Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế & PTNT
Khóa học : 2011 – 2015
Thái Nguyên - 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Giảng viên hướng dẫn : TS Bùi Đình Hòa
Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình của TS Bùi Đình Hòa – Trưởng khoa khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn đã giúp đỡ tôi trong
suốt thời gian thực tập để hoàn thành tốt Khóa luận tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng chí cán bộ, Đảng viên, UBND xã Như Cố cùng các hộ nông dân xã Như Cố đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình nghiên cứu vì nhiều lý do chủ quan và khách quan cho nên Khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 1 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Dương Thị Huyền
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Đo lường chỉ số nghèo đa chiều 9
Bảng 4.1: Kết quả sản xuất một số cây trồng chính tại xã Như Cố giai đoạn 2012-2014 24
Bảng 4.2: Tình hình chăn nuôi của xã Như Cố giai đoạn 2012-2014 25
Bảng 4.3: Hiện trạng dân số và lao động năm 2014 27
Bảng 4.4 : Hiện trạng nhà ở của các thôn năm 2014 28
Bảng 4.5: Tình hình hộ nghèo tại xã Như Cố giai đoạn 2012-2014 33
Bảng 4.6: Thông tin chung về nhóm hộ điều tra 35
Bảng 4.7: Tình hình nhân khẩu và lao động cuả nhóm hộ điều tra 36
Bảng 4.8: Trình độ giáo dục của người lớn và trẻ em của nhóm hộ điều tra 38 Bảng 4.9: Bằng cấp cao nhất của các thành viên trong gia đình 39
Bảng 4.10: Tiếp cận các dịch vụ y tế của nhóm hộ điều tra 40
Bảng 4.11: Nhà ở của nhóm hộ điều tra 41
Bảng 4.12: Diện tích nhà ở bình quân đầu người của các nhóm hộ 42
Bảng 4.13: Nguồn nước được sử dụng của các hộ điều tra 43
Bảng 4.14: Nhà vệ sinh của các hộ điều tra 43
Bảng 4.15: Tình hình tiếp cận thông tin của nhóm hộ điều tra 44
Bảng 4.16: So sánh các chiều thiếu hụt trong tiếp cận nghèo đa chiều 46
Bảng 4.17: Kết quả khảo sát hộ nghèo theo đơn chiều và đa chiều theo phương án 1 47
Bảng 4.18: Kết quả khảo sát hộ nghèo theo đơn chiều và đa chiều theo phương án 2 48
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Biểu đồ tình hình hộ nghèo và cận nghèo xã Như Cố giai đoạn
2012-2014 34Hình 4.2: Biều đồ so sánh các chiều thiếu hụt 46Hình 4.3: Biểu đồ so sánh 2 phương án khảo sát nghèo đa chiều 50
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa khoa học của khóa luận 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
1.4 Bố cục của khóa luận 4
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 5
2.1.1 Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo đa chiều 5
2.1.2 Cách thức xác định đo lường nghèo đa chiều 6
2.1.3 Bảng chỉ số nghèo đa chiều 9
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 11
2.2.1 Thực trạng cách tiếp cận nghèo đa chiều trên thế giới và khu vực hiện nay 11
2.2.2 Thực trạng cách tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt Nam 14
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 17
3.2 Câu hỏi nghiên cứu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 17
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 17
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 18
Trang 73.3.3 Phương pháp kiểm tra thông tin thu thập được 18
3.3.4 Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu 19
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 19
3.4.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ 19
3.4.2 Chỉ tiêu đánh giá công tác giảm nghèo 19
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên,kinh tế-xã hội của xã Như Cố 20
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 23
4.2.Thực trạng nghèo và nguyên nhân dẫn đến nghèo đa chiều của các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu 33
4.2.1 Thực trạng nghèo của xã trong giai đoạn 2012 - 2014 33
4.2.2 Tình hình chung của nhóm hộ điều tra 35
4.2.3 Nghiên cứu tình hình nghèo đa chiều của nhóm hộ điều tra 38
4.2.4 So sánh các chiều thiếu hụt 46
4.3 Phương án đánh giá hộ nghèo theo cách tiếp cận đa chiều 47
4.3.1 Phương án 1 47
4.3.2 Phương án 2 48
4.4 Lựa chọn phương án đánh giá nghèo đa chiều 49
4.5 Nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo đa chiều 51
4.5.1 Nguyên nhân chủ quan 51
4.5.2 Nguyên nhân khách quan: 52
4.5.3 Nguyên nhân do cơ chế chính sách của nhà nước: 52
PHẦN 5: CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO ĐA CHIỀU 53
5.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu 53
5.1.1 Quan điểm 53
5.1.2.Phương hướng,mục tiêu 53
5.2 Các giải pháp giảm nghèo đa chiều tại xã Như cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn 54
Trang 85.2.1 Giải pháp chung 54
5.2.2 Giải pháp cụ thể 55
5.3 Kết luận 58
5.4 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9Ủy ban kinh tế xã hội Châu Á-Thái Bình Dương Lao động -Thương binh và Xã hội
Khu vực thành thị Khu vực nông thôn Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc Chỉ số nghèo đa chiều
Chính sách phát triển xã hội độc lập của Mêxico Luật phát triển xã hội
Dân tộc thiểu số Bảo hiểm y tế Mét vuông Trung tâm giảm nghèo ở Trung Quốc
Hệ thống thông tin địa lý Trình độ văn hóa
Tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trung cấp
Đại học Cao đẳng
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xã hội Giải quyết vấn đề nghèo đói là động lực để phát triển xã hội Quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu đặt ra một thách thức nan giải đối với nước ta trong việc thực hiện chủ trương tăng trưởng kinh tế đi đôi với xóa đói giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Chuẩn nghèo là thước đo (hay tiêu chí) nhằm xác đi ̣nh ai là người nghèo (hoă ̣c không nghèo) để thực hiện các chính sách hỗ t rợ giảm nghèo của nhà nước ; Nhằm bảo đảm công bằng trong thực hiện các chính sách giảm nghèo , đến nay, nước ta đã
6 lần điều chỉnh chuẩn nghèo theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo.[8]
Trên cơ sở chuẩn nghèo được ban hành trong giai đoạn 2011-2015 theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyê ̣t Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015; Chương trình 135 giai đoạn III; Tiếp tục thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (nay là
64 huyện), ban hành 7 nhóm giải pháp với khoảng trên 70 văn bản chính sách để thực hiện mục tiêu giảm nghèo, hỗ trợ đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số; Chính sách trợ cấp xã hội với kinh phí thực hiện trong 5 năm khoảng hơn 32 ngàn tỷ đồng Các chính sách hỗ trợ giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, các dân tộc và nhóm dân cư Thông qua việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước đã giảm từ trên 14,2% (năm 2010) xuống còn 11,76% (năm 2011); 9,7% (năm 2012); 7,8% (năm 2013), 5,97% (năm 2014) và dự kiến còn
Trang 11khoảng 4- 4,2% vào cuối năm 2015, bình quân cả nước giảm 2%/năm, đạt mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết Quốc hội đề ra
Tuy nhiên, việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng chưa thực sự chính xác; Mặt khác, chuẩn nghèo hiện hành chưa đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu cơ bản, lại được duy trì trong cả giai đoạn trong điều kiện chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hàng năm đều tăng, dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu bảo mức sống tối thiểu của người dân
Phương pháp đo lường nghèo đa chiều được nghiên cứu, áp dụng sẽ khắc phục những điểm yếu trong đo lường nghèo bằng thu nhập vốn đã bộc lộ những điểm yếu trong bối cảnh thay đổi cơ cấu kinh tế và đô thị hóa với những thách thức về khối lượng lớn đối tượng cận nghèo và các vấn.[7]
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế, cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn Xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
là một xã phần đông dân số sống bằng nghề nông nghiệp, thu nhập chủ yếu dựa vào nông nghiệp, điều kiện sản xuất khó khăn nên ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống người dân Trong nhiều năm qua xã đã thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo cho người dân Tuy nhiên tỷ lệ hộ nghèo còn cao nên cần có các chương trình chính sách phù hợp hơn Năm 2015 xã bắt đầu triển khai thực hiện công tác giảm nghèo đa chiều Để có những nghiên cứu và đánh giá khách quan về
chương trình giảm nghèo đa chiều này, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều trên địa bàn xã Như Cố- huyện Chợ Mới-tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều của các hộ nông dân, hệ thống lý luận về nghèo đa chiều, đưa ra những giải pháp giảm nghèo đa chiều cải thiện đời sống nhân dân trong xã
Trang 121.2.2 Mục tiêu cụ thể
+ Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu
+ Đánh giá thực trạng nghèo đa chiều tại xã Như Cố theo các phương án được nêu trong Đề án giảm nghèo đa chiều của Bộ Lao động - thương binh và xã hội + So sánh được thực trạng nghèo đa chiều theo các phương án được nêu trong
đề án giảm nghèo
+ Tìm hiểu nguyên nhân dẫn tới nghèo đa chiều tại địa bàn nghiên cứu
+ Đề xuất một số giải pháp giảm nghèo đa chiều phù hợp và thực sự thiết thực giúp các hộ gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo đa chiều và xây dựng địa phương ngày càng phát triển
+ Hệ thống hóa lý luận về nghèo đa chiều
1.3 Ý nghĩa khoa học của khóa luận
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Đề tài có ý nghĩa quan trọng, giúp sinh viên nâng cao được năng lực cũng như rèn luyện được kĩ năng của mình và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn
Đề tài được thực hiện ngay khi chính sách giảm nghèo đa chiều vừa mới được áp dụng và đi vào thực hiện Vì vậy kết quả của đề tài có ý nghĩa quan trọng đối với Đảng và Nhà nước ta, thông qua việc tiếp cận các hộ nghèo một cách đa chiều nhằm xem xét, phân tích, đánh giá sâu hơn về nguyên nhân nghèo của các hộ nông dân, có thể đưa ra các giải pháp thiết thực và phù hợp thực hiện mục tiêu giảm nghèo của địa phương và cả nước
Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho sinh viên khóa sau
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Xóa đói giảm nghèo là mục tiêu hàng đầu của Đảng và Nhà Nước nói chung cũng như toàn thể nhân dân xã Như Cố nói riêng Nghiên cứu đề tài góp phần vào việc đánh giá sâu hơn về thực trạng đói nghèo tại địa phương, tìm hiểu những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương trình xóa đói giảm nghèo và tác động của các chính sách này đến đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân địa phương Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền các ban ngành đoàn thể của xã đưa ra các biện pháp giảm nghèo đa chiều và triển khai một cách hiệu quả hơn
Trang 131.4 Bố cục của khóa luận
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Các giải pháp
Trang 14PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm nghèo và chuẩn nghèo đa chiều
2.1.1.1 Khái niệm nghèo - nghèo đa chiều
Cho đến nay, khái niệm về nghèo chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo hiện đang được các quốc gia thừa nhận
Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không
có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng
có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ
sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua)
Tại Hội nghị về chống nghèo đói do Uỷ ban Kinh tế Xã hội Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận."
Theo Amartya Kumar Sen, nhà Kinh tế học Ấn Độ (đoạt giải Nobel Kinh tế):
Để tồn tại, con người cần có những nhu cầu vật chất và tinh thần tối thiểu; Dưới
mức tối thiểu này, con người sẽ bị coi là đang sống trong nghèo nàn
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà
chính trị và các học giả cho rằng nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng
Trang 15nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người
Vì vậy, nghèo đa chiều có thể được hiểu là tình trạng con người không được đáp ứng một hoặc một số nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
2.1.1.2 Cơ sở pháp lý để chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo ở nước ta
- Trong nội dung Hiến pháp sửa đổi năm 2013, tại Điều 34 quy định “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”
- Nghị quyết 15-NQ/TW, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020: Đưa ra các nhiệm vụ về đảm bảo an sinh xã hội, chú trọng đến việc làm, bảo hiểm xã hội, trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đáp ứng các nhu cầu tối thiểu về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và thông tin
- Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo hiệu quả, bền vững hơn, vừa qua, Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Nghị quyết về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu
giảm nghèo bền vững đến năm 2020, trong đó nêu rõ: Xây dựng chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu và đáp ứng các dịch vụ xã hội cơ bản
Chính phủ cũng đã chỉ đạo, giao cho Bộ LĐ - TB&XH phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu xây dựng Đề án tổng thể về đổi mới phương pháp tiếp cận nghèo đói ở Việt Nam từ đơn chiều sang đa chiều, trình Chính phủ xem xét vào cuối năm
2014.[7]
2.1.2 Cách thức xác định đo lường nghèo đa chiều
Qua bàn bạc giữa Bộ LĐ-TB&XH và Tổng cục Thống kê, các chuyên gia thì các đối tượng nghèo và cận nghèo được xác định với 4 phương án
Đối với riêng các đối tượng nghèo đa chiều thì trong phương án 1 và 2 thì các
tiêu chí và chỉ số, phương pháp đánh giá là giống nhau như sau:
- Những hộ có tổng điểm từ 50 điểm trở lên là hộ nghèo đa chiều nghiêm trọng
- Những hộ có tổng điểm từ 30 đến dưới 50 điểm là hộ nghèo đa chiều
- Những hộ có tổng điểm từ 20 đến dưới 30 điểm là hộ cận nghèo đa chiều
Trang 16Trong phương án 3 thì hộ nghèo và cận nghèo thì phương pháp xác định không tính đến nghèo đa chiều mà chỉ liên quan đến chuẩn mức sống tối thiểu và chuẩn nghèo chính sách (chuẩn nghèo chính sách ở đây sẽ được tính toán theo 2 trường hợp: Trường hợp 1 là 700 nghìn đồng một người một tháng với thành thị và
550 nghìn đồng một người một tháng với nông thôn; Trường hợp 2 là 980 nghìn đồng một người một tháng với thành thị, 820 nghìn đồng một người một tháng với nông thôn)
Trong phương án 4 thì coi thu nhập là một chiều và có điểm đánh giá là 50 điểm (chiếm 1/3 tổng số điểm đánh giá), trong đó những hộ gia đình nào có thu nhập bình quân đầu người dưới chuẩn thu nhập sẽ coi là thiếu hụt và được 50 điểm
Ở phương án này chuẩn thu nhập là 570 nghìn đồng một người một tháng với thành thị và 520 nghìn đồng một người một tháng với nông thôn
Sau đây là cụ thể các phương pháp đánh giá:
Phương án 1: Sử dụng chuẩn mức sống tối thiểu để xác định đối tượng chính
sách, trên cơ sở đó, phân loại đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình bằng mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản, theo phương án này, việc đo lường được thực hiện như sau:
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở
xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) và thiếu hụt từ 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản trở lên
Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu
trở xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) và thiếu hụt dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản
Hộ có mức sống trung bình: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới mức
sống trung bình (cao gấp 1,5 lần mức sống tối thiểu), cao hơn mức sống tối thiểu và thiếu hụt dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản
Phương án 2: Căn cứ vào mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản và mức
sống tối thiểu để phân loại đối tượng
Trang 17Theo phương án này, các tiêu chí được xác đinh như sau:
Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu trở
xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) hoặc thiếu hụt
từ 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản trở lên
Hộ cận nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ mức sống tối thiểu
trở xuống (1,3 triệu/người/tháng KVTT và 01 triệu/người/tháng KVNT) hoặc thiếu hụt dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản
Phương án 3: Việc đo lường, giám sát mức độ thay đổi khả năng tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản do Tổng cục Thống kê thực hiện theo phương án 1, nhưng việc xác định đối tượng hộ nghèo, cận nghèo sẽ dựa trên cơ sở chuẩn mức sống tối thiểu và chuẩn nghèo chính sách (khoảng bằng 60% mức sống tối thiểu), sử dụng mức độ thiếu hụt các nhu cầu xã hội cơ bản để phân tích nguyên nhân nghèo và nhu cầu hỗ trợ
Theo phương án này, các tiêu chí được xác đinh như sau:
Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính
sách trở xuống
Hộ cận nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn mức
sống tối thiểu trở xuống và cao hơn chuẩn nghèo chính sách
Hộ có mức sống trung bình là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng
dưới mức sống trung bình (cao gấp 1,5 lần mức sống tối thiểu), cao hơn mức sống tối thiểu
Phương án 4: Coi thu nhập là 01 chiều thiếu hụt, gán điểm để tính trọng số
với mức độ ưu tiên (khoảng 1/3 tổng số điểm), theo chuẩn tiếp cận đa chiều
Theo phương án này, các tiêu chí được xác đinh như sau:
Hộ nghèo cùng cực là hộ thiếu hụt trên 1/2 nhu cầu xã hội cơ bản
Hộ nghèo là hộ thiếu hụt từ 1/3 đến dưới 1/2 nhu cầu xã hội cơ bản
Hộ cận nghèo là hộ thiếu hụt từ 1/5 đến dưới 1/3 nhu cầu xã hội cơ bản
Trong bài khóa luận này tôi sử dụng 2 phương án đó là phương án 1 và 2 để tiến hành nghiên cứu [7]
Trang 182.1.3 Bảng chỉ số nghèo đa chiều
Bảng 2.1: Đo lường chỉ số nghèo đa chiều Chiều
nghèo
Tiêu chí để
đo lường Ngưỡng thiếu hụt
Cơ sở hình thành chiều nghèo và tiêu chí đo lường
cơ sở và hiện không
đi học
Hiến pháp năm 2013
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Nghị quyết số 41/2000/QH (bổ sung bởi Nghị định số 88/2001/NĐ-CP)
Hiến pháp năm 2013 Luật Giáo dục 2005 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham
Hiến pháp năm 2013 Luật Khám chữa bệnh
10
Trang 19Điểm
số
gia được các hoạt động bình thường) 2.2 Bảo
hiểm y tế
Hộ gia đình có ít nhất
1 thành viên từ 6 tuổi trở lên hiện tại không
có bảo hiểm y tế
Hiến pháp năm 2013 Luật bảo hiểm y tế 2014
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
cố hoặc nhà đơn sơ (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà thiếu kiên cố, nhà đơn sơ)
Luật Nhà ở;
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
hộ gia đình nhỏ hơn
8m 2
Luật Nhà ở;
Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
10
Trang 20Điểm
số sống 4.2 Hố
xí/nhà tiêu
Hộ gia đình không sử dụng hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Luật Viễn thông
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Luật Thông tin truyền thông
NQ 15/NQ-TW Một số vấn
đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
10
(Nguồn:Đề án giảm nghèo của Bộ LĐ-TB&XH)
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Thực trạng cách tiếp cận nghèo đa chiều trên thế giới và khu vực hiện nay
Trong những năm trước đây nghèo đói thường được đo lường thông qua thu nhập hoặc chi tiêu Chuẩn nghèo được xác định dựa trên mức chi tiêu đáp ứng những nhu cầu tối thiểu và được quy ra bằng tiền Người nghèo hay hộ nghèo là những đối tượng có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp hơn chuẩn nghèo Cách thức
đo lường này đã duy trì trong thời gian dài và bắt đầu bộc lộ những hạn chế Thứ nhất, một số nhu cầu cơ bản của con người không thể quy ra tiền (như tham gia xã
hội, an ninh, vị thế xã hội, v.v ) hoặc không thể mua được bằng tiền (tiếp cận giao thông, thị trường, đường xá và các loại cơ sở hạ tầng khác, an ninh, môi trường, một
số dịch vụ y tế/giáo dục công v.v ) Thứ hai, có những trường hợp hộ gia đình có
tiền nhưng không chi tiêu vào việc đáp ứng những nhu cầu tối thiểu (do cả những lý
Trang 21do khách quan như không có sẵn dịch vụ hay lý do chủ quan như do tập tục văn hóa địa phương hay do chính nhận thức của người dân) Vì những hạn chế trên nếu chỉ
sử dụng chuẩn nghèo thu nhập để đo lường và xác định đối tượng nghèo đói sẽ dẫn đến bỏ sót đối tượng, nhận diện nghèo và phân loại đối tượng chưa chính xác, từ đó chính sách hỗ trợ mang tính cào bằng và chưa phù hợp với nhu cầu
Từ năm 2007, Alkire và Foster đã bắt đầu nghiên cứu về một cách thức đo lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều của nghèo đói Cách thức đo lường này đã được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo đa chiều (MPI) lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010 và được đề xuất áp dụng thống nhất trên thế giới sau năm 2015 để theo dõi, đánh giá đói nghèo Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo Y tế, Giáo dục và Điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiếu hụt
Hiện nay, có 32 nước trên thế giới (như Mexico, Colombia, Braxin, Costa Rica, Trung quốc ) đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều trong đo lường và giám sát nghèo, xác định đối tượng nghèo, đánh giá và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội
Một số quốc gia đã đổi mới và tạo ra các phương pháp đo lường nghèo đa chiều của chính họ dựa trên phương pháp tiếp cận Alkire-Foster
Mexico - Đưa phương pháp đo lường nghèo đa chiều vào luật
Mexico ra mắt phương pháp đo lường nghèo đa chiều dựa theo phương pháp Alkire-Foster lần đầu tiên vào năm 2009 Phương pháp này được thiết kế bởi Hội đồng đánh giá Chính sách Phát triển Xã hội độc lập của Mexico (CONEVAL) theo yêu cầu của Luật Phát triển Xã hội (LGDS) Đây là phương pháp đo lường nghèo cấp quốc gia đầu tiên giúp phản ánh đầy đủ bề rộng của nghèo ở cấp hộ gia đình, bao gồm các yếu tố xã hội như y tế, nhà ở, giáo dục, tiếp cận lương thực, cũng như thu nhập ở cấp quốc gia, bang và thành phố
Trang 22Tất cả người dân được sơ đồ hóa dựa trên quyền xã hội: Những người không thiếu hụt quyền xã hội nào và những người thiếu ít nhất 01 quyền (và 03 quyền đối với nghèo cùng cực) Dân số cũng được sơ đồ hóa theo thu nhập và phân chia giữa những người có thu nhập quá thấp không thể tiếp cận các quyền cơ bản (và rổ lương thực đối với nghèo cùng cực) và những người không nghèo thu nhập
Brazil - MPI dùng trong xác định đối tượng nghèo
Brazil cũng là nước tiên phong áp dụng MPI để xác đinh đối tượng trong chương trình Travessia - một chương trình giảm nghèo của bang Minas Gerais Chương trình này tập trung vào nghèo đa chiều sử dụng phương pháp Alkire-Foster.Tới nay Travessia đã được áp dụng MPI ở 132 thành phố của Brazil Mục tiêu của chương trình là: "Thúc đẩy hòa nhập kinh tế xã hội của người dân nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất thông qua vận dụng chính sách công trong vùng lãnh thổ" Chương trình Travessia sử dụng quy trình 02 bước khi lựa chọn người tham gia vào chương trình giảm nghèo Trước tiên, các thành phố được lựa chọn dựa trên điểm số theo Chỉ số phát triển con người Sau đó, các bảng câu hỏi được sử dụng để thu thập thông tin và phân tích để xác định ai nghèo theo MPI và để điều phối các dịch vụ xã hội có mục tiêu
Trung Quốc - Kết hợp các dữ liệu về môi trường
Đề cương Giảm nghèo và phát triển ở Nông thôn Trung Quốc (2011-2020) do
Ủy ban Trung ương đảng cộng sản Trung Quốc công bố tại Cuộc họp tối cao làm việc về Giảm nghèo và phát triển năm 2011 Đề cương nhấn mạnh nhiệm vụ chính giữa 2011 và 2020: Giúp người dân thoát nghèo và nâng cao mức sống nhanh hơn
Đề cương yêu cầu sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để nhận diện các đặc điểm của nghèo tại Trung Quốc Dựa trên mục đích này, Trung tâm Giảm nghèo Quốc tế ở Trung Quốc (IPRCC) đang xây dựng một Hệ thống thông tin địa lý (GIS) cho công tác giảm nghèo quốc gia (hệ thống sẽ xác định và giám sát nghèo đa chiều ) cùng với các kế hoạch thử nghiệm hệ thống này ở vùng núi Ngũ Lĩnh GIS được kỳ vọng sẽ được hoàn thiện và đưa vào sử dụng từ năm 2014
Trang 23Phương pháp đo này bao gồm các chiều về nhân khẩu học, kinh tế, xã hội, sinh thái học và môi trường, cả các chỉ số nghèo tiêu chuẩn (ví dụ như loại nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh, điện sinh hoạt, tài sản, tiếp cận thị trường, đất sản xuất và bảo hiểm y tế) và các chỉ số về nguồn lực (như là chất lượng đất, an toàn môi trường và sinh thái).[7]
2.2.2 Thực trạng cách tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt Nam
2.2.2.1.Tình trạng nghèo
Việt Nam đã đạt được thành tựu rất ấn tượng trong công tác giảm nghèo những năm vừa qua; Tỷ lệ nghèo giảm liên tục ở tất cả các nhóm dân cư, cả ở thành thị và nông thôn, trong cả cộng đồng dân tộc Kinh và cộng đồng các dân tộc thiểu số (DTTS), và trên mọi khu vực địa lý Tỷ lệ nghèo chung giảm đáng kể từ 58,1% năm 1993 xuống còn 14,5% năm 2008, và xuống dưới 10% năm 2010 (Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, 2012) Tỷ lệ nghèo lương thực giảm hơn 2/3, từ 24,9% năm 1993 xuống còn 6,9% năm 2008, và thậm chí còn giảm nhiều hơn trong năm 2010 Tình trạng nghèo không chỉ giảm trên diện rộng mà còn giảm đáng kể
về chiều sâu theo đo lường dựa trên chỉ số khoảng cách nghèo trên cả nước (từ 18,5% năm 1993 xuống còn 3,5% năm 2008) ở cả thành thị (từ 6,4% năm 1993 xuống 0,5% năm 2008) và nông thôn (từ 21,5% năm 1993 xuống 4,6% năm 2008), trong tất cả các nhóm dân tộc và vùng lãnh thổ địa lý
Tuy đạt được thành tích đáng kể như trên nhưng Việt Nam vẫn đang phải đối diện với nhiều thách thức để duy trì kết quả giảm nghèo đã đạt được
Tốc độ giảm nghèo không đồng đều giữa các khu vực và nhóm dân số khác nhau; Tỷ lệ nghèo vẫn khá cao ở vùng Tây Bắc (32,7%), vùng ven biển Bắc Trung
Bộ (19,3%), Tây Bắc và Đông Bắc (17%), những nơi có tỷ lệ cao các DTTS cư trú
Sự không đồng đều đã trở thành vấn đề nổi bật, không chỉ đề đô thị mới phát sinh
với mức sống tiền tệ, mà còn ở sự tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, an sinh xã hội
và những lĩnh vực khác của cuộc sống
Nghèo cùng cực vẫn tồn tại, đặc biệt ở các nhóm DTTS và các khu vực khó
khăn Năm 2008, 50% dân số DTTS vẫn sống dưới chuẩn nghèo chung và có tới
Trang 2431% rơi vào cảnh nghèo lương thực Các nhóm DTTS (đặc biệt là Ba-na, Gia-rai,
Ê đê, Co-ho, H’mong và Mường ) chiếm hơn một nửa tổng số người nghèo ở Việt Nam và có tốc độ giảm nghèo thấp hơn nhiều so với dân tộc Kinh; Nghèo cùng cực vẫn tồn tại trong nhóm dân tộc thiểu số (thiếu lương thực, thu nhập bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo và tiếp cận các dịch vụ xã hội hạn chế…)
Nghèo thành thị, nghèo của những lao động di cư, lao động khu vực không chính thức, v.v đang hình thành những nhóm nghèo mới Nghèo thành thị giảm từ
25,1% năm 1993 xuống 3,3% năm 2008cho thấy rằng nghèo thu nhập không còn là hiện tượng lan rộng ở khu vực thành thị nữa Tuy nhiện, đô thị hóa nhanh và tình trạng di cư từ nông thôn ra thành thị những năm gần đây có liên quan với những vấn đề xã hội bức xúc, bao gồm nhà ở không đủ tiêu chuẩn, nước sạch và vệ sinh, ô nhiễm, hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và an sinh xã hội, v.v đặc biệt ở nhóm lao động di cư nghèo và lao động khu vực không chính thức Kết quả
là, một tỷ lệ đang gia tăng trong các nhóm dân thành thị phải đối diện với thiếu thốn
về nhiều mặt trong cuộc sống thay vì thu nhập thấp Kết quả khảo sát nghèo đô thị năm 2009chỉ ra rằng trong khi tỷ lệ nghèo thu nhập ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh rất thấp (1,27% và 0,31%,), với tỷ lệ này thì có thể coi như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh không còn nghèo về thu nhập hay chi tiêu, nhưng xét ở khía cạnh khác thì một bộ phận lớn người dân di cư ở hai thành phố này đang phải đối diện với nhiều thiếu thốn khác như vấn đề nhà ở tồi tàn, nước không bảo đảm vệ sinh hoặc thiếu, môi trường sống bị ô nhiễm nghiêm trọng, tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khỏe còn nhiều rào cản về cơ chế hành chính hoặc quá đắt đỏ so với thu nhập của họ Thành phố Hồ Chí Minh đã "giàu hơn" Hà Nội về thu nhập nhưng lại
"nghèo đa chiều” hơn Hà Nội Phương pháp tiếp cận đa chiều rất quan trọng khi cho thấy khác biệt đáng kể giữa dân di cư và dân định cư, trong khi đó phương pháp tiếp cận dựa vào thu nhập lại ẩn đi chênh lệch này Do vậy đánh giá nghèo đòi hỏi một phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo tính toàn diện và bền vững của giảm nghèo
Trang 25Nguy cơ tái nghèo cao do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn
cầu, sự bất ổn kinh tế vĩ mô, những thảm họa thiên tai nghiêm trọng do biến đổi khí hậu, và những cú sốc mang tính đặc thù như chi tiêu y tế trong những hoàn cảnh mặc bệnh hiểm nghèo Tỷ lệ hộ thoát nghèo năm 2006 lại tái nghèo vào năm 2008 tăng lên 32% trong tổng số hộ nghèo năm 2008 Điều này mang hàm ý chính sách quan trọng: Nỗ lực giảm nghèo cần một khung toàn diện hơn để mở rộng cơ hội và phát huy năng lực nắm bắt thời cơ giúp người nghèo thoát nghèo bền vững, và giảm rủi ro và bảo vệ người dân khỏi rơi vào nghèo đói trong bối cảnh nền kinh tế đang tăng tốc chuyển dịch sang kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế
Các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đều thống nhất rằng nghèo là một hiện tượng nhiều mặt trong đó thiếu thu nhập chỉ là một trong số những thiếu hụt mà người dân phải đối mặt Họ cũng ngày càng nhận ra rằng các phương pháp đo lường nghèo cần bao trùm những thiếu hụt cấp thiết nhất
và có liên hệ lẫn nhau mà người nghèo phải đối mặt, và rằng phương pháp đo lường nghèo đa chiều sẽ giúp các bên liên quan hiểu rõ hơn về tình trạng nghèo, từ đó cải thiện việc hoạch định và thực thi chính sách giảm nghèo hiệu quả hơn.[7]
Trang 26PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ gia đình trên địa bàn xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Các số liệu điều tra về hộ được tập trung vào năm 2014
Thời gian triển khai thực hiện đề tài: Từ tháng 01 năm 2015 đến tháng 04 năm 2015
3.2 Câu hỏi nghiên cứu
+ Một là, tại sao phải nghiên cứu nghèo đa chiều tại xã Như Cố?
+ Hai là, nguyên nhân nào dẫn đến nghèo đa chiều của các hộ, làm thế nào để xác định được đâu là nguyên nhân chính?
+ Ba là, các chương trình xóa đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước được triển khai thực hiện như thế nào, còn phù hợp với thực trạng nghèo đói của địa phương không?
+ Bốn là, phương án nào của Bộ LĐ-TB&XH đưa ra phù hợp nhất để đo lường nghèo đa chiều?
+ Năm là, làm thế nào để đưa ra các giải pháp giảm nghèo đa chiều gắn với thực tiễn, phù hợp với điều kiện của người dân trong xã?
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Đề tài sử dụng những số liệu thứ cấp như:
- Các thông tin về công tác giảm nghèo của địa phương
Trang 27- Báo cáo tình hình công tác xã hội của địa phương
- Các thông tin do cán bộ địa phương cung cấp
- Các kết quả nghiên cứu, các kinh nghiệm giảm nghèo của người dân địa phương
3.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
3.3.2.1 Chọn điểm điều tra
Xã Như Cố là một xã miền núi, người dân chủ yếu hoạt động sản xuất nông nghiệp, điều kiện còn gặp nhiều khó khăn Xã có tổng 11 thôn, chọn 3 thôn để điều tra đó là: Thôn Nà Chào, thôn Nà Luống và thôn Nà Tào Trong đó 2 thôn gần trung tâm xã là thôn Nà Tào và thôn Nà Chào, 1 thôn xa trung tâm xã và có số dân đông
là thôn Nà Luống
3.3.2.2 Chọn mẫu điều tra
Trong 3 thôn điều tra, chọn ra 60 hộ để tiến hành điều tra phỏng vấn
Theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên mỗi thôn chọn ra 20 hộ, tương ứng với 4 nhóm hộ: Khá, trung bình, cận nghèo, nghèo Đồng thời phỏng vấn các cán bộ
xã và các trưởng thôn của các thôn điều tra
3.3.2.3 Phương pháp điều tra:
Phương pháp quan sát: Quan sát trực quan về điều kiện thực tế của địa bàn cũng như về thông tin của hộ điều tra để có được thông tin cần thiết Đồng thời quan sát cũng là một phương pháp kiểm tra tính chính xác của thông tin phỏng vấn được
3.3.2.4 Nội dung phiếu điều tra:
Phiếu điều tra gồm các nội dung liên quan đến thông tin chung của hộ, tình hình sản xuất và đời sống của hộ năm 2014 và các chỉ số đo lường nghèo đa chiều
3.3.3 Phương pháp kiểm tra thông tin thu thập được
Những thông tin thu thập được cần được kiểm tra chéo để tăng thêm tính chính xác và độ tin cậy của thông tin
Trang 283.3.4 Phương pháp tổng hợp, xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu, thông tin thứ cấp: Được phân tích, tổng hợp sao cho phù hợp với mục tiêu của đề tài
- Số liệu sơ cấp: Được xử lý trên bảng Excel
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Các số liệu phân tích được so sánh qua các năm, các chỉ tiêu để thấy được những thực trạng liên quan đến vấn đề nghiên cứu
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ
- Bình quân diện tích đất đai/hộ
- Bình quân diện tích đất đai/nhân khẩu
- Tỷ lệ lao động/nhân khẩu
3.4.2 Chỉ tiêu đánh giá công tác giảm nghèo
- Tỷ lệ hộ nghèo = Tổng số hộ nghèo/Tổng số hộ
- Tỷ lệ hộ cận nghèo = Tổng số hộ cận nghèo/Tổng số hộ
Trang 29PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên,kinh tế-xã hội của xã Nhƣ Cố
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Xã Như Cố nằm ở phía Nam của huyện Chợ Mới, cách trung tâm huyện khoảng 7km, với tổng diện tích tự nhiên 4.504,43ha
- Phía Bắc giáp xã Nông Hạ
- Phía Nam giáp xã Quảng Chu
- Phía Đông giáp xã Bình Văn và tỉnh Thái Nguyên
- Phía Tây giáp xã Thanh Bình và xã Yên Đĩnh
Xã Như Cố có vị trí tương đối thuận lợi, là cầu nối giữa trung tâm huyện Chợ Mới với các xã Phía Đông của huyện, với vị trí này thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá, thúc đẩy các hoạt động thương mại - du lịch, phát triển kinh tế trong khu vực
4.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình Như Cố chủ yếu là đồi núi cao, dốc có nhiều khe, suối lớn, nhỏ, chia cắt phức tạp chia cắt địa hình thành 2 vùng riêng biệt theo đường tỉnh lộ 256 Độ cao trung bình 400m - 600m (cao nhất là đỉnh núi Mu Tồ cao 858,8m, ranh giới giáp với xã Nông Hạ và Bình Văn, điểm thấp nhất đồng thôn Khuổi Chủ 64,8m), độ dốc trung bình 250 - 350
4.1.1.3 Khí hậu
Khí hậu xã Như Cố mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình trong năm 21oC Các tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất là tháng 6,7
và tháng 8 (27 - 27,5oC), các tháng có nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1 (14 - 14,5oC) Tổng tích nhiệt bình quân năm là 7.850oC Mặc dù nhiệt độ còn phân hoá theo độ cao và hướng núi, nhưng không đáng kể
Trang 30Ngoài chênh lệch về nhiệt độ theo các mùa trong năm, khí hậu xã Như Cố còn
có những đặc trưng khác như sương mù, sương muối Một năm bình quân có khoảng 87 - 88 ngày sương mù vào các tháng 10, 11 số ngày sương mù thường cao hơn Đôi khi có sương muối, mưa đá nhưng không nhiều, bình quân mỗi năm có 2 -
3 ngày, thường vào các tháng 12 và tháng 1 và đầu mùa xuân
Lượng mưa thuộc loại trung bình 1.500 – 1.510mm/năm Các tháng có lượng mưa lớn là tháng 7 và tháng 8, có ngày mưa tới 100mm/ngày Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và chiếm tới 75 - 80% lượng mưa cả năm Thịnh hành là các chế độ gió mùa Đông Bắc kèm theo không khí khô lạnh và gió mùa Đông Nam mang theo hơi nước từ biển Đông tạo ra mưa về mùa hè
4.1.1.4 Thuỷ văn
Trên địa bàn xã có suối Nhị Ca chảy qua và hệ thống suối nhỏ tương đối dày dốc tụ hội chảy vào Suối Nhị Ca Nguồn nước này phuc vụ cho nhu cầu sinh hoạt
và sản xuất của nhân dân
4.1.1.5 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất
Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ thổ nhưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn,
xã Như Cố có 2 loại đất chính sau:
+ Đất ruộng: Là do tích tụ phù sa của suối lớn Nhị Ca và các co suối nhỏ khác Đất có tầng phù sa dày, có màu xám đen, hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình, thích hợp cho các loại cây lương thực và cây hoa màu
+ Đất đồi: Là đất Feralits màu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung bình, nghèo dinh dưỡng và thường ở những nơi có độ dốc tương đối lớn, loại đất này thích hợp cho cây công nghiệp lâu năm và trồng rừng
- Tài nguyên nước
+ Nước mặt: Có hệ thống sông, suối, ao hồ phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn các thôn bản là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất
Trang 31nông nghiệp của nhân dân Nhưng do các suối nhỏ hẹp, độ dốc tương đối lớn, chênh lệch lưu lượng nước theo mùa, nhất là mùa mùa khô thường gây hạn hán kéo dài gây ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cũng như sản xuất của nhân dân
+ Nước ngầm: Xã chưa có điều tra, khảo sát, đánh giá đầy đủ về trữ lượng và chất lượng nước ngầm, nhưng qua khảo sát các giếng đào trong xã cho thấy trữ lượng và chất lượng nước ngầm ở độ cao khoảng 20m khá dồi dào có quanh năm và chất lượng đảm bảo vệ sinh
Nhìn chung nguồn nước cung cấp chủ yếu hiện nay của xã là nước mặt, nhưng
do tập quán sinh hoạt và sản xuất của nhân dân gây nên ô nhiễm nguồn nước cần phải xử lý trước khi sử dụng cho sinh hoạt đồng thời cần bảo vệ phát triển rừng và môi trường sinh thái để bảo vệ nguồn sinh thuỷ
- Tài nguyên rừng
Theo kết quả thống kê hiện trạng và sử dụng đất lâm nghiệp tính đến ngày 01/01/2011 của toàn xã là 3.893,51 ha, chiếm 86,44% diện tích tự nhiên Trong đó: + Đất rừng phòng hộ: 1.324,35 ha, chiếm 29,40% diện tích tự nhiên toàn xã Đất lâm nghiệp chỉ có rừng tự nhiên phòng hộ là 1.324,25 ha
+ Đất rừng sản xuất: 2.569,16 ha, chiếm 57,04% diện tích tự nhiên toàn xã Bao gồm đất có rừng tự nhiên sản xuất là 2.409,27 ha và đất có rừng trồng sản xuất
là 132,86 ha, đất khoanh nuôi phục hồi rừng sản xuất 0,72 ha và đất trồng rừng sản xuất 26,31 ha
Nhìn chung, tài nguyên rừng có vai trò rất quan trọng trong phòng hộ, bảo vệ môi trường và điều hoà không khí, chống xói mòn đất, giữ nguồn nước Tuy nhiên,
do quá trình khai thác lợi dụng rừng chưa thực sự hợp lý, công tác quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng ít nhiều còn bất cập, nên tài nguyên rừng bị suy giảm, hệ động vật, thực vật rừng ngày càng suy giảm về số lượng và chất lượng tổ thành động thực vật, diễn thế hệ sinh thái rừng đi theo chiều hướng không có lợi Vì vậy, thời gian tới cần có biện pháp quản lý, bảo vệ rừng, khai thác lợi dụng và phát triển rừng một
Trang 32cách hợp lý nhằm đem lại hiệu qủa cao về mọi mặt
- Tài nguyên khoáng sản
Trên địa bàn xã Như Cố không có các tài nguyên khoáng sản quý hiếm, tuy nhiên vẫn có các loại tài nguyên như cát, sỏi, đá, nhân dân đang tận dụng khai thác làm vật liệu xây dựng cho nhu cầu của địa phương và kinh doanh thành phẩm.[4]
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Ngô cũng là cây trồng chủ yếu của người dân địa phương Diện tích trồng ngô qua các năm cũng thay đổi không đáng kể, ngô chủ yếu trồng ở các soi ngô, ruộng cạn không thể trồng lúa thì người dân trồng ngô Diện tích và năng suất ngô có xu hướng tăng qua 3 năm
Ngoài lúa và ngô là hai cây trồng chính còn có một phần diện tích trồng chè, lạc, sắn, khoai lang, rau các loại, phục vụ cho chăn nuôi cũng như đời sống của người dân
Trang 33Bảng 4.1: Kết quả sản xuất một số cây trồng chính tại xã Nhƣ Cố
Trang 34- Chăn nuôi
Trồng trọt là ngành tạo tiền đề cho ngành chăn nuôi phát triển Tận dụng các sản phẩm của ngành trồng trọt làm thức ăn, nguyên liệu cho ngành chăn nuôi, đã góp phần vào sự phát triển chăn nuôi của địa phương
Bảng 4.2: Tình hình chăn nuôi của xã Nhƣ Cố giai đoạn 2012-2014
STT Vật nuôi
Năm
2012 (con)
Năm
2013 (con)
Năm
2014 (con)
So sánh(%) 2013/
(Nguồn : Ban thống kê xã Như Cố)
Qua bảng trên ta thấy: Tổng đàn trâu bò qua các năm có sự thay đổi không đáng kể và có xu hướng tăng Hầu hết các gia đình bình quân nuôi 1-2 con trâu, còn
bò thì có nhiều gia đình thường nuôi thành đàn Đây là nguồn sức kéo và là nguồn cung cấp phân bón cho hoạt động sản xuất nông nghiệp
Đàn ngựa có số lượng tăng qua các năm, tốc độ tăng bình quân đạt 118,31% Tại địa phương, ngựa chủ yếu dùng để thịt và nuôi để buôn bán
Tương tự như ngựa số lượng dê và lợn cũng tăng đều qua các năm Điều này cho thấy người dân đã biết tận dụng những tiềm năng về thức ăn, sức lao động, thời gian nông nhàn để nâng cao thu nhập Đàn gia cầm có sự giảm mạnh, tốc độc giảm bình quân là 96,21% Do trên địa bàn thời gian qua đã dịch cúm trên diện rộng, làm cho người dân không còn dám nuôi nhiều gia cầm
Trang 35Tuy nhiên trên địa bàn chưa hình thành các địa điểm chăn nuôi tập trung, phần lớn đều nuôi theo quy mô hộ gia đình Vẫn còn tình trạng nhiều hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi đặt gần nơi ở và sinh hoạt của gia đình gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và vệ sinh môi trường trong khu dân cư
- Lâm nghiệp
Thực trạng trồng rừng thuộc dự án 147, nhân dân đã thực hiện xong 66,68ha/50ha Ngoài ra nhân dân còn tự trồng được 20ha và 9,16ha rừng phân tán Năm 2014 nhân dân trồng chè mới được 12,29ha với tổng số 231.052 cây Cấp phát giống cây cam được 2.115 cây Hiện nay nhân dân tiến hành trồng và chăm sóc bảo đảm cho cây sống và phát triển tốt Cây hồng không hạt cấp cho 162 hộ = 3.391 cây
- Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản của xã hiện nay là 19,56 ha của các họ gia đình Bên cạnh các ngành chăn nuôi khác, xã có chủ trương mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản tại các khu vực ao, hồ, sông, suối
- Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn và thương mại dịch vụ
Trên địa bàn xã hiện nay có các hộ sản xuất phi nông nghiệp như xây dựng, xay sát,mây tre đan,làm mộc Xã không phát triển lĩnh vực dịch vụ thương mại Chỉ có một số hoạt động dịch vụ nông nghiệp, hàng hóa bán lẻ với quy mô nhỏ lẻ
Trang 363 Tổng lao động làm việc trong các ngành kinh tế Người 1430
(Nguồn: Ban thống kê xã Như Cố)
Toàn xã có 2.603 người, chủ yếu hoạt động trng lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực phi nông nghiệp rất ít và chỉ là nghề phụ, làm trong thời gian nông nhàn Số nhân khẩu trên hộ đạt 4,1 người/hộ Quy mô này đạt trung bình, không cao
Trang 37kiên
cố
Nhà bán kiên cố
Nhà cần nâng cấp
(Nguồn: Ban thống kê xã Như Cố)
Tổng số diện nhà ở của người dân địa phương là 6.337 nhà Trong đó nhà bán kiên cố chiếm nhiều nhất là 422 nhà chiếm tỷ lệ 66,6% Nhà kiên cố chiếm tỷ lệ thấp gồm 59 nhà, chiếm 9,3% Nhà cần nâng cấp bao gồm nhà đơn sơ và nhà thiếu kiên cố chiếm 24,5%
4.1.2.3.Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
- Giao thông
Nhìn chung trong những năm qua được sự đầu tư của Nhà nước cộng với những đóng góp ngày công lao động của nhân dân, hệ thống mạng lưới đường giao thông bước đầu được hình thành đã đáp ứng được phần nào nhu cầu giao thông đi
Trang 38lại và phát triển kinh tế của địa phương Tuy nhiên do điều kiện địa hình phức tạp, khí hậu thời tiết, đặc điểm phân bố dân cư nên việc đầu tư mở mới một số tuyến đường liên thôn bản gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó nguồn vốn đầu tư có hạn chính vì vậy hiện tại một số tuyến đường hiện có bị xuống cấp, mặt đường hẹp, hư hỏng nặng giao thông đi lại khó khăn, nhất là vào mùa mưa bão Trong những năm tới cần mở mới và nâng cấp một số tuyến đường nhằm đáp ứng tốt nhu cầu giao thông đi lại của người dân, thúc đẩy kinh tế phát triển và thực hiện quy hoạch nông thôn mới trong giai đoạn đến năm 2020
- Thuỷ lợi
Nhìn chung hệ thống kênh mương thuỷ lợi của xã đã đáp ứng tương đối tốt nhu cầu nước tưới tiêu cho sản xuất, đạt khoảng 80% diện tích Tuy nhiên hiện tại một số công trình xuống cấp, cần được bê tông hoá nâng cấp sửa chữa, để đáp ứng tốt nhu cầu tưới tiêu hiện tại, bên cạnh đó cần xây dựng thêm một số công trình thuỷ lợi mới đáp ứng tốt nhu cầu nước tưới cho các diện tích canh tác nông lâm nghiệp gia tăng trong kỳ quy hoạch để thực hiện quy hoạch nông thôn mới trong giai đoạn đến năm 2020
- Năng lượng
Hiện tại đại đa số các thôn bản trong xã đã có điện lưới Quốc gia đã đáp ứng được phần nào nhu cầu về điện sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, tuy nhiên do nguồn vốn đầu tư hạn chế đặc điểm địa hình và sự phân bố dân cư do vậy hiện tại vẫn còn có một hộ trong các thôn bản chưa có điện lưới Trong những năm tới cần huy động mọi nguồn vốn để xây dựng lắp đặt một số tuyến đường điện, trạm biến áp nhằm đáp ứng tốt nhu cầu về điện cho nhân dân toàn xã
- Bưu chính viễn thông
Bưu chính viễn thông được đầu tư, tạo điều kiện cho thông tin liên lạc cho nhân dân Hiện tại xã có 1 điểm bưu điện văn hoá xã xây kiên cố nằm ngay tại khu trung tâm
xã, có một cán bộ phụ trách, đáp ứng tốt nhu cầu thông tin liên lạc, đọc nghiên cứu sách báo tài liệu của nhân dân địa phương Năm 2014, đã có 14/14 thôn lắp đặt máy điện thoại, bình quân 65 máy/100 người dân Số hộ gia đình đã xem truyền hình đạt 100% Số