1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo (Khóa luận tốt nghiệp)

68 201 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 765,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo.

Trang 1

CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & PTNT Khóa học : 2011 - 2015

Thái Nguyên - 2015

Trang 2

CỦA VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế & PTNT

Giảng viên hướng dẫn : ThS Đỗ Hoàng Sơn Khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm

Thái Nguyên - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận: “Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải

thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo”, là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi Đề tài hoàn

toàn trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Đề tài được

sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ

rõ nguồn gốc, các tài liệu tham khảo đã được chỉ rõ đầy đủ mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề tài này đã được cảm ơn

Thái nguyên, tháng 06, năm 2015

Sinh viên

Hoàng Văn Định

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với quan điểm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn nhằm giúp cho sinh viên nắm vững những kiến thức đã học và vận dụng có hiệu quả vào thực tiễn, mỗi sinh viên trước khi hoàn thành chương trình đào tạo của nhà trường đều phải trải qua quá trình thực tập tốt nghiệp Trong quá trình nghiên cứu và viết luận văn em đã nhận được sự quan tâm hướng dẫn và giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm dạy bảo của các thầy – cô giáo khoa Kinh Tế & Phát Triển Nông Thôn Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn đến UBND xã Thiện Kế – huyện Sơn Dương – tỉnh Tuyên Quang đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất

Đặc biệt em vô cùng biết ơn thầy giáo Th.S Đỗ Hoàng Sơn đã trực tiếp

hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em trong quá trình thực tập để em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian có hạn, trình độ bản thân còn hạn chế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên bản khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót

Em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè để bản khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 06 năm 2015

Sinh viên

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai tại xã Thiện Kế 24

Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Thiện Kế 27

Bảng 4.3: Phân loại kinh tế hộ theo tự đánh giá của các hộ 33

Bảng 4.4: Phân loại hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo tại địa phương 33

Bảng 4.5: Các tài sản chủ yếu của các hộ điều tra 34

Bảng 4.6: Hiện trạng nhà ở của các hộ điều tra 34

Bản 4.7: Các chỉ tiêu thu nhập – chi phí của 3 nhóm kinh tế hộ 35

Bảng 4.8: Thu nhập trung bình năm của các nhóm kinh tế hộ 38

Bảng 4.9: Thu nhập từ rừng và các hoạt động liên quan đến rừng của các nhóm hộ 38

Bảng 4.10: Diện tích lúa nước theo nhóm hộ 39

Bảng 4.11: Nhân khẩu lao động của các hộ điều tra 40

Bảng 4.12: Thực trạng vay vốn của các hộ điều tra 40

Bảng 4.13: Các thông tin và khả năng tiếp cận thông tin 42

Bảng 5.1: Chiến lược sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 46

Trang 7

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4

1.5 Cấu trúc của khóa luận 4

Phần 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG 5

2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững 6

2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ 8

2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG 9

2.2 Cơ sở thực tiễn 12

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 12

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 14

2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam 15

2.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại cac xã vùng đệm nghiên cứu 17

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

Trang 8

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 19

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu 19

3.3.2 Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 19

3.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 20

3.4.1 Phương pháp chung 20

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 20

3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu 22

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 23

4.1 Đánh giá thực trạng điều kiện cơ bản địa bàn nghiên cứu 23

4.1.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên 23

4.1.2 Thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội 26

4.1.3 Điều kiện về hạ tầng cơ sở 28

4.1.4 Những vấn đề tồn tại chính trong phát triển kinh tế - xã hội 31

4.2 Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 33

4.2.1 Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu 33

4.2.2 Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 35

4.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực của hộ 39

4.3.1 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai 39

4.3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng lao động của các hộ 39

4.3.3 Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn sản xuất 40

4.3.4 Đánh giá thực trạng kinh nghiệm sản xuất 41

4.3.5 Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất 41

4.3.6 Đánh giá điều kiện thị trường 42

4.3.7 Đánh giá các điều kiện vốn xã hội 43

Trang 9

4.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển kinh tế hộ ở vùng đệm – Nguyên nhân

của nó 43

Phần 5: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN XÃ THIỆN KẾ THUỘC VÙNG ĐỆM VQG TAM ĐẢO 46

5.1 Xây dựng chiến lược cải thiện sinh kế cho các hộ dân vùng đệm 46

5.2 Các giải pháp chủ yếu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 49

5.3 Các giải pháp nhằm nâng cao đơi sống của người dân vùng đệm………51

5.4 Đề xuất 51

5.5 Kiến nghị 54

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 10

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Đã từ lâu vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học, chất lượng của các hệ sinh thái và các cảnh quan, hệ động vật, thực vật giàu có của nhiều vườn quốc gia bị suy thoái

do sức ép của nhân dân sinh sống phía ngoài các vườn quốc gia đã được nhiều người quan tâm Việc xây dựng vùng đệm, tạo thành một vành đai bảo vệ bổ sung cho vườn quốc gia (VQG) để loại trừ các ảnh hưởng từ phía ngoài đã được đặt ra ở nhiều nước trên thế giới

Ở nước ta, nhiều vườn quốc gia và các khu bảo tồn đã và đang được xây dựng, nhưng phần lớn các khu vực này lại thường nằm xen với khu dân cư và chịu sức ép hết sức nặng nề từ phía ngoài Để giải quyết vấn đề này và nhiệm vụ bảo tồn, cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu, đáp ứng những nhu cầu trước mắt của nhân dân địa phương, nhưng đồng thời cũng đáp ứng được những yêu cầu của bảo tồn Vùng đệm được xây dựng chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao cuộc sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ để họ giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên

họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn

Người dân vùng đệm các Vườn Quốc gia (VQG) đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng của các VQG Ngược lại, sự suy giảm diện tích và chất lượng rừng dẫn đến sự thiếu hụt lương thực, giảm các nguồn thu nhập, tác động xấu tới điều kiện kinh tế của người dân và gia tăng độ rủi

ro cho người dân có sinh kế phụ thuộc vào rừng

Tìm kiếm giải pháp cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm, trong khi vẫn bảo tồn bền vững tài nguyên rừng của VQG là vô cùng cấp thiết Đánh giá thực trạng sinh kế, các nguồn lực sinh kế làm cơ sở cho việc đề xuất những biện giải pháp cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm VQG Tam Đảo có

ý nghĩa không chỉ thực tiễn mà còn có ý nghĩa cả về lý luận Những giải pháp sinh

kế phù hợp tại vùng đệm sẽ giúp cho các hộ nông dân phát triển những sinh kế mới,

Trang 11

cải thiện những sinh kế hiện có và khai thác có hiệu quả các nguồn lực sinh kế hiện

có một cách bền vững tạo thêm được nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho họ Phát triển sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm VQG Tam Đảo bền vững sẽ góp phần hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng

Xã Thiện Kế - Huyện Sơn Dương - Tỉnh Tuyên Quang là một xã thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia (VQG) Tam Đảo có diện tích tự nhiên là: 3020.03 ha, với tổng dân số là: 5951 nhân khẩu, trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Sán Dìu, Kinh và Dao Kinh tế của xã Thiện Kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, tỷ lệ

hộ nghèo 6,4% Năm 1996 VQG Tam Đảo được thành lập, các hộ nông dân vùng đệm vốn sống dựa vào rừng bị tác động ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống, việc làm, thu nhập và thậm chí cả các giá trị văn hóa truyền thống Các hộ nông dân vùng đệm VQG Tam Đảo trước đây vốn quen với phương thức kiếm sống truyền thống là khai thác các sản phẩm từ rừng, canh tác nương rẫy, nhưng từ khi thành lập Vườn Quốc gia nguồn thu từ rừng không còn, không còn đất để canh tác nương rẫy nên hầu hết các hộ nông dân vùng đệm đời sống còn nhiều khó khăn Tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm xã Thiện Kế

là vô cùng cấp thiết góp phần giảm áp lực lên công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại VQG Tam Đảo

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, Em chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện

Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích được các tiềm năng, những tồn tại và nguyên nhân của nó trong những hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Tam Đảo Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài nhằm tìm kiếm và

đề xuất những giải pháp cho việc cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã nghiên cứu

Trang 12

- Đánh giá được những vấn đề tồn tại trong các hoạt động tạo sinh kế của các

hộ nông dân tại xã Thiện Kế, phân tích làm rõ nguyên nhân của nó

- Phân tích cụ thể được các tiềm năng cho việc cải thiện các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Thiệ Kế

- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm VQG Tam Đảo

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này đã giúp tác giả nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra, đề tài cũng giúp tác giả nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu và bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề cấp thiết ngoài thực tiễn

- Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn tại các vùng miền núi, những người làm công tác phát triển và bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam

1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để chính quyền địa phương các cấp đưa ra được các dự án, đề án cho phát triển kinh tế tại các xã vùng đệm VQG Tam Đảo nói chung và cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm nói riêng

- Đối với Ban quản lý VQG Tam Đảo, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ gợi

mở ra hướng quản lý bảo vệ và phát triển rừng VQG theo hướng có sự tham gia của

Trang 13

người dân, đảm bảo hài hòa được mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng VQG

và sinh kế của người dân vùng đệm

- Những giải pháp mà đề tài đề xuất là những gợi mở, những định hướng giúp các hộ nông dân vùng đệm VQG có thể cải thiện và phát triển những sinh kế mới nhằm đảm bảo về mặt thu nhập và việc làm trong tương lai

- Đối với tác giả của đề tài, thông qua nghiên cứu này đã nâng cao được những hiểu biết về thực tế phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG nói riêng

1.4 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ thực tế những khác biệt trong hoạt động sinh kế của các

hộ nông dân tại vùng đệm VQG Tam Đảo so với các vùng nông thôn miền núi khác

- Đề tài cũng làm rõ được mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn tài nguyên rừng VQG Tam Đảo với những hoạt động sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm

- Phát hiện và làm rõ những tiềm năng cho cải thiện sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG Tam Đảo làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế bền vững tại địa bàn nghiên cứu

1.5 Cấu trúc của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phần 5: Các giải pháp, kiến nghị

Trang 14

Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

 Chia vùng đệm thành 2 loại chính:

+ Vùng đệm có dân sinh sống

+ Vùng đệm không có dân sinh sống

– Vị trí vùng đệm: nằm liền kề ngoài khu bảo tồn (KBT), bao quanh KBT và không thuộc KBT

– Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm:

+ Ranh giới phía bên trong vùng đệm: Là ranh giới giữa KBT và vùng đất đai bao quanh KBT

+ Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: Là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT với vùng đất không trực tiếp bao quanh KBT; ranh giới đó thường được xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra như: vách núi, đường mòn, đường ô tô, đường sông, đường sắt, các con suối, hồ chứa nước…

2.1.1.2 Vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG

Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên VQG đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, lần đầu tiên vùng đệm

Trang 15

được đưa vào quy hoạch cho VQG Cúc Phương và sau đó là các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG khác Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt được xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi Điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG Theo Võ Quý (1993, 1997) chức năng chính của vùng đệm gồm: Chức năng vùng đệm xã hội: Việc quản lý vùng đệm trước hết nhằm cung cấp các sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống của người dân địa phương Việc sử dụng những sinh vật hoang dã của vùng đệm có tầm quan trọng thứ yếu Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai của cư dân ở đây không được mâu thuẫn với mục tiêu chính của khu bảo tồn Chức năng vùng đệm mở rộng: Việc quản lý vùng đệm nhằm mục đích mở rộng phạm vi của môi trường sống có trong khu bảo tồn sang vùng đệm, nhờ đó mà mở rộng môi trường sống của các loài hoang dã có trong khu bảo tồn Từ đó có thể hiểu, vùng đệm chính là khu vực diễn ra sự trao đổi lợi ích giữa các hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồng dân cư địa phương và các hoạt động của các loại sinh vật hoang dã vốn có trong khu bảo tồn, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi

2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững

b Sinh kế bền vững

Hướng phát triển sinh kế cho người dân vùng đệm tại các khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia trong và ngoài nước là sinh kế bền vững Trước

Trang 16

khi xem xét vấn đề sinh kế bền vững chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm

về phát triển bền vững

Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển thì “Phát triển bền vững

là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ” Hội nghị môi trường toàn cầu Rio de Janerio (6/1992) đưa ra thuyết phát triển bền vững; nghĩa là sử dụng hợp lý

và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ Môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế Phát triển bền vững là một mô hình chuyển đổi mà nó tối ưu các lợi ích kinh tế và xã hội trong hiện tại nhưng không hề gây hại cho tiềm năng của những lợi ích tương tự trong tương lai [11]

Phát triển là mô hình phát triển mới trên cơ sở ứng dụng hợp lý và tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của con người thế hệ hiện nay mà không làm hại cho thế hệ mai sau Một sinh kế được xem là bền vững khi

nó phải phát huy được tiềm năng con người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ Nó phải có khả năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho các thế hệ tương lai Sinh kế bền vững, nếu theo nghĩa này, phải hội đủ những nguyên tắc sau: Lấy con người làm trung tâm, dễ tiếp cận, có sự tham gia của người dân, Xây dựng dựa trên sức mạnh con người và đối phó với các khả năng dễ bị tổn thương, Tổng thể, Thực hiện ở nhiều cấp, Trong mối quan hệ với đối tác, Bền vững và Năng động

Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên

c Tài sản sinh kế

Khái niệm tài sản sinh kế rất mềm dẻo và tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của địa phương nơi áp dụng DFID (1999) đã xây dựng một cách cụ thể các tính chất

Trang 17

của năm tài sản sinh kế Nói chung, tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến ức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng

và chất lượng của lao động Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần,năng lực lãnh đạo, v.v [11]

2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ

* Khái niệm hộ

- Hộ gia đình, tập những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống,cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống.v.v.Tuy nhiên cũng có thể

có một vài trường hợp một số thành viên của hộ không có họ hàng huyết thống, nhưng

những trường hợp này rất ít xảy ra

- Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan

hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai [13]

Hộ gia đình được phân loại như sau:

 Hộ một người (01 nhân khẩu) Là hộ chi có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn

 Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ có 1 thế hệ) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ

 Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan

hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác;

 Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại Hộ mở rộng [13]

Trang 18

* Khái niệm hộ nông dân

- Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ

- Hộ nông dân là mô ̣t hay nhiều người c ùng được nhà nước quản lý chung

mô ̣t sổ hô ̣ khẩu,có nguồn thu nhập chính từ sản xuất Nông Nghiệp đem lại Hô ̣ nông dân xuất phát từ viê ̣c quản lý nhân khẩu của Nhà nước , nó có từ lâu đời cho nên nó gần như là hiển nhiên

* Khái niệm kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán).Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế Có một thực tế cần có sự phân biệt rõ ràng giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại [13]

2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG

* Các chính sách áp dụng đối với vùng đệm thời gian vừa qua

Theo quy hoạch mới nhất của Bộ NN& PTNT, toàn quốc có khoảng 94 khu bảo tồn thiên nhiên trong đó có 13 vườn quốc gia, ngoài ra có 5 khu bảo tồn đang hoàn thiện dự án trình Chính phủ chuyển thành vườn quốc gia Có thể nói chưa bao giờ các địa phương lại quan tâm đến công tác bảo tồn thiên nhiên như bây giờ, tuy nhiên việc xây dựng và bảo vệ khu bảo tồn mới là điều cần phải quan tâm hàng đầu Gần 60 năm kể từ ngày Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập (7/7/1962), công tác quản lý các khu bảo tồn đã cho ta thấy rõ một thực tế là: Đời sống của dân

cư sống quanh khu bảo tồn gắn liền với khu bảo tồn; 90% các hoạt động thu hái, săn bắt và khai thác các giá trị về đa dạng sinh học được thực hiện bởi người ngoài khu bảo tồn hay nói cách khác là người sống ở vùng đệm Các nhà bảo tồn đã nhận thức một cách chắc chắn rằng đầu tư vào vùng đệm để nâng cao nhận thức bảo tồn, nâng

Trang 19

cao đời sống của người dân vùng đệm làm giảm áp lực về nhu cầu khai thác tài nguyên của khu bảo tồn, làm cho hoạt động bảo tồn có hiệu quả hơn Mặc dù biết vậy, nhưng cho đến nay chưa có một chính sách cụ thể riêng biệt nào chuyên đầu tư cho vùng đệm của các khu bảo tồn, nhưng trong thực tế việc chỉ đạo với các chính sách khác nhau đã nhằm vào giải quyết những vấn đề của vùng đệm được thể hiện ở

một số chương trình lớn như:

+ Chương trình 327

Chương trình 327 là một chương trình lớn nhằm hỗ trợ cho sự phát triển rừng được triển khai từ năm 1992 Trong khuôn khổ Chương trình 327, vốn đã được cấp cho một loạt các dự án do các tỉnh xây dựng Các dự án này hỗ trợ cho các hoạt động liên quan đến việc trồng cây trên đất trống, đất cát ven biển và trong các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất Để giảm nghèo và hỗ trợ cho việc định canh định cư, sự hỗ trợ còn được cung cấp để đẩy mạnh chăn nuôi, trồng cây lương thực và cây công nghiệp Mỗi hộ trong vùng dự án được cấp một diện tích đất nhất định để trồng lại rừng, bảo vệ và làm giàu hoặc tái sinh rừng, đất được cấp cho mỗi hộ phụ thuộc vào quỹ đất sẵn có, ngân sách, khả năng lao động và điều kiện kinh tế của hộ Khoảng 60% vốn được cấp có thể dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng, thiết bị khoa học và kỹ thuật, phúc lợi xã hội, trồng cây gây lại rừng trên đất rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, vốn được cấp dưới dạng cho không và không phải hoàn trả 40% vốn còn lại của dự án được cấp cho các hộ để thực hiện các hoạt động sản xuất và phải hoàn trả lại nhưng không phải trả lãi Để điều chỉnh Chương

trình 327, ngày 12/9/1995 Thủ Tướng Chính Phủ ra Quyết Định số 556/TTg chuyển

trọng tâm các hoạt động của Chương trình 327 theo hướng tập trung đầu tư ở rừng phòng hộ và rừng đặc dụng thông qua việc trồng cây và các mô hình nông lâm kết hợp và chủ yếu là dựa vào nông dân để thực hiện Chương trình này Không tiếp tục

hỗ trợ việc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, cây phân tán trừ khi nơi đó nằm trong phạm vi rừng phòng hộ và đặc dụng Chương trình đưa ra mục tiêu là trồng, bảo vệ và duy trì 250000 ha rừng mỗi năm từ 1996 đến 2010, một lượng lớn tiền (60%) được chi theo hướng chỉ đạo của Quyết định 556/TTg đã được cấp cho các

Trang 20

hộ nông dân dưới dạng trợ cấp để thực hiện hợp đồng bảo vệ, chăm sóc và trồng rừng mới Quyết định tập trung Chương trình 327 vào các vùng rừng phòng hộ, đặc dụng, trong đó có vùng đệm và tăng cường sự tham gia của nông dân là những thay

đổi chính Tuy nhiên, vào năm 1997, chỉ có 7 vườn quốc gia (Ba Vì, Bạch Mã, Bến

En, Cát Bà, Cúc Phương, Tam Đảo và Yok Don) dưới quyền quản lý của Bộ NN&PTNT, nhận được đầu tư thêm trong khuôn khổ chương trình 327/556 với tổng số vốn đầu tư là 1,4 triệu USD, ngân sách dành cho các hoạt động trong vùng đệm vẫn còn nhỏ so với ngân sách chi cho các hoạt động bên trong khu bảo tồn

+ Chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng

Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/6/1998 của Thủ Tướng Chính phủ và thông tư liên bộ (28/1999-TT-LT) tiếp theo đã đặt chính sách, mục tiêu và hướng dẫn thực hiện những hoạt động đầy triển vọng tiếp nối Chương trình 327 Chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng từ năm 1998 đến 2010 Chương trình trồng mới được chia ra như sau: Rừng đặc dụng và rừng phòng hộ 2 triệu hécta, trong đó 1 triệu héc ta tái sinh tự nhiên và trồng bổ sung, 1 triệu hécta được trồng mới với mục đích phòng hộ ở những khu vực xung yếu Rừng sản xuất 3 triệu hecta, trong đó 2 triệu hecta rừng cho cây công nghiệp (keo, tre, thông ) và một triệu hecta các cây

công nghiệp (cao su, chè, cây thuốc lá và cây ăn quả)

Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2012

Điều 8 Hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng

1 Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư cho cộng đồng dân cư thôn bản vùng đệm để

đồng quản lý rừng đặc dụng; mức hỗ trợ mỗi thôn bản là 40 triệu đồng/thôn, bản/năm

2 Khoản kinh phí này được chi cho các nội dung: Đầu tư nâng cao năng lực phát triển sản xuất (khuyến nông, khuyến lâm, giống cây, giống con, thiết bị chế biến nông lâm sản quy mô nhỏ); hỗ trợ vật liệu xây dựng cho thôn bản (đối với các công trình công cộng của cộng đồng như nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông thôn bản, nhà văn hoá…)

Trang 21

3 Ban quản lý rừng đặc dụng được giao quản lý kinh phí này theo quy định của quản lý kinh phí sự nghiệp kinh tế hiện hành Dự toán chi tiết hỗ trợ đầu tư vùng đệm hàng năm phải do thôn bản lập kế hoạch đề xuất; Ban quản lý rừng đặc dụng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã họp bàn với từng thôn bản để đồng phê duyệt (không phải lập dự án đầu tư) Kế hoạch chi tiêu này phải gắn với kế hoạch, cam kết bảo vệ rừng đặc dụng; thôn, bản nào thực hiện bảo vệ rừng không tốt, Ban quản lý rừng đặc dụng có quyền chuyển vốn hỗ trợ cho thôn bản khác Cộng đồng dân cư tổ chức giám sát thực hiện nội dung này theo quy định về chế độ dân chủ cơ sở

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG

Một trong những vấn đề vùng đệm ở các nước trên thế giới đó là xung đột vùng đệm Theo Chandraskharan xung đột tài nguyên là xung đột về quyền lợi giữa các nhóm xã hội khác nhau trong việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên nhóm này muốn tước đoạt lợi thế của nhóm khác Vì vậy có thể hiểu xung đột trong quản lý và sử dụng tài nguyên ở vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên là quá trình hình thành và phát triển các mâu thuẫn giữa các nhóm xã hội khác nhau về quyền lực, lợi ích, mục tiêu, quan điểm, nhân thức… Trong quá trình quản lý và sử dụng tài nguyên khu bảo tồn thiên nhiên

Xung đột với thể chế cộng đồng vì sự đại diện không thoả đáng, chia sẻ không công bằng về chi phí, lợi ích từ bảo vệ rừng và bị thiệt thòi của nhóm như phụ nữ và những người lao động không có ruộng đất; xung đột thành phần tham gia

ở cấp độ địa phương: Sự chồng chéo truyền thống và quyền sử dụng theo luật pháp; ngăn chặn những người tham gia quan trọng hưởng lợi như người du cư chăn nuôi gia súc từ cộng đồng quản lý tài nguyên rừng; thiếu sự rõ ràng về vai trò của cán bộ quản lý rừng; khả năng và quyền hạn của Ban quản lý bảo vệ rừng rất hạn chế; thiếu thông tin giữa các thành phần tham gia; xung đột giữa lĩnh vực lâm nghiệp; Sự thiết hụt giữa đào tạo mang tính định hướng với thực tế sản xuất; xung đột giữa chính sách và những thủ tục; mối liên kết giữa cộng đồng quản lý tài nguyên rừng với dự

án hỗ trợ bên ngoài; vấn đề sinh thái và cấu trúc tổ chức thiếu năng lực; xung đột

Trang 22

giữa quan điểm muốn chia sẽ quyết định quản lý với cộng đồng, với nâng cao quyền hạn của Ban quản lý rừng để tạo ra lợi nhuận từ sản phẩm gỗ và có thể chế ngự sự thay đổi quan điểm, thái độ và gồm nhu cầu của cộng đồng

+ Ở Vênêzuêla (Vườn quốc gia bán đảo Paria)

Uỷ ban quốc gia của Vênêzuêla đã đề xuất các chương trình phát triển cộng đồng, như hoạt động phát triển, giáo dục và nghiên cứu cho người lớn và trẻ em; đưa vào ứng dụng các phương pháp canh tác lâu bền cho cộng đồng địa phương; triển khai các hoạt động làm ăn, sinh sống mới để tạo thu nhập cho người dân như vườn nhà, nuôi ong, du lịch sinh thái; tiến hành nghiên cứu khoa học tại Vườn quốc gia [12]

+ Ở Niger (Khu dự trữ thiên nhiên Air - Tenere), diện tích 77.000ha, giải

pháp được đưa ra là: Tăng cường các dịch vụ xã hội, tạo việc làm mới, cho phép sử dụng có hạn chế, có kiểm soát một khoảng đồng cỏ nhất định, nguồn nước mùa khô; trích một phần thu nhập từ khu bảo vệ chuyển cho cộng đồng nhân dân địa phương (xây dựng trường học, bệnh viên…) giúp đỡ về chuyên môn và trang bị cho nhân dân thực hiện các đề án địa phương [9]

+ Ở Nêpan (Khu bảo tồn Ânnpurna)

Từ năm 1986 nước này tiến hành dự án bảo tồn nhằm đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, chú trọng sự tham gia của người dân địa phương như là những người hưởng thụ dự án; thu hút nhân dân vào các khâu trong quá trình dự án, từ việc lập quy hoạch, kế hoạch đến các quyết định và quá trình triển khai thực hiện, áp dụng nguyên tắc bền vững: bền vững về tài chính của dự án

và bền vững về khai thác tài nguyên; xúc tác để thu hút những nguồn lực từ ngoài khu vực bảo vệ, lập Uỷ ban Bảo tồn và phát triển do nhân dân chủ trì, dưới có các tiểu ban như quản lý rừng, trung tâm sức khoẻ, quy định các điều lệ và chỉ tiêu…[12]

Tóm lại, xung đột vùng đệm Khu bảo tồn thiên nhiên vô cùng đa dạng, nó thường phát sinh giữa cộng đồng vùng đệm, cộng đồng nội vi Khu bảo tồnthiên nhiên với Khu bảo tồn thiên nhiên và các cơ quan chức năng, có thẩm quyền Nguyên nhân thường do việc xây dựng các Khu bảo tồn đã làm mất đi lợi ích và cơ

Trang 23

hội tiếp cận tài nguyên của cộng đồng vùng đệm; không quan tâm đến vai trò, lợi ích, sự tham gia hay tạo sinh kế thay thế cho cộng đồng vùng đệm và đặc biệt các cộng đồng tái định cư Nhận thức các bên về vai trò, lợi ích của Khu bảo tồn thiên nhiên không giống nhau Vấn đề mấu chốt để giải quyết xung đột là áp dụng tiếp cận hành động có sự tham gia của cộng đồng, chính quyền địa phương; tổ chức cho các bên tham gia gặp gỡ, trao đổi

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG

Cho đến nay nước ta vẫn chưa có sự thống nhất về vùng đệm các khu bảo tồn, kể cả nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Do sức ép của nhân dân sinh sống xung quanh hay trong các khu bảo tồn ngày càng mạnh mà công tác bảo tồn gặp nhiều khó khăn Để giải quyết các mâu thuẫn nói trên, nhiều khu bảo tồn đã thực hiện một số dự án về nâng cao nhận thức môi trường, cải thiện cuộc sống cho người dân, nhất là những người nghèo sống xung quanh các khu bảo tồn và đã thu được một số kết quả khả quan Sau đây chúng ta cùng xem xét về tình hình vùng đệm ở nước ta trong những năm qua, các khó khăn gặp phải về quản lý vùng đệm và một

số kinh nghiệm rút ra từ việc thực hiện một số dự án có liên quan đến vùng đệm các khu bảo tồn, mong góp phần vào việc quản lý vùng đệm ngày càng tốt hơn, thực hiện được nhiệm vụ quan trọng là bảo tồn đa dạng sinh học và các hệ sinh thái tự nhiên phong phú của đất nước

* Tình hình vùng đệm ở nước ta trong thời gian qua

Cho đến nay ở nước ta vẫn chưa có sự thống nhất về vùng đệm, nhất là về nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý Nhiều khu bảo tồn, vườn quốc gia, trong luận chứng kinh tế kỹ thuật đã có đề xuất việc thành lập vùng đệm, diện tích, ranh giới vùng đệm, nhưng cũng có nhiều khu bảo tồn vườn quốc gia lớn không có vùng đệm trong luận chứng kinh tế kỹ thuật như Vườn quốc gia Ba Bể Xem xét các vùng đệm đã có hiện nay tại các vườn quốc gia và khu bảo tồn chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng việc thành lập các vùng đệm không theo một khuôn khổ thống nhất Dù vùng đệm của khu bảo tồn được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xẩy ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu

Trang 24

bảo tồn, tạo sức ép nặng nề lên khu bảo tồn, đã buộc các ban quản lý vườn quốc gia và khu bảo tồn phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cư

ở đây, giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải quyết những mâu thuẫn xẩy

ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn v.v Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng phải thường xuyên lo lắng,

và không thể bỏ qua được Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng của việc quản lý vùng đệm

Nhiều ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền thuộc các cấp (huyện và xã) có liên quan đến các khu bảo tồn và vườn quốc gia, trong nhiều năm qua, tuy chưa có sự hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, nhưng đã có nhiều cố gắng tổ chức các hoạt động bằng những hình thức khác nhau và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan Sức ép của nhân dân các địa phương này lên khu bảo tồn đã giảm đi đáng kể, như các vườn quốc gia Cúc Phương, Yok Đôn, Bạch Mã, Cát Tiên, các khu bảo tồn: Kẻ Gỗ, Xuân Thủy và một số khu bảo tồn khác nữa Một số dự án quốc tế cũng đã đạt nhiều kết quả trong việc

hỗ trợ các khu bảo tồn về nâng cao nhận thức cho người dân, hoặc giúp dân vùng đệm nâng cao cuộc sống để họ giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn Một số dự án trong khuôn khổ Chương trình nghiên cứu Việt Nam - Hà Lan cũng đã đề cập đến vấn đề vùng đệm

2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam

Các giải pháp lớn mang tầm quốc gia, quốc tế để giải quyết những nguyên nhân

từ xa rất quan trọng, nhưng không biết bao giờ mới đạt được, trong lúc đó nhiều dự án

và hoạt động nhỏ có thể tạo nên những biến đổi lớn nếu như mọi người tham gia các hoạt động hiểu rõ vai trò của mình Các dự án nhỏ về bảo vệ thiên nhiên thực hiện tại các địa phương không làm thay đổi được các chính sách ở mức quốc gia hay quốc tế nhưng lại có thể: Làm giảm bớt những ảnh hưởng của các chính sách chưa phù hợp với địa phương; và giải quyết được những vấn đề suy thoái môi trường có nguyên nhân trực tiếp từ các hoạt động của địa phương Để động viên được các cộng đồng địa phương tại các vùng đệm giải quyết được những khó khăn trước mắt, khi xây dựng dự

Trang 25

án ở đây cần phải lưu ý khởi đầu bằng những hành động nhỏ, giải quyết những việc gì cấp bách nhất mà người dân đang mong đợi:

- Đầu tiên nên chọn các hoạt động trực tiếp và nhanh chóng cải thiện được cuộc sống thường ngày của người dân (lương thực, nước, sức khỏe, nhà ở, tăng thu nhập…) Hơn ai hết, người dân hiểu rất rõ họ đang cần cái gì

- Tạo mọi điều kiện nâng cao nhận thức về thiên nhiên và môi trường Đây là khâu then chốt để làm cho mọi người hiểu được vấn đề và nguyên nhân gây ra suy thoái môi trường; tạo cho họ lòng tin là họ có thể tự cải thiện được cuộc sống của họ bằng cách sử dụng một cách hợp lý và lâu dài tài nguyên thiên nhiên (rừng, đất, nước mà họ có)

- Tạo niềm tự hào về những đặc trưng tự nhiên có một không hai của địa phương (như các loài đẹp và quý hiếm, các loài đặc hữu, các hình thái cây cỏ, các cảnh quan đặc trưng của địa phương )

- Lập kế hoạch hiện thực, với mục tiêu ngắn hạn "thấy được và vươn tới được" Những kỳ vọng xa xôi, không luận giải được và không hoàn thành được sẽ tạo ra sự thất vọng và những cản trở dẫn đến tình trạng trì trệ và mất lòng tin

- Tham khảo ý kiến và tôn trọng ý kiến của nhân dân, nhất là những người hưởng lợi, tránh áp đặt một kế hoạch cứng nhắc đưa từ trên xuống, nhất thiết không để dân hiểu nhầm là dự án đến thuê họ làm công việc của họ, mà dự án đến hỗ trợ họ giải quyết những khó khăn mà họ đang phải đối đầu

- Tạo được mô hình tốt cho mọi người noi theo, mô hình đó nên chọn người thực hiện phù hợp (nên lấy ý kiến của dân)

- Xây dựng tổ chức và phân phối công bằng lợi nhuận trong cộng đồng

- Lôi kéo sự tham gia và sự ủng hộ của những nhân vật chủ yếu như các nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo, các trưởng bản, các nhân vật cao cấp ở địa phương và sự

hỗ trợ của các tổ chức phi Chính Phủ

- Việc xây dựng quy hoạch phát triển vùng đệm cần tham khảo ý kiến của ban quản lý khu bảo tồn Muốn vậy khu bảo tồn phải được quản lý tốt và tạo được sự tin cậy của chính quyền và nhân dân địa phương trong việc phát triển vùng đệm

Trang 26

- Việc xây dựng vùng đệm và việc bảo vệ khu bảo tồn chỉ thành công khi có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền, nhân dân địa phương và ban quản lý khu bảo tồn

- Các dự án thực hiện tại vùng đệm cần phải có sự tham gia trực tiếp của chính quyền và cộng đồng địa phương vì đó chính là công việc của họ, và qua việc thực hiện

dự án họ cũng được đào tạo, nâng cao hiểu biết và nhất là nâng cao trình độ quản lý

Có như thế kết quả của dự án mới được vững bền

- Các vấn đề vùng đệm thường khó giải quyết một cách trọn vẹn trong thời gian 2-3 năm như thường lệ của các dự án hỗ trợ phát triển, mà nên tìm cách kéo dài dự án 10-15 năm, bằng những hành động thiết thực cho đến khi người dân có sự hiểu biết đúng đắn về khu bảo tồn, về vai trò vùng đệm, về trách nhiệm và quyền lợi của người dân vùng đệm và có cuộc sống tương đối ổn định

2.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại cac xã vùng đệm nghiên cứu

Những vấn đề tồn tại:

+ Về cơ sở hạ tầng : Cơ sở vật chất văn hoá thể thao của xã, thôn bản và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động văn nghệ, văn hoá, thể dục, thể thao còn yếu và thiếu Cơ

sở vật chất của trường học các cấp còn thiếu

- Các cơ sở vật chất khác như: trụ sở xã, điểm bưu điện văn hoá xã, trụ sở và điểm

kinh doanh của Hợp tác xã còn thiếu và đã xuống cấp

- Hệ thống đường giao thông còn nhiều tuyến chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân; đường giao thông nông thôn phần lớn chưa được cứng hoá, giao thông nội đồng chưa đáp ứng được yêu cầu; do đó hạn chế đến việc phát triển kinh tế, sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong xã

+ Về kinh tế: cấu kinh tế có phát triển nhưng còn chậm, sản xuất vẫn mang tính tự cung, tự cấp, trang trải, chưa mang tính hàng hoá đời sống của người dân đã được cải thiện, nhưng không phải không còn có khó khăn

- Người dân còn gặp khó khăn trong việc nắm bắt thông tin về thị trường, giá

cả đầu ra thấp

Trang 27

- Chi phí sản xuất tăng cao, đang đè nặng lên vai người nông dân, nhất là hộ dân nghèo Thu nhập và lợi nhuận từ trồng lúa của họ sẽ giảm, khiến cuộc sống của người làm ra hạt lúa thêm phần khó khăn.

- Hạn chế phát triển các cây nông nghiệp do diện tích đất trồng giảm,

- Chưa quy hoạch được khu chăn thả gia súc, chăn nuôi còn nhỏ lẻ, nhiều dịch bệnh

Trang 28

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ nông dân vùng đệm Vườn Quốc Gia Tam Đảo và các hoạt động tạo sinh kế của họ

- Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến môi trường sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm và các nguồn lực sinh kế của các hộ

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về thực trạng sinh kế của các hộ nông dân, tìm kiếm những tiềm năng làm cơ sở cho việc cải thiện sinh kế của họ Trên cơ sở

đó, đề tài đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế của các hộ nông dân tại xã Thiện

Kế thuộc vùng đệm VQG Tam Đảo Các nội dung có liên quan đến phong tục tập quán, các dự án cho phát triển vùng đệm, các chính sách đối với vùng đệm… cũng được đề tài đề cập nhưng không nghiên cứu sâu

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu tại xã Thiện Kế thuộc vùng đệm của VQG Tam Đảo

- Địa điểm điều tra cụ thể các hộ tại các thôn/bản: Thôn Ninh Tân, Cầu Xi,

Kế Tân, và thôn Vạt Chanh

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thơi gian nghiên cứu: Từ 23/02/2015 đến 25/05/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu

+ Thực trạng về điều kiện tự nhiên xã nghiên cứu

+ Thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội xã nghiên cứu

3.3.2 Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu

+ Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu

Trang 29

+ Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu

3.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ

+ Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai

+ Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng lao động

+ Đánh giá thực trạng sử dụng vốn sản xuất

+ Đánh giá thực trạng kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất

+ Đánh giá thực trạng đầu tư và sử dụng tư liệu sản xuất

+ Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất

+ Đánh giá điều kiện thị trường

+ Đánh giá các điều kiện vốn xã hội

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp chung

Tiếp cận tổng hợp các yếu tố để phát hiện mối quan hệ, làm cơ sở đưa ra giải pháp nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm Trong đó chú trọng mối quan hệ giữa phát triển sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm với quản lý tài nguyên rừng tại VQG

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thu thập các thông tin, số liệu cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa số liệu; phương pháp quan sát; phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

- Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia đã được áp dụng với các công cụ

đa dạng như bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, các thông tin được phân tích và kiểm tra chéo với các đối tượng khác nhau như cán bộ thôn, xã, VQG và người dân

* Phỏng vấn hộ gia đình

Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ xã, cán bộ thôn và người dân, tác giả đề tài thấy rằng các hộ nông dân tại các thôn trong vùng đệm VQG tương đối đồng nhất Vì vậy, việc lựa chọn hộ điều tra tại các thôn được thực hiện một cách ngẫu nhiên Trong

Trang 30

mỗi thôn có 20 hộ gia đình được chọn để điều tra Việc lựa chọn mẫu cho phỏng vấn hộ

sẽ được bàn bạc cùng các trưởng thôn/bản dựa trên danh sách hộ

Bộ câu hỏi phỏng vấn hộ nông dân được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại thực địa đã được chỉnh sửa và bổ xung hoàn thiện Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình chủ yếu là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số ít các câu hỏi mở nhằm làm rõ thêm hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập dữ liệu sơ cấp Bảng câu hỏi được trình bày đầy đủ trong Phụ lục

* Phỏng vấn cán bộ địa phương

Để hỗ trợ cho cơ sở dữ liệu của hộ gia đình, đề tài đã tiến hành phỏng vấn nhanh đối với 4 cán bộ xã, 4 trưởng thôn Bản hướng dẫn phỏng vấn cán bộ địa phương được thiết kế là những câu hỏi mở nhằm thu được một bức tranh tổng thể

về khu vực điều tra Hướng dẫn phỏng vấn cố gắng thu thập thông tin liên quan đến tình hình kinh tế xã hội của địa điểm điều tra, tầm quan trọng của VQG đối với cộng đồng địa phương, nhận thức của họ về VQG, các chính sách và định hướng có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm, tạo sinh kế cho các hộ nông dân, thực trạng và những quan điểm/giải pháp để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa

sinh kế của người dân và bảo tồn tài nguyên rừng VQG

Để phân tích số liệu đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê mô tả: nhằm đánh giá thực trạng sinh kế, tài sản sinh

kế của các hộ nông dân, cộng đồng vùng đệm VQG

- Phương pháp lịch sử: Nhằm so sánh, đối chiếu với thông tin đã có trong quá khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có kết luận phù hợp

- Phương pháp tương quan được áp dụng để xem xét mối quan hệ về lượng giữa các yếu tố, nhất là giữa các yếu tố giải thích với yếu tố được giải thích

- Phương pháp phân tích định tính SWOT được áp dụng để làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những thách thức trong phát triển sinh kế vùng đệm

Kết hợp phân tích định tính và định lượng các số liệu, thông tin Sử dụng các phần mềm Excel để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ nông dân vùng đệm

Trang 31

3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu

Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO, IC, VA, Pr

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO/IC, VA/IC, Pr/IC, Pr/LĐ, Pr/DT,…

Để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến hiệu quả các mô hình, khóa luận đã sử dụng phương pháp SWOT

Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng lao động

- Cơ cấu lao động tại địa phương

- Tỷ suất sử dụng sức lao động và tỷ lệ lao động được thuê mướn, đổi công trong tổng lao động sử dụng

- Giá tiền công và chi phí thuê lao động

- Mức trang bị máy móc, thiết bị cho lao động

- Năng suất lao động

- Giá trị sản xuất do một lao động sáng tạo ra

Các chỉ tiêu đánh giá về sử dụng đất đai

- Diện tích và tỷ lệ đất đai đã sử dụng cho nông lâm nghiệp trên quỹ đất

- Diện tích và cơ cấu diện tích đất đai trong nông nghiệp chưa được sử dụng

Trang 32

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 4.1 Đánh giá thực trạng điều kiện cơ bản địa bàn nghiên cứu

4.1.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên

4.1.1.1 Vị trí địa lý

Xã Thiện Kế nằm ở phía Nam của huyện Sơn Dương Xã có 15 thôn, dân số năm 2014 có 1428 hộ, 5951 nhân khẩu, tổng diện tích đất tự nhiên 3020.03 ha

Về địa giới hành chính:

- Phía Đông giáp tỉnh Thái Nguyên

- Phía Tây giáp xã Tuân Lộ, xã Sơn Nam

- Phía Nam giáp xã Ninh Lai, xã Sơn Nam

- Phía Bắc giáp xã Kháng Nhật, xã Hợp Hoà

4.1.1.2 Địa hình, đất đai

 Địa hình

Địa hình, địa mạo xã Thiện Kế có các kiểu địa hình đồi núi cao, độ cao trung bình từ 50m - 60m, độ dốc trung bình từ 150 – 160, xen kẽ là những cánh đồng lúa và bãi màu soi bãi dọc ven Sông phó đáy bằng phẳng

Nhìn chung địa hình của xã ít bị chia cắt bởi sông, suối lớn, sự chênh lệch về

độ cao giữa các vùng trong xã không lớn

 Tài nguyên đất

- Đất dốc tụ trồng lúa nước (Ld) phân bố xen kẽ giữa các khu đồi, núi đất, các thung lũng nhỏ dạng bậc thềm Đây là loại đất được hình thành do sự tích tụ các sản phẩm phong hoá trên cao đưa xuống, có độ phì khá, thích hợp cho trồng lúa, diện tích không lớn

- Đất feralit biến đổi do trồng lúa (Lf) được hình thành do quá trình cải tạo trồng lúa nước, loại đất này phân bố chủ yếu ở vùng tiếp giáp với đồi núi và các thung lũng ven suối, loại đất này thích hợp cho việc trồng lúa và các cây nông nghiệp

Trang 33

- Đất vàng nâu phát triển trên phiến sa thạch (Fq) tập trung ở các khu vực đồi núi, địa hình đồi bát úp thấp thoải, tầng đất dày, đây là loại đất có diện tích lớn Loại đất này thích hợp với nhiều loại cây trồng, chủ yếu là cây lâu năm, đặc biệt là cây chè, và cây lâm nghiệp

Xã có điều kiện về thổ nhưỡng phù hợp, thuận lợi cho phát triển cây lâm nghiệp, cây trồng hàng năm ít có điều kiện phát triển nhất là các loại cây lương thực Trong thời gian quy hoạch cần đầu tư phát triển tận dụng tốt nguồn tài nguyên đất đai, sử dụng và bảo vệ đất bền vững, đặc biệt là diện tích đất rừng, đất trồng cây hàng năm

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai tại xã Thiện Kế

STT Loại đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)

(Nguồn: UBND xã Thiện Kế)

Trang 34

4.1.1.3 Điều kiện khí hậu thủy văn và môi trường

 Khí hậu

Khí hậu, thuỷ văn xã Thiện Kế thuộc tiểu khu khí hậu phía Nam của tỉnh, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu trong năm được chia thành 2 mùa: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 16 0C, nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng

380C, nhiệt độ thấp nhất trong năm khoảng 6 0C, lượng mưa trung bình từ 1300 –

1600 mm, độ ẩm bình quân năm từ 75 - 80%

 Thuỷ văn

Thiện Kế có hệ thống suối, khe, phân bố không đồng đều trên địa bàn Sông Phó Đáy và hệ thống ao, hồ, sông ngòi, kênh, mương thuỷ lợi là nguồn nước chính tưới cho đồng ruộng và cũng là hệ thống tiêu nước trên địa bàn Nước sinh hoạt chủ yếu là nước giếng đào xong thường khô cạn về mùa khô, một số ít nước sinh hoạt, sản xuất của nhân dân trong xã còn bị ô nhiễm không đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn xã

Mặt khác do các đập đầu mối thuỷ lợi chủ yếu được xây dựng trên các khe núi nhỏ nên rất khó khăn về nguồn nước tưới, nhất là vụ xuân và vụ đông, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch sản xuất nông nghiệp phát triển kinh tế của địa phương Đồng thời với địa hình chia cắt như vậy cũng ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý về an ninh - trị - xã hội trên địa bàn xã

 Môi trường

- Số hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 1.428 hộ, đạt 100 %

- Số hộ có nhà tắm đạt chuẩn 2 hộ, đạt 014 %

- Số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh 545 hộ, đạt 38,17 %

- Số hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh 396 hộ đạt 27,73 %

- Xử lý chất thải: Chưa có hoạt động tổ chức thu gom rác thải, việc thu gom rác thải được thực hiện tại hộ gia đình 100%, xã chưa có bãi rác tập trung xa khu dân cư

Xã có đã được quy hoạch 09 khu nghĩa trang năm 2006 cho 15 thôn chủ yếu

là dựa trên các nghĩa trang có từ trước cần được đầu tư xây dựng chỉnh trang lại

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:44

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm