Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn.
Trang 1ĐINH THỊ XUYÊN
Tên đề ài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH TRỒNG CÂY THUỐC LÁ TẠI XÃ NÀ PHẶC - HUYỆN NGÂN SƠN - TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn Khóa học : 2011- 2015
Thái Nguyên, năm 2015 5
Trang 2ĐINH THỊ XUYÊN
Tên đề ài:
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ MÔ HÌNH TRỒNG CÂY THUỐC LÁ TẠI XÃ NÀ PHẶC - HUYỆN NGÂN SƠN - TỈNH BẮC KẠN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & Phát triển nông thôn
Giáo viên hướng dẫn : TS Bùi Đình Hoà
Thái Nguyên, năm 2015 5
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực Các loại số liệu, bảng biểu được kế thừa, điều tra dưới sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền chứng nhận
Thái Nguyên, ngày 05 tháng 06 năm 2015
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học!
TS Bùi Đình Hòa Đinh Thị Xuyên
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký, họ và tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tiễn” của các trường chuyên nghiệp nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp là bước quan trọng của sinh viên cuối khóa Đây là giai đoạn rất quan trọng nhằm củng cố kiến thức đã học trên ghế nhà trường đồng thời nâng cao kỹ năng thực hành
Được sự nhất trí của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban chủ nhiệm khoa
Kinh tế & Phát triển nông thôn, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả
mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”
Trong thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn và đặc biệt là sự giúp đỡ nhiệt tình của giảng viên TS Bùi Đình Hòa, cùng sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ tại Ủy ban Nhân dân xã Nà Phặc Tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo cùng toàn thể các cán bộ UBND xã Nà Phặc
Với kiến thức và thời gian có hạn, do đó đề tài của tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, năm 2015
Sinh viên
Đinh Thị Xuyên
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình dân số và lao động xã Nà Phặc giai đoạn 2012 – 2014 29
Bảng 4.2: Hiện trạng cơ sở hạ tầng trên địa bàn xã Nà Phặc năm 2014 31
Bảng 4.4 Tình hình trồng trọt của xã Nà phặc 33
Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi của xã Nà Phặc 34
Bảng 4.6 Diện tích, năng suất, sản lượng thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Nà Phặc qua 3 năm 2012 – 2014 35
Hình 4.4 : So sánh GO/IC giữa cây thuốc lá với cây ngô và lạc tại xã Nà Phặc năm 2014 43
Hình 4.5: So sánh GO/CLĐ giữa cây thuốc lá với cây ngô và lạc tại xã Nà Phặc năm 2014 44
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Diện tích sản xuất thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Nà Phặc qua 3
năm 2012 – 2014 36Hình 4.2: Năng suất thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Nà Phặc qua 3 năm 2012 –
2014 37Hình 4.3: Sản lượng thuốc lá nguyên liệu tại xã Nà Phặc qua 3 năm 2012 – 2014 37
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
1.4 Những đóng góp mới 3
1.5 Bố cục của khóa luận 3
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Khái niệm mô hình 4
2.1.2 Vai trò của mô hình 5
2.1.3 Đánh giá mô hình 5
2.1.4 Hiệu quả 7
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 13
2.2.1 Tình hình sản xuất và trồng thuốc lá trên thế giới 13
2.2.2 Tình hình sản xuất thuốc lá ở nước ta 18
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 22
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 22
3.2 Nội dung nghiên cứu 22
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp thống kê 22
Trang 93.3.2 Phương pháp chuyên gia 24
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 24
3.4.1 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế 24
3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ 25
3.4.3.Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế khi trồng cây thuốc lá 25
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 26
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 26
4.1.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 28
4.2 Thực trạng sản xuất thuốc lá nguyên liệu tại địa bàn xã Nà Phặc 35
4.2.1 Diện tích sản xuất thuốc lá tại địa bàn xã Nà Phặc 36
4.2.2 Năng suất thuốc lá trên địa bàn xã Nà Phặc qua 3 năm 2012 – 2014 36
4.2.3 Sản lượng thuốc lá trên địa bàn xã Nà Phặc qua 3 năm 2012 – 2014 37
4.3 Hiệu quả sản xuất thuốc lá nguyên liệu trên địa bàn xã Nà Phặc 38
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 38
4.3.2 So sánh chỉ tiêu hiệu quả kinh tế giữa sản xuất thuốc lá với cây ngô, cây lạc 41
4.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất thuốc lá nguyên liệu tại xã Nà Phặc 47
4.5 Tình hình tiêu thụ thuốc lá tại địa bàn xã Nà Phặc 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn về nông nghiệp, nông dân và nông thôn Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) ban hành Nghị quyết về
“nông nghiệp, nông dân, nông thôn” đã đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vât nuôi đáp ứng nhu cầu thị trường Cơ cấu kinh tế của ngành nông nghiệp có sự thay đổi rõ rệt, những sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều và hoàn thiện hơn, để đáp ứng đủ
về số lượng và chất lượng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Thuốc lá nguyên liệu là một là một loại sản phẩm được tạo ra trong quá trình sản xuất nông nghiệp nó không những cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy sản xuất thuốc lá điếu trong nước mà còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, góp phần tăng tích lũy cho nền kinh tế quốc dân
Cây thuốc lá là cây trồng ngắn ngày, có khả năng đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân, nó còn có khả năng thích nghi tương đối rộng với điều kiện sinh thái của vùng núi phía Bắc Do vậy một số tỉnh miền núi như Bắc Kạn, Cao Bằng,…cây thuốc lá thực sự đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng theo định hướng phát triển nông sản hàng hóa, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân và đổi mới vùng nguyên liệu thuốc lá.[5]
Ngân Sơn là một huyện vùng cao miền núi nằm ở phía Bắc của tỉnh Bắc Kạn, cách thị xã khoảng 40km Trên địa bàn huyện Ngân Sơn có hai tuyến đường giao thông quan trọng là quốc lộ 3 và quốc lộ 279 chạy qua Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng và tỉnh Thái Nguyên, phía Tây giáp huyện Ba Bể, phía Nam giáp huyện Bạch Thông và huyên Na Rì, phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng
Thuốc lá đã trở thành cây trồng có tiềm lực kinh tế của xã Nà phặc trong một
số năm gần đây Việc sản xuất thuốc lá nguyên liệu đã tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân tại địa phương, nó đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn vùng
Trang 11nguyên liệu thuốc lá Để thấy rõ được hiệu quả mà cây thuốc lá đem lại cho người
dân địa phương tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả mô hình trồng
cây thuốc lá tại xã Nà Phặc, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc trên cơ sở đó đưa ra định hướng nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất thuốc lá địa bàn xã
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Nghiên cứu thực trạng sản xuất thuốc lá nguyên liệu tại địa bàn xã Nà Phặc
- Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình trồng cây thuốc lá và so sánh hiệu quả kinh tế của mô hình trồng cây thuốc lá với các cây trồng khác tại địa phương
- Nghiên cứu tác động của mô hình đến các vấn đề xã hội, môi trường
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và nâng cao hiệu quả mô hình trồng cây thuốc lá trên địa bàn xã
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin, xử lý số liệu và viết báo cáo
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
- Giúp người dân thấy được hiệu quả kinh tế của cây thuốc lá
- Giúp các nhà lãnh đạo địa phương có căn cứ để xây dựng chính sách phát triển cây thuốc lá tại địa phương nói riêng và nông sản phẩm hàng hóa trên địa bàn huyện nói chung
- Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu
Trang 121.4 Những đóng góp mới
Trên cơ sở các số liệu thu thập được, qua quá trình tính toán, so sánh Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp một phần vào việc đánh giá sát thực hơn về quy trình trồng thuốc lá nguyên liệu tại địa phương,giúp cho người trồng cây thuốc lá thấy được hiệu quả kinh tế của cây thuốc lá đem lại so với các cây trồng khác và từ đó có cách thức sản xuất hợp lý Là căn cứ cho các nhà lãnh đạo địa phương đưa ra được phương hướng, chính sách phát triển cây thuốc lá phù hợp Đề tài còn giúp cho cán
bộ khuyến nông có căn cứ để khuyến cáo các hộ nông dân sản xuất thuốc lá
1.5 Bố cục của khóa luận
Đề tài được chia làm 5 phần:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu
Phần 5: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của mô hình trồng cây thuốc lá tại xã Nà Phặc
Trang 13PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm mô hình
Mô hình là một trong những phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi đặc biệt trong nghiên cứu khoa học
Theo cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan điểm, nội dung và cách hiểu riêng
Góc độ tiếp cận về mặt vật lí học thì mô hình cùng hình dạng nhưng là thu nhỏ lại Khi tiếp cận để nghiên cứu thì coi mô hình là sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật để trình bày và nghiên cứu.[9]
Khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày đơn giản
về một vấn đề phức tạp, giúp cho ta nhận biết dễ dàng đối tượng nghiên cứu.[4]
Mô hình còn được coi là hình ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu và còn là kiểu mẫu về một hệ thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế.[11]
Trong thực tế để khái quát các sự vật, hiện tượng, các quá trình, các mối quan
hệ hay ý tưởng nào đó người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình Có nhiều loại
mô hình khác nhau, mỗi loại mô hình chỉ phù hợp cho một loại điều kiện sinh thái hay sản xuất nhất định nên không thể có một mô hình sản xuất chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác nhau
Do đó ở mỗi góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu riêng, tùy thuộc vào quan điểm và ý tưởng của người nghiên cứu mà mô hình được sử dụng để mô phỏng và trình bày là khác nhau Song khi sử dụng mô hình để mô phỏng đối tượng nghiên cứu, người ta thường có chung một quan điểm mà có thể thống nhất
đó là: Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu, nó phản ánh những đặc trưng cơ bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng
nghiên cứu.[6]
Trang 142.1.2 Vai trò của mô hình
Mô hình là công cụ nghiên cứu khoa học, phương pháp mô hình hóa là nghiên cứu hệ thống Nó giúp cho các nhà khoa học hiểu biết và đánh giá tối ưu hóa hệ thống Nhờ các mô hình ta có thể kiểm tra lại sự đúng đắn của các số liệu quan sát được và các giả định rút ra Nó giúp ta hiểu sâu hơn các hệ thống phức tạp Và mục tiêu khác của mô hình là giúp ta lựa chọn quyết định tốt nhất về quản lí hệ thống và giúp ta chọn phương pháp tốt nhất để điều khiển hệ thống
Việc thể hiện mô hình giúp cho nhà khoa học cùng nông dân có thể đánh giá được sự phù hợp và khả năng nhân rộng của mô hình cây trồng, vật nuôi tại khu vực nào đó Từ đó đưa ra quyết định tốt nhất đem lại mục đích tối đa cho người dân, phát huy những tiềm năng mà người dân đã có
2.1.3 Đánh giá mô hình
2.1.3.1 Khái niệm đánh giá
- Đánh giá là việc nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện công việc, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của sự việc trong mối quan hệ nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu
- Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hỗ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được
- Đánh giá để khẳng định sự thành công hay thất bại của các hoạt động khuyến nông so với kế hoạch ban đầu
- Trong đánh giá dự án người ta có thể hiểu như sau:
+ Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng định: Liệu dự án có đạt được các kết quả và mức độ dự án đạt được so với mục tiêu của dự án thông qua các hoạt động đã chỉ ra trong tài liệu dự án
+ Đánh giá sử dụng các phương pháp nghiên cứu để điều tra một cách có hệ thống các kết quả và hiệu quả của dự án Nó cũng điều tra những vấn đề có thể làm chậm tiến độ thực hiện dự án nếu như các vấn đề này không được giải quyết kịp thời + Đánh giá yêu cầu phải lập kế hoạch chi tiết và có chiến lược lấy mẫu điều tra theo phương pháp thống kê
Trang 15+ Việc đánh giá được tiến hành đo lường định kỳ theo giai đoạn
+ Việc đánh giá tập trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác động
2.1.3.2 Các loại đánh giá
Đánh giá tiền khả thi
Là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án để xem xét hoạt động hay dự
án có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện, tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của hoạt động hay dự án để làm căn cứ cho phê duyệt cho dự án hay hoạt động có đem vào thực hiện không
Đánh giá thực hiện: Loại đánh giá này thường bao gồm các loại sau:
- Đánh giá định kỳ: Là đánh giá trong giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn
bộ công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định Nhìn chung đánh giá định kỳ thường dùng cho các dự án dài hạn
- Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá khi kết thúc dự án hay hoạt động Đây là đánh giá toàn diện tất cả các hoạt động và kết quả của nó Mục đích của đánh giá cuối kỳ
là nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện dự án
- Đánh giá tiến độ thực thi: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai các hoạt động có đúng thời gian dự định không
- Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: Là xem xét việc sử dụng kinh phí chi tiêu có đúng theo nguyên tắc đã quy định không để có những điều chỉnh phù hợp và rút ra kinh nghiệm
- Đánh giá kỹ thuật dự án: Là xem xét lại những kỹ thuật đưa vào có phải mới không? Quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đã đặt ra không
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của môi trường: Đây là một vấn đề mà bất kỳ một dự án nào khi tiến hành đều phải xem xét và đánh giá
- Đánh giá khả năng nhân rộng: Là xem xét kết quả dự án có thể áp dụng rộng rãi không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì?
Trang 16 Tổng kết
- Khi một dự án hay một hoạt động kết thúc người ta thường tổ chức tổng kết
để đánh giá công việc đã được hoàn thiện hay chưa hoàn thiện, thành công hay thất bại để rút ra kinh nghiệm và đưa ra hướng giải quyết
- Có những mục tiêu kế hoạch cụ thể cho giai đoạn kế tiếp
2.1.3.3 Tiêu chí đánh giá
Khái niệm tiêu chí đánh giá
Tiêu chí như một hệ thống các chỉ tiêu, chỉ số có thể định lượng được dùng để đánh giá hay phân loại một dự án hay một hoạt động nào đó
Các đặc điểm của chỉ tiêu đánh giá
- Đối với các chỉ tiêu mang tính định tính: Là các chỉ tiêu không thể đo đếm được Nhóm chỉ tiêu này thường phản ánh chất lượng dựa trên định tính nhiều hơn: Cây sinh trưởng chậm hay nhanh, màu quả đẹp hay xấu Việc xác định các chỉ tiêu này thường thông qua phỏng vấn, quan sát và nhận định của những người tham gia quan sát và người dân
- Đối với các chỉ tiêu đánh giá mang tính định lượng: Là các chỉ tiêu đo đếm được cụ thể, các chỉ tiêu này thường được sử dụng để kiểm tra tiến độ thực hiện công việc Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra phỏng vấn…cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng
và trên hiện trường: Sự sinh trưởng của cây trồng, năng suất cây trồng,…
Các loại tiêu chí dùng cho đánh giá:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động khuyến nông theo mục tiêu đã
đề ra: Năng suất, diện tích, cơ cấu, vốn sử dụng
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình hay hoạt động khuyến nông: Tổng thu, tổng chi, hiệu quả lao động, hiệu quả vốn
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của dự án hay hoạt động khuyến nông đến đời sống kinh tế, văn hóa xã hội, môi trường
2.1.4 Hiệu quả
Hiệu quả là khái niệm chung dùng để chỉ kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: Hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường…
Trang 172.1.4.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh Nó là chỉ tiêu tương đối được biểu hiện bằng kết quả sản xuất so với chi phí đạt được gọi là chỉ tiêu hiệu quả thuận Ngược lại, chi phí sản xuất so với kết quả sản xuất gọi là chỉ tiêu hiệu quả nghịch Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất gọi là chỉ tiêu năng suất
Một số công thức tính hiệu quả kinh tế
Công thức 1: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỷ số giữa giá trị kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
H = Q/C
Trong đó:
H: Hiệu quả kinh tế
Q: Kết quả thu được
so sánh cả về số tương đối và số tuyệt đối
2.1.4.2 Ý nghĩa của chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Hàng ngày chúng ta thường nói “Phấn đấu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả”, đó chính là việc nâng cao hiệu quả kinh tế, là sử dụng hợp lý hơn các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, với chi phí không đổi nhưng tạo ra được nhiều kết quả hơn Vậy phấn đấu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là việc làm giảm giá thành, tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 18Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của sự tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của người sản xuất trong từng thời kỳ
2.1.4.3 Bản chất của hiệu quả kinh tế
Theo quan điểm của Mác thì bản chất hiệu quả kinh tế xuất phát từ yêu cầu của sản xuất và phát triển kinh tế xã hội Đó là sự đáp ứng ngày càng cao nhu cầu vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong xã hội Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội với những đặc trưng phức tạp nên việc xác định và so sánh hiệu quả kinh tế là vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn và mang tính tương đối Hiệu quả
là chỉ tiêu phản ánh có ý nghĩa khác nhau với từng loại nông hộ Đối với những hộ nông dân nghèo, đặc biệt là vùng kinh tế tự cung tự cấp thì việc tạo ra nhiều sản phẩm là quan trọng Nhưng khi đi vào hạch toán kinh tế trong điều kiện lấy công làm lãi thì người nông dân chú ý tới thu nhập Trong điều kiện thuê, mướn lao động thì thu nhập là mục tiêu cuối cùng và đó là vấn đề hiệu quả
Trong nền sản xuất thị trường, mục tiêu của người sản xuất là tìm kiếm thu nhập tối đa trong điều kiện nguồn lực hạn chế Do đó HQKT liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất Trong quá trình sản xuất kinh doanh việc xác định yếu tố đầu vào và đầu ra sẽ có một số vấn đề sau:
+ Đối với các yếu tố đầu vào:
- Các tư liệu tham gia nhiều lần vào quá trình sản xuất không đồng đều trong nhiều năm, có các loại rất khó xác định giá trị giá trị đào thải và chi phí sửa chữa nên việc khấu hao và phân bố chi phí để tính toán các chỉ tiêu hiệu quả chỉ có tính chất tương đối
- Sự biến đổi giá cả thị trường gây trở ngại cho việc xác định bao gồm cả chi phí biến đổi và chi phí khấu hao tài sản cố định
- Một yếu tố đầu vào quan trọng cần phải hạch toán nhưng thực tế không thể tính toán cụ thể: Chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng, thông tin giáo dục, tuyên truyền khuyến cáo
- Các yếu tố tự nhiên kể cả thuận lợi, khó khăn cũng tác động quan trọng tới quá trình sản xuất Tuy nhiên tác động của nhân tố này chưa có phương pháp xác định chuẩn xác
Trang 19+ Đối với các yếu tố đầu ra:
Kết quả đạt được về mặt vật chất có thể lượng hóa được so sánh, nhưng cũng
có yếu tố không thể lượng hóa được như vấn đề bảo vệ môi trường sinh thái, tái sản xuất kỹ thuật của doanh nghiệp, khả năng cạnh tranh,…
HQKT với tư cách là một phạm trù kinh tế khách quan, nó lại không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất xã hội Mục đích cuối cùng của sản xuất xã hội là đáp ứng yêu cầu vật chất, văn hóa và tinh thần cho xã hội Vì vậy khi nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế không chỉ dừng lại ở mức độ dùng để đánh giá mà còn thông qua đó để tìm
ra các giải pháp phát triển sản xuất ở trình độ cao hơn
Như vậy HQKT phản ánh trình độ thực hiện các nhu cầu của xã hội Việc nghiên cứu HQKT không những để đánh giá mà còn là cơ sở để tìm ra các giải pháp phát triển sản xuất với trình độ cao hơn.[2]
2.1.4.4 Hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất quan trọng, sản phẩm của ngành nông nghiệp không có ngành nào có thể thay thế được Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cây trồng, vật nuôi chúng là những cơ thể sống chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Vì vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp có sự khác biệt so với các ngành sản xuất khác
Sản xuất nông nghiệp bị chi phối bởi nhiều quy luật: Quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật hiệu suất giảm dần,…trong đó, quy luật hiệu suất giảm dần là một yếu tố ràng buộc lớn tới vấn đề hiệu quả sản xuất nông nghiệp Quy luật này biểu hiện mối quan hệ của năng suất cây trồng với mức đầu tư tương ứng Năng suất tăng dần theo mức tăng đầu tư và đến mức đầu tư cố định nào đó năng suất còn tăng nữa đó là mức đầu tư tối ưu Nhưng nếu tiếp tục tăng đầu tư thêm nữa thì năng suất không những không tăng mà còn có xu hướng giảm Điều này có
ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra các định mức kỹ thuật của các nhà quản trị và việc thực hiện đầu tư của người sản xuất để nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất Nhưng bên cạnh đó cũng phải chú ý tới việc phát triển bền vững bảo vệ đất đai, bảo vệ môi trường lâu dài để duy trì năng suất ổn định.[5]
Trang 202.1.4.5 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh, của bất kỳ mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo ra việc làm thường xuyên, tạo cơ hội để người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng nguồn thu nhập Không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất lẫn tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng, dân chủ văn minh.[6]
2.1.4.6 Hiệu quả môi trường
Hiệu quả môi trường trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng bền vững Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho các thế hệ tương lai.[6]
2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu
Trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu nói riêng, hiệu quả kinh tế của sản xuất phụ thuộc vào rất nhiều các nhân tố như vốn, giá cả thị trường, thị trường tiêu thụ, người lao động, chính sách, tập quán canh tác, khả năng ứng dụng khoa học kỹ thuật và các yếu tố tự nhiên
- Kỹ thuật chăm sóc: Đây là một khâu không thể thiếu trong quá trình sản xuất nếu muốn đạt năng suất cao Trong quá trình chăm sóc phải cung cấp đầy đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây trồng
Trang 21- Phòng trừ sâu bệnh: Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân làm giảm năng suất cây trồng Ở cây thuốc lá tình hình sâu bệnh rất phức tạp, với từng giai đoạn khác nhau thì có những bệnh khác nhau Trong quá trình sản xuất cần quan tâm tới đồng ruộng để phát hiện kịp thời các loại bệnh Từ đó có biện pháp tiêu diệt ngay khi chúng mới xuất hiện Phòng chống sâu bệnh kịp thời, hữu hiệu sẽ giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn và đem lại năng suất, chất lượng thuốc lá tốt hơn
- Thu hoạch và sơ chế: Đây là khâu cuối cùng trong sản xuất thuốc lá nguyên liệu, nó ảnh hưởng đến phẩm chất và sản lượng thuốc lá Nếu kỹ thuật sấy thuốc không được tốt phẩm chất thuốc lá sẽ kém từ đó giá thành sản phẩm sẽ giảm
2.1.5.2 Nhân tố về kinh tế
- Quy mô sản xuất: Các nông hộ khác nhau có diện tích đất canh tác khác nhau Diện tích càng lớn thì mọi công việc như tổ chức, chăm sóc, thu hoạch, chi phí cũng được tiết kiệm hơn Do vậy quy mô sản xuất có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả kinh tế
- Thị trường: Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất thuốc
lá Trên thực tế do bản chất của người nông dân vốn rất thực dụng do đó nếu vụ trước được mùa thì lập tức vụ sau người nông dân sẽ đầu tư vào sản xuất nhiều hơn
Vì vậy vấn đề đặt ra là khi có sản lượng cao cần mở rộng thị trường tiêu thụ làm sao cho sản xuất ổn định và phát triển để người sản xuất đảm bảo chi phí cho quá trình sản xuất
- Giá cả: Trong nền kinh tế thị trường luôn thay đổi đã ảnh hưởng đến kết quả
và hiệu quả kinh tế cây trồng Tác động của thị trường đến sản xuất, kinh doanh trước hết là thị trường đầu ra chưa ổn định đối với các sản phẩm nông nghiệp Song song với đó thị trường đầu vào luôn có sự thay đổi về giá cả nên có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế của cây trồng Đó là các yếu tố đầu vào như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật,…
- Vốn: Vốn trong sản xuất nông nghiệp là toàn bộ tiền đầu tư, mua hoặc thuê các yếu tố nguồn lực trong sản xuất nông nghiệp Vốn trong sản xuất nông nghiệp cũng được chia thành vốn cố định và vốn lưu động
Trang 22+ Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền giá trị vào tài sản cố định
(TSCĐ: Tư liệu lao động có giá trị lớn, sử dụng trong thời gian dài nhưng vẫn nguyên hình thái ban đầu và giá trị của nó được chuyển dần sản xuất theo mức độ hao mòn Ví dụ: Máy móc nông nghiệp, nhà kho, sân phơi,…)
+ Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng giá trị đầu tư vào tài sản lưu động
(TSLĐ: Là tư liệu có giá trị nhỏ , được sử dụng trong một thời gian ngắn, sau chu kỳ sản xuất nó mất đi hoàn toàn hình thái ban đầu và chuyển toàn bộ giá trị sản xuất ra Ví dụ: Phân bón, thuốc BVTV, nguyên vật liệu,…)
2.1.5.3 Điều kiện tự nhiên
Khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng nhất của điều kiện sinh thái có ảnh hưởng lớn nhất và thường xuyên nhất tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây thuốc lá Cây thuốc lá có xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên điều kiện khí hậu nước ta thuận lợi cho cây thuốc lá sinh trưởng và phát triển Trên đồng ruộng cây thuốc lá chịu ảnh hưởng tổng hợp của các điều kiện khác nhau, trong đó yếu tố đất đai có ảnh hưởng rõ rệt nhất Các yếu tố khác như ánh sáng, nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng và phát triển của cây thuốc lá Năm nào điều kiện khí hậu thuận lợi thì năm ấy cây thuốc lá cho năng suất cao và ngược lại Vì vậy có thể nói yếu tố thời tiết, khí hậu mang tính chất quyết định đến năng suất thuốc lá.[5]
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình sản xuất và trồng thuốc lá trên thế giới
Theo ước tính hàng năm tổng sản lượng thuốc lá trên thế giới khoảng 6,3 – 8,3 triệu tấn, khoảng 3,5 – 4,5 thuốc lá Burley, trên 400 ngàn tấn thuốc lá Oriental, còn lại là các loại khác
Về nguồn gốc, người ta cho rằng loài thuốc lá Nicotiana tabacum xuất hiện do lai ngẫu nhiên và sau đó được con người trồng trọt, chọn lọc và đến nay đã hình thành nên nhiều chủng loại thuốc lá nhý: Vàng sấy, Oriental, burley,…nhýng tất cả vẫn cùng một loài và có thể dễ dàng lai chéo
Thuốc lá được đưa vào Châu Âu vào khoảng năm 1496 – 1498 do nhà truyền đạo người Tây Ba Nha là Roman Pano mang từ châu Mỹ về, Andre Teve mang hạt
Trang 23từ Braxin về trồng ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha năm 1556; Petro Valeski đã mang hạt thuốc lá từ Anh về trồng ở Nga năm 1697; Vua Sultoian cho trồng thuốc
lá ở Bugaria năm 1687…
+ Ngành sản xuất thuốc lá nguyên liệu của một số nước trên thế giới
Trung Quốc: Là nước sản xuất thuốc lá nguyên liệu lớn nhất thế giới Trong những năm gần đây, sản lượng nguyên liệu bình quân đạt trên 2,3 triệu tấn/năm Thuốc lá nguyên liệu được trồng tập trung ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc: Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, An Huy,…Hiện nay, Trung Quốc có khoảng 300 triệu người nghiện thuốc lá và tiêu thụ được 1.800 tỷ điếu/năm Ngành sản xuất thuốc lá có liên quan đến số công nhân làm việc trong nhà máy thuốc lá và
10 triệu nông dân trồng thuốc lá
Để có thể quản lý ngành thuốc lá từ Trung ương đến địa phương, năm 1981 chính phủ Trung Quốc đã ban hành một số quy định về quản lý ngành thuốc lá, tháng 1/1982 chính phủ đã thành lập tổng công ty thuốc lá Trung Quốc và tháng 1/1984 thành lập cuc độc quyền thuốc lá nhà nước Cục độc quyền thuốc lá Nhà nước là đơn vị hành chính quản lý ngành thuốc lá, trực thuốc quốc vụ viện Trung Quốc Cơ cấu tổ chức quản lý của cục độc quyền thuốc lá trải dài theo chiều dọc từ Trung ương đến các tỉnh, từ Tỉnh đến châu và từ khu đến huyện, đồng thời có sự phân cấp về quản lý giữa cục độc quyền các cấp Năm 1991 – 1992, Chính phủ Trung Quốc đã tiến hành soạn thảo và ban hành luật độc quyền thuốc lá Luật độc quyền thuốc lá nhằm mục đích kiểm soát và bảo vệ ngành thuốc lá Nhà nước quản
lý ngành thuốc lá theo luật độc quyền từ khâu sản xuất, kinh doanh, tiêu thụ sản phẩm đến xuất khẩu phải tuân thủ theo quy định của luật và thể hiện ở điểm chủ yếu sau: Quản lý, lãnh đạo thống nhất; quản lý theo chiều dọc và chiều ngang, trong đó lấy quản lý dọc theo chuyên ngành làm chủ đạo; chuyên doanh, chuyên bán
Kể từ khi Trung Quốc thực hiện luật độc quyền thuốc lá và điều lệ thực thi đi kèm cho đến nay ngành thuốc lá Trung Quốc đã có sự phát triển vượt bậc
Cơ chế quản lý thuốc lá của Trung Quốc là cơ chế quản lý đặc biệt, mang màu sắc hành chính, thể hiện ở 3 đặc trưng sau:
Trang 24- Kế hoạch: Ngành thuốc lá Trung Quốc có sự kế hoạch hóa và chuyên môn hóa cao, thực hiện lập kế hoạch từ khâu trồng nguyên liệu, sấy lá, sản xuất sản phẩm thuốc điếu, kinh doanh và xuất nhập khẩu Hàng năm cục độc quyền Nhà nước Trung Quốc xem xét, nghiên cứu nhu cầu thị trường, chỉ đạo cục độc quyền các địa phương xây dựng kế hoạch sản xuất – kinh doanh, có căn cứ điều kiện thực
tế của mỗi tỉnh Sau đó cuc độc quyền Trung ương tổng hợp thành kế hoạch Nhà nước xem xét phê duyệt; sau khi tiến hành thẩm định trên cơ sở nghiên cứu đề nghị của cục độc quyền Nhà nước, ủy ban kế hoạch nhà nước sẽ phê duyệt kế hoạch và giao kế hoạch cho các tỉnh Căn cứ vào kế hoạch được giao, các đơn vị triển khai trồng nguyên liệu và sản xuất thuốc lá điếu và chỉ được sản xuất theo kế hoạch sản xuất được giao Tuy nhiên cũng có điều chỉnh kế hoạch tùy vào tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện kế hoạch Mỗi nhà máy sản xuất thuốc lá điếu được giao cho sản xuất vài nhãn thuốc lá nhất định, trường hợp phát triển sản phẩm mới thì phải báo cáo cho cục độc quyền
- Quản lý có giấy phép: Theo luật độc quyền Trung Quốc tất cả 9 loại sản phẩm gồm thuốc lá điếu, thuốc lá xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lá sấy lại, thuốc lá, giấy vấn thuốc lá đầu lọc, sợi làm đầu lọc, thiết bị chuyên dùng trong ngành sản xuất thuốc lá đều phải có giấy phép sản xuất, kinh doanh
- Quản lý về thuế và giá cả: Trung Quốc đã thực hiện chính sách đánh thuế cao để quản lý giá nguyên liệu làm cơ sở cho việc mua bán sẽ do ủy ban vật giá nhà nước quy định, trên cơ sở đề nghị của cục độc quyền thuốc lá Trung Quốc, giá thu mua sẽ quy định cho từng vùng và từng cấp loại
Mỹ: Là nước có sản lượng thuốc lá đứng sau Trung Quốc, đồng thời cũng
là nước xuất khẩu nhiên liệu đứng hàng đầu thế giới Hiện nay, 25% số dân Mỹ nghiện thuốc lá Thuốc lá có chất lượng tốt đều tập trung ở Mỹ hoặc những giống
có nguồn gốc từ Mỹ Việc sản xuất thuốc lá nguyên liệu đã được cơ giới hóa và tự động hóa hoàn chỉnh
Ấn Độ: Trong số 97 nước sản xuất nguyên liệu thuốc lá trên thế giới, Ấn
Độ đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Mỹ, chiếm 8 – 10% sản lượng nguyên liệu thuốc
Trang 25lá của thế giới Mỗi năm Ấn Độ xuất khẩu hơn 70.000 tấn nguyên liệu, diện tích trồng thuốc lá hàng năm đạt từ 430.000 – 450.000 ha, trong đó có 150.000 ha trồng thuốc Virginia để phục vụ cho xuất khẩu Thuốc lá Virginia của Ấn Độ được trồng trên đất thịt, có 50 – 60% thành phần sét, độ pH từ 7,5 – 7,8 Chính phủ Ấn Độ rất quan tâm đến mức giá nguyên liệu thuốc lá để làm cơ sở cho việc sản xuất và tiêu thụ, mức độ kiểm soát của chính phủ thông quan ủy ban thuốc lá (Cơ quan điều hành thuốc lá của Chính phủ) đối với sản xuất và tiêu thụ, sẽ tùy từng chủng loại nguyên liệu thuốc lá
Zimbabwe: Năm 1903, thuốc lá mới được trồng ở Zimbabwe, một quốc gia
có 10 triệu dân, có đất liền bao quanh nằm trên độ cao miền Trung Phi, một vùng có thời tiết thay đổi…Đến nay trải qua một thế kỷ ngành sản xuất thuốc lá ở Zimbabwe
đã thành công nhất trên thế giới Số lượng thuốc lá xuất khẩu đạt hơn 90% tổng sản lượng, đã đưa về cho quốc gia này một nguồn ngoại tệ lớn, thu hút khả năng lao động, đủ nguyên liệu cung cấp cho sản xuất thuốc điều, năm 2002 giá trị của thuốc
lá chiếm tỷ trọng 15% GDP của nước này Nổi bật trong tổ chức sản xuất ngành nguyên liệu thuốc lá ở Zimbabwe là vai trò của hiệp hội thuốc lá Zimbabwe (ZTA),
là đầu mối cung cấp thông tin cho người sản xuất, thống nhất giá cả thu mua để hạn chế cạnh tranh, quản lý giá xuất khẩu nguyên liệu nhằm đảm bảo hiệu quả cao nhất… với cơ chế quản lý đúng đắn, ngành thuốc lá của Zimbabwe đã khắc phục được các điều bất lợi về điều kiện tự nhiên của vùng Tuy nhiên, vài năm trở lại đây, cùng với chính sách cải cách ruộng đất của Chính phủ, sản lượng trồng thuốc lá giảm mạnh, điều đó cho thấy những chính sách của nhà nước đã có tác động lớn đến sản xuất nguyên liệu thuốc lá
Các nước ASEAN: Hầu hết các nước thành viên ASEAN đều sản xuất thuốc lá Đặc điểm chung của sản xuất thuốc lá trong khối ASEAN là sử dụng thuốc
lá nội địa để sản xuất thuốc lá điếu nhãn hiệu trong nước Ngoài việc tự túc một phần nguyên liệu trong nước, các nước trong khu vực còn có nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu chất lượng cao, khoảng 70.000 tấn/năm Trong Indonexia hàng năm nhập khẩu khoảng 21.000 tấn, Philippin: 20.000 tấn, Thái Lan: 8.000 tấn
Trang 26+ Kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu quản lý sản xuất và kinh doanh nguyên liệu thuốc lá của các nước trên thế giới
Vai trò của sản xuất thuốc lá nguyên liệu là: Sản xuất nguyên liệu thuốc lá là một ngành quan trọng của quốc gia do tính chất đặc thù của sản phẩm được tạo ra từ cây thuốc lá, nhu cầu sử dụng thuốc lá trong nước và xuất khẩu đang mở rộng Thuốc lá đem lại lợi ích kinh tế cho nhiều quốc gia Nhiều tổ chức thuốc lá độc quyền quốc gia, cũng như các hãng độc quyền sản xuất thuốc lá điếu, nguyên liệu chế biến, thương mại, dịch vụ…được hình thành nhằm khai thác triệt để lợi ích kinh
tế của thuốc lá; các nước đang phát triển có xu hướng tăng sản xuất thuốc lá nguyên liệu hơn các nước phát triển
Hệ thống sản xuất cây thuốc lá: Hệ thống sản xuất thuốc lá rất khác nhau từ những nông trại lớn (Mỹ, Zimbabwe) đến các hộ gia đình nhỏ (Trung Quốc, Ấn Độ…) Hai yếu tố sản xuất nổi bật nhất trong việc trồng thuốc lá vẫn là đất (có gắn với điều kiện khí hậu) và lao động Hai yếu tố này phải phối hợp bằng nhiều cách khác nhau, tùy theo sự khan hiếm tương đối của chúng Nét đặc trưng trong sản xuất nhỏ là lạm dụng lao động (tức là lao động chân tay nhiều hơn), trong khi đó ở những nông trại lớn thì hạn chế sử dụng lao động chân tay và chủ yếu là lao động mùa vụ (đặc biệt là thời gian thu hoạch) Ở những nông trại lớn, nguyên liệu đầu vào như phân bón, thuốc trừ sâu…là hết sức quan trọng, trong khi những nhà sản xuất nhỏ thì sử dụng rất ít
Xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá: Bất kỳ một quốc gia nào , dù xuất – nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá hàng đầu th́ cũng phải nhập khẩu một khối lượng nguyên liệu thuốc lá cần thiết để đảm bảo sản xuất trong nước Lý do có thể là nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất các nhãn thuốc lá ngoại nhập hoặc dùng để phối chế với các loại nguyên liệu trong nước, để tạo ra những sản phẩm thuốc lá đặc trưng riêng Mặt khác, do cân đối cung cầu nguyên liệu thuốc lá trong nước hoặc sự hạn chế sản xuất thuốc lá mà nhiều nước có xu hướng đẩy mạnh xuất khẩu nguyên liệu thuốc lá trên thị trường thế giới, vừa đảm bảo tăng thu ngoại tệ, vừa giải quyết công
ăn việc làm cho người lao động, nhất là khu vực nông thôn, đây là hình thức phổ biến ở các quốc gia nông nghiệp
Trang 27Sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước: Ở hầu hết các nước sản xuất thuốc lá, Chính phủ luôn đóng vai trò quan trọng và hết sức quan trọng trong ngành công nghiệp này Ở một vài quốc gia (đặc biệt là Trung Quốc), Chính phủ kiểm soát hoàn toàn việc buôn bán thuốc lá nguyên liệu Trong khi đó các quốc gia khác, các ủy ban hoặc hiệp hội dưới sự ảnh hưởng của Chính phủ, họ thực hiện điều hành có kiểm soát ngành công nghiệp này, các định chế đặc trưng thường là cơ quan kiểm soát độc quyền thuốc lá, ủy ban marketing hay quỹ bình ổn [7]
2.2.2 Tình hình sản xuất thuốc lá ở nước ta
Một số tài liệu cho rằng thuốc lá được trồng từ thời vua Lê Thần Tông (1660)
do nhập giống từ các thương nhân Tây Ban Nha Nghề thuốc lá chính thức phát triển vào năm 1876 tại Gia Định, 1899 tại Tuyên Quang và đã sản xuất thuốc điếu ở
Hà Nội
Trước năm 1954: Sản xuất thuốc lá ở nước ta mang tính tự cung tự cấp,
một phần qua nhỏ mang tính hàng hóa trong tiêu dùng nội bộ
Từ 1954 đến 1975:
Ở miền Bắc: Việc sản xuất thuốc lá điếu phải nhập khẩu nguyên liệu từ Triều Tiên, Trung Quốc và Cuba Sản xuất thuốc lá mỗi năm được 10.000 – 12.000 tấn Ở miền Bắc thời kỳ này chỉ trồng thuốc Virginia với phương thức chế biến bằng lò sấy thủ công Các giống thuốc lá đã bị tạp chủng và thoái hóa nghiêm trọng
Ở miền Nam: Trước năm 1975, các nhà máy thuốc điếu MIC (nay là nhà máy thuốc lá Sài Gòn) và BASTOS (nay là nhà máy thuốc lá Vĩnh Hội) phải nhập khẩu 7.000 tấn lá/năm từ Zimbabwe, Mỹ… Nông dân ở các tỉnh miền Nam có tập quan canh tác thuốc lá nhưng chính quyền cũ ít chú trọng đầu tư phát triển nên sản xuất cũng chỉ ở mức tự cung, tự cấp trong nông thôn miền Nam
Từ sau năm 1975: Vị trí chiến lược của thuốc lá trong nền kinh tế đã
được Nhà nước xác định Trồng và chế biến nguyên liệu được chú ý ở mức độ nhất định, vì thế sản lượng thu mua hàng năm được trên 20.000 tấn, góp phần quan trọng và tích cực trong việc sản xuất thuốc điếu bình dân và một phần cho
thuốc mác cao [7]
Trang 28Năm 2007 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 88/2007QĐ- TTg phê duyệt chiến lược tổng thể ngành thuốc lá Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn năm
2020 Quyết định này có 4 điều, có thể chú ý vào những nội dung quan trọng sau:
1 Đầu tư vùng trồng thuốc lá nhằm phát huy tiềm năng về đất đai, lao động, đáp ứng nhu cầu thị trường Đặc biệt quan tâm phát triển trồng thuốc lá ở miền núi, vùng sâu, vùng xa góp phần xóa đói giảm nghèo
2 Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao trình độ khoa học, công nghệ của ngành thuốc lá ngang tầm với trình độ các nước trong khu vực
3 Tiếp tục tổ chức, sắp xếp lại các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thuốc lá theo hướng có quy mô lớn, thành lập Tập đoàn thuốc lá Việt Nam theo hướng sản xuất kinh doanh đa ngành, đa sở hữu; hiện đại hóa thiết bị công nghệ đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm thiểu độc hại bảo vệ môi trường có hiệu quả kinh tế và khả năng cạnh tranh cao…
Điều này có thể thấy rằng nước ta đã có cái nhìn bao quát và có sự nhạy bén trong việc thấy được hiệu quả kinh tế của cây thuốc lá mang lại, đồng thời có sự quy hoạch dài hơi trong việc trồng và sản xuất thuốc lá
Theo quyết định 88/2007/QĐ – TTg thì Việt Nam sẽ không xây dựng thêm nhà máy sản xuất thuốc lá điếu cũng như tăng năng lực sản xuất thuốc lá Cũng theo quy hoạch của Chính phủ, mục tiêu phát triển nguyên liệu nội địa thay thế nhập khẩu và để xuất khẩu đến năm 2010, diện tích trồng thuốc lá 39 nghìn ha, năng suất
là 2 tấn/ha, sản lượng khoảng 78 nghìn tấn/năm Đến năm 2020, diện tích thuốc ổn định ở mức 40 nghìn ha với sản lượng khoảng 88 nghìn tấn/năm Trong khi đó theo Hiệp hội thuốc lá Việt Nam thì tới năm 2010 diện tích và sản lượng thuốc lá của Việt Nam mới chỉ đạt khoảng 45% so với quy hoạch của Chính phủ Hiện tại, nguyên liệu trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 50% - 60% nhu cầu sản xuất thuốc lá Mặc dù diện tích cây thuốc lá chỉ chiếm 0,06% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, song ngành sản xuất thuốc lá hiện đang có đóng góp khá lớn vào nền kinh tế Đến năm 2010, ngành sản xuât thuốc lá đang thu hút khoảng 300 nghìn lao
Trang 29động nông nghiệp trong khâu sản xuất nguyên liệu và giải quyết việc làm thường xuyên cho khoảng 800 nghìn lao động Nguồn thu từ thuế thuốc lá nộp ngân sách nhà nước năm 2010 đạt tới 11 nghìn tỷ đồng, tương đương hơn 2% tổng thu ngân sách cả năm của cả nước
Hiện nay các công ty sản xuất thuốc lá điếu đều là thành viên của Tổng công
ty thuốc lá Năm 2007 Việt Nam gia nhập WTO, cùng với các ngành khác ngành thuốc lá cũng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách từ việc xuất khẩu Nhờ quá trình chuẩn bị tốt, sự chủ động, tích cực của các doanh nghiệp trong ngành trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Lộ trình mở của phù hợp, nhất quán với chính sách phòng chống tác hại thuốc lá và trình độ công nghiệp sản xuất thuốc lá Việt Nam…sau 5 năm gia nhập WTO, ngành thuốc lá tiếp tục ổn định, xây dựng những sản phẩm có chỗ đứng vững chắc tại thị trường nội địa
Năm 2007, Việt Nam gia nhập WTO mở ra nhiều cơ hội xuất khẩu cho các ngành hàng trong nước nói chung và mặt hàng thuốc lá nói riêng Kim ngạch và sản lượng xuất khẩu các mặt hàng thuốc lá đã liên tục gia tăng trong những năm gần đây Năm 2011 giá trị xuất khẩu đạt 155 triệu USD, tăng gấp đôi so với 2007 Xuất khẩu thuốc lá điếu đạt trên 20 tỷ điếu vào năm 2011, tăng gần gấp đôi so với 2006 Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thuốc lá điếu trung bình hàng năm (giai đoạn 2007 – 2011) đạt trên 13%
Tổng công ty thuốc lá – đơn vị đầu tàu và giữ vai trò nòng cốt trong ngành thuốc lá Việt Nam về thị phần tiêu thụ nội địa và xuất khẩu đã có sự phát triển mạnh
mẽ về xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng trên 30%/năm; Mặt hàng xuất khẩu rất đa dạng từ thuốc lá nguyên liệu, phụ liệu thuốc lá, thuốc lá bao và đến các mặt hàng bánh kẹo, công nghệ phẩm và nông sản Thuốc lá điếu hiện nay là mặt hàng xuất khẩu chủ lực với mức tăng trưởng trên 14%/năm, chiếm gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của toàn tổng công ty Năm 2011 xuất khẩu thuốc lá điếu đạt trên 22 tỷ điếu Tổng công ty là đơn vị đầu mối và duy nhất trong cả nước thực hiện xuất khẩu thuốc lá nguyên liệu ra thị trường nước ngoài, chủng loại thuốc lá nguyên liệu xuất khẩu đa dạng, phong phú bao gồm thuốc lá Vàng sấy, Nâu, Burley, sợi
Trang 30pipe, kể cả sản phẩm phụ là cọng thuốc lá Trong tổng sản lượng nguyên liệu thuốc
lá xuất khẩu hàng năm, thuốc lá nguyên liệu đã qua chế biến chiếm tỷ trọng trên 90%, chỉ có một phần nhỏ lượng cọng thuốc lá
Từ thực tế cho thấy, tiềm năng xuất khẩu của thuốc lá Việt Nam ra thị trường nước ngoài là rất lớn, trong những năm qua quy mô về thị trường xuất khẩu cũng ngày càng được mở rộng, từ các nước lân cận trong khu vực Đông Nam Á, Đông Á…đến các thị trường khác xa xôi như Trung Đông, Tây phi, Trung Nam Mỹ…với nguồn khách hàng được trải rộng nhiều nước trên toàn thế giới, trong đó một số khách hàng là các công ty hàng đầu thế giới như: Alliance One, BAT,…
Sản lượng toàn ngành năm 2011 đạt trên 105 tỷ điếu tăng gần 15% so với năm 2007 (91,5 tỷ điếu); tốc độ tăng trưởng thuốc lá điếu trung bình hàng năm giai đoạn 2007 – 2011 đạt trên 13% Đặc biệt đóng góp cho ngân sách, nếu như năm 2007 chỉ là 6.338 tỷ đồng thì đến năm 2011 toàn ngành đã nộp ngân sách gấp hai lần, đạt 13,599 tỷ đồng Trong 8 tháng đầu năm 2012, tổng sản lượng của toàn ngành tăng 3,8% Dự kiến cả năm 2012 các chỉ tiêu toàn ngành tiếp tục phát triển
ổn định Đặc biệt ngành thuốc lá đã xây dựng được những sản phẩm có chỗ đứng vững chắc tại thị trường nội địa, trong đó phải kể đến sản phẩm thuốc lá Thăng Long của công ty thuốc lá Thăng Long đơn vị trực thuộc tổng công ty thuốc lá Việt Nam, với sản lượng năm 2011 đạt trên 400 triệu bao Nhiều nhãn hiệu trong nước cũng đang khẳng định chỗ đứng trên thị trường nội địa như: Bastion, Du lịch, Basto…[13]
Trang 31PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các đối tượng kinh tế và hiệu quả mô hình trồng thuốc lá
- Các hộ trồng thuốc lá trên địa bàn xã Nà Phặc
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn xã Nà Phặc, tập trung vào các hộ trồng thuốc lá
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 05/1/2015 đến ngày 05/5/2015
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Nà Phặc
- Phân tích thực trạng trồng và sản xuất thuốc lá nguyên liệu tại địa phương
- Hạch toán chi phí, tính giá thành sản phẩm, thu nhập thu được và so sánh hiệu quả kinh tế giữa cây thuốc lá với các cây trồng khác tại địa phương
- Phân tích một số nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất thuốc lá tại địa phương
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trồng và sản xuất thuốc lá nguyên liệu tại địa phương
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thống kê
3.3.1.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
- Thu thập tài liệu, số liệu thứ cấp: Sử dụng phương pháp kế thừa và từ các niên giám thống kê, báo cáo tổng kết, sách báo, tạp chí, truy cập mạng internet, số liệu thống kê của các phòng ban trong xã và các hộ sản xuất
Trên cơ sở các số liệu đã thu thập tiến hành phân tích, đánh giá tìm ra xu hướng phát triển và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất thuốc
lá nguyên liệu
Trang 32- Thu thập tài liệu, số liệu sơ cấp: sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình , phỏng vấn bằng câu hỏi được lập sẵn
- Chọn mẫu điều tra: Căn cứ vào quy mô, số lượng, diện tích, cách tổ chức sản xuất trên địa bàn huyện tôi tiến hành chọn mẫu điều tra
Xã Nà Phặc có 25 thôn, bản, tiểu khu trong đó có 7 thôn trồng thuốc lá tôi chọn 4 thôn đó là thôn Bản Hùa, thôn Nà Duồng, thôn Nà Kèng và thôn Nà Làm vì đây là 4 thôn có diện tích trồng thuốc lá nhiều nhất trong xã, mỗi thôn tôi chọn ra 15
hộ, các hộ có trồng thuốc lá, ngô hoặc lạc để so sánh được chỉ tiêu hiệu quả kinh tế giữa cây thuốc lá, ngô và lạc
3.3.1.2 Phương pháp phân tích
a Phương pháp so sánh
Đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa có cùng một dung lượng, tính chất tương tự để xác định xu hướng, mức độ biến động của các chỉ tiêu Trên cơ sở đánh giá các mặt phát triển hoặc kìm hãm phát triển, hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra các giải pháp hợp lý trong từng trường hợp
- Số tuyệt đối: Biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
- Số tương đối: Biểu hiện quan hệ so sánh giữa hai mức độ của hiện tượng nghiên cứu cùng loại nhưng khác nhau về thời gian và không gian
- Số bình quân: Biểu hiện mức độ đại biểu theo một tiêu thức nào đó của hiện tượng bao gồm nhiều đơn vị cùng loại
b Phương pháp thống kê mô tả
Là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả số liệu thu thập được Phương pháp này dùng để phân tích các hộ trồng thuốc lá, trên
cơ sở số liệu điều tra, tổng hợp phân tích theo thời gian và không gian, sau đó tổng hợp kết quả để thấy được xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng
c Phương pháp minh họa bằng đồ thị
Mô tả một số liệu, hiện trạng và kết quả nghiên cứu
Trang 333.3.2 Phương pháp chuyên gia
Dựa vào các chủ hộ gia đình, cán bộ khuyến nông cơ sở để thu thập, tổng hợp, phân tích các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của cây trồng
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế
- Chỉ tiêu tổng giá trị sản xuất (GO): Là toàn bộ của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong một năm, đây là tổng thu của hộ Ở trong đây GO được tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm trên một diện tích sản xuất thuốc lá
- Chỉ tiêu chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất thường xuyên và dịch
vụ được sử dụng trong quá trình sản xuất ( ví dụ: Giống, thuốc bảo vệ thực vật,…)
- TC là tổng chi phí sản xuất bao gồm chi phí cố định và chi phí biến đổi
Trang 34- Khấu hao tài sản cố định
Trong quá trình tham gia các hoạt động sản xuất kinh doanh, do chịu tác động của nhiều nguyên nhân nên TSCĐ bị hao mòn dần Sự chịu mòn này có thể chia thành hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình
+ Hao mòn hữu hình là sự giảm dần về giá trị sử dụng và theo đó giá trị TSCĐ giảm dần
+ Hao mòn vô hình là sự giảm thuần túy về mặt giá trị của TSCĐ mà nguyên nhân chủ yếu là do sự tiến bộ của khoa học và kỹ thuật
Mức khấu hao cơ bản hàng năm của TSCĐ là đều nhau trong suôt thời gian
sử dụng TSCĐ và được xác định như sau:
T
NG
MK
Trong đó:
MK là mức khấu hao cơ bản bình quân hàng năm của TSCĐ
NG là nguyên giá của TSCĐ
T là thời gian sử dụng TSCĐ
3.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ
- Chỉ tiêu giá trị sản xuất trên năng suất lao động GO/LĐ
- Chỉ tiêu giá trị sản xuất trên chi phí trung gian GO/IC
- Chỉ tiêu giá trị gia tăng trên chi phí trung gian VA/IC
- Chỉ tiêu giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất VA/GO
3.4.3.Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả kinh tế khi trồng cây thuốc lá
- Khả năng tạo công ăn việc làm cho người lao động khi tham gia trồng cây thuốc lá nguyên liệu
- Góp phần xây dựng tạo mối quan hệ bền vững trong trồng và thu mua thuốc
lá nguyên liệu tại địa phương
- Góp phần rút ngắn khoảng cách về thu nhập và mức sống của các hộ
- Phát huy lợi thế vùng nguyên liệu thuốc lá
- Mở rộng quan hệ đối ngoại, thị trường tiêu thụ sản phẩm
- Thay đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa
- Xây dựng môi trường sinh thái bền vững cho sản xuất và đời sống sản xuất
Trang 35PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
- Phía Bắc giáp xã Vân Tùng của huyện Ngân Sơn;
- Phía Đông giáp xã Vân Tùng, xã Thượng Quan của huyện Ngân Sơn;
- Phía Nam giáp xã Thuần Mang, xã Lãng Ngâm của huyện Ngân Sơn;
- Phía Tây giáp xã Mỹ Phương, xã Chu Hương, xã Hà Hiệu của huyện Ba Bể
Là một xã có nhiều lợi thế để phát triển một nền kinh tế đa dạng với nền tảng
là nông nghiệp, các hoạt động giao lưu buôn bán - dịch vụ Với vị trí thuận lợi có hệ thống giao thông khá đa dạng giao giữa quốc lộ 3 và quốc lộ 279 là tiềm năng của một thị trường rộng lớn về tiêu thụ sản phẩm dịch vụ,
4.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng
- Địa hình: Xã Nà Phặc là một trong những vùng kinh tế trọng điểm của huyện Ngân Sơn, địa hình tương đối bằng phẳng, một số thôn ở vùng đồi núi cao,được bao bọc bởi các dãy núi, diện tích đất tự nhiên chủ yếu là diện tích đồi núi, đất sản xuất nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ
- Thổ nhưỡng: Theo kết quả thực tế xã Nà Phặc có 2 dạng đất: Đất cát pha và đất thịt, loại đất này phù hợp với các cây trồng như ngô, sắn, lúa nước và các cây màu khác
4.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Khí hậu
Nà Phặc nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa một năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau