Hiện nay, ở nước ta để thể hiện thái độ trước các chính sách của nhà nước hay các vấn đề của đất nước cũng như quốc tế như: Các cuộc mít tinh phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ với Iraq nă
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC QUÝ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ QUYÒN Tù DO HéI HäP
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN NGỌC QUÝ
HOµN THIÖN PH¸P LUËT VÒ QUYÒN Tù DO HéI HäP
ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐĂNG MINH TUẤN
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Ngọc Quý
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP 7
1.1 Khái quát về quyền tự do hội họp 7
1.2 Pháp luật về quyền tự do hội họp trên thế giới 22
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI QUYỀN 47
TỰ DO HỘI HỌP Ở VIỆT NAM 47
2.1 Khung pháp luật hiện hành về quyền tự do hội họp 47
2.2 Thực trạng thực thi quyền tự do hội họp 61
2.3 Xây dựng các dự thảo Luật về quyền tự do hội họp 69
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP 82
3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp 82
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp 84
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
GRTTCC Gây rối trật tự công cộng
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 ILO Tổ chức lao động quốc tế
TAND Tòa án nhân dân
UDHR Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948
Trang 6pháp 2013: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Trước đó, quyền biểu tình cũng được quy định tại Điều 25
Hiến pháp năm 1959; Điều 67 Hiến pháp năm 1980; Điều 69 Hiến pháp năm
1992 Tuy đã có nhưng quy định về quyền biểu tình ngay từ những bản Hiến pháp đầu tiên đến bây giờ nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa xây dựng được một bộ luật trực tiếp để bảo vệ quyền Biểu tình của con người tại Việt Nam Hiện nay, chỉ có một số điều khoản nhỏ tại một số Nghị định 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định về một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng để giải tán các cuộc “tập trung đông người ở nơi công cộng”, Thông tư 09/2005/TT-BCA để hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 38/2005/NĐ-CP Tuy nhiên, các quy định này không điều chỉnh trực tiếp quyền Hội họp của con người và các quy định này cũng chỉ đơn thuần hướng đến giới hạn Quyền mà chưa có các quy định để bảo vệ quyền Hội hợp hòa bình Do không có những quy định rõ ràng về quyền Hội họp nên vẫn còn nhiều khó khăn trong việc thực hiện quyền Hội họp của
Trang 72
người dân Hiện nay, để đưa quyền hội họp hòa bình được quy định trong hiến pháp ra với đời sống thực tiễn, Quốc hội đã lên chương trình xây dựng các luật chuyên ngành để quy định cụ thể hơn các quy phạm chứa đựng trong Quyền Hội họp hòa bình Cụ thể như: “Luật về Hội – Đã có dự thảo trình Quốc Hội”, “Luật Biểu tình – Đang xây dựng dự thảo”
Trên thực tế, Quyền hội họp đã được người dân nước ta tiếp thu và thực hiện quyền một ngay từ thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng như kháng chiến chống Mỹ Ngay như, cuộc cách mạng tháng 8 năm 1945 cũng có thể xem như một cuộc Hội họp hòa bình đòi quyền độc lập của dân tộc của người dân Việt Nam Hiện nay, ở nước ta để thể hiện thái độ trước các chính sách của nhà nước hay các vấn đề của đất nước cũng như quốc tế như: Các cuộc mít tinh phản đối cuộc chiến tranh của Mỹ với Iraq năm 2004; Các cuộc tuần hành của người dân tại Hà Nội yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền trên Biển của Việt Nam sau sự kiện Trung Quốc đưa trái phép dàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam; Hay gần đây có một số cuộc tuần hành phản đối việc Trung quốc cải tạo trái phép các đảo chiếm được tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam… Tuy nhiên, vì chưa có những quy định rõ ràng về quyền hội họp của người dân nên một số hình thức hội họp hòa bình thường bị hạn chế Trong tình hình hiện nay khi nhận thức cũng như tiếng nói của người dân ngày càng có ý nghĩa quan trọng, thì việc tôn trọng và thúc đẩy thực thi quyền hội họp hòa bình ở Việt Nam là cần thiết và cấp bách
Do tình hình lý luận cũng như thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, nên quyền Hội họp của người dân còn bị hạn chế; trước tình hình đó nhằm góp phần nâng cao nhận thức về đảm bảo quyền biểu tình ở Việt Nam thì việc
nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp ở Việt Nam
hiện nay” là hết sức cần thiết
Trang 8biên, tr 11-29
- Nhóm tác giả Lã Khánh Tùng, Nghiêm Hoa và Vũ Công Giao; "Hội
và tự do hiệp hội - một cách tiếp cận dựa trên quyền", Nhà xuất bản Hồng
Đức xuất bản năm 2015
- GS.TS Nguyễn Đăng Dung, "Mối quan hệ giữa xã hội dân sự và hội và
dự thảo Luật hội ở Việt Nam", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp
2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Vũ Công Giao chủ biên, tr 30-42
- ThS.NCS Nguyễn Anh Đức, "Luật về Hội: Công cụ giới hạn hay quản lí thực hiện quyền?", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp
2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Vũ Công Giao chủ biên, tr 104-112
- PGS.TS Đặng Minh Tuấn – ThS.NCS Nguyễn Anh Đức, "Quyền tự
do hiệp hội trong công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 và
sự tương thích trong dự thảo Luật về Hội", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Vũ Công Giao chủ
biên, tr 122-135
- ThS.Lê Thị Thúy Hương – PGS.TS.Vũ Công Giao, "Tự do hiệp hội trong luật quốc tế, pháp luật của một số quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam.", "Bảo đảm quyền tự do lập hội theo Hiến pháp 2013 – lý luận và thực tiễn" do PGS.TS Vũ Công Giao chủ biên, tr.135.157
- PGS.TS Nguyễn Hoàng Anh, "Mối quan hệ giữa nhà nước và hiệp hội ở Cộng hòa Pháp và gợi mở cho việc hoàn thiện dự thảo Luật về Hội ở
Trang 9và thực tiễn" do PGS.TS Vũ Công Giao chủ biên, tr.302-311
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài đi sâu phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích thực trạng Pháp luật cũng như thực thi Quyền tự do hội họp ở Việt Nam trong góc nhìn tương quan với thế giới Chỉ ra được những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật cũng như việc thực thi Quyền tự do hội hợp ở Việt Nam với tiêu chuẩn quốc tế và một số quốc gia tiêu biểu Lý giải được những ưu điểm, nhược điểm đó dựa trên tiêu chí về bối cảnh chính trị, lịch sử, kinh tế,
xã hội, quan điểm lập pháp…để có thể đánh giá vấn đề một các khách quan nhất Qua đó đưa ra một số biện pháp nhắm hoàn thiện Pháp luật về Quyền
tự do hội họp để từ đó thúc đẩy việc thực thi Quyền tự doi hội họp Một cách hợp lý, toàn diện
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Quyền tự do hội họp được nghiên cứu trong luận văn này bao gồm quyền hội họp và quyền biểu tình Cách tiếp cận này phù hợp với pháp luật quốc tế và các quốc gia trên thế giới
Về nội dung, với mục tiêu đã nêu trên, trọng tâm của luận văn này sẽ là những phân tích về vấn đề quyền tự do hội họp ở Việt Nam để đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp ở Việt Nam Cụ thể, luận văn sẽ góp phần trả lời các câu hỏi sau:
- Quyền tự do hội họp là gì?
- Mối quan hệ của quyền tự do hội họp với các quyền khác?
Trang 105
- Pháp luật về quyền tự do hội họp trên thế giới
- Thực trạng pháp luật về quyền tự do hội họp ở Việt Nam
- Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền tự do hội họp
Về phạm vi, để phục vụ cho việc phân tích từ tổng quát đến cụ thể nên phạm vi nghiên cứu không chỉ là pháp luật Việt Nam Luận văn có sự nghiên cứu tới pháp luật quốc tế, và một số quốc gia khác như liên bang Nga, Hoa
Kỳ, Pháp
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng, Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật
Luận văn này là kết quả của một nghiên cứu định tính, được thực hiện trên cơ sở phân tích các văn bản pháp luật quốc gia, các văn bản pháp luật quốc tế và những văn bản liên quan khác Luận văn đã sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, so sánh Qua đó nhìn nhận, đánh giá một cách có hệ thống và sâu sắc về những cái được và chưa được về pháp luật
về tự do hội họp
Do giới hạn về thời gian và nguồn lực của dự án, việc khảo sát thực tế
và phỏng vấn các đối tượng liên quan không có điều kiện thực hiện Điều đó
có nghĩa là có thể cần có thêm những công trình khác sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia và điều tra xã hội học để bổ sung, làm rõ hơn hoặc xác thực một số nhận định, đánh giá được nêu ra trong luận văn này
5 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn xây dựng cơ sở lý luận về quyền Tự do hội họp ở Việt Nam hiện nay Xây dựng hệ thống các định nghĩa liên quan đến quyền Tự
do hội họp
Đưa ra bức tranh tổng thể về quá trình phát triển, thực trạng pháp
Trang 116
luật về quyền Tự do hội họp ở Việt Nam hiện nay, đề xuất một số biện pháp khả thi để nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền Tự do hội
họp ở Việt Nam hiện nay
6 Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm ba chương:
- Chương 1 Cơ sở lý luận về quyền tự do hội họp
- Chương 2 Thực trạng pháp luật và thực thi quyền tự do hội họp ở
Trang 127
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO HỘI HỌP
1.1 Khái quát về quyền tự do hội họp
1.1.1 Khái niệm quyền tự do hội họp
Hội họp là một vấn đề phức tạp Hiện nay, trên thế giới chưa có một định nghĩa về hội họp thật sự thống nhất Các nước khác nhau có những quan điểm khác nhau về hội họp Luật pháp của nhiều quốc gia thừa nhận quyền hội họp nhưng hầu hết lại không định nghĩa rõ ràng thế nào là hội họp
Hội họp được hiểu là việc nhiều người tập hợp lại, tại nơi công cộng hoặc cơ sở tư nhân, trong nhà hoặc ngoài trời, nhằm thực hiện một mục đích chung nhất định Theo nghĩa phổ thông, “hội họp” là việc “họp nhau lại để bàn công việc chung” [21] Có một số từ gần gũi với hội họp là “họp hành”, “hội nghị” (cuộc họp được tổ chức với quy mô lớn, có nhiều người tham dự, để bàn bạc hoặc giải quyết một công việc có tính chất chung nào đó), “hội thảo” (họp rộng rãi để thảo luận, bày tỏ, trao đổi ý kiến về một vấn đề chung [21])… Hội họp có thể vì mục đích riêng tư, gia đình (như đám cưới, sinh nhật, đám giỗ…), hoặc vì mục đích công (cầu nguyện, hội thảo, tập huấn, sự kiện…)
Như vậy, hội họp hiểu theo một nghĩa chung nhất đó là việc một cá nhân hay một nhóm người tập hợp lại để bàn về một vấn đề chung nhất định
Luật nhân quyền quốc tế chỉ bảo vệ những cuộc hội họp nào mang tính
ôn hòa, nghĩa là những cuộc hội họp phi bạo lực, và khi nào các thành viên tham dự có mục đích ôn hòa – đây là nguyên tắc giả định Theo Tòa Nhân quyền Châu Âu, “một cá nhân không phải ngừng thụ hưởng quyền hội họp ôn hòa như là hệ quả của bạo lực rải rác, hay các hành vi khác do các cá nhân khác gây ra có thể trừng phạt được trong quá trình biểu tình, nếu cá nhân ấy vẫn ôn hòa trong mục đích hoặc ứng xử của anh ta hoặc cô ta” [33]
Trang 138
Hội họp hòa bình hay hội họp ôn hòa là việc mọi người tụ họp lại bàn bạc, thảo luận một vấn đề chung nào đó mà không nhằm mục đích gây bao loạn hay gây rối, mất trật tự công cộng, an ninh khu vực
Hiện nay, trên thế giới có tồn tại một hình thức hội họp nữa đó là hội họp bạo lực Hội họp bạo lực là hình thức tập hợp mọi người có cùng mục đích với nhau, nhưng mục đích này là bạo loạn, là gây rối, áp đảo Thậm chí còn có sử dụng bạo lực với những vũ khí nguy hiểm mà pháp luật không cho phép
Theo Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và Công ước quốc
tế về các quyền dân sự và chính trị có cho rằng: Tự do hội họp là quyền cơ bản của con người, được công nhận và được bảo vệ nhằm thúc đẩy các quyền con người khác cũng như thúc đẩy sự phát triển của các quốc gia
Hiện nay, Việt Nam có ghi nhận tự do hội họp trong các bản Hiến pháp nhưng vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào hay sự giải thích từ ngữ nào định nghĩa thế nào là tự do hội họp Theo quan điểm của các nhà luật gia, các nhà ngôn ngữ học thì họ hiểu tự do hội họp thông qua việc bóc tách các cụm
từ “tự do” “hội” “họp”
“Tự do” theo Từ điển Tiếng Việt thì đây là phạm trù triết học chỉ khả năng biểu hiện ý chí, làm theo ý muốn của mình trên cơ sở nhận thức được quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội
Khái niệm “Hội” về mặt ngôn ngữ, thuật từ "hội" dùng để chỉ: i) cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người tham dự, theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt; ii) tổ chức quần chúng rộng rãi của những người cùng chung một nghề nghiệp hoặc có chung một hoạt động [21]
Khái niệm “Họp”, về mặt ngữ pháp, “họp” là một động từ chỉ sự tụ tập,
ở một nơi để làm việc gì đó, ngoài ra họp còn nghĩa là một danh từ trong cụm
“cuộc họp” để chỉ sự tập trung một nhóm người có cùng mục đích với nhau,
Trang 149
ngồi lại thảo luận, giao lưu, đưa ra để ý kiến về một vấn đề nào đó cũng như thỏa thuận, tự nguyện giao kết thể hiện ý chí của mình về vấn đề chung
Như vậy có thể hiểu quan điểm của các nhà ngôn ngữ Việt Nam coi tự
do hội họp là việc cá nhân có thể tụ tập người đông đảo ở một nơi làm việc gì
đó theo ý chí của mình mà không bị ai ép buộc hay cấm đoán
Qua đây, có thể thấy nhìn chung khoa học Việt Nam vẫn còn khá mơ
hồ về khái niệm tự do hội họp Chưa có một nhận định cụ thể thế nào là tự do hội họp Vì thế bản thân tác giả xin đưa ra những nhận định riêng về tự do hội họp một cách khái quát nhất như sau:
Như vậy, “Quyền Tự do hội họp là quyền mà các chủ thể được tụ họp lại với nhau để bàn bạc, thảo luận một vấn đề chung nào đó hay thể hiện sự đồng tình hay phản đối một vấn đề chung Cá nhân được pháp luật bảo hộ khi gặp gỡ, trao đổi với nhau mà không bị bất kỳ một thế lực nào cản trở, xâm hại” Hiện nay Hiến pháp nước Việt Nam đã và đang bảo về quyền hội
họp là một quyền công dân thiết yếu để bảo vệ công dân, bảo vệ con người một cách toàn diện
Như vậy, quyền tự do hội họp là quyền của con người, quyền của công dân được nhà nước bảo vệ và bảo đảm thực hiện Nhà nước thông qua các công cụ của mình tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tốt nhất quyền hội họp cũng như quyền biểu tình của mình
1.1.2 Vị trí, vai trò của tự do hội họp
Tự do hội họp (hay quyền tự do hội họp - freedom of association) là một quyền cơ bản của con người, được ghi nhận và bảo vệ trong Điều 20 Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (UDHR, 1948) và được tái khẳng định trong Điều 22 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966) Quyền tự do hội họp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy các quyền con người khác cũng như đối với sự phát triển của các
Trang 1510
quốc gia Mặc dù vậy, tự do hội họp không phải là một quyền tuyệt đối Khoản 2 Điều 22 ICCPR xác định, tự do hội họp có thể bị hạn chế bằng pháp luật nếu như điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác Là một quyền con người cơ bản, tự do hiệp hội được ghi nhận trong hiến pháp của hầu hết quốc gia Đồng thời, để bảo đảm tự do hội họp, nhiều quốc gia còn ban hành một đạo luật riêng, tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của luật về hội của các quốc gia rộng hẹp khác nhau Chẳng hạn, Luật về Hội của Pháp (1901) và Hungary (1989) điều chỉnh hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, và cả các tổ chức công đoàn và đảng phái chính trị [16] Trong khi đó, luật về hội của một số quốc gia khác lại chỉ điều chỉnh hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ, còn các tổ chức công đoàn và các đảng chính trị được điều chỉnh bằng các luật về đảng phái chính trị, luật doanh nghiệp, luật công ty,
Những cuộc họp đóng vai trò rất quan trọng, vì đó là nơi mà bầu không khí và văn hoá của tổ chức được duy trì, là một trong những cách thức để các
tổ chức nói với đội ngũ nhân viên của mình rằng: “Bạn là một thành viên của tập thể” Các cuộc họp còn là nơi để bản thân những thành viên tham gia trao đồi đưa ra những ý kiến của mình, nêu lên quan điểm, ý tưởng đóng góp cho tập thể Những cuộc họp cũng là nơi cái “tôi” được thể hiện tương đối lớn khi các vấn đề được đưa ra
Hội họp góp phần phổ biến thông tin, thành tựu mới trong nhiều lĩnh vực Góp phần xây dựng mối quan hệ trao đổi giữa các thành phần liên quan đến hoạt động thư viện thông tin
Hội họp, hội nghị là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống của doanh
Trang 16Tự do hội họp còn thể hiện sự quan tâm của pháp luật tới quyền con người
Cá nhân có quyền tự do hội họp, không ai có quyền được tước bỏ hay xâm phạm tới quyền tự do hội họp của người khác Ngoài ra tự do hội họp còn có vai trò quan trọng đối với Nhà nước Dựa vào việc hội họp của các cá nhân, các nhóm biểu hiện ra thì Nhà nước có thể biết được rằng các chính sách điều chỉnh các quan hệ pháp luật của mình có phù hợp không, pháp luật
đã đi vào thực tiễn chưa, khả năng áp dụng pháp luật đã phù hợp chưa, Và từ
đó Nhà nước có thể điều chỉnh pháp luật và các công cụ quản lý khác sao cho phù hợp Tự do hội họp cũng như một cái “gương” phản ánh cuộc sống đang diễn ra như thế nào, xã hội đang vận động ra sao và Nhà nước sẽ có được cái nhìn thực tế từ chiếc “gương” đó
1.1.3 Tự do lập hội – Quyền có mối quan hệ mật thiết với quyền Tự
do hội họp
Dựa vào khái niệm “hội họp” do Đại từ tiếng Việt đưa ra, có thể hiểu quyền hội họp là quyền được họp mặt với nhau để bàn công việc nói chung
Trang 1712
Như vậy sẽ có các cuộc hội họp có tính chất gia đình, giữa thân thuộc, bè bạn, các buổi sinh hoạt của các hội hợp pháp, tổ chức trong trụ sở của hội, các cuộc hành lễ thường lệ của các tôn giáo tổ chức trong những nơi thờ cúng, các cuộc hội họp còn được sử dụng để thảo luận, giải quyết các công việc nội bộ trong cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hay ở khu vực dân sư Quyền hội họp cũng là quyền của công dân được họp mặt để thảo luận, bàn bạc góp ý kiến về các vấn đề chung của Nhà nước, của xã hội
Có thể hiểu quyền tự do lập hội là quyền của công dân có thể tự do tham gia vào các hội, hội liên hiệp, liên hiệp hội, tổng hội, câu lạc bộ…theo quy định của pháp luật.Quyền tự do lập hội là quyền mà pháp luật trao cho mỗi cá nhân và được pháp luật bảo vệ, bảo đảm thực hiện
Như vậy, tự do lập hội là một đặc tính tự nhiên của con người Những người theo quan điểm pháp luật tự nhiên cũng coi tự do lập hội là một quyền tự nhiên của con người, có trước bất kỳ sự chấp thuận nào của nhà nước Từ góc
độ pháp lý, quyền tự do lập hội từng bước, đặc biệt là từ sau năm 1945, được pháp luật các quốc gia và luật nhân quyền quốc tế ghi nhận và bảo vệ [16]
Quyền tự do lập hội là quyền của công dân hội họp với nhau để đảm bảo các quyền học tập trao đổi thông tin, quyền trao đổi thông tin nhằm nâng cao dân trí, giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ… với mục đích ích nước lợi nhà
Quyền tự do lập hội với mục đích để phản đối thì thường trái luật bảo
vệ sự an toàn công cộng, ngay cả ở những nước dân chủ: ở nhiều thành phố, cảnh sát có quyền giải tán bất cứ đám đông nào (ngay cả những đám đông những người phản đối chính trị) đe dọa sự an toàn công cộng hoặc những đám đông mà cảnh sát không kiểm soát được Đó là ý tưởng nhằm ngăn ngừa bạo động Thông thường, luật địa phương yêu cầu các nhà tổ chức phản đối phải được sự cho phép trước nếu cuộc diễu hành đã được định liệu Tuy nhiên, đơn
Trang 1813
xin cho phép đó có thể bị từ chối Quyền này thường bị các nhà làm luật lạm dụng nếu các cuộc phản đối nếu nó không phổ biến trong cộng đồng hay ở chính quyền địa phương Quá trình cho phép ở một số thành phố tốn rất nhiều thời gian, việc tổ chức, và ngay cả tiền bạc trước khi có được sự cho phép và lúc đó thì các giới hạn về vấn đề, thời gian và địa điểm cho phép cũng có thể được thêm vào
Quyền tự do lập hội có vai trò đặc biệt quan trọng đối với mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi tổ chức cũng như mỗi quốc gia và toàn thế giới
Quyền tự do lập hội có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy các quyền con người khác cũng như đối với sự phát triển của các quốc gia Quyền
tự do lập hội đảm bảo quyền con người của mỗi cá nhân, đảm bảo sự công bằng cũng như bình đẳng của xã hội Mặc dù vậy, tự do lập hội không phải là một quyền tuyệt đối Khoản 2 Điều 22 ICCPR xác định, tự do lập hội có thể
bị hạn chế bằng pháp luật nếu như điều đó là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác
Là một quyền con người cơ bản, tự do lập hội được ghi nhận trong hiến pháp của hầu hết quốc gia Đồng thời, để bảo đảm tự do lập hội, nhiều quốc gia còn ban hành một đạo luật riêng quy định về tự do lập hội, tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh của luật về hội của các quốc gia rộng hẹp khác nhau
Quyền tự do hội họp và quyền tự do lập hội có mối quan hệ khăng khít
và là những quyền không thể tách rời nhau Mối quan hệ này chặt chẽ đến mức là trong các văn kiện quốc tế, hai quyền này thường được quy định liền nhau Tuy nhiên, cách thức quy định về hai quyền này cũng không giống nhau Công ước Châu Âu về quyền con người quy định cả hai quyền tự do này: “Mọi cá nhân đều có quyền tự do hội họp và tự do lập hội, bao gồm cả quyền thành lập và gia nhập các nghiệp đoàn để bảo vệ lợi ích của mình”
Trang 1914
(Điều 11 Công ước châu Âu về quyền con người) Tuy nhiên trong Hiến pháp Hoa Kỳ, cụ thể là Tu chính án thứ nhất lại chỉ đề cập đến quyền hội họp hòa bình Dường như hai quy phạm này có phần nào giới hạn nhau Nếu như trong công ước về quyền con người thì mọi hoạt động hội họp đều được cho phép và được coi là hợp pháp vì đó là quyền thì đến Hiến pháp của Hoa Kỳ đã giới hạn
sự hợp pháp đó bằng việc quy định chỉ có hội họp hòa bình mới được coi là hợp pháp còn những hình thức hội họp khác thì không Đây chính là một minh chứng rất rõ ràng cho luận điểm “tự do hội họp là không tuyệt đối” ở trên
Tự do lập hội là quyền tự do kết giao, tổ chức bất kỳ các nhóm, tập hợp, câu lạc bộ, hay các tổ chức mà con người muốn Đây là một quyền quan trọng của chế độ dân chủ tự do, nơi công dân có thể thành lập hay gia nhập bất kỳ đảng chính trị, nhóm có chung sở thích, hay công đoàn nào mà không
bị chính quyền ngăn cản hay giới hạn Trong những hệ thống pháp luật không
có quyền tự do lập hội thì các đảng hay nhóm chính trị nào đó có thể bị cấm bằng những hình phạt tàn bạo đối với các thành viên Các cuộc phản đối của nhân dân chống lại chính phủ cũng thường bị cấm
Tự do hội họp và tự do lập hội là những quyền quan trọng giúp thực thi nhiều quyền dân sự, chính trị, cũng như các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác Hai quyền này là "những thành tố thiết yếu của một xã hội dân chủ" vì
nó cho phép các thành viên "bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm" (Lời nói đầu của Nghị quyết 15/21 của Hội đồng Nhân quyền [30])
Quyền tự do hội họp và quyền tự do lập hội có mối quan hệ mật thiết
và khăng khít với nhau Cụ thể:
Tự do lập hội chỉ có thể được thực hiện trên cơ sở của một số quyền –
Trang 2015
trong đó có tự do hội họp Lý do là các cá nhân chỉ có thể liên kết lại với nhau khi họ có quyền tự do hội họp Hay nói một cách khác, khi hội họp hòa bình được thừa nhận thì khả năng lập hội, khả năng tham gia vào hội đoàn mới thành hiện thực
Ngược lại, khi các cá nhân liên kết với nhau trong một hiệp hội thì hội họp hòa bình chính là phương tiện để hiệp hội có thể triển khai các hoạt động cụ thể
Về bản chất sâu xa, tự do lập hội cũng là một biểu hiện của tự do hội họp Hội họp là việc nhiều người tập trung lại để cùng trao đổi, chia sẻ mối quan tâm, cùng biểu đạt quan điểm, niềm tin, Hội họp có thể diễn ra tại nơi công cộng hoặc tại nhà riêng với nhiều hình thức khác nhau như tọa đàm, hội thảo, biểu tình,
Nhưng tự do hội họp sẽ không liên tục, tức là nó chỉ có tính chất nhất thời, diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định và có thể những người tham gia sẽ không bao giờ gặp lại nhau Sự liên kết tụ hội của các cá nhân ở mức độ cao, thường xuyên và gắn kết hơn – đó là tiền đề của lập hội Tự do hội họp có mức độ đơn giản hơn chỉ dừng lại ở việc gặp gỡ đơn thuần Tự do lập hội còn đi xa hơn thế: khi các cá nhân tham gia hiệp hội, hiệp hội tạo ra thể chế bảo đảm cho các hành vi và các thành tố của cuộc gặp
Chính mối quan hệ mật thiết giữa quyền tự do hội họp và quyền tự do lập hội với các quyền khác khiến chúng trở thành những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ nhà nước tôn trọng việc hưởng thụ các quyền con người khác
1.1.4 Quyền biểu tình – Quyền quan trọng trong tự do hội họp
Quyền biểu tình là một quyền dân sự, chính trị quan trọng của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp của nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, quyền biểu tình được ghi nhận trong các bản Hiến pháp từ năm
1959 đến năm 2013 Hiến Pháp năm 1959 có ghi nhận tại Điều 25 Chương III
Trang 21có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật” [27] Đến năm 2013,
Hiến pháp nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vẫn tiếp tục ghi nhận
quyền biểu tình tại Điều 25 Chương II rằng: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” [28] Hiến pháp năm 1946 tuy
không ghi nhận trực tiếp quyền này, nhưng có thể hiểu quyền biểu tình là nội hàm của quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp theo quy định tại Điều thứ 10 của bản Hiến pháp này
Quyền biểu tình được hiểu là một quyền con người, một quyền dân sự, chính trị quan trọng Mặc dù trong Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm
1948 và trong Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Công ước 1966), không có quy định nào trực tiếp nhắc đến quyền biểu tình, nhưng quyền biểu tình được hiểu là nội hàm quan trọng của quyền hội họp hòa bình và quyền tự do ngôn luận (Điều 19, 20 Tuyên ngôn 1948 và Điều 19,
21 Công ước 1966)
Biểu tình được hiểu là hành động tập hợp đông người, có tổ chức và được diễn ra tại nơi công cộng (trên đường giao thông, quảng trường, công viên, vườn hoa …) với mục đích là bộc lộ thái độ của người đi biểu tình đối
Trang 2217
với một vấn đề đang xảy ra trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở tầm quốc tế, khu vực, quốc gia hoặc hẹp hơn là một vấn đề chỉ liên quan đến cộng đồng người đang thực hiện biểu tình Như vậy, quyền biểu tình được hiểu là quyền được tổ chức biểu tình và quyền được tham gia vào một cuộc biểu tình
Quyền biểu tình là một quyền quan trọng của con người, được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cũng như các quyền con người khác, quyền biểu tình cũng
có những giới hạn của nó, cũng giống như các giới hạn của quyền hội họp hòa bình và quyền tự do ngôn luận Quyền biểu tình được thực hành theo cách ôn hòa, không được dùng để xúc phạm, gây chia rẽ, bất ổn hay kích động các hành vi bạo lực, phân biệt đối xử
Là nội hàm của quyền hội họp hòa bình, quyền biểu tình luôn đi kèm với hình thức “phi vũ trang” Đồng thời, cần phải phân biệt rằng, biểu tình là một hình thức của tự do hội họp nhưng không phải là hội họp một cách ngẫu nhiên mà nó đòi hỏi phải có một quá trình chuẩn bị cẩn thận, chu đáo Giữa những người đi biểu tình (Luận văn Pháp luật về biểu tình ở Việt Nam và một
số nước trên thế giới - Thực trạng và kiến nghị) phải có tối thiểu một mối liên
hệ chung, đó là mục đích của biểu tình Hành vi hội họp một cách ngẫu nhiên, bất thường cần được phân biệt rõ ràng với hành vi biểu tình vì các hành vi này đưa đến những hệ quả pháp lý khác nhau [58]
Như vậy, quyền biểu tình được giới hạn khi cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền và tự do của người khác (Điều 21 Công ước 1966) Không ai được phép lợi dụng quyền biểu tình để tuyên truyền cho chiến tranh, gây hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, kích động phân biệt đối xử, tạo thù địch, bạo lực (Điều 20 Công ước 1966) Đồng thời, quyền biểu tình có thể bị tạm đình chỉ thực hiện trong hoàn cảnh khẩn cấp của một quốc gia (Điều 4 Công ước 1966) như hoàn cảnh
Trang 2318
thiên tai, nguy cơ chiến tranh, dịch bệnh … và các điều kiện tạm đình chỉ thực hiện quyền này phải được quy định trong luật Vì quyền biểu tình là một quyền có giới hạn và có thể bị đình chỉ thực hiện nên mới cần có luật để điều chỉnh quyền này
Từ đây có thể đưa ra một khái niệm về quyền biểu tình đó là quyền của
cá nhân, công dân được tự do bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về một vấn
đề nào đó của xã hội, sự bày tỏ đó thể hiện dưới dạng ủng hộ hoặc phản đối nhằm đòi hỏi quyền lợi cho cá nhân, cho cộng đồng hoặc cho xã hội
Biểu tình là một hình thức để công dân có thể thực hiện quyền của mình thông qua biểu tình công dân gửi đến chủ thể một thông điệp mạnh
mẽ Thông qua biểu dương lực lượng đông đảo buộc chủ thể hướng tới phải thực hiện nguyện vọng của mình Vì vậy, công dân thực hiện quyền biểu tình thông qua việc tổ chức, tham gia vào các cuộc biểu tình có vị trí, vai trò hết sức to lớn
Là thước đo trình độ dân trí của một xã hội dân chủ, dân quyền
Quyền biểu tình có những đặc điểm [58] sau:
Đầu tiên, quyền biểu tình là một quyền dân chủ của công chúng Đó là
quyền mà công chúng được tự do bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình về một vấn đề nó của xã hội, đó có thể là một vấn đề của quốc gia (chủ trương, chính sách của Nhà nước) hoặc một vấn đề của quốc tế (chiến tranh, biến đổi khí hậu…)
Thứ hai, chủ thể của quyền biểu tình rất phong phú và đa dạng, đó có
thể là công dân của nước sở tại, cũng có thể là công dân nước ngoài, người không quốc tịch… Chính vì vậy, Khoản I, Điều 20, UHDR 1948 quy định:
“Mọi người đều có quyền tự do hội họp và tham gia hội họp một cách hòa bình” Mọi người ở đây dùng để chỉ tất cả không phân biệt giới tính, quốc tịch, sức khỏe… tất cả mọi người đều có thể trở thành chủ thể của quyền biểu
Trang 2419
tình Như vậy, theo căn cứ nêu trên thì mọi người- tất cả nhưng cá thể tồn tại trên trái đất này đều có quyền tự do hội họp Chủ thể của quyền này không bị giới hạn mà rất phong phú
Thứ ba, mục đích của quyền biểu tình là nhằm đưa ra ý kiến đồng tình
hoặc phản đối về một vấn đề cụ thể mà những người biểu tình hướng tới – đây là mối liên hệ tối thiểu giữa những người biểu tình Nếu những chủ trương, chính sách của Nhà nước đúng pháp luật, phản ánh được thực tiễn, đem lại lợi ích cho đông đảo mọi người thì sẽ được công chúng ủng hộ và ngược lại sẽ bị phản đối Tuy nhiên, đa số các cuộc biểu tình diễn ra cho thấy, công chúng thường có quan điểm phản đối nhiều hơn là biểu tình do lúc đó quyền lợi của công chúng không được đảm bảo, công chúng tiến hành biểu tình nhằm đưa ra ý kiến của mình để Nhà nước thay đổi các chủ trương, chính sách cho phù hợp
Thứ tư, quyền biểu tình phải được thực hiện một cách ôn hòa,
không được dùng để xúc phạm, gây chia rẽ, bất ổn hay kích động các hành vi bạo lực, phân biệt đối xử Pháp luật chỉ thừa nhận biểu tình một cách hòa bình Đây được coi là điều kiện kiên quyết để quyền biểu tình được coi là một quyền hợp pháp và được Nhà nước bảo đảm Chính vì vậy, quyền biểu tình luôn đi kèm với hình thức “phi vũ trang” Mọi vũ khí như: súng, đạn, gậy, gộc, giáo mác… đều bị cấm khi thực hiện trong biểu tình để tránh gây ra tình trạng bạo động, xung đột với những người có trách nhiệm bảo vệ cuộc biểu tình
Biểu tình góp phần trong xây dựng nhà nước pháp quyền
Nhân dân không bao giờ đòi hỏi quá đáng những gì đáng được hưởng, đảm bảo quyền biểu tình cho công dân bằng pháp luật, tức là đã thiết lập một
cơ chế quản lý nhà nước, giám sát xã hội bằng pháp luật Mặt khác biểu tình khi đã được thể chế hóa một cách rõ ràng, căn cứ mạch lạc thì nhân dân sẽ dễ
Trang 2520
dàng hơn trong việc thực hiện quyền biểu tình mà nhà nước cũng sẽ dễ dàng hơn trong việc quản lý, vì tất cả đã được quy định trong luật
Thêm một cách thức để quản lý nhà nước
Nhà nước nắm trong tay quyền lực của nhân dân vì nhân dân không thể trực tiếp sử dụng quyền của mình, nắm trong tay quyền lực của nhân dân lẽ dĩ nhiên phải phục vụ nhân dân Nhưng khi có quyền lực mà không có hoặc cơ chế kiểm soát yếu thì hiện tượng lạm quyền dễ xảy ra Thiết lập các cơ chế giám sát việc quản lý nhà nước là các cơ quan này thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình Qua biểu tình, nhà nước có thể nhìn thấy những sai phạm của những người cầm quyền, những vấn đề mà nhà nước chưa giải quyết thấu đáo, điều chỉnh để tạo được sự đồng thuận xã hội cao
Biểu tình cũng chính là một hình thức phản biện xã hội, phản ảnh thực trạng của xã hội để nhà nước có thể quản lý xã hội hiệu quả hơn
Phân tích xã hội là các hoạt động của các chủ thể khác nhau trong xã hội sử dụng các lập luận phân tích, hoặc các công cụ tư duy logic để khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ khuynh hướng, phương án kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội (gọi chung là đối tượng của phản biện xã hội) Đây là một hoạt động nằm trong khuôn khổ pháp luật, mang tính tích cực xây dựng, nhằm hướng tới các mục tiêu chung của xã hội (công bằng, dân chủ, pháp chế, phát triển đất nước) Thông qua biểu tình, nhân dân có thể phản ảnh ý chí của mình đến với xã hội, đến với Nhà nước về những chủ trương, chính sách của Nhà nước chưa đúng, chưa hợp lý để kịp thời có những điều chỉnh thích hợp
Biểu tình là một hoạt động hết sức phổ biến trên thế giới Nhằm tạo một hướng nhìn đầy đủ và hoàn thiện hơn thì dựa theo bản chất của biểu tình chúng ta có thể phân loại biểu tình như sau:
Dựa vào hình thức của biểu tình
Diễu hành, tuần hành, thị uy là việc những người biểu tình xuống
đường di chuyển trong trật tự từ một địa điểm này đến một địa điểm khác
Trang 2621
Đây là hình thức được sử dụng một cách thường xuyên và phổ biến nhất, việc một cuộc biểu tình không nhất thiết chỉ được sử dụng một hình thức để biểu tình nó có thể chuyển từ hình thức này sang hình thức khác nếu cần thiết để đạt được mục đích Ví dụ, VON đơn vị sở hữu cổng thông tin lớn nhất Việt Nam đã tặng 400 mũ bảo hiểm cho toàn thể nhân viên công ty đồng thời tổ chức diễu hành bằng xe máy qua các trục đường chính của trung tâm thành phố như Điện Biên Phủ, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Lê Duẩn…
để cổ vũ cho phong trào đội mũ bảo hiểm
Mít tinh là hình thức người biểu tình tập hợp tại một địa điểm cố định
để nghe diễu thuyết của một người, và đôi khi là diễn đàn để đưa ra các ý kiến
và quan điểm Hình thức này mang nhiều đặc điểm của sự tụ họp, tập trung nơi công cộng
Hàng rào ngăn cản là các cuộc biểu tình vây quanh một địa điểm nào
đó nhằm để phản đối trực tiếp Hình thức này diễn ra nhằm vào một đối tượng
cụ thể, thông qua ngăn cản hoạt động bình thường của đối tượng để đáp ứng nguyện vọng của người biểu tình
Chiếm đóng là những người biểu tình trụ lại một địa điểm nhất định
trong một thời gian dài gây áp lực khó khăn cho chủ thể chịu phản đối
Giả chết là hình thức biểu tình khổ hạnh, người biểu tình sắp đặt một
cảnh tượng chết chóc dùng để phản đối chiến tranh, hay phản đối một sản phẩm thuốc men mà cho rằng có hại Ngoài ra còn một số hình thức như biểu tình khỏa thân
Dựa vào lĩnh vực mà biểu tình tác động đến
Biểu tình chính trị là các cuộc biểu tình hướng đến việc giải quyết các
vấn đề chính trị như thay đổi chính phủ, đòi quan chức nhà nước từ chức, ủng
hộ các đảng cầm quyền
Trang 2722
Biểu tình về các vấn đề kinh tế
Ví dụ như các cuộc biểu tình tại Anh hàng trăm nghìn người đã xuống đường biểu tình ở thủ đô London nhằm phản đối các biện pháp thắt lưng buộc bụng của Chính phủ, theo đó sẽ cắt giảm 81 tỷ bảng chi tiêu ngân sách để đối phó với mức thâm hụt ngân sách kỷ lục tại quốc gia này
Biểu tình về các vấn đề xã hội
Các cuộc biểu tình diễn ra một cách tương đối phổ biến và thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân khi các vấn đề liên quan đến xã hội như bạo hành gia đình, buôn bán trẻ em, an sinh xã hội không được đảm bảo v.v…
Dựa vào tính chất của cuộc biểu tình
Đây được coi là cách phân loại biểu tình được nhiều nhà lập pháp thừa nhận và sử dụng rộng rãi nhất hiện nay trong giới luật học vì nó là thước đo của một biểu tình có thể nhận biết cuộc biểu tình đó có hợp pháp hay không?, Theo tính chất của cuộc biểu tình thì biểu tình được chia thành:
Biểu tình ôn hòa là biểu tình diễn ra theo quy định của pháp luật về trình tự mục đích, đối tượng và cuộc biểu tình này diễn ra hòa bình, không xảy ra xung đột giữa những người tham gia biểu tình với những người khác đặc biệt là từ phía cơ quan công an
Biểu tình bạo lực là biểu tình trong đó có xảy ra các hành vi bạo lực, bạo động làm mất trật tự an ninh, an toàn công cộng, gây ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe của người khác, xảy ra xung đột giữa những người tham gia biểu tình và lực lượng công an
1.2 Pháp luật về quyền tự do hội họp trên thế giới
1.2.1 Quy định pháp luật quốc tế về quyền tự do hội họp
Hiện nay trên thế giới nhiều những ghi nhận quan trọng đã và đang quan tâm rất lớn đến quyền hội họp của công dân Điển hình đó là Luật nhân quyền quốc tế về hội họp cũng như luật nhân quyền một số khu vực
Trang 2823
Lời nói đầu của Nghị quyết số 15/21 của Hội đồng Nhân quyền ngày 30/9/2010 đã ghi nhận, quyền tự do lập hội là một trong những quyền cơ bản của con người trong một xã hội dân chủ Bởi vì, quyền tự do lập hội sẽ cho phép các thành viên:
Bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học, nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm
Đồng thời, Nghị quyết này cũng: 1 Kêu gọi các quốc gia tôn trọng và bảo vệ đầy đủ quyền của mọi cá nhân hội họp hòa bình và lập hội một cách tự do, bao gồm liên quan đến các cuộc bầu cử, bao gồm những người có quan điểm hay niềm tin bất đồng hoặc thiểu
số, những người bảo vệ nhân quyền, những người hoạt động công đoàn và những người khác, bao gồm lao động di trú, muốn thực thi hoặc thúc đẩy các quyền này, và thực hiện mọi biện pháp cần thiết
để bảo đảm rằng bất kỳ hạn chế nào đối với việc thực thi tự do hội họp hòa bình và lập hội phải phù hợp với các nghĩa vụ của mình theo luật quốc tế về nhân quyền; 3 Khuyến khích xã hội dân sự, bao gồm các tổ chức phi chính phủ và các chủ thể khác, thúc đẩy việc thụ hưởng các quyền hội họp hòa bình và lập hội, ghi nhận rằng xã hội dân sự hỗ trợ việc đạt được các mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc [10]
Về phương diện pháp luật quốc tế, cùng với quyền tự do lập hội, quyền hội họp hòa bình lần đầu tiên được ghi nhận và quy định trong Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm 1948, Công ước về tự do lập hội và bảo vệ quyền lập hội của ILO năm 1948 và Công ước quốc tế về các Quyền dân sự
và chính trị của Liên hợp quốc năm 1966
Trang 2924
Điều 20 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR, 1948) quy định:
“Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách ôn hòa Không ai
bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ tổ chức nào” Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 tiếp tục khẳng định và
cụ thể hóa nội dung Điều 20 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR, 1948) tại Điều 22 [44]
Trong cuốn Hướng dẫn về tự do hội họp hòa bình (Guidelines on Freedom of Peaceful Assembly, Prepared by the OSCE/ODIHR Panel Of Experts on the Freedom of Assembly, 2007) có quy định tự do hội họp hòa bình là một quyền cơ bản của con người có thể được hưởng và tiến hành bởi
cá nhân hoặc các nhóm, các tổ chức không chính thống, các thực thể pháp lý hoặc các chủ thể kinh doanh Các cuộc biểu tình có thể diễn ra với nhiều mục đích, bao gồm những ý kiến trái ngược nhau, của một cộng đồng người hoặc là ý kiến của một nhóm thiểu số Cuốn sách này cũng hướng dẫn các cuộc biểu tình hòa bình đều được bảo vệ và nhà nước có nghĩa vụ bảo đảm cho các cuộc biểu tình đó được diễn ra Một cuộc biểu tình được coi là hòa bình nếu như việc tổ chức cuộc biểu tình đó diễn ra một cách hòa bình và không xảy ra tình trạng bạo lực Cụm từ “hòa bình” được diễn giải bao gồm hoạt động không gây phiền hà hoặc xúc phạm, thậm chí cản trở hoạt động của bên thứ ba
Trong Báo cáo của Báo cáo viên đặc biệt về các quyền tự do hội họp ôn hòa và hiệp hội (Report of the Special Rapporteur on the rights to freedom of peaceful assembly and of association, Maina Kiai), 21/5/2012, A/HRC/20/27
có đưa ra định nghĩa về hội họp ôn hòa Theo đó “hội họp” là việc tụ họp có mục đích và tạm thời trong trong một không gian riêng hay không gian chung (công) vì mục đích cụ thể.Vì thế, việc này bao gồm các cuộc biểu tình, các cuộc họp trong nhà, đình công, diễu hành, tuần hành hoặc thậm chí cả biểu
Trang 30Hiến chương châu Phi về quyền con người và dân tộc tại Điều 11 có
quy định: “Mọi cá nhân đều có quyền tự do hội họp với người khác Việc thực hiện quyền này chỉ chịu những hạn chế cần thiết theo quy định của pháp luật,
vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn, sức khỏe, đạo đức của cộng đồng hoặc để bảo vệ các quyền và tự do của người khác”
Có thể khẳng định rằng, quyền tự do lập hội cũng như quyền tự do hội họp là quyền rất quan trọng của con người trong xã hội dân sự nhằm bảo đảm cho những người cùng xu hướng, sở thích, ý chí, lý tưởng, quan điểm được giao lưu, gặp gỡ, tiếp xúc với nhau Tuy nhiên, về phương diện pháp luật, khi thực hiện các quyền này phải theo khuôn khổ của pháp luật của quốc gia Có nghĩa là, khi thực hiện quyền phải đảm bảo không xâm hại đến lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội và lợi ích của những người khác trong cộng đồng
Quyền tự do lập hội (freedom of asociation) và Quyền tự do hội họp một cách hòa bình (preedom of peaceful asembly) cùng được ghi nhận trong Điều 20 UDHR Ngoài việc quy định mọi người đều có quyền tự do lập hội, Điều này còn nêu rõ (trong khoản 2), không ai bị ép buộc phải tham gia vào bất cứ hiệp hội nào Điều 21, 22 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa quy định
về quyền tự do hội họp trong Điều 20 UDHR, trong đó nêu rõ: Mọi người có quyền tự do lập hội với những người khác, kể cả quyền lập và gia nhập các
Trang 3126
công đoàn để bảo vệ lợi ích của mình Việc thực hiện quyền này không bị hạn chế, trừ những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng, và để bảo vệ sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hay các quyền và tự do của người khác Điều này không ngăn cản việc đặt ra những hạn chế hợp pháp trong việc thực hiện quyền này đối với những người làm việc trong các lực lượng
vũ trang và cảnh sát HRC hiện chưa có bình luận chung nào về đề cập đến nội dung Điều 22, tuy nhiên, từ nội dung của nó, có thể thấy quyền này bao gồm ba khía cạnh: (i) lập ra các hội mới, (ii) gia nhập các hội có sẵn, và (iii) điều hành các hội, bao gồm cả việc tìm kiếm, huy động các nguồn kinh phí cho hoạt động
Quyền tự do hội họp một cách hòa bình được ghi nhận trong Điều 20 UDHR Điều 21 ICCPR tái khẳng định và cụ thể hóa nội dung Điều 20 UDHR, trong đó nêu rõ: Quyền hội họp hòa bình phải được công nhận Việc thực hiện quyền này chỉ bị hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết trong một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia, an toàn và trật tự công cộng,
và để bảo vệ sự bình yên và đạo đứa xã hội hoặc các quyền và tự do của người khác Liên quan đến Điều 21, HRC hiện cũng chưa có bình luận chung nào, tuy nhiên cũng từ nội dung của nó có thể thấy đây không phải là quyền tuyệt đối Thêm vào đó, theo các chuyên gia, việc bảo đảm quyền hội họp hòa bình đòi hỏi các quốc gia có cả nghĩa vụ chủ động (positive obligation) và nghĩa vụ thụ động (negative obligation), và do quyền này là tiền đề rất quan trọng để thực hiện quyền tự do biểu đạt quy định trong Điều 19 nêu nên việc thực hiện Điều 19 cần gắn với việc thực hiện Điều 21
Tự do hội họp hòa bình (ôn hòa) được ghi nhận tại Khoản 1, Điều 20 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR, 1948), rằng “mọi người đều có quyền tự do hội họp và tham gia hội họp một cách hòa bình.” Cụ thể hóa quy
Trang 3227
định này, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966) quy định về quyền tự do hội họp tại Điều 2, theo đó, quyền hội họp (bao gồm biểu tình) có thể bị giới hạn bởi các lý do: Vì lợi ích an ninh quốc gia; an toàn
và trật tự công cộng; bảo vệ sức khỏe và đạo đức xã hội; bảo vệ quyền và tự
do của những người khác Việc bảo đảm quyền hội họp đòi hỏi các quốc gia
có cả nghĩa vụ chủ động (positive obligation) và nghĩa vụ thụ động (negative obligation) Các nghĩa vụ chủ động gồm: các quốc gia phải tích cực bảo vệ các cuộc hội họp hòa bình, bảo vệ những người tham gia vào hội họp hòa bình khỏi các cá nhân, nhóm, bao gồm những kẻ kích động gây rối (agents provocateurs) và những người phản – biểu tình (counter-demonstrators); đào tạo các lực cảnh sát để họ có thể bảo vệ tốt các cuộc hội họp, có thể phân biệt,
xử lý những kẻ khiêu khích, gây rối; những người vi phạm quyền hội họp, kể
cả các nhân viên thực thi pháp luật, phải chịu trách nhiệm pháp lý, bị xử phạt; xây dựng, thiết kế không gian rộng rãi đề người dân có thể tập trung biểu tình Nghĩa vụ thụ động của nhà nước bao gồm việc các cơ quan công quyền, công chức nhà nước phải kiềm chế không can thiệp tùy tiện vào việc hội họp; không ban hành các đạo luật gây cản trở quyền hội họp; không đặt ra các thủ tục, điều kiện quá phức tạp, rườm ra mất thiều thời gian, công sức, gây khó khăn cho việc thực thi hội họp Kể từ năm 2011 đến nay, Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp quốc về các quyền tự do hội họp hòa bình và hiệp hội (Special Rapporteur on the rights to freedom of peaceful assembly and of association), chủ yếu thông qua các báo cáo và nghiên cứu của mình, đã góp phần làm rõ thêm nhiều khía cạnh pháp lý của quyền hội họp Nhiều chủ đề khác nhau liên quan đến hai quyền này đã được Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp quốc về các quyền tự do hội họp hòa bình và hiệp hội quan tâm Bao gồm: các thực hành, kinh nghiệm tốt về việc thực thi, bảo đảm các quyền này (báo cáo năm 2012); việc thực thi, bảo đảm các quyền này trong bối cảnh
Trang 3328
các cuộc bầu cử (báo cáo năm 2013); các quyền này trong bối cảnh các cơ chế
đa phương (như các tổ chức quốc tế, Liên Hợp quốc ) (báo cáo năm 2014);
so sánh môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp và cho các hiệp hội (báo cáo năm 2015); các quyền này của các nhóm yếu thế (báo cáo năm 2014 gửi Hội đồng Nhân quyền); các quyền này trong bối cảnh các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên (báo cáo năm 2015 gửi Hội đồng Nhân quyền) Nhìn chung, pháp luật quốc tế ghi nhận hội họp là một quyền của một công dân, quyền của một cá nhân con người Pháp luật luôn tạo điều kiện để công dân thực hiện quyền này cũng như khuyến khích tự do lập hội Tuy nhiên, quy luật chung của sự tồn tại theo triết học là không gì là tuyệt đối Mọi thứ chỉ đạt ở mức tương đối và quyền tự do hội họp, tự do lập hội cũng vậy, chỉ “tự do” ở mức tương đối Hệ thống pháp luật vẫn còn có những giới hạn quyền tự
do này cũng như đặt ra những quy phạm hạn chế quyền này của cá nhân
Bên cạnh quy định về quyền hội họp trong các hiến pháp, không phải quốc gia nào cũng ban hành luật riêng về hội họp hay biểu tình Pháp luật về hội họp và biểu tình của các nước có thể chia thành ba nhóm [18] như sau:
Thứ nhất, nhiều quốc gia ban hành luật điều chỉnh chung các hình thức hội họp (Assembly/ Public Assembly) Các quốc gia ban hành luật dạng này
sớm là Luật về tự do hội họp của Pháp (1881), Luật Hội họp Công cộng của Phần Lan năm 1907 Cho đến gần đây, một số quốc gia khác có đạo luật tương tự là Luật hội họp công cộng của Philippin (năm 1985), Luật hội họp công cộng của Hà Lan (năm 1988, sửa đổi năm 1994), Luật về hội họp của Phần Lan (1999, sửa đổi năm 2002), Luật Hội họp và tuần hành hòa bình của Myanmar (2011, sửa đổi 2014) Gần đây nhất, tháng 8/2015, Thái Lan ban hành Luật về hội họp công cộng (có hiệu lực từ ngày 13/8/2015)
Thứ hai, một số quốc gia ban hành đạo luật có phạm vi hẹp hơn, chủ
yếu điều chỉnh các cuộc biểu tình Chẳng hạn như Luật về tuần hành, hội họp,
Trang 3429
biểu tình, diễu hành và tập trung (2004) của Nga, Luật về biểu tình hòa bình (2009) của Campuchia hoặc Luật biểu tình (1953) của Đức Luật biểu tình của Đức, được đăng công báo ngày 24/7/1953, có hiệu lực thi hành từ ngày 10/8/1953, với 33 điều, gồm bốn nội dung chính là: những quy định chung; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia biểu tình; quyền và nghĩa vụ của cảnh sát; xử lý vi phạm
Thứ ba, tại nhiều quốc gia khác, các quy phạm về quyền hội họp nằm
tại nhiều văn bản khác nhau Tại Anh quốc, luật pháp có nhiều quy định liên quan đến hội họp, trong đó văn bản quan trọng nhất là Luật trật tự công cộng (Public Oder Act – POA, 1986) Cạnh đó, Luật về các tội phạm nghiêm trọng
có tổ chức và cảnh sát (Serious Organised Crime and Police Act – SOCPA, 2005) cũng có những quy định liên quan đến hội họp và biểu tình Có thể xếp pháp luật Việt Nam hiện nay thuộc nhóm này, vì nhiều hình thức hội họp cũng đang được điều chỉnh bởi nhiều văn bản khác nhau
Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp quốc về tự do hội họp hòa bình và hiệp hội cũng đã nhấn mạnh rằng không nên yêu cầu sự đồng ý/ chấp thuận của nhà nước đối với việc hội họp Nhiều thực hành tốt đã được Báo cáo viên đặc biệt về các quyền tự do hội họp và hiệp hội, ông Maina Kiai (quốc tịch Kenya), nêu trong báo cáo năm 2012 Các kinh nghiệm tốt đã thể hiện quyền tự do hội họp ôn hòa không chỉ bao gồm quyền tổ chức và tham gia tập họp hòa bình, mà còn cả quyền được bảo vệ khỏi những can thiệp phi lý, cũng như bảo vệ cả những người quan sát, theo dõi các cuộc hội họp hòa bình, bảo đảm quyền có các biện pháp khắc phục, chế tài hiệu quả đối với các vi phạm quyền hội họp
Bên cạnh các nghĩa vụ “tôn trọng” và “bảo vệ” của nhà nước, việc hưởng thụ quyền tổ chức và tham gia hội họp ôn hòa đòi hỏi cả nghĩa vụ “hỗ trợ” từ các cơ quan, cán bộ nhà nước trong việc tích cực tạo điều kiện cho việc thực hành quyền này Báo cáo viên nêu bật một thực hành tốt là Luật Hội
Trang 351.2.2.1 Tại Liên Bang Nga
Nhiều quốc gia trên thế giới có quy định về quyền hội họp thì với Nga lại có sự khác biệt Ở Nga không gọi là quyền lập hội, quyền hội họp hay Luật về Hội mà gọi là luật về hiệp hội xã hội và quyền tự do hiệp hội Tại Điều 3 của Luật “Về các hiệp hội xã hội” đã khẳng định, nội dung của quyền hiệp hội bao gồm:
Thứ nhất, Quyền thành lập các hiệp hội trên cơ sở tự nguyện nhằm bảo
vệ các lợi ích chung hoặc đạt được các mục tiêu chung
Thứ hai, Quyền tham gia vào các hiệp hội đang tồn tại hoặc quyền không tham gia vào các hiệp hội ấy
Thứ ba, Quyền ra khỏi các hiệp hội đó mà không gặp bất kỳ sự cản trở nào Như vậy, tự do hội họp ở Nga không chỉ đơn thuần là quyền lập hội mà theo pháp luật Nga còn là quyền tham gia vào các hội đã được thành lập hoặc
ra khỏi các hội đó [18]
Trong các văn bản pháp luật Nga hiện hành Nga thuộc nhóm quốc gia ban hành đạo luật có phạm vi hẹp hơn, chủ yếu điều chỉnh các cuộc biểu tình Chẳng hạn như Luật về tuần hành, hội họp, biểu tình, diễu hành và tập trung (2004) của Nga ngoài thuật ngữ “tự do hiệp hội” các nhà lập pháp sử dụng thuật ngữ “các hiệp hội xã hội” thay cho thuật ngữ “hội” hay “lập hội” Thiết nghĩ, thuật ngữ này còn có ý nghĩa khác, bởi theo Luật Liên bang “Về các hiệp hội xã hội”, thuật ngữ “hiệp hội xã hội” được hiểu là các liên kết được lập
ra theo sáng kiến của người dân trên cơ sở tự nguyện có lợi ích chung để đạt những mục tiêu chung được quy định trong điều lệ của hiệp hội [40] Các liên
Trang 3631
kết này đều mang tính chất xã hội không thuộc hoặc chịu ảnh hưởng từ phía nhà nước Như vậy, các hiệp hội xã hội ở Nga sẽ không bao hàm những hiệp hội liên quan đến hoặc chịu sự tác động từ phía quyền lực Nhà nước Các hiệp hội này phải là các hiệp hội phi Nhà nước - có nghĩa là các hiệp hội xã hội
Pháp luật Liên bang Nga xác định rõ các hình thức hiệp hội xã hội ở Nga Theo đó, có hai thuật ngữ được các nhà lập pháp Nga phân biệt khá rõ ràng trong luật là “Organization” (tiếng Nga: Организация) và “Associations” (tiếng Nga: Объединения) Theo đó, thuật ngữ đầu được hiểu là tổ chức, thuật ngữ sau được gọi là hiệp hội (sự liên kết) Cách tiếp cận này cho thấy, hội không chỉ là tổ chức mà hội còn có thể là những liên kết của các cá nhân
để thực hiện mục tiêu chung mà không cần hình thành một tổ chức có kết cấu
rõ ràng, không cần quy chế thành viên (chỉ cần tham gia là đủ) và cũng không cần hoạt động thường xuyên, định kỳ [18] Theo quy định hiện hành, ở Nga
có các hình thức [18] hội sau:
Thứ nhất, Các tổ chức xã hội: là một hình thức liên kết xã hội của công
dân dựa trên yếu tố thành viên được lập ra trên cơ sở cùng hoạt động nhằm bảo vệ các lợi ích chung và đạt các mục tiêu chung được ghi nhận trong điều
lệ tổ chức
Thứ hai, Phong trào xã hội: là sự liên kết xã hội của những người dân
và không có quy chế thành viên Phong trào xã hội không phải là một tổ chức mà là liên kết xã hội theo đuổi các mục tiêu xã hội, chính trị hoặc các mục tiêu có ích cho xã hội khác mà được những người tham gia phong trào ủng hộ và theo đuổi Nếu thực hiện đăng ký thì cơ quan thường trực của phong trào xã hội (Đại hội) được trao quyền của pháp nhân theo quy định của pháp luật Liên bang
Thứ ba, Quỹ xã hội: Quỹ xã hội không phải là tổ chức mà là một loại
hình quỹ phi lợi nhuận, một hình thức liên kết xã hội của người dân và không
Trang 3732
có quy chế thành viên Quỹ xã hội được hình thành trên cơ sở đóng góp tài sản tự nguyện hoặc các nguồn gây quỹ không trái pháp luật khác để thực hiện các mục tiêu có lợi cho xã hội
Thứ tư, Đơn vị sự nghiệp xã hội: Đơn vị sự nghiệp xã hội là một hình
thức liên kết xã hội không có quy chế thành viên được lập ra để cung ứng một loại dịch vụ nhất định đáp ứng lợi ích của những người tham gia và phù hợp với mục tiêu của đơn vị sự nghiệp xã hội Đơn vị sự nghiệp xã hội cũng không phải là một tổ chức xã hội
Thứ năm, Sáng kiến nhân dân: Là một hình thức liên kết xã hội của công
dân lập ra tại chính nơi cư trú, làm việc, học tập để cùng nhau giải quyết những vấn đề xã hội khác nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của những người dân mà lợi ích của họ gắn liền với mục tiêu thành lập cũng như liên quan đến việc thực hiện chương trình của thiết chế tại nơi nó được thành lập
Thứ sáu, Đảng chính trị: Đảng chính trị cũng được quy định là một
trong những hình thức của luật về các hiệp hội xã hội Liên bang Nga Đảng chính trị là một tổ chức có thành viên, tuy nhiên, như đã nói, do tính chất đặc thù, từ năm 2001 vấn đề tổ chức và hoạt động của đảng chính trị được điều chỉnh bởi một luật chuyên biệt
Có thể khẳng định, dù có nhiều vấn đề, tranh luận nhưng nước Nga đã
có một hệ thống các quy định cũng như các cơ chế đảm bảo thực hiện quyền hiệp hội của người dân cơ bản phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nước Nga thời kỳ chuyển đổi
1.2.2.2 Tại Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia ghi nhận quyền tự do hội họp một cách cụ thể và rõ ràng Vào năm 1789, Quốc hội đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã thông qua 12 tu chính án hiến pháp, và gửi chúng tới các tiểu bang để phê chuẩn Các tu chính án này, gọi chung là Tuyên ngôn
Trang 3833
nhân quyền, được thiết kế để bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Hoa Kỳ, đảm bảo các quyền tự do ngôn luận, báo chí, và tôn giáo, trong đó có quyền tự do hội họp [49]
Cụ thể, Trong tu chính án đầu tiên Hoa Kỳ đã ghi nhận quyền hội họp của con người Tu chính án thứ 1: Tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và báo
chí; quyền hội họp và kiến nghị: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình”
Về phương diện văn phạm, Tu Chính án số I là một câu viết rất gẫy gọn gồm 45 chữ (Anh ngữ) Trong cái gẫy gọn kia, các quyền tự do sau đây được xác định và tôn vinh:
Một là, Tự do tôn giáo và tự do hành đạo
Hai là, Tự do ngôn luận
Thứ nhất, Quyền tự do hội họp được hiểu theo nghĩa rộng là quyền tự
do liên kết, và quyền này được bảo đảm duy nhất bởi cơ chế tài phán hiến pháp (cơ chế tư pháp) Với mối liên hệ chặt chẽ với các quyền khác được ghi nhận trong Tu chính án thứ nhất, quyền tự do hội họp là một quyền cơ bản (fundamental right), có nghĩa là nó không thể bị vi phạm trừ khi việc vi phạm
là cần thiết để đạt được một lợi ích quan trọng, cơ bản của Nhà nước Mọi sự
Trang 3934
can thiệp của chính quyền vào quyền này đều bị tòa án xem xét, kiểm tra một cách kỹ lưỡng, nghiêm ngặt
Thứ hai, quyền tự do hội họp được hiểu rộng ra bao gồm cả quyền tự
do không liên kết, có nghĩa là cơ chế bảo đảm quyền tự do hội họp không chỉ
ở việc lập hội, mà còn trong các hoạt động khác của xã hội Tuy nhiên, quyền
tự do không liên kết có thể bị giới hạn đặt trong mối liên hệ với các lợi ích công cộng khác, đặc biệt là quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử
Pháp luật Hoa kỳ, quyền hội họp của công dân được quy định trong Hiến pháp của nước này Chứng tỏ một điều rằng Hoa Kỳ rất xem trọng vấn
đề hội họp Hiến pháp Hoa Kỳ là bộ luật tối cao của nước Hoa Kỳ Nó là bản hiến pháp được soạn thảo ngày 17 tháng 9, 1787 dựa trên tư tưởng tam quyền phân lập giữa ba nhánh lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Tổng thống), tư pháp (tòa án) do Montesquieu, một triết gia người Pháp đề xướng Nó được phê chuẩn sau các cuộc hội nghị tại 13 tiểu bang đầu tiên
Cùng với Tuyên ngôn Độc lập viết năm 1776, bản hiến pháp này đã thể hiện tinh thần khoa học, tiến bộ và nhân bản của người Mỹ trong việc xây dựng một nhà nước cộng hòa đầu tiên trên thế giới trong lịch sử cận đại Nó
đã tạo ra một chính quyền thống nhất và tập trung hơn chính quyền dưới Những Điều khoản Liên hiệp
Hiến pháp Hoa Kỳ là bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử Từ khi được hiệu lực năm 1789, nó đã được tham khảo nhiều lần để làm mô hình cho các hiến pháp của những quốc gia khác Thủ tướng Vương quốc Anh William Ewart Gladstone (1809 – 1898) đã miêu tả Hiến pháp này là "tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người"
Các nhà soạn thảo Hiến pháp Hoa Kỳ quy định Hiến pháp là "bộ luật tối cao của đất nước" Các tòa án đã cho rằng câu này có nghĩa là khi có các
Trang 4035
bộ luật được các bang (kể cả hiến pháp từng bang) hay Quốc hội đưa ra mà mâu thuẫn với hiến pháp liên bang, những luật đó không có hiệu lực Các quyết định của Tòa án Tối cao trong hai thể kỷ qua đã củng cố cách nhìn này
Hoa Kỳ không có một đạo luật riêng quy định về hội hay quyền tự do lập hội Mà hai lĩnh vực pháp luật cơ bản là hội và quyền tự do lập hội ở Hoa
Kỳ chỉ được tìm hiểu gián tiếp thông qua hai văn kiện lớn đó là hiến pháp và luật về các tổ chức phi lợi nhuận
Hiến pháp đặt quyền người dân trên hết Quyền hạn của chính phủ được người dân ủy nhiệm Và từ đây ta cũng có thể thấy được rằng được rằng cũng giống như Việt Nam thì Hoa Kỳ cũng coi trọng quyền công dân, quyền con người vì thế nên đây cũng có thể coi là một trong những quyền tối thượng
mà công dân nước này sở hữu
1.2.2.3 Tại Pháp
Không giống như các quốc gia khác như Đức hay Hoa Kỳ pháp luật ghi nhận rất sớm hành lang pháp lý về hội hay hiệp hội Mà Pháp từ xa xưa trong lịch sử, các nhà cầm quyền đã từng khá e dè và thậm chí thường xuyên cấm đoán các việc hội họp
Ngay cả trong Tuyên ngôn của nền cộng hòa năm 1789 cũng không ghi nhận vấn đề tự do hiệp hội hay quyền hội họp của công dân, mặt khác còn khẳng định rằng giữa công dân và Nhà nước không cần có bất kỳ một hình thức trung gian nào.Chính quyền thời đó từng nhìn nhận việc liên kết các cá nhân lại trong các hiệp hội như là một sự phản đối lại quyền lực tập trung của chính phủ Chính vì thế nên pháp luật về hội họp của Pháp ra đời khá muộn
Trong Sắc lệnh ngày 13 và 14 tháng 11 năm 1790 khẳng định rằng
“mọi công dân có quyền tụ tập hòa bình và thiết lập với nhau các hội tự do”, nhưng hàng loạt văn bản ra đời ngay sau đó dần giảm bớt quyền tự do này: Sắc lệnh Allarde ngày 2 và 17 tháng 3 năm 1791, nhân danh tự do kinh doanh