1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể (Khóa luận tốt nghiệp)

85 236 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 849,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể.

Trang 1

MA NGỌC DUNG

Tên đề tài:

NGHIẾN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CHỦ YẾU CÁI THIÊN SINH

KẾ CHO HỘ NÔNG DÂN TẠI XÃ KHANG NINH THUỘC

VÙNG ĐỆM CỦA VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khoa : KT&PTNT

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

MA NGỌC DUNG

Tên đề tài:

NGHI ẾN CỨU CÁC GIẢI PHÁP NHẰM CHỦ YẾU CÁI THIÊN SINH KẾ

CHO HỘ NÔNG DÂN TẠI XÃ KHANG NINH THUỘC

VÙNG ĐỆM CỦA VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Khoa : KT&PTNT

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn hết sức quan trọng trong toàn bộ quá trình học

tập, rèn luyện của mỗi sinh viên Với phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, thực tập tốt nghiệp sẽ giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống hóa lại

toàn bộ kiến đã học và áp dụng một cách sáng tạo, linh hoạt những kiến thức đã học vào thực tế Từ đó giúp cho sinh viên học hỏi, rút ra những kinh nghiệm nhằm nâng cao năng lực chuyên môn để sau khi ra trường có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội

Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm chỉ bảo của các thầy, cô giáo khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, xin chân thành cảm ơn đến UBND xã Khang Ninh - huyện Yên Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn đã giúp

đỡ em hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo Th.S Đỗ Hoàng Sơn đã

chỉ bảo và hướng dẫn em trong quá trình nhiên cứu Cuối cùng em xin gửi lời cảm

ơn tới gia đình, bạn bè…Những người luôn quan tâm, chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong thời gian em học tập và nghiên cứu

Trong quá trình thực tập mặc dù bản thân đã hết sức cố gắng nhưng do thời gian

có hạn, kinh nghiệm và trình độ của bản thân còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp của

em không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp ý của các thầy cô và các bạn để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015

Sinh viên

Ma Ngọc Dung

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai tại xã Khang Ninh năm 2014 34

Bảng 4.2: Tình hình biến động dân số qua các năm của xã Khang Ninh 39

Bảng 4.3: Hiện trạng phân bố dân cư năm 2014 của xã Khang Ninh 40

Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động xã Khang Ninh năm 2014 42

Bảng4.5: Các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của xã Khang Ninh 43

Bảng 4.6: Kết quả sản xuất nông nghiệp qua một số năm của xã Khang Ninh 44

Bảng 4.7: Phân loại kinh tế hộ theo tự đánh giá của các hộ 50

Bảng 4.8: Phân loại hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo tại địa phương 50

Bảng 4.9: Các tài sản chủ yếu của các hộ điều tra 51

Bảng 4.10: Hiện trạng nhà ở của các hộ điều tra 51

Bảng4.11: Các chỉ tiêu thu nhập - chi phí của 4 nhóm kinh tế hộ 52

Bảng 4.12: Thu nhập trung bình năm của các nhóm kinh tế hộ 54

Bảng 4.13: Thu nhập từ rừng và các hoạt động liên quan đến rừng của các nhóm hộ 54

Bảng 4.14: Diện tích lúa nước theo nhóm hộ 55

Bảng 4.15: Nhân khẩu lao động của các hộ điều tra 56

Bảng 4.16: Thực trạng vay vốn của các hộ điều tra 57

Bảng4.17 : Các thông tin và khả năng tiếp cận thông tin 58

Bảng 5.1: Chiến lược sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 64

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

UBND : Ủy ban nhân dân VQG : Vườn quốc gia KBT : Khu bảo tồn ĐVT : Đơn vị tính

HTX : Hợp tác xã QLDA : Quản lý dự án LSNG : Lâm sản ngoài gỗ CSHT : Cơ sở hạ tầng

USD : Đôla Mỹ

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 4

1.5 Cấu trúc của khóa luận 4

Phần 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG 5

2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững 8

2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ 10

2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG 11

2.2 Cơ sở thực tiễn 15

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 15

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 16

2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam 17

2.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại các xã vùng đệm nghiên cứu 24

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 25

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 25

Trang 7

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 25

3.3 Nội dung nghiên cứu 25

3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu 25

3.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ 25

3.3.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của các hộ nông dân ở vùng đệm VQG - Nguyên nhân của nó 26

3.3.5 Định hướng, mục tiêu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 27

3.3.6 Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm VQG 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 30

3.4.1 Phương pháp chung 30

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 31

3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu 32

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÂN TÍCH 33

4.1 Đánh giá thực trạng điều kiện cơ bản địa bàn nghiên cứu 33

4.1.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên 33

4.1.2 Thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội 39

4.1.3 Điều kiện về hạ tầng cơ sở 45

4.1.4 Những vấn đề tồn tại chính trong phát triển kinh tế - xã hội 48

4.2 Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 50

4.2.1.Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu 50

4.2.2 Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 52

4.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực của hộ 55

4.3.1 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai 55

4.3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng lao động của các hộ 55

4.3.3 Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn sản xuất 56

4.3.4 Đánh giá thực trạng kinh nghiệm sản xuất 57

4.3.5 Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất 58

4.3.6 Đánh giá điều kiện thị trường 59

4.3.7 Đánh giá các điều kiện vốn xã hội 59

4.3.8 Những vấn đề tồn tại trong phát triển kinh tế hộ ở vùng đệm - Nguyên nhân của nó 59

4.4 Những tiềm năng cho việc cải thiện sinh kế của các hộ nông dân tại xã Khang Ninh 61

Trang 8

4.4.1 Những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những thách thức trong phát triển kinh tế vùng

đệm 61

4.5 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN XÃ KHANG NINH THUỘC VÙNG ĐỆM VQG BA BỂ 63

4.5.1 Xây dựng chiến lược cải thiện sinh kế cho các hộ dân vùng đệm 63

4.5.2 Các giải pháp chủ yếu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 68

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1 Kết luận 70

5.2 Đề xuất/kiến nghị 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

I Tiếng việt 74

II Tài liệu từ Internet 75

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Vùng đệm các VQG tại Việt Nam hầu hết là vùng sâu, vùng khó khăn có hạ tầng cơ sở kém phát triển đã hạn chế giao thương kinh tế và đi lại khó khăn Bên cạnh đó, trình độ sản xuất lạc hậu nên năng suất, sản lượng thấp dẫn đến tỷ lệ hộ nghèo còn cao Vùng đệm các VQG cũng là nơi sinh sống chủ yếu của cộng đồng dân tộc ít người, vẫn còn nhiều hủ tục thói quen lạc hậu (cưới hỏi, ma chay, bình đẳng giới, khai thác sử dụng tài nguyên,… ) gây tốn kém, lãng phí nguồn lực của

hộ, tài nguyên tự nhiên Các hoạt động về bảo vệ và phát triển rừng tại các VQG Việt Nam hiện nay chưa tạo ra được những cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân Đôi khi còn ngược lại như hạn chế việc chăn thả gia súc, không được

mở rộng diện tích trồng trọt và thậm chí không được tự ý trồng rừng Các hộ nông dân vùng đệm, đặc biệt là các hộ thuộc nhóm nghèo thường ít có khả năng tốt trong quản lý kinh tế Nguồn thu nhập chỉ tập trung vào canh tác lúa, làm thuê và chăn nuôi nhưng không bền vững, rủi ro cao do năng lực lập kế hoạch, quản lý và tổ chức sản xuất còn kém Từ khi thành lập Vườn Quốc gia các hộ nông dân vùng đệm trước đây vốn quen với phương thức kiếm sống truyền thống là khai thác các sản phẩm từ rừng, canh tác nương rẫy,… bị tác động ảnh hưởng lớn đến điều kiện sống, việc làm, thu nhập và thậm chí cả các giá trị văn hóa truyền thống Đói nghèo và thiếu những sinh kế bền vững nên người dân vùng đệm các VQG đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng của VQG Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG Việt Nam và sinh kế cho người dân vùng đệm bền vững là nhiệm vụ vô cùng cấp thiết hiện nay

Ngày 10/11/1992 VQG Ba Bể được thành lập theo Quyết định số 83/TTg của Thủ tướng Chính phủ Cũng như tại nhiều VQG khác, những người dân sống trong và gần VQG Ba Bể bị tác động ảnh hưởng lớn đến sinh kế Xã Khang Ninh - huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn là một trong các xã thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia (VQG) Ba Bể có diện tích tự nhiên 4434.41ha, với tổng dân số 4064

Trang 10

Trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông Kinh tế của xã Khang Ninh chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Các hoạt động sinh kế hiện nay của các hộ nông dân vùng đệm VQG Ba Bể như trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và dịch vụ hiệu quả chưa cao và không ổn định nên số hộ nghèo tại xã Khang Ninh vẫn chiếm 47,5% tổng số hộ

Nghiên cứu các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã vùng đệm Ba Bể là vô cùng cấp thiết góp phần giảm áp lực lên công tác bảo tồn tài nguyên rừng tại VQG Ba Bể Những giải pháp sinh kế phù hợp tại vùng đệm sẽ giúp cho các hộ nông dân phát triển những sinh kế mới, cải thiện những sinh kế hiện có và khai thác có hiệu quả các nguồn lực sinh kế hiện có một cách bền vững tạo thêm được nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho họ Phát triển sinh kế cho các

hộ nông dân vùng đệm VQG Ba Bể bền vững sẽ góp phần hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác trái phép tài nguyên rừng

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên, chúng em chọn nghiên cứu đề tài:

“Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể ”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích được các tiềm năng, những tồn tại và nguyên nhân của nó trong những hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba Bể Trên cơ sở những phân tích trên, đề tài nhằm tìm kiếm

và đề xuất những giải pháp cho việc cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã nghiên cứu

Trang 11

- Đánh giá được những vấn đề tồn tại trong các hoạt động tạo sinh kế của các

hộ nông dân tại xã Khang Ninh phân tích làm rõ nguyên nhân của nó

- Phân tích cụ thể được các tiềm năng cho việc cải thiện các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Khang Ninh

- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm VQG Ba Bể

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này đã giúp tác giả nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra, đề tài cũng giúp tác giả nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu và bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề cấp thiết ngoài thực tiễn

- Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn tại các vùng miền núi, những người làm công tác phát triển và bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam

- Đối với Ban quản lý VQG Ba Bể kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ gợi mở

ra hướng quản lý bảo vệ và phát triển rừng VQG theo hướng có sự tham gia của người dân, đảm bảo hài hòa được mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng VQG

và sinh kế của người dân vùng đệm

- Những giải pháp mà đề tài đề xuất là những gợi mở, những định hướng giúp các hộ nông dân vùng đệm VQG có thể cải thiện và phát triển những sinh kế mới nhằm đảm bảo về mặt thu nhập và việc làm trong tương lai

Trang 12

- Đối với tác giả của đề tài, thông qua nghiên cứu này đã nâng cao được những hiểu biết về thực tế phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG nói riêng

1.4 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ thực tế những khác biệt trong hoạt động sinh kế của các

hộ nông dân tại vùng đệm VQG Ba Bể so với các vùng nông thôn miền núi khác

- Đề tài cũng làm rõ được mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn tài nguyên rừng VQG

Ba Bể với những hoạt động sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm

- Phát hiện và làm rõ những tiềm năng cho cải thiện sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG Ba Bể làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế bền vững tại địa bàn nghiên cứu

1.5 Cấu trúc của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Phần 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người (Võ Quý, 2001)[7]

Vườn quốc gia

Là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, đáp ứng yêu cầu sau:

 Vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người, các khu rừng có giá trị cao về văn hóa, du lịch

 Phải đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái và không bị thay đổi bởi những tác động xấu của con người

 Tỷ lệ diện tích hệ sinh thái cần bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên

 Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi

 Khái niệm về vùng đệm

Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu vực đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công

tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào

vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ (Võ Quý, 2001)[7]

- Chia vùng đệm thành 2 loại chính:

Trang 14

+ Vùng đệm có dân sinh sống

+ Vùng đệm không có dân sinh sống

- Vị trí vùng đệm: Nằm liền kề ngoài KBT, bao quanh KBT và không thuộc KBT

- Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm:

+ Ranh giới phía bên trong vùng đệm: là ranh giới giữa KBT và vùng đất đai bao quanh KBT

+ Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT với vùng đất không trực tiếp bao quanh KBT; ranh giới đó thường được xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra như: Vách núi, đường mòn, đường ô tô, đường sông, đường sắt, các con suối, hồ chứa nước…

 Vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG

Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên VQG đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Ở Việt Nam, lần đầu tiên vùng đệm được đưa vào quy hoạch cho VQG Cúc Phương và sau đó là các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG khác Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt được xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi Điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG

Chức năng chính của vùng đệm gồm:

Chức năng vùng đệm xã hội: Việc quản lý vùng đệm trước hết nhằm cung cấp các sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống của người dân địa phương Việc sử dụng những sinh vật hoang dã của vùng đệm có tầm quan trọng thứ yếu Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai của cư dân ở đây không được mâu thuẫn với mục tiêu chính của khu bảo tồn

Chức năng vùng đệm mở rộng: Việc quản lý vùng đệm nhằm mục đích mở rộng phạm vi của môi trường sống có trong khu bảo tồn sang vùng đệm, nhờ đó mà

mở rộng môi trường sống của các loài hoang dã có trong khu bảo tồn

Từ đó có thể hiểu, vùng đệm chính là khu vực diễn ra sự trao đổi lợi ích giữa các hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồng dân cư địa phương và các hoạt động của các loại sinh vật hoang dã vốn có trong khu bảo tồn, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi.

Trang 15

 Ý nghĩa của việc cải thiện sinh kế cho người dân vùng đệm các VGQ

Hiện nay, “phương pháp sinh kế” đã được một số cơ quan phát triển áp dụng trong các động phát triển Như chúng ta thấy ở các phần sau, khó có thể nói là có một phương hoạt pháp thống nhất khi mà các cơ quan áp dụng một cách khác nhau, từ các hoạt động sơ khai như xây dựng các công cụ hay khung phân tích cho việc lập kế họach hoặc đánh giá ban đầu đến một số loại hoạt động cụ thể của chương trình

Ba yếu tố dẫn đường giải thích lý do của việc áp dụng “Phương pháp sinh kế bền vững” trong công tác giảm nghèo

Thứ nhất, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm nghèo nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi nó hoàn toàn phụ thuộc và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội để phát triển kinh tế Vì vậy, điều quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách thức người nghèo cải thiện sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các họat động hỗ trợ cho dự án

Thứ hai, về nhận biết đói nghèo - như chính cảm nhận của những người nghèo- không chỉ là vấn đề thu nhập thấp mà còn bao gồm cả các yếu tố như chăm sóc y tế kém, giáo dục kém, thiếu các dịch vụ xã hội, v.v…, như là tình trạng dễ bị tổn thương và cảm giác của sự bất lực Hơn nữa, đói nghèo hiện nay được xem là có

sự liên kết giữa các yếu tố gây ra nghèo đói và cải thiện một yếu tố có thể có tác động tích cực đối với yếu tố khác Cải thiện giáo dục có thể mang lại tác động tích cực cho việc chăm sóc y tế, mà nó có thể tăng khả năng sản xuất Giảm tình trạng

dễ bị tổn thương cho người nghèo bằng cách nêu rõ các rủi ro cho họ có thể gia tăng

xu hướng để rơi vào các hoạt động rủi ro chưa được kiểm chứng trước đó nhưng mà

có hiệu quả kinh tế hơn, và cứ tiếp tục như thế v.v…

Cuối cùng, ngày nay chúng ta nhận ra rằng chính người nghèo thường hiểu

về họ và nhu cầu của họ tốt nhất và vì vậy phải lôi kéo họ tham gia trong việc thiết

kế các chính sách và dự án để cải thiện số phận của họ Khi thiết kế, chúng thường được cam kết nhiều hơn để thực hiện Vì vậy, sự tham gia của người nghèo sẽ cải thiện kết quả của dự án

Trang 16

Có ba điểm cơ bản hầu hết các phương pháp thường có Thứ nhất là phương pháp chú trọng vào sinh kế của người nghèo, mà trong đó giảm nghèo phải là mấu chốt Thứ hai là loại bỏ cách tiếp cận theo bộ phận đầu vào (nông nghiệp, nước sạch, hay y tế) và thay vào đó là bắt đầu bằng việc phân tích các sinh kế hiện tại để xác định các tác động phù hợp Điểm cuối cùng là chú trọng sự tham gia của người nghèo trong việc xác định các họat động phù hợp để triển khai (Lasse, 2001)

Bên cạnh đó, sự tác động cải thiện nâng cao sinh kết của hộ được bằng các họat động nông nghiệp cho thấy rằng nông nghiệp chính là họat động sinh kế chính của người dân nông thôn Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, có đến 86% dân số

nông thôn sống phụ thuộc vào nông nghiệp (WB, 2008)

Và là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên (Võ Quý, 1999 [6]

2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững

 Khái niệm sinh kế:

- Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận)

và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực

và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong

ngắn hạn và dài hạn.”

- “Sinh kế” là mô ̣t khái niê ̣m rô ̣ng bao gồm các phương tiê ̣n tự nhiên , kinh tế,xã hội và văn hóa các cá nhân , hộ gia đình , hoă ̣c nhóm xã hô ̣i sở hữu ta ̣o ra thu nhâ ̣p hoă ̣c có thể được sử du ̣ng trao đổi để đáp ứng nhu cầu của ho ̣

- Tập hơ ̣p các nguồn lực và khả năng mà con nguời có được kết hợp với những quyết đi ̣nh và hoa ̣t đô ̣ng mà ho ̣ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đa ̣t đươ ̣c các mu ̣c tiêu và ước nguyê ̣n của ho ̣ Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: “ vốn con người, vốn xã hô ̣i, vốn tự nhiên, vốn tài chính,vốn vâ ̣t chất ”

Trang 17

- Vốn tài chính : Thực hiê ̣n bằng khả năng t ạo ra dòng v ốn tiền cho hô ̣ gia đình

- Vốn vật chất: Thể hiê ̣n ở các tài sản vật chất đảm bảo cho cuộc sống

 Tài sản sinh kế

- Khái niệm tài sản sinh kế rất mềm dẻo và tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể của địa phương nơi áp dụng DFID (1999) đã xây dựng một cách cụ thể các tính chất của năm tài sản sinh kế Nói chung, tài sản con người (vốn con người) thể hiện kỹ năng, sự hiểu biết, kiến thức, khả năng của lao động và tình trạng sức khỏe tốt giúp cho con người có khả năng theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được mục tiêu sinh kế của họ Ở cấp độ hộ gia đình, tài sản con người bao gồm số lượng

và chất lượng của lao động Số lượng và chất lượng của lao động biến động theo quy mô hộ gia đình, kỹ năng, tình trạng sức khỏe thể chất và tinh thần, năng lực lãnh đạo, (Nguyễn Quang Hợp, 2004)[2]

 Sinh kế bền vững

- Sinh kế bền vững là mối quan tâm đă ̣t lên hàng đầu hiê ̣n nay của con người

nó là điều kiện cần thiế t cho quá trình phát triển , nâng cao đời sống của con người

những vấn đề đáp ứng những đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên

- Một sinh kế bền vững có thể đối phó với những rủi ro và những cú sốc và tăng cường khả năng và tài sản, đồng thời cung cấp các sinh kế bền vững cho thế hê ̣ sau góp phần ta ̣o ra lợi ích cho cô ̣ng đồng , đi ̣a phương và toàn cầu và trong ngắn

Trang 18

hạn và dài hạn Sinh kế bền vững cung cấp mô ̣t phương pháp tiếp câ ̣n thích hợp và

chă ̣t chẽ hơn về vấn đề nghèo đói

2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ

 Khái niệm về hộ

- Hộ gia đình , tập những người có quan hệ vợ chồng, họ hàng huyết thống,cùng chung nơi ở và một số sinh hoạt cần thiết khác như ăn, uống.v.v… Tuy nhiên cũng có thể có một vài trường hợp một số thành viên của hộ không có họ

hàng huyết thống, nhưng những trường hợp này rất ít xảy ra

- Hộ gia đình hay còn gọi đơn giản là hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một hay một nhóm người ở chung (cùng chung hộ khẩu) và ăn chung (nhân khẩu) Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung hoặc thu nhập chung Hộ gia đình không đồng nhất với khái niệm gia đình, những người trong hộ gia đình có thể có hoặc không có quan

hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân hoặc cả hai

Hộ gia đình được phân loại như sau:

 Hộ một người (01 nhân khẩu) Là hộ chi có một người đang thực tế thường trú tại địa bàn

 Hộ hạt nhân: Là loại hộ chỉ bao gồm một gia đình hạt nhân đơn (gia đình chỉ có 01 thế hệ) và được phân tổ thành: Gia đình có một cặp vợ chồng có con đẻ hoặc không có con đẻ hay bố đẻ cùng với con đẻ, mẹ đẻ cùng với con đẻ

 Hộ mở rộng: Là hộ bao gồm gia đình hạt nhân đơn và những người có quan

hệ gia đình với gia đình hạt nhân Ví dụ: một người cha đẻ cùng với con đẻ và những người thân khác, hoặc một cặp vợ chồng với người thân khác;

 Hộ hỗn hợp: Là trường hợp đặc biệt của loại Hộ mở rộng (Nguyễn Quang Hợp, 2004) [2]

 Khái niệm hộ nông dân

Là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ

Trang 19

 Hô ̣ nông dân là mô ̣t hay nhiều người cùng được nhà nước quản lý chung

mô ̣t sổ hô ̣ khẩu , có nguồn thu nhập chính từ sản xuất Nô ng Nghiê ̣p đem la ̣i Hô ̣ nông dân xuất phát từ viê ̣c quản lý nhân khẩu của Nhà nước , nó có từ lâu đời cho nên nó gần như là hiển nhiên (Nguyễn Quang Hợp, 2004) [2]

 Khái niệm kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán) Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế Có một thực tế cần có sự phân biệt rõ ràng giữa kinh tế hộ gia đình và kinh tế trang trại

2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG

2.1.4.1 Các nội dung có liên quan trong chính sách của Đảng, Nhà nước cho phát triển vùng miền vúi, vùng đồng bào dân tộc nói chung

Ngày 27/12/1989, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về một

số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi Cụ thể hóa Nghị quyết quan trọng trên, hàng loạt chương trình, chính sách, dự án đã được triển khai

ở vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số như: Chương trình phát triển kinh

tế - xã hội vùng cao phía Bắc; Chương trình trung tâm cụm xã; Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc, miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa (Chương trình 135); Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số đời sống khó khăn (Chương trình 134); Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo (Nghị quyết 30a), v.v Bên cạnh đó là các chính sách, chương trình, dự án

hỗ trợ đầu tư theo vùng như: Quyết định 120/2003/QĐ-TTg (2003-2010) đối với các xã biên giới Việt - Trung; Quyết định 160/2007/QĐ-TTg (2007-2010) đối với các xã biên giới Việt - Lào và Việt Nam - Campuchia; các Quyết định 24, 25, 26, 27 của Thủ tướng Chính phủ thực hiện giai đoạn 2008 - 2010 về một số cơ chế chính

Trang 20

sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các địa phương khó khăn vùng Trung du Bắc

Bộ, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long Với hệ thống chính sách dân tộc và sự cố gắng, nỗ lực vươn lên của đồng bào các dân tộc, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước không chỉ đơn thuần là xóa đói giảm nghèo, mà đã đi vào cuộc sống, phát huy được

sự sáng tạo, ý chí, nguồn lực của người dân toàn xã hội Nhiều phong trào thi đua yêu nước được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát động đã thu hút được sự tham gia của đồng bào các dân tộc như: “Giúp nhau phát triển kinh

tế, xóa đói, giảm nghèo”, “Thi đua sản xuất kinh doanh giỏi”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Xóa mù chữ, phổ cập tiểu học”, “Toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn vùng dân tộc, miền núi đặc biệt khó khăn

và xóa nghèo bền vững (Nguyễn Bá Thụ, 2001)[9]

Phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, yêu nước của dân tộc, vùng đồng bào dân tộc miền núi đang vững tin, tiếp tục đồng hành cùng nhân dân cả nước đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, tiến hành cộng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Người dân tộc thiểu số sống dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên, trải qua các thế hệ, đã có thành tích trong việc giữ và phát triển thảm thực vật Họ biết giữ cây gì? Chặt cây gì? Nhưng ngày nay, do tác động của cơ chế thị trường họ đã quên hoặc mất đi bản chất tốt đẹp lúc trước Vì vậy, phải khơi dậy lại tập quán tốt của cộng đồng địa phương bằng các chính sách chung

- Chính sách ưu đãi về thuế sử dụng đất

- Chính sách ưu tiên đầu tư của Chính phủ (chương trình dự án 5 triệu ha rừng, chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã nghèo) cho các xã vùng đệm của vườn quốc gia

- Chính sách khen thưởng động viên kịp thời bằng vật chất đối với các xã có công bảo vệ, quản lý vườn quốc gia

Trang 21

- Đào tạo, tập huần cho cán bộ xã về lĩnh vực bảo vệ đa dạng sinh học về mặt Nhà nước

- Xây dựng một quy chế quản lý vùng đệm

- Chính sách vốn đầu tư tín dụng: Vốn trung và dài hạn, đơn giản hóa điều kiện và thủ tục, tổ chức tín dụng nhân dân

- Tăng cường thể chế tự quản trong cộng đồng và hương ước, xây dựng các nhóm nông dân hạt nhân trong làng bản, tổ chức hợp tác kinh tế, giao quyền cho cộng đồng quản lý tài nguyên cộng đồng thôn bản

2.1.4.2 Các nội dung có liên quan trong chính sách của Đảng, Nhà nước cho phát triển vùng đệm các VQG

- Nhằm bảo tồn tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng gắn với việc khai thác tiềm năng sinh thái

- Từng bước hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật; thiết lập các tuyến

du lịch, tạo dựng các điểm đến hấp dẫn làm cơ sở đưa Vườn quốc gia Tam Đảo là một trong những Vườn tiêu biểu của Việt Nam và quốc tế

- Thông qua hoạt động du lịch sinh thái, giáo dục cho mọi người ý thức bảo

vệ môi trường; thực hiện chính sách chia sẻ lợi ích đối với người dân bản địa, gắn với phát triển du lịch sinh thái; tạo việc làm, chuyển đổi ngành nghề cho người dân vùng đệm thông qua các dự án phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn Nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

- Nhằm tạo nguồn thu bền vững, trước mắt tự trang trải và đảm bảo chi cho quản lý, bảo vệ rừng từ nguồn thu từ việc cho thuê môi trường rừng đặc dụng để phát triển du lịch sinh thái

Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng

Điều 34 Trách nhiệm quản lý vùng đệm

1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện trách nhiệm như sau:

Trang 22

a) Tuyên truyền, vận động nhân dân trong vùng đệm thực hiện các biện pháp ngăn chặn xâm hại vào khu rừng đặc dụng

b) Quản lý, sử dụng tài nguyên rừng đúng quy định hiện hành của Nhà nước

và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được duyệt

c) Phối hợp với Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức triển khai thực hiện

dự án đầu tư vùng đệm

2 Ban quản lý khu rừng đặc dụng có trách nhiệm

a) Tổ chức các biện pháp thu hút cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia quản

lý khu rừng đặc dụng và thực hiện dự án đầu tư vùng đệm

b) Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã lập và tổ chức thực hiện dự án đầu

Điều 8 Hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng

1 Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư cho cộng đồng dân cư thôn bản vùng đệm để đồng quản lý rừng đặc dụng; mức hỗ trợ mỗi thôn bản là 40 triệu đồng/thôn,

bản/năm

2 Khoản kinh phí này được chi cho các nội dung: Đầu tư nâng cao năng lực phát triển sản xuất (khuyến nông, khuyến lâm, giống cây, giống con, thiết bị chế biến nông lâm sản quy mô nhỏ); hỗ trợ vật liệu xây dựng cho thôn bản (đối với các công trình công cộng của cộng đồng như nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông thôn bản, nhà văn hoá…)

3 Ban quản lý rừng đặc dụng được giao quản lý kinh phí này theo quy định của quản lý kinh phí sự nghiệp kinh tế hiện hành Dự toán chi tiết hỗ trợ đầu tư vùng đệm hàng năm phải do thôn bản lập kế hoạch đề xuất; Ban quản lý rừng đặc dụng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã họp bàn với từng thôn bản để đồng

Trang 23

phê duyệt (không phải lập dự án đầu tư) Kế hoạch chi tiêu này phải gắn với kế hoạch, cam kết bảo vệ rừng đặc dụng; thôn, bản nào thực hiện bảo vệ rừng không tốt, Ban quản lý rừng đặc dụng có quyền chuyển vốn hỗ trợ cho thôn bản khác Cộng đồng dân cư tổ chức giám sát thực hiện nội dung này theo quy định về chế độ dân chủ cơ sở

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG

2.2.1.1 Nghiên cứu sinh kế cho người dân tại vùng đệm các VQG trên thế giới

Trung Quốc là một nước đông dân nhất thế giới xấp xỉ 1,13 tỉ Theo thống

kê, diện tích rừng của Trung Quốc tổng cộng là 10.137 tỉ m2 với tỉ lệ đất phủ rừng là 13,29% chiếm 3% diện tích toàn thế giới [11]

Trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, dân tộc Dai ở Vân Nam đã nổi tiếng là thong minh vẫn dụng thiên nhiên một cách tinh vi và kinh tế Trong thời gian dài thực hiện các loại cây, người Dai đã tìm ra phương pháp nhận diện “ tìm ra cái khác trong giống,tìm ra cái giống trong các khác nhau”,xây dựng “hệ thống hai chỉ định để phân loại cây” Họ giáo dục con cháu họ cách sử dụng các loại cây từ đời này sang đời khác dưới dạng các bài thơ trào phúng và các câu tục ngữ do tổ tiên để lại Ví dụ khi thu hoạch tre, độ dài nhất có thể cắt đốn đi nên ngắn hơn 25% tổng độ dài, những câu tục ngữ “Đốn tre chừa lại búp non” Sử dụng tài nguyên thực vật một cách thích hợp, bền vững trong thời gian dài, dân tộc Dai đã hình thành nền canh tác riêng của họ Người dai đã hiểu ra lợi ích của việc bảo vệ rừng: Không có rừng thì không có nước, không có nước thì không có đất, không có đất thì không có thức ăn và không co thức ăn thì không có sự sống” và “Đốn cây làm bạn giàu lên trong thời gian ngắn, nhưng những quả đồi trọc làm thế hệ sau này nghèo khổ bần cùng”

Như vậy đa dạng sinh thái có ảnh hưởng đến đa dạng văn hóa, dạng văn hóa bảo tồn và thúc đẩy đa dạng sinh học

Nhiều nước trên thế giới như Australia, new Zealand, Canada, Inđônêxia… có những kinh nghiệm trong việc phối hợp giữa Nhà nước với người dân địa phương

Trang 24

trong việc quản lý các Vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Ở Inđônêxia vẫn có

13 bản làng người dân địa phương sinh sống ở đó và việc sawnnbawsn cổ truyền của

họ vẫn tồn tại Ở khu bảo tồn Nerfu ở Zambia luangua, các cộng đồng địa phương vẫn được quyền thực hiện việc săn bắn truyền thống Ở Vườn quốc gia Sagarmtha tại vùng núi Everest, người ta đã đem lại quyền lợi cho người dân tộc Sherpa và thu hút họ vào làm cho Vườn quốc gia theo chế độ người gác rừng [11]

Các dẫn chứng trên cho ta thấy rằng vai trò to lớn của cộng đồng dân địa phương trong việc bảo vệ rừng và khu bảo tồn Họ giữ gìn những tri thức bản địa vô cùng phong phú và đa dạng tự nguyện bảo vệ nơi sinh sống một cách bền vững

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG

Ở Việt Nam kinh nghiệm giải quyết vấn đề vùng đệm chưa có nhiều vậy chúng ta

đã thấy được ý nghĩa quan trọng của nó trong cống tác bảo vệ khu bảo tồn thiên nhiên

Vườn quốc gia Cúc Phương giải quyết công tác vùng đệm bằng những dự án nhỏ Nguồn tài trợ cho những dự án này là quốc gia và quốc tế Mỗi dự á giải quyết một vấn để của vùng đệm: Dự án phát triển nuôi ong lấy mật, dự án xây dựng xóm Khanh thuộc xã Âu Nghĩa nằm trên vùng đệm trở thành xóm phát triển về nông lâm kết hợp với du lịch sinh thái hoặc dự án nâng cao nhận thức bảo tồn của cộng đồng được triển khai trên toàn vùng đệm

Vườn quốc gia Ba Vì giải quyết vấn đề vùng đệm bằng cách giao đất vùng đệm hoặc khoán bảo vệ cho nhân dân, xây dựng làng sinh thái Mục đích của những hoạt động này là nhằm nâng cao đời sống của người dân sống trên vùng đệm, giảm tác động của họ vào khu bảo tồn

Vườn quốc gia Yok - Don coi trọng việc chuyển giao kỹ thuật nông lâm kết hợp cho người dân sống trong các buôn làng trong vùng đệm Những kỹ sư lâm nghiệp và cán bộ kỹ thuật được củ về các buôn làng để hướng dẫn kỹ thật canh tác nông lâm nghiệp

Ngoài ra, còn có rất nhiều các dự án đã và đang triển khai tại vùng đệm ở một số khu bảo tồn: Bạch Mã, Nam Cát Tiên, Pù Mát, Kẻ Gỗ, … và cách giải quyết vấn đề vùng đệm, rất linh hoạt trong khu dự trữ thiên nhiên và vườn quốc gia

Trang 25

Sự tham gia của người dân địa phương vào việc bảo tồn vườn quốc gia Bạch

Mã Ví dụ ở thôn Khe Su ở xã Lộc Bì là một ví dụ điển hình của sự thành công Thôn Khe Su nằm trong ranh giới của Vườn quốc gia Bạch Mã có tới 70% dân trong thôn khai thác rừng tự nhiên bất hợp pháp với thời gian 3 tháng 1 năm (1993) trình độ kinh tế, dân trí thấp, đời sống khó khăn Ban quản lý Vườn quốc gia chọn thôn Khe Su làm thí điểm, nếu thành công sau đó sẽ nhân rộng Vườn quốc gia Bạch Mã đã khoán bảo vệ rừng cho toàn bọ cộng đòng và được nhân dân ủng hộ Đến năm 1997, diện tích rừng nhận bảo vệ là 400 ha Sau 3 năm thực hiện đã thu được nhiều kết quả, 98% dân số đã chuyển đổi từ nghề rừng sang làm vườn, trồng trọt chăn nuôi, 80% số gia đình đã tận dụng chúng để đun nấu Ngoài nhận khoán bảo vệ rừng, cộng đồng Khe Su còn tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái ở thác Thủy điện Đá Trắng [5]

Như vậy, mô hình bảo tồn Vườn quốc gia Bạch Mã có sự tham gia của người dân tại thôn Khe Su có thể xem như là một mô hình tốt, không những áp dụng ở Vườn quốc gia Bạch Mã mà còn có thể áp dụng ở Vườn quốc gia Ba Bể, hiện nay

có cả một xã Nam Mẫu nằm trong khu bảo vệ nghiêm ngặt

Kinh nghiệm một số Vườn quốc gia đã làm cho chúng ta thấy rõ vai trò cực

kì quan trọng trong việc kết hợp một cách thực sự giữa ban quản lý khu bảo tồn với các chính quyền địa phương, cũng như vận động các già làng, già bản tham gia Điều này cần thực hiện mang tính nguyên tắc là gắn liền quyền lợi của người dân ở các khu vùng đệm với việc bảo tồn tài nguyên, bảo tồn hệ sinh thái, bảo tồn nền văn hóa của từng sắc tộc, làm cho người dân địa phương nhận rõ quyền lời họ được hưởng, đồng thời nghĩa vụ cụ thể đối với khu bảo tồn thiên nhiên

2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam

Tạo ra sinh kế cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, giúp cộng đồng phát triển công bằng và bền vững bằng việc phát triển dịch vụ du lịch sinh thái gắn với bảo vệ môi trường có sự tham gia của người dân và cộng đồng

Trang 26

Với sự kết nối của dự án 3PAD đã đi đến một thống nhất chung là người sử dụng các dịch vụ môi trường sẽ là bên trả phí, người nhận các phí chi trả này sẽ thực hiện các hoạt động Bảo vệ môi trường và sự phối hợp trong việc khai thác, bảo vệ dịch vụ môi trường này sẽ được hai bên tự nguyện cam kết và ghi nhớ bằng hợp đồng cụ thể Trong quá trình triển khai các hoạt động tại vùng hồ Ba Bể, cán bộ Ban QLDA 3PAD đã chú trọng tuyên truyền về mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện đến các đối tượng trực tiếp như người dân các thôn nằm trong vùng lõi, vùng đệm vườn quốc gia Ba

Bể, thành viên hội nhà sàn xã Nam Mẫu, các xã viên HTX xuồng vườn Quốc gia Ba Bể

Với mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng tự nguyện người dân các thôn bản vùng cao có sinh kế từ rừng và quan trọng hơn là người dân đã nhận thức rõ về quyền lợi và trách nhiệm đối với môi trường rừng và cảnh quan thiên nhiên Đó cũng là mong muốn và mục đích mà dự án 3PAD hướng tới Ông Hoàng Văn Giáp

- Giám đốc dự án 3 PAD tỉnh Bắc Kạn cho biết: Để đảm bảo tính bền vững của mô hình, dự án sẽ tiếp tục hỗ trợ cho các đơn vị có liên quan, đặc biệt là cấp Ủy và chính quyền địa phương trong lĩnh vực hướng dẫn, giúp bà con sử dụng và quản lý nguồn quỹ được chi trả đúng mục đích và có tính hiệu quả Trong thời gian tới, dự

án sẽ tiếp tục xây dựng các mô hình chi trả tự nguyện ở các thôn bản vùng cao khác thuộc vùng dự án góp phần giải quyết được vấn đề sinh kế cho người dân và hạn chế được tác động của con người đến môi trường sinh thái rừng (Võ Quý, 2001)[7]

Cải thiện mức sống và giảm nghèo, tang cường an ninh lương thực

+ Cải thiện thu nhập

Với các nỗ lực hỗ trợ từ Chương trình giảm nghèo Chia Sẻ thông qua các họat động hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp, thu nhập của người dân ngày càng được cải thiện

+ Nâng cao đời sống và đảm bảo an ninh lượng thực

+ Giảm nghèo

+ Đa dạng hóa nguồn thu nhập

+ Tính bền vững của hỗ trợ cải thiện sinh kế

+ Giảm thiểu tình trạng dễ bị tổn thương

+ Bền vững về xã hội

Trang 27

+ Bền vững về sử dụng tài nguyên thiên nhiên

Trao quyền và tăng cường thể chế

Ở Việt Nam, trao quyền được thực hiện thông qua Nghị định 79/2003/ND-CP Ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã (cấp cơ sở) Nghị định này quy định về quyền hạn, trách nhiệm của trưởng thôn, đồng thời quy định về định kỳ và nội dung của các cuộc họp thôn Qua đó, họp thôn được tổ chức định kỳ 6 tháng một lần và thảo

luận các vấn đề “Thảo luận và quyết định các công việc của nội bộ cộng đồng dân cư

về sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, đoàn kết tương trợ giúp đỡ nhau trong sản xuất và đời sống, những vấn đề về văn hóa, xã hội,

vệ sinh môi trường, an ninh, trật tự an toàn xã hội phù hợp pháp luật

Bài học kinh nghiệm cho các hoạt động của dự án

Chia Sẻ đã mang đến không chỉ là người dân mà cả những nhà quan tâm đến vấn đề đói nghèo một cài nhìn sâu hơn về phương pháp xoá đói giảm nghèo Thông qua dự án, năng lực con người tăng lên rõ rệt theo đó mức sống của người nghèo được nâng lên, nhiều hộ thoát nghèo, mô hình có thể nhân ra Tuy nhiên, khả năng nhân rộng phương pháp của Chia Sẻ hạn chế vì vốn đầu tư quá lớn, bộ máy nhiều cấp nên chi cho bộ máy quản lý rất lớn

Xét theo mức thu nhập của hộ thì các ý kiến tập trung nhiều với nhóm hộ thu nhập >25 triệu đồng, sau đó là nhóm hộ 5-10 triệu đồng, 15-20 triệu đồng, dưới 5 triệu đồng và cuối cùng là nhóm hộ ở mức 20-25 triệu đồng Đối với các vấn đề cụ thể thì tỷ lệ này cũng khá tương đồng giữa các mức thu nhập so với tổng chung

Tuy đã có chương trình Chia Sẻ nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để được các vấn đề như vốn, giao thông, nước sinh hoạt tưới tiêu, tính công bằng, kỹ thuật vật tư hay một số vấn đề khác

Xác định đúng đối tượng hộ nghèo và các cản trở để tiếp cận nguồn lực mà hộ gặp phải

Để xác định được chính xác đối tượng hộ nghèo trong cộng đồng, cần phải

có sự tham gia đánh giá của người dân Ngoài các tiêu chí hiện nay do nhà nước quy định dựa trên thu nhập Cộng đồng có thể có các tiêu chí khác để đánh giá mức

Trang 28

độ giàu nghèo của người dân Ví dụ: nhà cửa, đất đai, gia súc, lao động… Đây là yếu tố đầu tiên để đảm bảo rằng sự hỗ trợ của chương trình là đúng đối tượng

Đối với các đối tượng hưởng lợi, cần có sự xác định chính xác những cản trở

mà hộ gặp phải, nhằm đảm bảo rằng sự hỗ trợ của án là đúng hướng và mang lại hiệu quả cao cho giảm nghèo

Tăng cường năng lực

Trong quá trình triển khai họat động giảm nghèo, việc tăng cường năng lực cho người dân và cán bộ địa phương là hết sức cần thiết để đảm bảo hiệu quả của chương trình mang tính bền vững

Phân cấp/phân quyền tối đa

Phân cấp phân quyền là một trong những thành công lớn của Dự án Chia Sẻ như là tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động của dư án Người dân được quyền quyết định các họat động hỗ trợ cho cộng đồng

Tăng cường hợp tác và điều phối

Sự hợp tác của các cấp quản lý trong các họat động của dự án đảm bảo rằng các quyết định đều được thống nhất và nhận được sự hỗ trợ của dự án cũng như các cấp chính quyền địa phương

Nâng cao tiếng nói và vai trò của phụ nữ

Phụ nữ thường là người ít được tham gia quyết định trong các họat động của gia đình và cộng đồng Nâng cao sự tham gia của phụ nữ từ việc tiếp cận, chia sẻ thông tin đến các họat động giảm nghèo của dự án là một bài học kinh nghiệm cho các họat động phát triển

Đảm bảo đáp ứng nguồn lực để xóa đói giảm nghèo

Ngoài các yếu tố trên, việc đáp ứng đủ nguồn lực cho việc giảm nghèo là yếu

tố mang tính quyết định cao nhất cho các họat động giảm nghèo Các nguồn lực này như là: Tài chính, con người và kỹ thuật

Phương pháp tiếp cận mới cho giảm nghèo bền vững

Công cuộc xóa đói giảm nghèo của nước ta được bắt đầu triển khai từ những năm 1990, cho đến nay chúng ta đã gặt hái được một số thành công nhất định như

Trang 29

giảm tỷ lệ đói giảm xuống một cách đáng kể như: Công cuộc giảm nghèo triển khai mạnh mẽ từ những năm 1993 đã đem đến kết quả ngoạn mục về giảm nghèo Tỷ lệ nghèo từ 58% năm 1993 giảm xuống còn 37% năm 1998; 18,1% năm 2004; 15,5% năm 2006 và 14,87% năm 2007, trong vòng 15 năm Việt Nam đã giảm ba phần tư

số người nghèo; thu nhập bình quân đầu người đạt 830 USD năm 2007

Phương pháp tiếp cận giảm nghèo theo các nguồn vốn sinh kế được đánh giá

là mang lại kết quả tốt trong việc cải thiện sinh kế đối với người dân địa phương Các tác động này được đo từ việc nâng cao năng lực của người dân và cán bộ địa phương, hỗ trợ về cơ sở hạ tầng và các hỗ trợ trực tiếp để giảm nghèo cho các hộ nghèo Trong những năm qua, sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đạt được những thành tựu quan trọng, GDP hằng năm tăng cao từ 7,5% - 8,5%, tuy nhiên Việt Nam vẫn là một nước nghèo Nhờ có quá trình tăng trường kinh tế này mà công cuộc xóa đói, giảm nghèo tuy đã đạt được một số kết quả, tạo được sự đồng thuận của người dân và ủng hộ của quốc tế, song vẫn còn những thách thức, tồn tại lớn Tình trạng nghèo đói vẫn đang còn tồn tại ở nhiều nơi, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số Điều đó đặt ra câu hỏi là đâu

là nguyên nhân sâu xa của tình trạng này và phương pháp tiếp cận giảm nghèo hiện nay có còn phù hợp với các vùng có tính chất đặc thù này không?

Trong quá trình phát triển, Việt Nam đã áp dụng các phương pháp tiếp cận giảm nghèo khác nhau theo từng thời kỳ như:

Cách tiếp cận từ trên xuống: Tiếp cận từ trên xuống hay việc xây dựng kế hoạch

giảm nghèo từ trên xuống là phương pháp giao chỉ tiêu, kế hoạch, giao nguồn lực và quy định các nhiệm vụ phải thực hiện của cơ quan cấp trên đối với cơ quan cấp dưới

Cách tiếp cận từ dưới lên: Việc xây dựng kế hoạch giảm nghèo theo cách tiếp cận này đó là kế hoạch giảm nghèo của một giai đoạn dựa trên kế hoạch giảm nghèo hàng năm của các Ngành tham gia chương trình và của địa phương theo lộ trình cây vấn đề bắt đầu từ cấp cơ sở Đây là phương pháp mà quá trình xây dựng

kế hoạch dựa vào các kết quả của các ké hoạch thành phần theo những trình tự tổng hợp về mục tiêu, giải pháp, nguồn lực, thời gian, Việc xác định các mục tiêu tổng

Trang 30

Cách tiếp cận xây dựng kế hoạch giảm nghèo có sự tham gia của người dân: Thực chất đó là cách tiếp cận từ người nghèo - xoá đói giảm nghèo bắt đầu từ

người nghèo Bởi người nghèo hiểu rõ tình cảnh của họ hơn ai hết và người nghèo biết rõ họ có thể làm gì và cần phải làm gì Xây dựng kế hoạch giảm nghèo có sự tham gia của người dân là cách tìm ra các nguồn hạn chế nhất, những “nút thắt cổ chai” mà người nghèo đang gặp phải để qua đó các chuyên gia, các cơ quan quản lý nhà nước tìm cách tác động vào chúng nhằm đạt mục tiêu về xoá đói giảm nghèo Tiếp cận này đôi khi được hiểu giống như tiếp cận từ dưới lên bởi đó cũng là cách xác định bắt đầu từ người nghèo - từ những nguồn lực khan hiếm của họ cần hỗ trợ, những vướng mắc chính mà người nghèo đang phải đối mặt để giúp họ thoát nghèo Tuy nhiên tiếp cận theo phương pháp này khác với tiếp cận từ dưới lên: Tiếp cận từ dưới lên là tiếp cận toàn diện hơn, thường ở cấp tỉnh, cấp huyện, trong khi tiếp cận

có sự tham gia lại chủ yếu được thực hiện ở các cấp cơ sở (thôn, bản, xã phường )

Như vậy, các phương pháp tiếp cận xoá đói giảm nghèo hiện nay đang dần bộc lộ những điểm không phù hợp và hiệu quả chưa cao Để đạt được những thành tựu to lớn trong công tác xoá đói giảm nghèo, đảm bảo mục tiêu giảm nghèo bền

vững thì cần phải có phương pháp tiếp cận mới

- Phương pháp tiếp cận mới cho giảm nghèo cần đi theo hướng nào?

+ Quản lý dựa trên kết quả

Quản lý dựa trên kết quả đó là quá trình thực hiện chuỗi kết quả Chuỗi kết quả cho thấy các hoạt động, thông qua chuỗi quan hệ nhân quả trung gian sẽ giúp thực hiện mục tiêu của chương trình hay dự án xoá đói giảm nghèo như thế nào Tất

cả các hoạt động, các hỗ trợ đầu vào đó được xây dựng và thực hiện trên cơ sở bắt đầu từ mục tiêu giảm nghèo - để trả lời câu hỏi: Nếu muốn giảm nghèo thì cần những hỗ trợ gì, cần hoạt động gì, cần cải tiến cơ chế, chính sách như thế nào, Từ

đó giúp người nghèo nhanh chóng thoát nghèo

+ Kết hợp hài hoà vai trò của nhà nước, thị trường và cộng đồng

Nhà nước cũng cần xác định rõ đối tượng, vùng dự án cần có chính sách rõ ràng đối với DN, đơn vị sự nghiệp chuyển giao kỹ thuật, mô hình sản xuất tham gia

Trang 31

xóa đói giảm nghèo, có thể đấu thầu theo nguyên tắc giao nhiệm vụ rõ ràng cho DN xây dựng hạ tầng, hướng dẫn, hỗ trợ sản xuất kinh doanh cho hộ, sản xuất tập trung, bao tiêu sản phẩm Chính sách đó có thể là giảm thuế, giảm tiền thuê đất hoặc điều kiện khác cho DN đó được thực hiện những dự án có lợi ở khu vực phát triển, hoặc tín dụng ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển cho DN và các tác nhân khác tham gia xoá đói giảm nghèo

Bên cạnh đó, các dự án cần được đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp thời, kết hợp lồng ghép để duy trì tác động của dự án đến xóa đói giảm nghèo Đây

là một kỹ năng có thể lấy ý kiến cộng đồng để chuyển hướng đầu tư sao cho thiết thực Cộng đồng biết ai trong đó là đối tượng nghèo và cộng đồng giám sát được quá trình thực hiện, hoạt động chi tiêu Bởi vậy, trong công tác xoá đói giảm nghèo cần chú ý đến chức năng của cộng đồng

+ Tiếp cận theo chuỗi giá trị gắn với thị trường

Phương pháp tiếp cận mới theo chuỗi giá trị và gắn sự tham gia của người nghèo vào các mắt xích thị trường đó

Phát triển chuỗi giá trị dựa trên việc lựa chọn cẩn thận các ngành hàng và việc sản xuất liên quan , hê ̣ thống chế biến và tiếp thi ̣ mà có thể ta ̣o ra viê ̣c làm cho người nghèo; mỗi vùng nên chọn sản phẩm có giá trị kinh tế cao, khuyến khích và quản lý rủi ro cho sự tham gia củ a người nghèo từ trang tra ̣i ra thi ̣ trường , hợp đồng tiêu thu ̣ sản phẩm ; tiếp câ ̣n các di ̣ch vu ̣ tài chính (tín dụng, tiết kiê ̣m, bảo hiểm); phát triển kỹ năng cho các hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp (như chế biến , tiếp thị, du li ̣ch); nâng cao cơ sở ha ̣ tầng cô ̣ng đồng kết nối thi ̣ trường với cơ sở ha ̣ tầng quốc gia và nâng cao khả năng kết nối với đi ̣a bàn xa thi ̣ trường ; và có những sáng kiến để phổ biến và ứng dụng công nghệ phù hợp đem đ ến năng suất cao (chăn nuôi, sản xuất, sản xuất lâm nghiệp, và các hoạt động sau thu hoạch

Liên kết nông dân với người kinh doanh , chế biến, buôn bán do ̣c theo chuỗi giá trị sẽ mang đến cơ hội kinh tế quan trọng cho sự phát tri ển kinh tế vì nông nghiê ̣p và giúp nhiều gia đình nghèo thoát nghèo

Trang 32

2.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại các xã vùng đệm nghiên cứu

+ Khu chăn thả gia súc hạn chế chưa có quy hoạch cụ thể

+ Chăn nuôi nhỏ lẻ chưa có quy hoạch còn gặp nhiều rủi ro

- Văn hóa xã hội

+ Trên địa bàn còn nhiều phong tục lạc hậu như ma chay linh đình người dân vấn còn quan niệm cổ hủ

+ Nạn tảo hôn của các dân tộc thiểu số còn nhiều, kết hôn cận huyết thống vẫn còn xảy ra

+ Tệ nạn xã hội còn gia tăng chưa được khắc phục tệ nạn nghiện hút vẫn còn nhiều

Trang 33

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ nông dân vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể và các hoạt động tạo sinh kế của họ

- Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến môi trường sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm và các nguồn lực sinh kế của các hộ

Bể cũng được đề tài đề cập nhưng không nghiên cứu sâu

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu tại xã Khang Ninh thuộc vùng đệm của VQG Ba Bể

- Địa điểm điều tra cụ thể các hộ tại các thôn: Bản Vài, Nà Làng, Bản Nản,

Nà Kiêng thuộc xã Khang Ninh - huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thơi gian nghiên cứu: Từ ngày 23/ 2/2015đến 25/5/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu

+ Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu

+ Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu

3.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ

+ Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai

Trang 34

+ Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng lao động

+ Đánh giá thực trạng sử dụng vốn sản xuất

+ Đánh giá thực trạng kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất

+ Đánh giá thực trạng đầu tư và sử dụng tư liệu sản xuất

+ Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất

+ Đánh giá điều kiện thị trường

+ Đánh giá các điều kiện vốn xã hội

3.3.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của các hộ nông dân ở vùng đệm VQG - Nguyên nhân của nó

- Các hoạt động về bảo vệ và phát triển rừng tại địa bàn nghiên cứu chưa tạo

ra được những cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân Đôi khi còn ngược lại như hạn chế việc chăn thả gia súc, không được mở rộng diện tích trồng chè và thậm chí không được tự ý trồng rừng.việc quản lý và phụ thuộc lam cho nguoi dân hạn chế đi về chăn thả gia súc, khu vực chăn thả hạn chế

- Người dân vùng đệm ít nhận được những lợi ích từ các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm của địa phương cũng như từ phía VQG Ba Bể, đặc biệt là các hộ nghèo Người nghèo không có điều kiện để thực hiện các mô hình của khuyến nông lâm Cán bộ khuyến nông lâm sợ thất bại khi làm với người nghèo, thương làm trình diễn hình thức, chọn hộ thuận tiện để làm mô hình nhưng sau không nhân rộng

ra được cho những người nghèo

- Chưa có những quy định rõ về việc người dân vùng đệm phát triển các loại sản phẩm LSNG: Được phép nuôi trồng những loại nào, khi có sản phẩm tiêu thụ thì cần phải làm những thủ tục gì phải có sự đồng ý của các cơ quan có thẩm quyền phải khai báo cho cơ quan, ai có thể giúp họ trong quá trình phát triển các sản phẩm này, sản phẩm này nếu trồng cùng với rừng trong khu phục hồi sinh thái thì được phép khai thác như thế nào, khai thác hợp lý theo quy định việc khai thác không làm ảnh hưởng xấu tới khu bảo tồn như ô nhiễm môi trường, cháy rừng, phục hồi và mở rộng thêm mô hình trồng các loại cây quý, cây dược liệu tạo thêm cảnh quan sinh thái

Trang 35

- Khả năng quản lý kinh tế kém: Các hộ vùng đệm, đặc biệt là các hộ thuộc nhóm nghèo thường ít có khả năng tốt trong quản lý kinh tế Nguồn thu nhập chỉ tập trung vào canh tác lúa, làm thuê và chăn nuôi nhưng không bền vững, rủi ro cao do năng lực lập kế hoạch và quản lý kém Tình trạng thiếu đói vẫn còn diễn ra một số tháng trong năm tỷ lệ nghèo đói còn cao

- Diện tích canh tác ít: Đất lâm nghiệp chiếm phần lớn giảm diện tích đất sản xuất canh tác nông nghiệp giảm, diện tích đất nương rẫy giảm

- Năng suất cây trồng thấp: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất các loại cây trồng còn thấp như giống cũ, trình độ canh tác hạn chế, đất đai không được đầu

tư tham canh, thuỷ lợi kém, thiếu vốn sản xuất, tiếp thu khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn hạn chế

- Hoạt động chăn nuôi được nhiều hộ lựa chọn để thay thế cho các hoạt động sinh kế bị mất đi từ khi VQG được thành lập Nhưng chăn nuôi của các hộ gia đình vùng đệm vẫn chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ, rủi ro trong chăn nuôi còn lớn, hiệu quả thấp, chưa có các lớp tập huấn chăn nuôi và do không biết tân dụng những điều kiện sẵn có để phát triển các nguồn thức ăn, tận dụng không gian

- Khả năng tích luỹ để mở rộng đầu tư của các hộ vùng đệm là hạn chế, kể cả các hộ khá tại xã nghiên cứu Theo kết quả khảo sát thì khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay của các hộ vùng đệm, nhất là các hộ nghèo là khó khăn Đây là một trong những vấn đề quan trọng có tác động ảnh hưởng lớn đến việc phát triển các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân

- Người dân tiếp cận với thi trường còn hạn chế sản phẩm làm ra chưa chưa

có đầu ra ổm định

3.3.5 Định hướng, mục tiêu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm

- Xây mới và cải tạo, tu sửa hệ thống thuỷ lợi

- Nghiên cứu đưa cây trồng vụ đông

- Thâm canh lúa nước kết hợp với cải tiến giống

- Cải tạo các mô hình vườn hộ để trồng rau màu, cây ăn quả, cây gia vị kết hợp với chăn nuôi

Trang 36

- Khuyến khích và tạo điều kiện cho các hộ phát triển lâm sản ngoài gỗ

- Phát triển các loại cây đặc sản: Trám, rau rừng, cây hoa, cây dược liệu

- Cải thiện giống lúa, ngô và thực hiện thâm canh

- Xây dựng chuồng trại hợp lý, tăng số lượng đàn gia súc, gia cầm

- Đẩy mạnh công tác khuyến nông khuyến lâm

- Tập huấn quản lý kĩ thuật

- Hướng dẫn sử dụng vốn vào sản xuất kinh tế

- Trồng các cây hàng hóa chu kỳ ngắn như cây rau màu, đậu đỗ, rau rừng, Phát triển chăn nuôi

- Xây dựng các mối quan hệ hợp tác trong sản xuất, tiêu thụ, tạo thêm việc làm tăng tích luỹ cho các hộ

- Xây dựng đường trong thôn

- Xây dựng nhà văn hoá phục vụ sinh hoạt chung

- Xoá nhà tạm

- Xây dựng và sửa chữa hệ thống chuồng trại chăn nuôi theo hướng tận dụng các vật liệu sẵn có

- Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu cây trồng

- Xây dựng tổ đổi công, nhóm tổ hỗ trợ nhau trong phát triển kinh tế Nâng cao nhân thức cho nam giới, giảm gánh nặng công việc cho nữ

3.3.6 Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm VQG

Trong điều kiện đất nước đang còn gặp nhiều khó khăn, người dân sống trong vùng đệm không chỉ nghèo mà dân trí còn quá thấp Vấn đề nâng cao nhận thức cho các đối tượng là học sinh, cộng đồng dân cư vùng đệm chưa được quan tâm đúng mức

Từ những ngày đầu mới thành lập, VQG Ba Bể cũng đã nhận thức được những vấn đề trên, nên đã đưa công tác tuyên truyền giáo dục vào thực hiện trong vùng đệm Các hoạt động từ những năm 1991 đến nay đã từng bước cải tiến như chiếu phim tuyên truyền bảo vệ rừng (bởi vì hầu hết người dân chưa có tivi thời bấy giờ), cung cấp các khẩu hiệu, tờ bướm, ấn phẩm, lịch bảo vệ động vật hoang dã,… Tổ chức các hoạt động

Trang 37

giao lưu với các đoàn thể địa phương, nói chuyện theo từng chủ đề, sáng tác nhiều tiểu phẩm, hội diễn văn nghệ, phối hợp với các hạt kiểm lâm trên địa bàn tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ thiên nhiên, phòng chống cháy rừng cho các em học sinh và thôn bản (Võ Quý, 2001)[7]

- Triển khai ấn phẩm “cây là bạn của chúng ta”trên toàn bộ trường học trong vùng đệm và được dư luận hoan nghênh và hiện nay đã được mở rộng trên phạm vi các vườn quốc gia trong cả nước

- Thiết lập các câu lạc bộ xanh ở các trường học với các hoạt động cụ thể là tiến hành tập huấn giáo viên, phát hành sách “Câu lạc bộ xanh”, tập vở thiên nhiên, huy hiệu câu lạc bộ, bàn giao các dụng cụ hỗ trợ, thi sáng tác tranh “màu xanh quê em”, tuyên truyền cổ động bảo vệ động vật hoang dã, biểu diễn văn nghệ quần chúng với chủ đề về bảo vệ rừng, viết tập san câu lạc bộ xanh, trồng cây xanh trong trường học và tham quan dã ngoại ở VQG Ba Bể Hoạt động này lấy đối tượng học sinh là trung tâm chuyển tải nhận thức, hành vi và trách nhiệm bảo tồn cho cộng đồng

- Cũng trong phạm vi của sự trợ giúp từ các tổ chức quốc tế, VQG đã tổ chức nhiều khóa tập huấn về bảo tồn đa dạng sinh học cho địa phương, tổ chức định kỳ hàng tháng các cuộc tiếp xúc, giao lưu và tọa đàm với cộng đồng từng thôn bản trong vùng đệm về các chủ để có liên quan đến bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, xây dựng mô hình khoán bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở thôn Khe Su

 Hoạt động trợ giúp phát triển kinh tế-xã hội vùng đệm

Hoạt động trợ giúp phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm phải hướng đến mục tiêu

là phát triển bển vững Điều này có nghĩa là phát triển sao cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai Và chính vì thế trong quá trình triển khai các chương trình phát triển vùng đệm phải luôn nắm vững các nguyên tắc của bảo tồn và phát triển như: Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng; cải thiện chất lượng cuộc sống của con người gắn với bảo vệ sức sống và tính đa dạng sinh học, quản lý tốt nguồn tài nguyên không tái tạo được, thay đổi tập quán và thói quen cá nhân,

để cho cộng đồng làm chủ môi trường của họ

Trang 38

Dựa trên nguyên tắc trên, VQG đã triển khai một số các hoạt động phát triển cộng đồng và thông qua đó để giáo dục bảo tồn như: Trồng rừng phục hồi hệ sinh thái bằng nhiều loài cây bản địa nhiều mục đích, chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, trồng nấm, gieo ươm cây có nguồn gốc tại chổ để phục vụ công tác trồng rừng và khai thác tiềm năng sẳn có của địa phương phục vụ cuộc sống con người

Hiện nay, VQG đang phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương khảo sát các điểm du lịch sinh thái trong vùng đệm để có thể giúp cộng đồng khai thác, quản lý

và thu hồi nguồn lợi từ các điểm du lịch này Đây có thể nói là một hoạt động rất mới

và rất quan trọng đang được cộng đồng và chính quyền địa phương ủng hộ tích cực

Ngoài các hoạt động giáo dục bảo tồn và trợ giúp phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm, cũng cần có một sự quan tâm đặc biệt hơn nữa để có thể khuyến khích cộng đồng cùng tham gia với Vườn trong công tác bảo tồn Vườn Đó chính là mô hình bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở các địa bàn khác nhau trong vùng đệm Các đối tượng tham gia vào chương trình này rất đa dạng, đó chính là các đơn

vị lực lượng vũ trang đóng trên địa bàn, cá nhân từng người dân tham gia nhận khoán, từng cộng đồng thôn bản tham gia nhận khoán để phát huy sức mạnh tập thể trong công tác bảo vệ rừng Việc xây dựng và trình chính quyền địa phương phê duyệt qui chế bảo vệ và phát triển rừng cho cộng đồng hiện nay đang được triển

khai thí điểm ở một vài nơi trong vùng đệm

Có thể nói đã có rất nhiều sự trợ giúp cho người dân vùng đệm từ phía nhà nước cũng như các tổ chức quốc tế, kể cả từ phía Vườn quốc gia cũng như từ phía chính quyền địa phương,… Sự trợ giúp cả về mặt tài chính cũng như kỹ thuật, cho

cá nhân cũng như mang tính cộng đồng nhằm nâng cao được mức sống cũng như nhận thức của người dân và cải thiện môi trường sống

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp chung

Tiếp cận tổng hợp các yếu tố để phát hiện mối quan hệ, làm cơ sở đưa ra giải pháp nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong phát triển kinh tế - xã hội vùng

Trang 39

đệm Trong đó chú trọng mối quan hệ giữa phát triển sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm với quản lý tài nguyên rừng tại VQG

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thu thập các thông tin, số liệu cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa số liệu; phương pháp quan sát; phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

- Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia đã được áp dụng với các công cụ

đa dạng như bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, các thông tin được phân tích và kiểm tra chéo với các đối tượng khác nhau như cán bộ thôn, xã, VQG và người dân

* Phỏng vấn hộ gia đình

Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ xã, cán bộ thôn và người dân, tác giả

đề tài thấy rằng các hộ nông dân tại các thôn trong vùng đệm VQG tương đối đồng nhất Vì vậy, việc lựa chọn hộ điều tra tại các thôn được thực hiện một cách ngẫu nhiên Trong mỗi thôn có 15 hộ gia đình được chọn để điều tra Việc lựa chọn mẫu cho phỏng vấn hộ sẽ được bàn bạc cùng các trưởng thôn/bản dựa trên danh sách hộ

Bộ câu hỏi phỏng vấn hộ nông dân được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại thực địa đã được chỉnh sửa và bổ xung hoàn thiện Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình chủ yếu là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số ít các câu hỏi mở nhằm làm rõ thêm hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập dữ liệu sơ cấp Bảng câu hỏi được trình bày đầy đủ trong Phụ lục

Để phân tích số liệu đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê mô tả: Nhằm đánh giá thực trạng sinh kế, tài sản sinh kế của các hộ nông dân, cộng đồng vùng đệm VQG

- Phương pháp lịch sử: Nhằm so sánh, đối chiếu với thông tin đã có trong quá khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có kết luận phù hợp

- Phương pháp tương quan được áp dụng để xem xét mối quan hệ về lượng giữa các yếu tố, nhất là giữa các yếu tố giải thích với yếu tố được giải thích

Trang 40

- Phương pháp phân tích định tính SWOT được áp dụng để làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những thách thức trong phát triển sinh kế vùng đệm

Kết hợp phân tích định tính và định lượng các số liệu, thông tin Sử dụng các phần mềm Excel để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ nông dân vùng đệm

3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu

Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO, IC, VA, Pr

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO/IC, VA/IC, Pr/IC, Pr/LĐ, Pr/DT,…

Để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến hiệu quả các mô hình, khóa luận đã sử dụng phương pháp SWOT

Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng lao động

- Cơ cấu lao động tại địa phương

- Tỷ suất sử dụng sức lao động và tỷ lệ lao động được thuê mướn, đổi công trong tổng lao động sử dụng

- Giá tiền công và chi phí thuê lao động

- Mức trang bị máy móc, thiết bị cho lao động

- Năng suất lao động

- Giá trị sản xuất do một lao động sáng tạo ra

Các chỉ tiêu đánh giá về sử dụng đất đai

- Diện tích và tỷ lệ đất đai đã sử dụng cho nông lâm nghiệp trên quỹ đất

- Diện tích và cơ cấu diện tích đất đai trong nông nghiệp chưa được sử dụng

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm