng năm của thị trấn là 0,65% Vùng trung tâm thị trấn, vùng ven khu trung tâm là nơi