Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh huyện Phục Hòa Tỉnh Cao Bằng.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp Khoa : Kinh tế& PTNT
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính Quy Chuyên ngành : Kinh tế nông nghiệp
Khoa : Kinh tế& PTNT
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Đặng Thị Thái
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & PTNT Cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã truyền cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Tôi xin trân trọng cảm ơn sự hướng dẫn tân tình của ThS Đặng Thị Thái đã giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Xuất phát từ nguyện vọng bản thân và được sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế & PTNT tôi về thực tập tại UBND xã
Cách Linh để hoàn thành đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế của hộ nông
dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, Tỉnh Cao Bằng”
Tôi cũng xin trân thành cảm ơn các cán bộ, công chức của UBND xã Cách Linh cùng toàn thể các hộ nông dân trên địa bàn xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công việc trong thời gian thực tập
Cuối cùng tôi bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong suốt quá trình nghiên cứu vì lý do chủ quan hoặc khách quan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên
Xin chân thành các ơn!
Thái Nguyên, tháng 06, năm 2015
Sinh viên
Lâm Văn Hành
Trang 4ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất mía trên thế giới từ năm 1990 – 2009 16
Bảng 2.2 Top 20 quốc gia sản xuất mía đườnghàng đầu thế giới năm 2008 17
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 1986 – 1995 20
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 1994 – 2000 22
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 2000 – 2013 23
Bảng 4.1 Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Cách Linh qua 3 năm 2012 – 2014 32
Bảng 4.2 tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2012 – 2014 35
Bảng 4.3: Tình hình sản xuất kinh doanh của xã Cách Linh năm 2012 – 2104 38
Bảng 4.4: Diện tích gieo trồng cây hàng năm của xã qua 3 năm 39
2012 – 2014 40
Bảng 4.5: Tình hình sản xuất mía của xã cách linh qua3 năm 2012 – 2014 41
Bảng 4.6: Một số thông tin về các chủ hộ 43
Bảng 4.7: Tình hình đầu tư chi phí cho sản xuất míatrong các nhóm hộ điều tra 45
Bảng 4.8: Diện tích, năng suất và sản lượng của các nhóm hộ điều tra(Tính bình quân/hộ) 46
Bảng 4.9: Hiệu quả kinh tế sản xuất mía 47
Bảng 4.10: Phân tích ảnh hưởng của trình độ văn hóa của chủ hộ đến hiệu quả sản xuất mía 49
Bảng 4.11: Ảnh hưởng của kinh tế hộ gia đình đến hiệu quả kinh tếsản xuất mía 50
Bảng 4.12: Phân tích ảnh hưởng của mức bón phân đạm đến hiệu quảsản xuất mía 51
Bảng 4.13: Phân tích ảnh hưởng của mức bón phân vi sinh đến hiệu quảsản xuất mía 52
Bảng 4.14: Phân tích ảnh hưởng của mức bón phân hữu cơ đến hiệu quảsản xuất mía 53
Trang 6iv
MỤC LỤC
PHẦN 1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.4 Bố cục của khóa luận 3
PHẦN 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Cơ sở lý luận về hộ nông dân 4
2.1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân 4
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân 5
2.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 8
2.1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế 8
2.1.2.2 Phân loại hiệu quả kinh tế 9
2.1.2.3 Các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế 12
2.1.3 Cơ sở lý luận về cây mía 12
2.2 Cơ sở thực tiễn 15
2.2.1 Tình hình sản xuất mía trên thế giới 15
2.2.2 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam 19
2.2.3 Tình hình sản xuất mía tại xã Cách Linh 24
PHẦN 3.ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.3 Phương pháp nghiên cứu 25
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin 25
Trang 7v
3.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu 26
3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin 27
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 27
3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất mía của các hộ điều tra 27
3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mía 27
3.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất mía 28
PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên 29
4.1.2 Điều kiện đất đai 32
4.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 34
4.1.4 Tình hình sản xuất mía của xã Cách Linh 41
4.1.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất và phát triển cây mía 42
4.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế hoạt động sản xuất mía của các nông hộ 43
4.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của các nhóm hộ điều tra 43
4.2.2 Tình hình sản xuất mía của các nhóm hộ điều tra 46
4.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả sản xuất mía của hộ 49
PHẦN 5.CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT MÍA 55
5.1 Quan điểm – Phương hướng – Mục tiêu 55
5.1.1 Quan diếm phát triển 55
5.1.2 Phương hướng phát triển 55
5.1.3 Mục tiêu phát triển 55
5.2 Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất mía tại xã Cách Linh 56
5.3 Kiến nghị 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 81
PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Cách Linh là một xã miền núi thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng người dân nới đây sống phụ thuộc vào nông nghiệp đặc biệt là cây mía Xã có những điều kiện thuận lợi để phát triển nông nghiệp nói chung và cây mía nói riêng Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại một số khó khăn cần giải quyết
để cuộc sống của người dân được ấm no hơn
Cây mía được trồng từ rất lâu đời ở xã, tuy nhiên đến năm 1992 cây mía mới thực sự được quan tâm và đầu tư để trở thành cây xóa đói giảm nghèo,tiến tới mục tiêu phát triển kinh tế bền vững Hiện nay cây mía được trồng với diện tích lớn và là nguồn thu nhập chính của người dân trên địa bàn xã
Những năm gần đây cùng với việc mở rộng diện tích, thu nhập từ cây mía tăng lên đáng kể, nhiều hộ gia đình đã đạt thu nhập trên 100 triệu đồng mỗi vụ Tuy nhiên hiện nay do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu nên giá mía có xu hướng giảm ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân Ngoài ra chất lượng của mía nguyên liệu vẫn còn thấp do kỹ thuật canh tác còn lạc hậu, kiến thức của người dân trồng mía còn khá thấp nên cây mía chưa thực sự phát huy hết tiềm năng kinh tế của nó
Xuất phát từ thực tế đó, đòi hỏi sự xem xét tình hình sản xuất mía của địa phương, đánh giá chính xác hiệu quả của cây mía là một trong những cơ
sở để đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao kết quả và hiệu quả sản xuất để
giúp nông hộ sản xuất có hiệu quả hơn Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “ Đánh
giá hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh, huyện Phục Hòa, Tỉnh Cao Bằng” sẽ góp phần giải quyết những vấn
đề trên
Trang 9- Đánh giá tình hình sản xuất cây mía tại xã
- Đánh giá hiệu quả sản xuất cây mía tại xã
- Phân tích các yếu tố tác động đến năng suất cây mía
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản xuất mía, nâng cao hiệu quả kinh tế
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Củng cố lý thuyết cho sinh viên
- Giúp rèn luyện kỹ năng, trang bị kiến thức thực tiễn, làm quen với
công việc, phục vụ tích cực cho quá trình công tác sau này
- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất cây mía tại địa phương
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu
Trang 103
- Đưa ra một số giải pháp cụ thể nhắm phát triển việc trồng mía trên địa bàn xã Cách Linh trong những năm tới, góp phần nâng cao hiệu quả kinh
tế nông nghiệp, nông hộ
1.4 Bố cục của khóa luận
Bố cục của khóa luận gồm:
Phần 1: Mở đầu
Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất mía
Kết luận và kiến nghị
Trang 114
PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Cơ sở lý luận về hộ nông dân
2.1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân
- Khái niệm về hộ nông dân
Theo Ellis (1998) đã đưa ra khái niệm như sau: Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao.[2]
- Khái niệm về kinh tế nông hộ
“Kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế nền tảng để phát triển sản xuất hàng hóa Kiểu sản xuất kinh tế nông hộđòi hỏi một kiểu tổ chức kinh tế gắn
bó người lao động với đối tượng sản xuất trong suốt quá trình sản xuất kinh
tế nông hộ là hình thức kinh tế lấy gia đình nông dân làm đơn vị sản xuất Năm 1988” Bộ Chính trị ra nghị quyết NQ10 - 1988 công nhận kinh tế nông
hộ là đơn vị sản xuất.[2]
Kinh tế nông hộ thường bất lực trước những biến động của thị trường, khả năng hạn chế trong ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, là sự thiếu thốn về vốn liếng, tư liệu sản xuất Điều đó tất yếu đòi hỏi nông dân phải hợp tác lại tạo ra kinh tế hợp tác xã, thông qua đó kinh tế nông hộ hoạt động hòa nhập vào kinh tế xã hội (kinh tế thị trường)
Trang 125
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản
xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
Với lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời và là hình thức tổ chức sản xuất có trình độ thấp nhất trong các loại hình tổ chức kinh doanh chủ yếu trong nông nghiệp, hộ nông dân đóng vai trò rất quan trọng Hộ nông dân
là đơn vị kinh tế cơ sở Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới với nhiều khó khăn và thử thách Với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế hộ vẫn đóng vai trò quan trọng, vẫn là mục tiêu phát triển chính và chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông thôn
Mặt khác, hộ sản xuất kinh doanh nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún, sử dụng lao động gia đình là chính, trình độ sản xuất hạn chế Do đó, sản xuất chủ yếu mang tính tự cấp, tự túc Phần lớn sản phẩm làm ra là để tiêu dùng trong gia đình Khi sản xuất không đủ tiêu dùng, họ thường điều chỉnh nhu cầu, khi sản xuất dư thừa họ có thể đem sản phẩm dư thừa để trao đổi trên thị trường, nhưng đó không phải là mục đích sản xuất của họ Vì vậy, hộ vừa
là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng
Sản xuất của hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình
độ canh tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp
Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở nông thôn Vì hộ xuất kinh doanh nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún nên công cụ sản xuất cũng ở mức độ thô sơ, thủ công Nước ta đi lên từ sau chiến tranh, đời sống người dân còn khổ cực, trình độ năng lực còn rất hạn chế Trước đây, vì trình độ canh tác còn lạc hậu, các hộ chủ yếu sản xuất nhỏ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng gia đình, ít mở rộng sản xuất, hầu như không áp dụng khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó, nông nghiệp là ngành mang tính thời vụ cao, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong khi đó, khả năng khai thác tự nhiên của hộ rất
Trang 13áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện liên doanh, liên kết, khai thác có hiệu quả các nguồn lực để sản xuất nông sản đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Các hộ nông dân, ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào
các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau
Đối tượng sản xuất của hộ chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp, hộ xuất kinh doanh trồng trọt các loại cây ăn quả, cây trồng lâu năm…, hộ xuất kinh doanh chăn nuôi, hay là hộ sản xuất kết hợp trồng trọt và chăn nuôi các loại cây trồng, vật nuôi khác nhau có tính hỗ trợ cho nhau Thực tế hiện nay, có rất nhiều
mô hình kết hợp trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao, thu về cho hộ nông dân hàng trăm triệu mỗi năm
Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi kinh tế hộ phải phát triển hơn cả về chất và lượng, không chỉ đơn thuần hoạt động sản xuất nông nghiệp mà hộ còn tham gia hoạt động xuất kinh doanh ở các ngành nghề phi nông nghiệp khác vào lúc nông nhàn với quy mô lớn, nhỏ khác nhau để tận dụng triệt để nguồn nhân lực, tránh lãng phí tư liệu sản xuất, đồng thời đa dạng các khoản thu nhập, nâng cao đời sống người dân
Hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống, về quan hệ
hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời
Với đặc điểm, hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống,
về quan hệ hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời như vậy nên các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan
Trang 147
hệ quản lý, quan hệ phân phối Do thống nhất về lợi ích nên sự gắn kết, tính
tự nguyện, tự giác cao trong lao động Trong mỗi nông hộ, bố mẹ vừa là chủ
hộ, vừa là người tổ chức hoạt động sản xuất Vì vậy, tổ chức sản xuất trong hộ nông dân có nhiều ưu việt và có tính đặc thù
Sản xuất kinh doanh chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan, tuy
nhiên khả năng khắc phục lại hạn chế
Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, là lĩnh vực mà chịu sự tác động trực tiếp của điều kiện thời tiết như mưa, gió, nắng hạn…là những nguyên nhân khách quan không thể thay đổi Hiện nay, sự đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn đã chú trọng đến vấn đề này nhưng thực tế vẫn chưa triệt
để, nông nghiệp, nông thôn vẫn phải gánh chịu những đợt mất mùa, mưa bão, hạn hán, những đợt dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi làm ảnh hưởng xấu đến quá trình SXKD của hộ dân
Về tính pháp lý và khả năng tài chính của hộ
Đây là một đặc điểm đứng trên phương diện nghiên cứu hộ là một chủ thể kinh tế chịu sự tác động của các hoạt động tín dụng
Mọi thành viên trong hộ gia đình đều liên đới trách nhiệm trong quan
hệ giao dịch tín dụng Về mặt thủ tục pháp lý trong giao dịch với ngân hàng, chỉ cần người đại diện hộ đứng tên giao dịch với ngân hàng trên cơ sở ủy quyền của các thành viên trong hộ
Tài sản của hộ bao gồm cả tài sản chung của các thành viên trong hộ và
cả tài sản riêng của các thành viên góp vào sử dụng chung Xét từ góc độ này thì năng lực tài chính của hộ bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của các thành viên Vốn tự có của hộ gia đình chủ yếu là khả năng lao động của hộ, tức là kinh nghiệm cùng khả năng tổ chức và trực tiếp tham gia lao động của các thành viên trong hộ gia đình
Trang 158
Từ những đặc điểm trên ta thấy rằng kinh tế hộ là thành phần kinh tế khá linh động, là cơ sở ban đầu cho việc thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế nước ta
2.1.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế
2.1.2.1 Quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh
tế Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất
xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành”
và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động hay tăng hiệu quả” "Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội"
Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng
“hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội”
Khi bàn về khái niệm hiệu quả, cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn
Trang 169
lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm
Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực
Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp
Một số quan điểm khác lại cho rằng, hiệu quả được hiểu là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả
đó Kết quả sản xuất ở đây được hiểu là giá trị sản phẩm đầu ra, còn lượng chi phí bỏ ra là giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối quan hệ so sánh này được xem xét về cả hai mặt (so sánh tuyệt đối và so sánh tương đối) Như vậy, một hoạt động sản xuất nào đó đạt được hiệu quả cao chính là đã đạt được mối quan hệ tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Có quan điểm lại xem xét, hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa mức độ biến động của kết quả sản xuất và mức độ biến động của chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Việc so sánh này có thể tính cho số tuyệt đối và số tương đối Quan điểm này có ưu việt trong đánh giá hiệu quả của đầu tư theo chiều sâu, hoặc hiệu quả của việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật, tức là hiệu quả kinh tế của phần đầu tư thêm
Như vậy: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù
kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh
2.1.2.2 Phân loại hiệu quả kinh tế
Mọi hoạt động sản xuất của con người và quá trình ứng dụng kỹ thuật
Trang 1710
tiến bộ vào sản xuất đều có mục đích chủ yếu là kinh tế Tuy nhiên, kết quả của các hoạt động đó không chỉ duy nhất đạt được về mặt kinh tế mà đồng thời còn tạo ra nhiều kết quả liên quan đến đời sống kinh tế - xã hội của con người Những kết quả đạt được đó là: nâng cao cuộc sống, giải quyết công ăn việc làm, góp phần ổn định chính trị và xã hội, trật tự an ninh, xây dựng xã hội tiên tiến, cải tạo môi trường, nâng cao đời sống tinh thần và văn hoá cho nhân dân tức là đã đạt hiệu quả về mặt xã hội
Đặc biệt về sản xuất nông nghiệp, ngoài những hiệu quả chung về kinh
tế xã hội, còn có hiệu quả rất lớn về môi trường mà ngành kinh tế khác không thể có được Cũng có thể một hoạt động kinh tế mang lại hiệu quả cho một cá nhân, một đơn vị, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội thì nó lại ảnh hưởng xấu đến lợi ích và hiệu quả chung Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả cần phân loại chúng để có kết luận chính xác
Căn cứ theo nội dung và bản chất có thể phân biệt thành 3 phạm trù: Hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế xã hội Ba phạm trù này tuy khác nhau về nội dung nhưng lại có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
Khi xác định hiệu quả kinh tế, nhiều nhà kinh tế thường ít nhấn mạnh quan hệ so sánh tương đối (phép chia) mà chỉ quan tâm đến quan hệ so sánh tuyệt đối (phép trừ) và chưa xem xét đầy đủ mối quan hệ kết hợp chặt chẽ giữa đại lượng tương đối và đại lượng tuyệt đối
Kết quả kinh tế ở đây được biểu hiện bằng giá trị tổng sản phẩm, tổng thu nhập, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận
Nếu như hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả kinh tế đạt được và lượng chi phí bỏ ra, thì hiệu quả xã hội là mối
Trang 18Có thể nói hiệu quả kinh tế là khâu trung tâm có vai trò quyết định nhất và nó được đánh giá một cách đầy đủ nhất khi kết hợp với hiệu quả xã hội Để làm rõ phạm trù hiệu quả kinh tế có thể phân loại chúng theo các tiêu thức nhất định từ đó thấy rõ được nội dung nghiên cứu của các loại hiệu quả kinh tế
Xét trong phạm vi và đối tượng các hoạt động kinh tế, có thể phân chia phạm trù hiệu quả kinh tế thành:
+ Hiệu quả kinh tế theo ngành là hiệu quả kinh tế tính riêng cho từng ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ trong từng ngành lớn có lúc phải phân bổ hiệu quả kinh tế cho những ngành hẹp hơn
+ Hiệu quả kinh tế quốc dân là hiệu quả kinh tế tính chung toàn bộ nền sản xuất xã hội
+ Hiệu quả kinh tế theo vùng lãnh thổ: là xét riêng cho từng vùng, từng tỉnh, từng huyện
+ Hiệu quả kinh tế doanh nghiệp là xem xét cho từng doanh nghiệp, vì doanh nghiệp hoạt động theo từng mục đích riêng rẽ và lấy lợi nhuận làm mục tiêu cao nhất, nên nhiều hiệu quả của doanh nghiệp không đồng nhất với hiệu quả của quốc gia Cũng vì thế mà Nhà nước sẽ có các chính sách liên kết vĩ
mô với doanh nghiệp
+ Hiệu quả kinh tế khu vực sản xuất vật chất và sản xuất dịch vụ
Căn cứ vào yếu tố cơ bản của sản xuất và phương hướng tác động vào
Trang 1912
sản xuất thì có thể phân chia hiệu quả kinh tế thành từng loại:
+ Hiệu quả sử dụng vốn
+ Hiệu quả sử dụng lao động
+ Hiệu quả sử dụng máy móc, thiết bị
+ Hiệu quả sử dụng đất đai, năng lượng
+ Hiệu quả áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật và quản lý
2.1.2.3 Các tiêu chuẩn và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế
Tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế là các quan điểm, nguyên tắc đánh giá hiệu quả kinh tế trong những điều kiện cụ thể mà ở một giai đoạn nhất định Việc nâng cao hiệu quả kinh tế là mục tiêu chung và chủ yếu xuyên suốt mọi thời
kỳ, còn tiêu chuẩn là mục tiêu lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá bằng định lượng theo tiêu chuẩn đã lựa chọn ở từng giai đoạn Mỗi thời kỳ phát triển kinh tế -
xã hội khác nhau thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả cũng khác nhau
Đối với toàn xã hội thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế là khả năng thoả mãn các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra
Đối với các doanh nghiệp hoặc các tổ chức kinh tế thì tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế phải là thu nhập tối đa tính trên chi phí hoặc công lao
động bỏ ra
2.1.3 Cơ sở lý luận về cây mía
2.1.3.1 Ý nghĩa của việc phát triển cây mía
Mía là một trong những cây trồng phổ biến trên thế giới Ở Việt Nam mía cũng là cây trồng quan trọng trong những năm qua cây mía cũng đã góp phần giúp nhiều địa phương xóa đói, giảm nghèo Đối với người nông dân nói chung và người nông dân Việt Nam nói riêng thu nhập của họ từ những cây trồng, vật nuôi phù hợp và dễ phát triển nhất trên vùng đất của họ Từ rất xa xưa cây mía đã tạo ra thu nhập cho người dân với các sản phẩm như mật mía,
Trang 2013
đường mía và mía ăn tươi Ngày nay cây mía càng tạo nên nguồn thu nhập lớn nhờ ngành công nghiệp mía đường ngày càng phát triển Cây mía không chỉ mang lại nguồn thu nhập lớn mà còn là một ngành kinh tế xã hội quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hàng nghìn người nông dân trồng mía Ngoài ra mía còn là một loại thức uống của người dân Theo đông y dược thảo cây mía còn là một loại thảo dược có tác dụng diệt khuẩn trực tràng, đường ruột, lọc sạch mô mỡ trong máu và có tác dụng giải nhiệt
Theo viện sức khỏe cộng đồng Hoa Kỳ trong nước mía thì có chứ 10% saccarose, 22% protein, 0,05% cacbon, 0,5% lipit, 0,5% muối kali, natri, manga, silic, sắt và magie
2.1.3.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của cây mía
a, Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên
Khí hậu:
- Nhiệt độ thích hợp trong phạm vi từ 20 – 300C Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển bình thường của cây do ảnh hưởng đến khả năng quang hợp của cây Thời kỳ cây cây vừ mọc mầm đến khi cây ra là nhiệt độ thích hợp là khoảng 20 – 250C Thời kỳ cây mía bắt đầu có từ 3 là trở lên nhiệt độ thích hợp là trong khoảng
hơn từ 32 – 350
C
- Ánh sáng: Ánh sáng rất cần cho cây mía vì quá trình quang hợp để tạo ra các hợp chất hữu cơ cần rất nhiều ánh sáng Khi cường độ ánh sáng tăng thì hoạt động quang hợp của cây mía cũng tăng Khi ánh sáng yếu cây mía phát triển yếu, hàm lượng đường trong thân cây thấp và khả năng chống chịu sâu bệnh kém Trong suốt chu trình sinh trưởng của mình cây mía cần từ
2000 – 3000 giờ chiếu sáng, tối thiểu cũng phải từ 1200 giờ trở lên
Trang 2114
- Lượng nước và độ ẩm đất: Lượng nước và độ ẩm đất là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất tới quá trình sinh trưởng của cây mía bởi trong thân cây mía chứa tới 70% là nước Lượng mưa thích hợp cho trồng mía là từ 1500 – 2000mm/năm Lượng mưa phân bố trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng của cây mía Cây mía là cây trồng cạn, có bộ rễ ăn nông nên rất cần đến nước nhưng lại không chịu được ngập úng Ở các vùng khô cằn cần tưới nước cho cây mía trong mùa khô Ở những nơi thấp cần có rãnh thoát nước vào mùa khô Thời kỳ cây mía vươn cao làm going là giai đoạn cần rất nhiều nước, độ
ẩm thích hợp khoảng 70 – 80% Ở các thời kỳ khác có thể thấp hơn
Đất: Mía là cây trồng không kén đất, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau từ đất pha cát, đất xám, đất sét nặng … Tuy nhiên đất nghèo ít chất hoặc đất bị chai do đốt lá mía cần cải tạo bằng cách bón phân hữu cơ và phân
vi sinh để tăng thêm chất dinh dưỡng cho đất Có thể trồng luân canh hoặc trồng xen các cây họ đậu để cải tạo đất và tăng thêm thu nhập
b, Nhóm yếu tố về kỹ thuật
- Thời vụ: Thời vụ trồng mía từ tháng 12 – 4 năm sau
- Làm đất: Đất trồng mía cần làm cho tơi, xốp Trước khi trồng cần vệ sinh đồng ruộng để diệt trừ cỏ dại và mầm mống sâu bệnh Sau khi vệ sinh đồng ruộng tiến hành đánh luống để trồng Luống trồng mía sau khi đánh cần dùng xẻng để lên luống sao cho luống thẳng và có độ sâu ≥ 30cm, độ rộng của đáy luống từ 10 – 15cm Khoảng cách giữa 2 luống từ 1,0 – 1,2m
- Chuẩn bị hom trồng mía: Để hom mía làm giống nên để phần ngọn
vì phần ngọn có tỉ lệ nảy mầm cao hơn Hom mía để làm giống cần phải để từ
10 – 15 ngày trước khi bóc bẹ lá để tránh xây sát Chọn hom mía to, không bị sâu bệnh và các mầm mía không bị đứt, rời Hom mía sau khi bóc bẹ lá nên gieo trồng ngay
Trang 2215
- Đặt hom: Hom mía được đặt thành 2 hàng song song cách nhau khoảng 10cm trong luống mía Các hom mía đặt nối tiếp nhau Nên ấn nhẹ hom mía xuất đất để cố định trước khi bón phân và lấp đất
- Chăm sóc: Sau khi trồng từ 20 – 30 ngày nên kiểm tra Nếu phát hiện hom chết cần trồng dặm ngay Mía sau khi trồng được 40 – 45 ngày cần bón thúc đợt I Sau khi bón thúc đợt I khoảng 1 tháng tiến hành bón thúc đợt II kết hợp với làm cỏ Khi mía được 4 tháng tiến hành làm cỏ đợt 2 kết hợp đánh là mía Có thể thực hiện đánh lá thêm 2 lần nữa trước khi thu hoạch Khi đánh lá cần chú ý đánh lá sau khi trời mưa để tránh làm tổn thương cây mía[1]
c, Nhóm nhân tố về kinh tế
Cây mía góp phần tạo việc làm cho người dân, giải quyết một lượng lao động lớn ở nông thôn giúp cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân Hiệu quả từ cây mía là đòn bẩy vững chắc góp phần vào sự nghiệp xóa đói giảm nghèo tiến tới làm giàu cho nhiều hộ nông dân
Sản lượng mía trên thế giới từ năm 1995 – 2014 tăng rõ rệt Sản lượng mía tăng là do diện tích tăng Trong suốt thế kỷ XX, nhất là nửa sau thế
kỷ XX nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ phát triển diện tích trồng mía và ngành công nghiệp mía đường mạnh mẽ nhằm cung cấp
Trang 2316
cho nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, nhất là sau khi khủng hoảng thiều đường 1974
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất mía trên thế giới từ năm 1995 – 2009
Năm Diện tích mía
(triệu ha)
Sản lƣợng mía (triệu tấn)
Năng suất mía (tấn/ha)
(Nguồn: Tổ chức Lương Thực và Nông Nghiệp Liên Hợp Quốc)
Năng suất mía đường bình quân trên toàn thế giới năm 1961 đạt 50,3 tấn/ha đến năm 2012 năng suất bình quân đạt 70,2 tấn/ha tăng cao hơn 40%
Trang 2417
Năng suất bình quân của trên thế giới có xu hướng tăng qua các năm cùng với sự tăng lên về diện tích kéo theo sản lượng mía tăng lên
Bảng 2.2 Top 20 quốc gia sản xuất mía đường
hàng đầu thế giới năm 2012
Trang 2518
Ngành mía đường thế giới rất trú trọng công tác nghiên cứu khoa học
và chuyển giao kỹ thuật Việc tiến hành các thí nghiệm cây mía trên đồng ruộng đã được con người tiến hành từ rất sớm bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX đến tận ngày nay
Ở Ấn Độ, viện lai tạo giống mía Coimbotore (thành lập năm 1912) đã lai tạo và tuyển chọn ra nhiều giống mía tốt với ký hiệu Co Chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 1918 – 2000 viện đã chọn tạo và phóng thích ra sản xuất được 2.077 giống mía mới, góp phần tăng năng suất bình quân của Ấn Độ từ 45,58 tấn/ha năm 1961 lên đạt 64,77 tấn/ha năm 2009, tăng 42,1% Hiện nay các giống mía Co không chỉ được trồng và chiếm gần 100% diện tích mía của
Ấn Độ mà còn được trồng ở nhiều nước khác trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam
Ở Đài Loan công tác nghiên cứu thí nghiệm mía được bắt đầu từ năm
1900 với việc thành lập vườn thí nghiệm đầu tiên Đến năm 1973 thành lập viện nghiên cứu mía đường Đài Loan Giai đoạn từ năm 1995 – 2005 viện đã lai tạo và sản xuất được 64 giống mía mới có ký hiệu từ F135 – F178 và từ ROC 1 – ROC 27 Những giống mía này hiện vẫn đang được sử dụng phổ biến tại nhiều vùng trồng mía của Trung Quốc, các nước Đông Nam Á trong
đó có cả Việt Nam
Ở Cuba, với Viện Nghiên Cứu Mía đường quốc gia Cuba được thành lập từ năm 1909 cùng với 13 trại vùng đã lai tạo được nhiều giống mía mới có
ký hiệu là C, My, Ja
Ở Úc Trung tâm nghiên cứu mía ở Queensland được thành lập năm
1900 với 5 trại vùng (sau tăng lên 17 trại vùng) Năm 1951 trung tâm đổi tên thành Cục điều hành các trại nghiên cứu mía đường (BSES) Từ khi thành lập đến nay BSES đã lai tạo và tuyển chọn hàng chục giống mía mới có ký hiệu là
Trang 26ô nhiễm môi trường và hiệu ứng nhà kính vì vậy đây có thể là nguồn năng lượng thay thế dầu mỏ trong tương lai
2.2.1.2 Nhận xét
Sản lượng mía đường trên thế giới luôn biến động qua các năm, nhìn chung sản lượng mía đường luôn tăng do năng suất mía ngày càng tăng cùng với việc mở rộng diện tích đất trồng mía Nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước thuộc Nam Mỹ và Đông Nam Á việc phát triển cây mía và ngành công nghiệp mía đường không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dung trong nước
mà còn hướng tới xuất khẩu Trong 4 thập kỷ cuối thế kỷ XX diện tích mía trên thế giới tăng bình quân 2,5 triệu ha mỗi thập kỷ Ngày nay mía không chỉ được sử dụng trong ngành công nghiệp mía đường mà còn được sử dụng rộng rãi trong các ngành khác trong xã hội
2.2.2 Tình hình sản xuất mía ở Việt Nam
Cây mía và nghề làm mật mía ở Việt Nam đã có từ xa xưa (khoảng 250 năm TCN), tuy nhiên ngành công nghiệp mía đường mới được nhen nhón bắt đầu từ đầu thế kỷ XX Tình đến năm 1994 cả nước mới có 9 nhà máy mía đường với công suất gần 11.000 tấn mía/ngày và 2 nhà máy đường tinh luyện công suất nhỏ, thiết bị và công nghệ còn lạc hậu Năm 1995 với chủ trương đầu tư theo chiều sâu, mở rộng công suất các nhà máy đường hiện có, xây dựng những nhà máy quy mô vừa và nhỏ ở những vùng nguyên liệu nhỏ Ở
Trang 2720
những vùng nguyên liệu lớn, tập trung, tiến hành xây dựng các nhà máy với công nghệ hiện đại, sản lượng đường năm 2000 đạt 1 triệu tấn Chương trình mía đường được chọn là chưng trình khởi đầu để tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tiến tới xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm cho lao đông nông nghiệp Ngành mía đường được giao “không phải
là ngành kinh tế vì mục đích lợi nhuận mà là ngành kinh tế xã hội”
2.2.2.1 giai đoạn từ năm 1986 – 1995
Từ năm 1986 – 1995, chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước đã giải phóng cho năng lực sản xuất của ngành mía đường Về sản xuất mía, các chính sách về giá, chế độ hợp đồng đầu tư đã được hoàn thiện thêm một bước Hằng năm các nhà máy đường đều trích trước từ giá thành mía để đầu tư, sửa chữa đường sá, cầu cống, thủy lợi trong vùng chuyên canh
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 1986 – 1995
Năm Diện tích mía
(ha)
Sản lượng mía (nghìn tấn)
Năng suất mía (tấn/ha)
Trang 2821
Về công tác nghiên cứu, từ năm 1986 – 1990, hai đề tài thuộc Chương trình 18B của nhà nước về nghiên cứu mía được viện nghiên cứu mía đường Bến Cát, Liên Hiệp Mía đường II thực hiện gồm: Đề Tài 18B-01-01 về giống mía đã kết luận được các giống phổ biến ra sản xuất gồm: My55-14, Ja60-5, C819-67 Đề tài 18B-01-03 về kỹ thuật thâm canh mía nghiên cứu để bổ sung quy trình trồng mía của Bộ năm 1984, đã kết luận những tiến bộ kỹ thuật bón bùn lọc cho mía, tủ rác lá mía để giữ ẩm, diệt cỏ, tăng chất hữu cơ và hoạt động vi sinh vật đất, tăng được năng suất mía, xác định tuần tự thu hoạch mía
Về công nghiệp mía đường: Năm 1986 có thêm nhà máy đường Lam Sơn với công nghệ thiết kế 1.500 tấn mía/ ngày bắt đầu đi vào hoạt động sản xuất đường thô, nhưng từ năm 1986 – 1990 luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu, chỉ hoạt động đạt 4 – 11% công suất thiết kế Đề tài nghiên cứu 18B-01-
04 về đường thủ công và che ép 5 trục đã báo cáo và nghiệm thu năm 1990 góp phần cải tiến hiệu quả sản xuất đường thủ công
2.2.2.2 Giai đoạn từ năm 1995 – 2000
Ngành mía đường Việt Nam từ đến năm 1995 vẫn chưa sản xuất đủ đường cho nhu cầu tiêu thụ trong nước Nhằm định hướng phát triển ngành mía đường cho nhu cầu trong nước và tiến tới xuất khẩu, vào năm 1994 Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp thực phẩm đã xây dựng đề án tổng quan mía đường việt nam giai đoạn 2000 – 2010 và đề xuất chương trình 1 triệu tấn đường Tháng 10/1994 thủ tướng Chính Phủ đã thông qua chương trình 1triệu tấn đường vào năm 2000 Tháng 5/1995 bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp thực phẩm đã tỏ chức hội nghị triển khai chương trình này với kỳ vọng là một trương trình lớn, có hiệu quả cao và nhanh chóng trong các chương trình phát triển nông nghiệp của kế hoạch 5 năm 1995 – 2000 hướng tới mục tiêu sản xuất đủ 1triệu tấn đường trên năm để đủ ăn, không phải nhập khẩu và sản xuất
từ 3 – 5 triệu tấn/năm ở thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XXI
Trang 2922
Sau 5 năm triển khai trương trình mía đường, ngành mía đường nước ta
đã thu được những kết quả sau:
- Vùng nguyên liệu tập trung: Năm 1994 toàn quốc có 166.600ha mía, năng suất đạt 45,3 tấn/ha, sản lượng mía đạt 7.500.000 tấn mía Đến năm
1999 diện tích tăng lên 344.200 ha (tăng 2,06 lần), năng suất mía tăng 51,6 tấn/ha (tăng 13,9%), sản lượng mía đạt 17.760.000 tấn (tăng 2,35 lần) Hệ thống cơ sở hạ tầng (đường sá, cầu cống) nội vùng đạt 50% yêu cầu cho vận chuyển, hệ thống thủy lợi đảm bảo tới được 8% vùng nguyên liệu Các vùng nguyên liệu tập trung cung cấp 8,8 triệu tấn mía cho chế biến đạt 80% công suất thiết kế
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 1994 – 2000
Năm Diện tích mía
(ha)
Sản lượng mía (nghìn tấn)
Năng suất mía (tấn/ha)
(Nguồn: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc)
- Đến năm 2000 cả nước với 44 nhà máy, tổng công suất thiết kế 78.200 tấn mía/ ngày Hình thành nên 3 vùng mía trọng điểm là: Thanh Hóa – Nghệ An, Quảng Ngãi, Tây Ninh có công suất các nhà máy chiếm 54% tổng công suất trên cả nước Chương trình cũng đã góp phần đào tạo nên đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, kỹ sư và công nhân với 15.000 người Đi đào tạo
Trang 3023
nước ngoài 400 cán bộ quản lý, kỹ thuật và công nhân Tập huấn cho 56.000 công nhân, công nhân nông nghiệp với tổng chi phí 50tỷ đồng
2.2.2.3 Giai đoạn từ năm 2001 – nay
Từ năm 2001 trở lại đây, diện tích trồng mía trên cả nước giảm dần do không cạnh tranh nổi với một số cây trồng có thu nhập cao hơn khiến tình trạng thiếu nguyên liệu thường xuyên xảy ra Điển hình ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long là nơi có diện tích trồng mía lớn nhất cả nước với khoảng 60.000ha, giảm gần 10.000ha so với các niên vụ trước sản lượng mía nguyên liệu ước đạt 3,8 triệu tấn
Bảng 2.5 Tình hình sản xuất mía đường Việt Nam từ năm 2001 – 2012
Năm Diện tích mía
(ha)
Sản lượng mía (nghìn tấn)
Năng suất mía (tấn/ha)
Trang 3124
2.2.3 Tình hình sản xuất mía tại xã Cách Linh
Cách Linh là một xã thuộc huyện Phục Hòa nằm tại trung tâm vùng nguyên liệu mía công ty Cổ Phần Mía Đường Cao Bằng Mía được trồng ở đây từ rất lâu đời tuy nhiên việc phát triển cây mía bắt đầu từ năm 1992 khi xã được xếp vào vùng nguyên liệu chính của nhà máy đường Phục Hòa Từ năm
1992 đến nay sản lượng mía tăng rõ rệt do người dân tập trung mở rộng diện tích trồng mía cũng như năng suất mía ngày càng tăng Trồng mía tạo cho người dân trong xã nguồn thu ổn định và vững chắc, tạo công việc cho lao động nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong xã Năm 2014 tổng diện tích mía toàn xã 206,27 ha, sản lượng đạt 16.657 tấn, năng suất bình quân đạt 64 tấn/ha
Trang 3225
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề kinh tế liên quan đến quá trình sản xuất, tiêu thụ mía của các hộ nông dân ở xã Cách Linh – Phục Hòa – Cao Bằng
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở khoa học về hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả về kinh tế đối với sản xuất mía nói riêng
- Thực trạng về sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Cách Linh – Phục Hòa – Cao Bằng
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của cây mía
- Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của cây mía
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất mía của các hộ nông dân trên địa bàn xã Cách Linh – Phục Hòa – Cao Bằng
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp thu thập thông tin
3.3.1.1 Thông tin thứ cấp
Nguồn tài liệu tổng hợp được thu thập từ các báo cáo KT – XH của xã cung cấp, sách báo và các tài liệu có liên quan
Trang 3326
3.3.1.2 Thông tin sơ cấp
Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có điều kiện chọn 40 mẫu
để tiến hành điều tra: Trước tiên căn cứ vào đặc thù cũng như tình hình phát triển kinh tế, diện tích trồng mía của từng xóm trong xã, tiến hành chọn ra 3 xóm có diện tích trồng mía lớn đại diện cho xã Cách Linh Sau đó chọn ngẫu nhiên 40 hộ trong 3 xóm để tiến hành điều tra, tổng số mẫu điều tra là 40hộ/3xóm Dựa vào số liệu phân loại hộ gia đình của xã chia thành các nhóm
hộ khác nhau đó là: hộ giàu, hộ khá, trung bình, hộ nghèo Cụ thể đã chọn được 15 hộ khá, 15 hộ trung bình và 10 hộ nghèo, cận nghèo tại các xóm: Lũng Thính, Khưa Đa, Bản Mỏ
Từ kết quả thu được ta đi phân tích, xử lý số liệu từ đó phân tích thông tin, đánh giá hiện trạng lao động, tình hình sản xuất chính của các hộ nông dân, cơ cấu cây mía trong hoạt động sản xuất kinh tế của gia đình Từ đó đánh giá hiệu quả kinh tế của cây mía tại xã Cách Linh
Nội dung điều tra: Phiếu điều tra có các thông tin chủ yếu như: số nhân khẩu, lao động, tuổi, trình độ văn hóa của chủ hộ, thu nhập của hộ trong tất cả các hoạt động sản xuất nông nghiệp, … tình hình sản xuất trồng trọt, diện tích trồng mía, chi phí trồng mía, tổng thu nhập từ cây mía, … những thông tinh này được thể hiện bằng những câu hỏi đóng, kết hợp với dạng câu hỏi mở cụ thể, dễ hiểu để người được hỏi trả lời chính xác, đầy đủ
3.3.2 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu
3.3.2.1 Đối với thông tin thứ cấp
Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu tiến hành lập nên các bảng
3.3.2.2 Đối với thông tin sơ cấp
Trang 3427
Phiếu điều tra sau khi hoàn thành sẽ được kiểm tra và nhập vào máy tính bằng phần mềm excel để tiến hành tổng hợp, xử lý
3.3.3 Phương pháp phân tích thông tin
3.3.3.1 Phương phát thống kê kinh tế
Trên cơ sở số liệu đã được tính toán tiến hành thống kê bằng các bảng, biểu và đưa ra kết luận
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu
3.4.1 Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất mía của các hộ điều tra
- Diện tích gieo trồng, diện tích gieo trồng bình quân/hộ
- Mức vốn đầu tư cố định, vốn đầu tư lưu động cho sản xuất
3.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất mía
- GO: Toàn bộ giá trị tính bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thu được trên
1 đơn vị diện tích cach tác trong chu kỳ sản xuất
Pi: Đơn giá sản phẩm loại I (mía)
- Giá trị gia tăng (VA): Phản ánh giá trị tăng thêm sau khi lấy giá trị sản xuất bình quân trừ đi chi phí vật chất và dịch vụ mua ngoài
Trang 3528
VA = GO – IC
- IC: Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí vật trất thường xuyên và dịch
vụ mua ngoài được đầu tư trong quá trình sản xuất như: giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật …
𝐼𝐶 = 𝐶𝑗
𝑛
𝑗 =1
Trong đó:
Cj: là chi phí thứ j trong quá trình sản xuất
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập của người sản xuất bao gồm công lao động của hộ và lợi nhuận sau khi sản xuất trên một đơn vị diện tích trong một vụ hay một năm
3.4.3 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất mía
- GO/IC: Thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian đầu tư cho sản xuất tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất, hiệu xuất càng lớn thì sản xuất càng có hiệu quả
- VA/IC: Thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian đầu tư cho sản xuất tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng
- MI/IC: Thể hiện cứ một đồng chi phí trung gian bỏ ra cho sản xuất thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp
Trang 3629
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên
4.1.1.1Vị trí địa lý
Xã Cách Linh là một xã miền núi nằm ở phía đông bắc huyện Phục Hòa – Cao Bằng, cách trung tâm huyện khoảng 6,5 km và cách Thành phố Cao Bằng khoảng 60 km Bao gồm 18 xóm, ranh giới hành chính được xác định như sau:
- Phía bắc giáp với xã Triệu Ẩu, Hồng Đại
- Phía đông giáp với Trung Quốc
- Phía nam giáp với xã Đại Sơn
- Phía tây giáp với xã Hồng Quang, huyện Quảng Uyên
4.1.1.2 Địa hình, địa chất
Địa hình xã khá phức tạp được chia thành 3 khu vực chính: Địa hình đồi đất đỏ vàng, địa hình thung lung và địa hình núi đá vôi
Địa hình đồi đất đỏ vàng chủ yếu phân bố về phía bắc của xã, giáp với
xã Triệu Ẩu có độ cao trung bình 300m, rất có tiềm năng phát triển lâm nghiệp
Khu vực núi đá vôi phân bố về phía tây và nam của xã
Địa hình thung lung nằm xen giữa 2 khu vực đồi và núi đá vôi có hướng kéo dài từ tây bắc xuống đông nam bao gồm các cánh đồng mía và lúa tập trung phần lớn đất sản xuất nông nghiệp của xã
Nhìn chung địa hình toàn xã bị chia cắt khá phức tạp nên điều kiện lưu thông kinh tế, văn hóa với các vùng lân cận còn khá hạn chế
Trang 37 Chế độ gió:
Hướng gió chủ đạo là hướng Tây bắc - Đông nam, tốc độ gió trung bình 1,8 m/s
loại gió lạnh làm cho nhiệt độ xuống thấp đi cùng với các đợt rét đậm, rét hại
và có thể có sương muối
ẩm nên thường gây mưa lớn
4.1.1.4 Thủy văn
Cách Linh có hệ thống thủy văn chính là sông Bắc Vọng và hệ thống suối Khuổi Luông, Khuổi Lầu, Khuổi Xám là nơi cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp Ngoài ra còn có hệ thống mương thủy lợi dẫn nước từ xã Hồng Đại đi qua Cách Linh với chiều dài 16km Tuy nhiên lượng nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp hằng năm vẫn phụ thuộc và lượng mưa là chủ yếu