1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những vấn đề pháp lý về bảo đảm an toàn lao động cho người lao động và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng

92 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ nhiệm vụ và sứ mệnh đã đề ra, năm 1981 Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 155 về ATVSLĐ và môi trường lao động; năm 1993 ILO tiếp tục thông qua Công ước số 1

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO

NH÷NG VÊN §Ò PH¸P Lý VÒ §¶M B¶O AN TOµN LAO §éNG

CHO NG¦êI LAO §éNG Vµ THùC TIÔN THI HµNH

TRONG NGµNH X¢Y DùNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ PHƯƠNG THẢO

NH÷NG VÊN §Ò PH¸P Lý VÒ §¶M B¶O AN TOµN LAO §éNG

CHO NG¦êI LAO §éNG Vµ THùC TIÔN THI HµNH

TRONG NGµNH X¢Y DùNG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN THU

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Phương Thảo

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng, hình

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu 5

7 Bố cục luận văn 6

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 7

1.1 Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 7

1.1.1 Khái niệm an toàn lao động 7

1.1.2 Sự cần thiết của việc đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 10

1.1.3 Những yêu cầu cơ bản của việc đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 14

1.1.4 Những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 17

1.2 Khái niệm, nội dung pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 20

Trang 5

1.2.1 Khái niệm pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 20 1.2.2 Nội dung pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 22

Kết luận Chương 1 28 Chương 2: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRONG NGÀNH XÂY DỰNG 29 2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động 29

2.1.1 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan 29 2.1.2 Quy định về các biện pháp phòng ngừa các yếu tố nguy hiểm, có hại cho người lao động 30 2.1.3 Quy định về biện pháp xử lý sự cố gây mất an toàn tại nơi làm việc

và tai nạn lao động 33 2.1.4 Quy định về đảm bảo an toàn lao động đối với các nhóm lao động đặc thù 35 2.1.5 Quy định về đảm bảo an toàn lao động đối với cơ sở sản xuất kinh doanh 37 2.1.6 Quy định về quản lý nhà nước trong đảm bảo an toàn lao động 38 2.1.7 Quy định về xử lý vi phạm pháp luật về an toàn lao động 42

2.2 Thực tiễn thi hành pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động trong ngành xây dựng 45

2.2.1 Vài nét khái quát về ngành xây dựng 45 2.2.2 Những kết quả đạt được, tồn tại và hạn chế trong việc thi hành pháp luật về đảm bảo an toàn lao động trong ngành xây dựng 46 2.2.2.1 Kết quả đạt được 46 2.2.2.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 51

Trang 6

Kết luận Chương 2 62

Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÀNH XÂY DỰNG 63

3.1 Những yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về an toàn lao động trong ngành xây dựng 63

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đảm bảo an toàn lao động trong ngành xây dựng 65

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo an toàn cho người lao động 65

3.2.2 Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về đảm bảo an toàn lao động trong ngành xây dựng 69

Kết luận Chương 3 78

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Viết đầy đủ

ATLĐ: An toàn lao động

Trang 8

Hình 2.2: Cơ cấu số vụ tai nạn lao động chết người chia theo

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

ATLĐ luôn là một vấn đề được quan tâm ở mọi giai đoạn phát triển của

xã hội Đảm bảo được ATLĐ chính là bảo toàn an toàn cho NLĐ Quan điểm

“An toàn là trên hết” (safety first) không chỉ là kim chỉ nam cho hoạt động của các doanh nghiệp mà còn là định hướng chiến lược cho Nhà nước khi xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực lao động Tinh thần coi con người là tài sản quý giá nhất cần được bảo vệ như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Chúng ta phải quý trọng con người, nhất là công nhân, vì công nhân là vốn quý nhất của xã hội Chúng ta cần hết sức bảo vệ không để xảy ra tai nạn lao động” xuất phát từ chính vị trí và vai trò của con người trong xã hội, con người tạo nên xã hội và xã hội vận động, phát triển để phục

vụ cho nhu cầu của con người

Để thể chế hóa những quan điểm này, ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1946 đã ghi nhận cho công dân nói chung và NLĐ nói riêng quyền được làm việc, quyền được nghỉ ngơi, quyền được bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… Sau này, quyền được bảo vệ, chăm sóc sức khỏe đã được trực tiếp ghi nhận là một trong những quyền cơ bản của công dân qua các bản Hiến pháp từ năm 1980 đến bản Hiến pháp năm 1992

và hiện nay là bản Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Công tác đảm bảo ATLĐ lần đầu tiên được ghi nhận trong văn bản pháp luật lao động đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là Sắc lệnh

số 29/SL ngày 12/3/1947, sau đó là Pháp lệnh BHLĐ năm 1991, BLLĐ năm

1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007), BLLĐ năm 2012, Luật

an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 và nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan khác (như: Luật phòng cháy chữa cháy, Luật hóa chất…)

Mặc dù vấn đề ATLĐ là một nội dung luôn được chú trọng như đã nêu

ở trên nhưng với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ và sự gia

Trang 10

tăng của những hành vi vi phạm quy định về ATLĐ đã dẫn đến hàng chục nghìn vụ TNLĐ làm chết người hoặc gây thương tích nghiêm trọng, nhất là trong lĩnh vực xây dựng – một trong những ngành kinh tế quan trọng của đất nước và luôn nổi cộm bởi vấn đề mất ATLĐ

Tình trạng trên diễn ra là bởi trong thực tế việc áp dụng các quy định về đảm bảo ATLĐ không triệt để hoặc các chủ thể liên quan không tuân thủ pháp luật Sự thiếu triệt để hay không tuân thủ này xuất phát từ sự thiếu nhận thức về tính thiết yếu của việc tạo dựng môi trường làm việc an toàn cho NLĐ của NSDLĐ mà đôi khi là từ chính NLĐ dẫn đến những nguy cơ về tai nạn nghề nghiệp Đây cũng là lý do chứng minh cho sự cần thiết của việc nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề pháp lý về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ Xuất phát

từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Những vấn đề pháp lý về đảm

bảo an toàn lao động cho người lao động và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng” để làm luận văn tốt nghiệp cao học luật của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Ở bất kỳ một giai đoạn phát triển nào của xã hội thì vấn đề ATLĐ luôn

là vấn đề được quan tâm hàng đầu, do vậy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện

Ở cấp độ Luận án tiến sĩ luật học:

- Nghiên cứu sinh Trần Trọng Đào với đề tài “Pháp luật an toàn lao

động ở Việt Nam” đã nghiên cứu những quy định của pháp luật về ATLĐ nói

chung và đưa ra phương hướng hoàn thiện pháp luật

Ở cấp độ Luận văn thạc sĩ luật học có thể kể đến một vài Luận văn tiêu biểu như:

- Tác giả Đỗ Ngân Bình với để tài “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

của pháp luật an toàn vệ sinh lao động” năm 2001 có nội dung chính là khái

quát chung về pháp luật ATLĐ và giải pháp hoàn thiện mang tính tổ chức

Trang 11

- Tác giả Lê Phương Thúy với đề tài “An toàn, vệ sinh lao động đối với

lao động nữ trong pháp luật lao động Việt Nam” có phạm vi nghiên cứu chủ

yếu là về những quy định ATLĐ đối với riêng lao động nữ

- Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến với đề tài “Quản lý nhà nước trong lĩnh

vực an toàn vệ sinh lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” đã nghiên

cứu vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực ATVSLĐ theo quy định của pháp luật Việt Nam

- Tác giả Bùi Thị Chuyên với đề tài “Pháp luật quốc tế, pháp luật nước

ngoài và pháp luật Việt nam về an toàn vệ sinh lao động” đã nghiên cứu

những quy định của pháp luật Việt Nam về ATVSLĐ trong mối tương quan với pháp luật quốc tế và đưa ra những giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này

Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu cấp quốc gia, khóa luận tốt nghiệp cũng nghiên cứu đến vấn đề ATLĐ Về đề tài nghiên cứu cấp

quốc gia có thể kể đến công trình: “Nghiên cứu hiệu quả kinh tế xã hội của

các giải pháp hoàn thiện môi trường và điều kiện làm việc cho người lao động và xây dựng mối quan hệ với năng suất lao động nhằm nâng cao tính cạnh tranh và bảo vệ nguồn nhân lực trong quá trình hội nhập” (năm

2011) do GS TS Lê Vân Trình, Viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật bảo hộ lao động làm chủ nhiệm

Về Khóa luận tốt nghiệp, có thể kể đến một số công trình như: “Chế độ

bảo hộ lao động và thực trạng vấn đề an toàn vệ sinh lao động ở nước ta”

của Lý Thị Xuân; “Chế độ bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và giải pháp”

của Nguyễn Thị Thu Hiền;…

Hiện nay Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hàng tháng có xuất bản Tạp chí khoa học BHLĐ với nội dung chính về khoa học kỹ thuật BHLĐ đồng thời mọi thông tin liên quan đến vấn đề ATLĐ đều được cập nhật hàng ngày trên website chính thức về ATLĐ: antoanlaodong.gov.vn

Trang 12

Xét thấy các công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận, phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến pháp luật về đảm bảo ATLĐ song chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vấn đề ATLĐ trong phạm vi ngành Xây

dựng Đề tài “Những vấn đề pháp lý về đảm bảo an toàn lao động cho

người lao động và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng” sẽ nghiên cứu

về vấn đề đảm bảo ATLĐ trong ngành Xây dựng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ, tính cấp thiết của việc áp dụng những biện pháp ATLĐ Đồng thời đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về ATLĐ trong phạm vi ngành xây dựng để tìm ra những kết quả đã đạt được cũng như những vấn đề còn hạn chế, bất cập và những nguyên nhân của tình trạng đó Trên cơ sở đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện

hệ thống pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, tác giả tập trung thực hiện các nhiệm vụ:

- Khái quát những vấn đề lý luận về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ;

- Phân tích và đưa ra đánh giá về thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về đảm bảo ATLĐ trong ngành xây dựng;

- Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ, nâng cao hiệu quả thi hành trong ngành xây dựng

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài có đối tượng nghiên cứu là:

- Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ

- Thực trạng thi hành các quy định của pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ trong phạm vi ngành xây dựng

Trang 13

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động Việt Nam hiện hành trong đảm bảo ATLĐ cho NLĐ và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng

- Về phạm vi thời gian: nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ sau khi ban hành Bộ luật lao động năm 2012 của Việt Nam

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp luận của triết học Mác – Lênin, lý luận chung về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp rà soát và phương pháp xã hội học,… Các phương pháp này được sử dụng đan xen để làm rõ những nội dung cơ bản, chủ yếu của pháp luật trong việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ

6 Những đóng góp của đề tài nghiên cứu

- Luận văn tổng hợp một cách có hệ thống các vấn đề chung về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ trong các quy định của pháp luật;

- Luận văn đã tìm hiểu thực trạng của pháp luật Việt Nam về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ nói chung và thực tiễn thi hành trong ngành Xây dựng nói riêng;

- Luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành của pháp luật về đảm bảo ATLĐ trong riêng ngành xây dựng

- Những kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị tham khảo cho những người làm công tác nghiên cứu, học tập, bảo vệ pháp luật Đặc biệt là đối với các cơ sở đào tạo luật

- Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn còn mang lại cho các nhà quản lý những kiến thức cần thiết khi họ thực hiện công tác đảm

Trang 14

bảo ATLĐ tại các doanh nghiệp, đồng thời cũng góp phần cung cấp những nhận thức đúng đắn để NLĐ có thể tự mình đảm bảo ATLĐ cho bản thân trong quá trình tham gia sản xuất

7 Bố cục luận văn

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về đảm bảo an toàn lao

động cho người lao động;

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo an

toàn lao động cho người lao động và thực tiễn thi hành trong ngành xây dựng;

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp

luật về đảm bảo an toàn cho người lao động trong ngành xây dựng

Trang 15

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

1.1 Một số vấn đề lý luận về an toàn lao động và đảm bảo an toàn

lao động cho người lao động

1.1.1 Khái niệm an toàn lao động

Mỗi năm trên thế giới có hàng triệu vụ TNLĐ gây thiệt hại lên đến hàng tỷ đô la và dẫn đến cái chết cho hàng nghìn người đồng thời khiến cho rất nhiều người khác phải chịu cảnh thương tật vĩnh viễn, đó là hậu quả của việc duy trì môi trường làm việc với điều kiện lao động thiếu an toàn Tất nhiên, tất cả những hậu quả đã nêu đều có thể được phòng ngừa thông qua những chương trình hành động với mục tiêu xây dựng một môi trường làm việc an toàn, lấy con người làm trung tâm, chú trọng đến phát triển bền vững Mang trên mình sứ mệnh bảo vệ NLĐ khỏi ốm đau, bệnh tật và những tổn thương liên quan đến công việc, năm 1919 Tổ chức lao động quốc tế ILO (International Labour Organization) được thành lập cùng nhiệm vụ làm tăng

cơ hội có việc làm tốt và có thu nhập cho NLĐ trong điều kiện tự do, công bằng, an toàn và đảm bảo nhân phẩm Xuất phát từ nhiệm vụ và sứ mệnh đã

đề ra, năm 1981 Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 155 về ATVSLĐ và môi trường lao động; năm 1993 ILO tiếp tục thông qua Công ước số 174 về phòng ngừa những TNLĐ nghiêm trọng và đến năm 2001 ILO

đã ban hành: “Hướng dẫn về hệ thống quản lý ATLĐ”, đây là một công cụ hỗ trợ hữu hiệu cho các đơn vị sử dụng lao động trong việc thực hiện công tác đảm bảo ATLĐ nhằm bảo vệ NLĐ khỏi các nguy cơ mất an toàn trong quá trình lao động và hạn chế tối đa TNLĐ Theo quan điểm của ILO thì hoạt động an toàn lao động bao gồm việc tuân thủ các yêu cầu về an toàn lao động theo đúng quy định của pháp luật và việc tuân thủ này là trách nhiệm và nghĩa

Trang 16

vụ của người sử dụng lao động, người lao động cần được chỉ đạo và cam kết thực hiện các hoạt động an toàn lao động cũng như là tạo điều kiện để thiết lập hệ thống an toàn lao động tại cơ sở

Bàn về “Thế nào là an toàn lao động?” hiện nay trên thế giới, hầu hết các hệ thống pháp luật khi quy định về vấn đề an toàn tại nơi làm việc đều đưa ra khái niệm gộp chung “An toàn lao động” và “Vệ sinh lao động” với từ vựng thường dùng là “Occupational safety and health” có nghĩa là “An toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp”

“Sức khỏe nghề nghiệp” theo định nghĩa tại Công ước số 155 của ILO thì sức khỏe, liên quan đến công việc không chỉ là trạng thái không có bệnh tật mà còn bao gồm cả những yếu tố về thể chất và tinh thần có tác động đến sức khỏe và có liên quan trực tiếp đến ATLĐ [37] Nhận thức về “sức khỏe nghề nghiệp” đã được ILO và WHO đưa ra lần đầu tiên vào năm 1950 và khái niệm này đã được hoàn thiện hơn tại kỳ họp thứ mười hai vào năm 1995 Theo đó, một môi trường làm việc đảm bảo được “Sức khỏe nghề nghiệp” cho người lao động là nơi mà ở đó đáp ứng được đầy đủ những nội dung sau: duy trì và nâng cao sức khỏe, khả năng lao động của NLĐ; cải thiện môi trường làm việc và phát triển văn hóa làm việc theo hướng đảm bảo sức khỏe

và an toàn tại nơi làm việc Như vậy có thể thấy đảm bảo “Sức khỏe nghề nghiệp” cho NLĐ cũng đồng nhất với việc thúc đẩy và duy trì một môi trường làm việc phù hợp với tâm lý và sinh lý của từng NLĐ, bảo vệ NLĐ khỏi các rủi ro từ việc làm của họ từ những yếu tốt bất lợi cho sức khỏe

Xét tại một số quốc gia dẫn đầu trong việc nghiên cứu và áp dụng những chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo sức khỏe và an toàn tính mạng cho NLĐ như: Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, cụ thề:

Luật ATVSLĐ của Mỹ (Occupational safety and Health Act of 1970) không đưa ra định nghĩa ATVSLĐ mà định nghĩa về tiêu chuẩn ATVSLĐ

Trang 17

Theo đó, tiêu chuẩn về ATVSLĐ là một tiêu chuẩn yêu cầu phải có điều kiện, được thừa nhận hoặc sử dụng một hoặc nhiều hoạt động, phương tiện, phương pháp, các quy trình hợp lý, cần thiết hoặc thích hợp để cung cấp một công việc và môi trường làm việc an toàn và lành mạnh [29]

Tại Hàn Quốc, các nhà làm luật không đưa ra một định nghĩa cụ thể

về ATLĐ hay VSLĐ mà trực tiếp đưa ra những quy định về BNN và TNLĐ với mục đích duy trì và thúc đẩy môi trường làm việc an toàn cho NLĐ thông qua việc xây dựng và đảm bảo thực hiện những tiêu chuẩn về

an toàn và sức khỏe nghề nghiệp [27] Tại Nhật Bản, Luật An toàn và sức khỏe công nghiệp và Luật Tiêu chuẩn Lao động là hai quy định chung lớn nhất trong việc đảm bảo an toàn và sức khỏe nghề nghiệp cho NLĐ, theo

đó quy định về TNLĐ được đưa ra cùng với hệ thống những tiêu chuẩn về phòng ngừa những yếu tố nguy hiểm tại nơi làm việc, trách nhiệm của các thành viên trong quan hệ lao động [28]

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 Luật an toàn vệ sinh lao động năm

2015 của Việt Nam, “An toàn lao động là giải pháp phòng, chống tác động

của các yếu tố nguy hiểm nhằm bảo đảm không xảy ra thương tật, tử vong đối với con người trong quá trình lao động” Với tư cách là luật chuyên ngành,

Luật an toàn vệ sinh lao động đã tiếp cận khái niệm “An toàn lao động” dưới góc độ là một chế định pháp luật, là tổng hợp những quy phạm pháp luật quy định các biện pháp phòng, tránh những sự cố có khả năng gây nguy hại cho con người trong quá trình lao động cũng như là biện pháp khắc phục những hậu quả của TNLĐ và cải thiện điều kiện lao động cho NLĐ

Các nhà ngôn ngữ học lại tiếp cận khái niệm “An toàn lao động” thuần

túy dưới góc độ ngôn ngữ Theo đó, An toàn là “Yên ổn hẳn, tránh được tai

nạn, tránh được thiệt hại”; Lao động là “Hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội” [19] và

Trang 18

“An toàn lao động” chính là tình trạng của điều kiện làm việc mà theo đó quá trình hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra những sản phẩm vật chất, tinh thần được diễn ra một cách yên ổn, tránh được những tai nạn hay thiệt hại có thể xảy ra

Trong phạm vi của luận văn này, khi nghiên cứu về những vấn đề pháp lý về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động thì cần xem xét

“An toàn lao động là một trạng thái của các điều kiện lao động mà khi đạt được thì người lao động sẽ không phải đối mặt với bất kỳ mối nguy hại nào trong quá trình làm việc [15], trạng thái này chỉ có thể đạt được khi có sự tuân thủ đầy đủ các yêu cầu của pháp luật của tất cả các bên liên quan”

1.1.2 Sự cần thiết của việc đảm bảo an toàn lao động cho người lao động

Sự phát triển của xã hội loài người luôn gắn liền với lao động Theo quan điểm của Triết gia Friedrich Engels cũng như của đa phần các nhà khoa học hiện đại thì lao động giữ vai trò quyết định trong việc thúc đẩy quá trình tiến hóa của loài Vượn sang Người Nếu như trước kia, thông qua lao động loài người cổ xưa hoàn thiện về mặt thể chất thì ngày nay, thông qua lao động con người tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Xã hội có cơm ăn, áo mặc, nhà ở

là nhờ người lao động Xây dựng giàu có, tự do dân chủ cũng là nhờ người lao động Tri thức mở mang, cũng nhờ lao động Vì vậy lao động là sức chính của sự tiến bộ của xã hội loài người” [18] Hiểu một cách đơn giản thì lao

động hình thành nên xã hội loài người và xã hội loài người tồn tại, phát triển

là nhờ có lao động

Ngày nay, khi khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển với sự ra đời của hàng loạt máy móc, trang thiết bị lao động hiện đại, bên cạnh việc góp phần làm tăng năng suất lao động, thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển của xã hội thì kéo theo đó là sự phát sinh liên tục những hiểm họa, rủi ro đối với NLĐ

Trang 19

khiến cho NLĐ có thể dễ dàng bị TNLĐ Theo Giám đốc Văn phòng ILO Việt Nam, Tiến sĩ Chang – Hee Lee có phát biểu tại Lễ phát động Tháng an

toàn, vệ sinh lao động ngày 18 tháng 5 năm 2017: “Hàng năm trên thế giới có

khoảng 2,3 triệu người chết do TNLĐ và bệnh nghề nghiệp Số vụ TNLĐ chết người ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng chiếm tới 70% tổng số trên toàn cầu Không phải ở đâu xa xôi, những mối nguy hiểm này ở ngay xung quanh chúng ta Mỗi ngày, trên đường đi làm tôi đều đi qua một công trường xây dựng lớn Ở đó, nhiều công nhân đang mạo hiểm tính mạng khi làm việc

mà không sử dụng các phương tiện bảo hộ cá nhân đầy đủ Tôi tin rằng các quý vị ở đây cũng đều đã từng nhiều lần chứng kiến điều đó khi ngành xây dựng là ngành có nhiều TNLĐ chết người nhất tại Việt Nam” [33] Cụ thể với

những con số về số vụ TNLĐ tại Việt Nam theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì trong 06 tháng đầu năm 2017 trên cả nước đã xảy là 4.388 vụ TNLĐ (TNLĐ) làm 4.461 người bị tai nạn, trong đó số người chết là 418 người, số người bị thương nặng lên đến 843 người So sánh với 06 tháng cuối năm 2016, trên cả nước có 4.307 vụ TNLĐ làm 4.474 người bị tai nạn, 539 người chết và làm 1.098 người bị thương nặng ta có thể thấy sự biến động của những con số như sau:

Trang 20

Có thể thấy năm 2017 đã ghi nhận những diễn biến tích cực trong công tác cải thiện môi trường lao động, nâng cao tính an toàn trong lao động thể hiện qua số người bị tai nạn đã có dấu hiệu giảm và số lượng người bị chết, bị thương nặng đã giảm đáng kể Tuy nhiên, số vụ TNLĐ vẫn tăng và con số

418 người chết, 843 người bị thương nặng không phải là nhỏ Những ngành nghề lao động xảy ra nhiều vụ TNLĐ làm chết người gồm có: ngành Xây dựng (liên tục dẫn đầu về số vụ TNLĐ – năm 2016 tỷ lệ TNLĐ trong ngành này chiếm đến 23,8% trên tổng số vụ TNLĐ trong tất cả các ngành nghề); ngành khai thác khoáng sản; sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí chế tạo,…

Đảm bảo ATLĐ chính là việc tạo ra và duy trì những điều kiện lao động an toàn bằng những biện pháp nhất định nhằm: đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho NLĐ; hạn chế tối đa sự xuất hiện của những vụ TNLĐ; chăm sóc, phục hồi và bồi dưỡng kịp thời nhằm duy trì sức khỏe cho NLĐ Trong đó, điều kiện lao động là tất cả những yếu tố về: kinh tế, xã hội, tự nhiên, khoa học kỹ thuật, quy trình công nghệ, phương tiện lao động, đối tượng lao động, môi trường lao động, con NLĐ; những yếu tố này sẽ tác động qua lại lẫn nhau và tạo nên những điều kiện nhất định cho hoạt động tạo ra của cải vật chất và tinh thần của con người Đảm bảo tính an toàn của các điều kiện lao động là một nhiệm vụ hàng đầu không chỉ của riêng mỗi doanh nghiệp mà còn là của toàn thể xã hội bởi:

Thứ nhất, trên thế giới hiện nay, số lượng người đang trong độ tuổi lao

động chiếm hơn một nửa dân số, đây là lượng chính đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế - xã hội do vậy việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ – những người đang hàng ngày phải đối mặt với nguy cơ TNLĐ, suy giảm sức khỏe là nhiệm vụ vô cùng quan trọng Đảm bảo ATLĐ chính là đảm bảo an toàn sức khỏe, tính mạng cho chính con người khi tham gia vào quá trình lao động Con người tạo dựng nên xã hội, là chủ thể lao động đồng thời lại là động lực

Trang 21

và mục tiêu của sự phát triển do đó đảm bảo an toàn cho NLĐ là điều hiển nhiên cần phải thực hiện

Thứ hai, nếu như trước đây khi mà khoa học công nghệ chưa thực sự

phát triển, số vụ TNLĐ cũng không nhiều thì ngày nay TNLĐ lại là một vấn

đề nhức nhối, luôn có xu hướng gia tăng cả về số lượng lẫn tính phức tạp Do vậy việc đảm bảo ATLĐ phải liên tục được duy trì nhằm kịp thời thích ứng và hạn chế mọi rủi ro mới có thể phát sinh

Thứ ba, trong phạm vi từng quốc gia thì việc đảm bảo ATLĐ còn

mang ý nghĩa chính trị khi mà công tác đảm bảo ATLĐ được thực hiện tốt cũng thể hiện được sự quan tâm của mỗi Nhà nước đối với vấn đề đảm bảo sức khỏe cho NLĐ, biểu hiện tinh thần vì cộng đồng, quan điểm quý trọng con người của Bộ máy cầm quyền Bên cạnh lợi ích chính trị đối với một quốc gia thì ATLĐ cũng là một trong những yếu tố làm nên tên tuổi của một doanh nghiệp Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế khi mà thuật ngữ CSR - Corporate social responsibility đã trở nên phổ biến thì việc thực hiện các chính sách xã hội của doanh nghiệp không chỉ còn là nghĩa vụ của doanh nghiệp mà còn là tiêu chí để doanh nghiệp cạnh tranh tồn tại hay không tồn tại trên thương trường quốc tế Nếu một doanh nghiệp có số lượng NLĐ bị TNLĐ quá lớn thì hình ảnh, uy tín của bản thân doanh nghiệp cũng sẽ

bị ảnh hưởng đáng kể và việc mất mát những đơn hàng hay khách hàng tiềm năng là điều dễ dàng có thể xảy ra

Thứ tư, việc đảm bảo ATLĐ cũng mang ý nghĩa xã hội khi mỗi NLĐ

đồng thời cũng chính là một thành viên của xã hội Lúc này, đảm bảo ATLĐ, chăm lo cho đời sống của NLĐ cũng chính là chăm lo cho sự phát triển của xã hội Mỗi cá nhân mạnh khỏe với kỹ năng nghề tương xứng sẽ góp phần tạo nên sự phát triển bền vững của toàn xã hội

Trang 22

Thứ năm, đảm bảo an toàn lao động đem lại lợi ích kinh tế, đây là

nguyên do cuối cùng cho sự cần thiết của việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ và cũng là nguyên nhân thực tế, dễ nhận biết nhất Trong một môi trường làm việc với những điều kiện lao động được đảm bảo an toàn, NLĐ sẽ dễ dàng có được trạng thái tinh thần cũng như là sức khỏe tốt nhất và kéo theo đó là năng suất, chất lượng lao động cũng tăng lên, góp phần chính cho việc hoàn thành

kế hoạch sản xuất một cách hiệu quả, tạo ra được lợi nhuận tối đa Thêm vào

đó, khi xảy ra TNLĐ thì không chỉ bản thân NLĐ phải chịu những mất mát, đau đớn cả về thể chất lẫn tinh thần thì NSDLĐ cũng phải gánh chịu những thiệt hại nhất định khi mà chi phí phải bỏ ra để bồi thường cho NLĐ, sửa chữa nhà xướng, máy móc, thiết bị hay bù đắp nguyên liệu bị hao hụt,…

Như vậy, đảm bảo ATLĐ cho NLĐ là một chính sách kinh tế - xã hội lớn của bất kỳ một quốc gia nào, là một bộ phận không thể tách rời và vô cùng quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, góp phần bảo vệ sức khỏe cho NLĐ, nâng cao chất lượng sản phẩm

1.1.3 Những yêu cầu cơ bản của việc đảm bảo an toàn lao động cho người lao động

Thứ nhất, việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ trước hết phải đảm bảo tính

đồng bộ, toàn diện

Sự toàn diện và đồng bộ ở đây được thể hiện qua nhiều khía cạnh như: toàn diện trong sự tham gia của tất cả những đối tượng có liên quan đến công tác đảm bảo ATLĐ; đồng bộ trong việc thống nhất sử dụng một số nội dung chính như: biện pháp; kinh phí; vật tư; thời gian hoàn thành; phân công, tổ chức thực hiện khi lập kế hoạch BHLĐ đi kèm với kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm Để đảm bảo được ATLĐ thì phải có sự tham gia của bản thân NLĐ, NSDLĐ, của Nhà nước và của các tổ chức, cá nhân khác liên quan

NLĐ với tư cách là người trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, trực tiếp chịu sự tác động khi có sự mất an toàn xảy ra do vậy sự tham gia của

Trang 23

NLĐ trong công tác đảm bảo ATLĐ là không thể thiếu Nghĩa vụ của NLĐ đối với công tác ATLĐ là chấp hành các quy định về ATLĐ liên quan đến công việc; sử dụng và bảo quản phương tiện bảo hộ cá nhân; nghĩa vụ báo cáo kịp thời khi phát hiện nguy cơ mất an toàn và tham gia cấp cứu, khắc phục hậu quả TNLĐ

NSDLĐ với tư cách là người thuê mướn, quản lý NLĐ phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật liên quan đến ATLĐ như đảm bảo nơi làm việc đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc,…; thực hiện các biện pháp loại trừ, giảm thiểu rủi ro, nguy hiểm thông qua việc kiểm tra đinh kỳ

và đánh giá rủi ro thường xuyên; đảm bảo an toàn máy móc, thiết bị, nhà xưởng phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia hoặc những quy chuẩn

kỹ thuật khác đã được công bố; định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy móc, thiết bị và nhà xưởng…

Nhà nước tham gia vào việc đảm bảo ATLĐ, thống nhất quản lý đối với hoạt động này thông qua chức năng quản lý nhà nước Quản lý nhà nước trong lĩnh vực ATLĐ là một bộ phận của quản lý nhà nước về lao động Nhà nước thực hiện quyền quản lý và vai trò của mình thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý về an toàn – vệ sinh lao động, đưa ra những quy định về tiêu chuẩn trong lĩnh vực ATLĐ, đưa ra các quy định về phương tiện BHLĐ cho NLĐ, quy định về khám sức khỏe định kỳ, chế độ bồi dưỡng hiện vật, thời giờ làm việc thời giờ nghỉ ngơi và quy định về biện pháp khắc phục, xử lý hậu quả TNLĐ; đưa ra quy định an toàn riêng đối với NLĐ

là nữ, lao động chưa thành niên, người khuyết tật và người cao tuổi…; tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về an toàn, tiến hành thu thập, thống kê các thông tin về những vụ việc TNLĐ nhằm nâng cao ý thức của NLĐ và giới

sử dụng lao động đối với công tác ATLĐ

Tổ chức, đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ về ATLĐ;

hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc thiết lập các giải pháp ATLĐ cũng như là

Trang 24

một số trang thiết bị ATLĐ và khuyến khách phát triển các dịch vụ về ATLĐ thể hiện những chính sách của Nhà nước liên quan đến vấn đề ATLĐ Nhà nước còn tiến hành hợp tác quốc tế về ATLĐ thông qua việc gia nhập các công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và học hỏi kinh nghiệm thực hiện các chương trình, dự án về ATLĐ từ các tổ chức như Hiệp hội an toàn

Mỏ quốc tế, các quốc gia như: Nhật Bản, Hà Quốc, CHLB Đức, Đan Mạch, các quốc gia trong khu vực ASEAN – OSHNET,…

Bên cạnh sự tham gia của NLĐ, NSDLĐ và Nhà nước thì công tác đảm bảo ATLĐ cũng ghi nhận sự tham gia của các tổ chức xã hội khác

Thứ hai, việc đảm bảo ATLĐ phải đảm bảo tính dự đoán trước những

nguy cơ gây mất ATLĐ

Khi xây dựng một chương trình hành động quốc gia nói chung và kế hoạch ATLĐ trong phạm vi doanh nghiệp nói riêng thì việc sự đoán trước các tình huống nguy hiểm có thể xảy ra để áp dụng những biện pháp phòng ngừa trước là vô cùng quan trọng, góp phần giảm thiểu đáng kể TNLĐ Ý tưởng

Dự đoán trước các tình huống nguy hiểm – Kizen Yochi (KY) được ra đời năm 1974 tại Nhật Bản và ngày nay vẫn còn được sử dụng dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau trong các doanh nghiệp Nhật Bản Với những ưu điểm nổi trội, phương pháp KY của Nhật Bản đã được bạn bè quốc tế học hỏi

và áp dụng với những biến thể khác nhau

Thứ ba, yêu cầu cuối cùng của việc đảm bảo ATLĐ cho NLĐ là đảm

bảo tính kịp thời

Kịp thời ở đây chính là kịp thời ứng phó nhằm triệt tiêu hiểm họa phát sinh vụ việc mất ATLĐ; kịp thời hỗ trợ, kịp thời giải quyết khi đã xảy ra vụ việc mất ATLĐ nhằm hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra Đây cũng là một yêu cầu quan trọng của công tác đảm bảo ATLĐ và việc yêu cầu này có được

đi vào hiện thực hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động huấn luyện, trang bị kiến thức về ATLĐ cho NLĐ

Trang 25

1.1.4 Những biện pháp nhằm đảm bảo an toàn lao động cho người lao động

Thứ nhất, công tác đảm bảo ATLĐ phải được thực hiện một các đồng

bộ, thống nhất trên cả nước do vậy biện pháp đầu tiên cần được nhắc tới chính

là xây dựng chính sách, chương trình quốc gia và thiết lập hệ thống quy định nhằm đảm bảo ATLĐ, đây có thể nói là biện pháp mang tính hệ thống, làm kim chỉ nam cho hoạt động đảm bảo ATLĐ

Tại mỗi quốc gia và đặc biệt đối với những quốc gia là thành viên của Tổ chức lao động quốc tế ILO thì xây dựng chính sách, chương trình hành động quốc gia và thiết lập hệ thống các quy định là nhiệm vụ đầu tiên cần phải thực hiện

Chính sách quốc gia về ATLĐ theo quy định tại Điều 3 Công ước ILO số

187 về cơ chế tăng cường công tác an toàn, vệ sinh lao động được xây dựng với mục tiêu tăng cường môi trường làm việc an toàn và lành mạnh trên cơ sở tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện của NSDLĐ và NLĐ góp phần tăng cường

và thúc đẩy quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ, tăng cường các nguyên tắc cơ bản như đánh giá, phòng ngừa rủi ro, xây dựng văn hóa quốc gia về ẢTLĐ thông qua các hoạt động thông tin, tư vấn và huấn luyện Là một thành viên của ILO đồng thời vào ngày 23/01/2014 cũng đã phê chuẩn và tham gia Công ước số 187, khi xây dựng nên những quy định pháp luật về ATLĐ Việt Nam đã ghi nhận nội dung về Chính sách của Nhà nước về ATLĐ ngay tại Điều

4 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 Việc thực hiện chính sách quốc gia

sẽ được đưa vào thực thi trên thực tế đồng thời những chính sách này sẽ được kiểm soát, đánh giá và xem xét thông qua việc xây dựng và thực hiện các chương trình quốc gia về ATLĐ hàng năm

Về yêu cầu xây dựng hệ thống quốc gia về ATLĐ, tại Công ước ILO số

187 có quy định “Mỗi nước thành viên phải thiết lập, duy trì và phát triển

Trang 26

không ngừng và định kỳ xem xét hệ thống quốc gia về an toàn và vệ sinh lao động, có tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện của người sử dụng lao động và người lao động” Hệ thống quốc gia về ATLĐ phải bao gồm những

nội dung chính sau:

- Luật và hệ thống các tiêu chuẩn ATLĐ tại nơi làm việc, các thỏa ước lao động tập thể và tất cả những văn kiện có liên quan đến hoạt động đảm bảo ATLĐ Theo đó mỗi quốc gia đều cần xây dựng hệ thống pháp luật riêng nhằm về ATLĐ có như vậy hoạt động đảm bảo ATLĐ mới đạt được hiệu quả cao nhất Hiện nay tại hầu hết các hệ thống pháp luật về ATLĐ của các quốc gia trên thế giới đều đã hoàn thiện; Việt Nam với Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 cùng một loạt các văn bản chuyên ngành quy định về ATLĐ; Hàn Quốc với Luật An toàn và sức khỏe công nghiệp bên cạnh đó còn có Luật Quan hệ lao động, Luật Tiêu chuẩn lao động, Luật Đảm bảo việc làm,…

- Tại mỗi quốc gia đều phải thành lập các cơ quan chuyên trách, các tổ chức chịu trách nhiệm về vấn đề đảm bảo ATLĐ, tùy theo luật pháp và thực tiễn của mỗi quốc gia thì sẽ có những tên gọi khác nhau Ở Việt Nam có Cục

an toàn lao động trực thuộc Bộ lao động thương binh và xã hội giữ vai trò chủ chốt trong công tác đảm bảo ATLĐ trên cả nước; ở Hàn quốc có Cơ quan An toàn vệ sinh lao động Hàn Quốc (KOSHA); ở Nhật Bản có Hiệp hội An toàn

và vệ sinh lao động công nghiệp Nhật Bản (JISHA);…

- Các cơ chế nhằm đảm bảo việc tuân thủ quy định của quốc gia về đảm bảo ATLĐ bao gồm hệ thống thanh tra và xử lý vi phạm đối với những hành

Trang 27

Thứ hai, nhóm các biện pháp mang tính thông tin, tuyên truyền, giáo

dục ý thức và huấn luyện kỹ năng ATLĐ

Trong công tác đảm bảo ATLĐ thì hoạt động đưa những thông tin thực

tế về tình hình ATLĐ, những con số về số vụ TNLĐ trên thực tế, số người chết hay bị thương trong quá trình lao động do không tuân thủ những quy định về ATLĐ có ý nghĩa rất lớn trong việc giáo dục và nâng cao nhận thức cho người dân đối với việc đảm bảo ATLĐ Ngay tại khoản c Điều 11 Công ước số 155 về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường lao động của ILO năm 1981 đã có quy định: việc thống kê TNLĐ phải được tiến hành hàng năm, theo đó NSDLĐ có trách nhiệm khai bảo TNLĐ và khi cần thiết thì các

cơ quan bảo hiểm hay các cơ quan liên quan trực tiếp khác cũng có trách nhiệm thống kê Công tác giáo dục, huẩn luyện ATLĐ cũng được đặc biệt quan tâm với quy định khuyến khích thúc đẩy việc đưa nội dung giáo dục ATLĐ vào mọi cấp giáo dục và đào tạo (Điều 15 Công ước số 15) đồng thời ghi nhận quyền được đào tạo thỏa đáng về ATLĐ của NLĐ và các đại diện của họ trong cơ sở sản xuất (Khoản d Điều 19)

Thứ ba, nhóm các biện pháp về bảo hộ lao động và ứng phó đối với các

trường hợp khẩn cấp

Nếu như việc xây dựng các Chính sách, chương trình quốc gia, thiết lập hành lang pháp lý hay thông tin, tuyên truyền và giáo dục, huấn luyện về ATLĐ mang ý nghĩa dự đoán, phòng ngừa những yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc thì BHLĐ và ứng phó đối với các trường hợp khẩn cấp chính là những biện pháp trực tiếp bảo vệ NLĐ chống lại những yếu tố nguy hại đó Trong công tác BHLĐ và ứng phó đối với các trường hợp khẩn cấp thì trách nhiệm chính thuộc về NSDLĐ, nhận định này được ghi nhận ở các văn bản quốc tế về ATLĐ cũng như là trong hệ thống pháp luật tại tất cả các quốc gia trên thế giới Có thể kể tên một số quy định quốc tế như: tại Khoản 3 Điều 16

Trang 28

Công ước số 155 quy định NSDLĐ có trách nhiệm trang bị bảo hộ lao động

và cũng tại Điều 18 Công ước này có quy định trách nhiệm của NSDLĐ trong việc tiến hành các biện pháp ứng phó với các trường hợp khẩn cấp bao gồm

cả việc bố trí các phương tiện cấp cứu thích hợp; đặc biệt trong Công ước số

174 của ILO về phòng ngừa tai nạn nghiêm trọng đã giành cả Chương II (từ Điều 7 đến điều 14) để quy định trách nhiệm của NSDLĐ trong việc thiết lập

và duy trì một hệ thống phòng ngừa và đảm bảo ATLĐ trong đó có trách nhiệm xây dựng các kế hoạch ứng phó với các trường hợp khẩn cấp và trang

bị bảo hộ cho NLĐ

1.2 Khái niệm, nội dung pháp luật về đảm bảo an toàn lao động

cho người lao động

1.2.1 Khái niệm pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động

Pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ được hiểu là tổng hợp những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực ATLĐ, quy định các tiêu chuẩn, quy chuẩn ATLĐ, các chế độ, chính sách với người bị TNLĐ và phân định trách nhiệm, quyền hạn của các tổ chức, cá nhân liên quan đến công tác đảm bảo ATLĐ Hệ thống pháp luật về ATLĐ trên thế giới là tổng hợp những quy định về ATLĐ trong các Công ước quốc tế đa phương, những điều ước quốc tế khu vực và trong pháp luật của từng quốc gia

Điều 25 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 ghi nhận quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nằm trong quyền có mức sống thích đáng của con người Do vậy, mỗi NLĐ với tư cách là một cá thể của xã hội trong quá trình lao động cũng có quyền được đảm bảo sức khỏe Hệ thống pháp luật

về ATLĐ ra đời có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sức khỏe, an toàn tính mạng cho con người nói chung và cho NLĐ nói riêng

Trang 29

Đảm bảo ATLĐ là một vấn đề mang tính toàn cầu do đó đòi hỏi phải

có sự phối hợp, hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia để đem lại hiệu quả tốt nhất Các Công ước quốc tế, Điều ước khu vực ra đời đã tạo nên cơ sở pháp lý để các quốc gia xây dựng nên cơ chế phối hợp, cùng nhau xác lập những quy tắc, chuẩn mực chung về ATVSLĐ nói chung và ATLĐ nói riêng, chia sẻ kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ, khoa học kỹ thuật vì mục tiêu chung là đảm bảo ATLĐ cho NLĐ Trên cơ sở những tiêu chuẩn chung, những kinh nghiệm được trao đổi, các quốc giá có thể tham khảo để xây dựng cho riêng mình chính sách, pháp luật về đảm bảo ATLĐ một cách phù hợp hoặc viện dẫn trực tiếp tới các văn bản pháp lý quốc tế trong quá trình tổ chức thực hiện Bên cạnh đó, những quy định quốc tế cũng có vai trò quan trọng trong việc làm thay đổi nhận thức của cộng đồng, góp phần xây dựng văn hóa an toàn trong lao động và sản xuất, hình thành nên ý thức an toàn cho mỗi NLĐ

Trong phạm vi một quốc gia, thông qua hệ thống pháp luật, nhà nước thực hiện quyền thống nhất quản lý trong lĩnh vực ATLĐ Thống nhất quản lý

là cần thiết bởi tình hình TNLĐ luôn diễn biến phức tạp và công tác đảm bảo ATLĐ có đạt được hiệu quả hay không lại phụ thuộc vào sự tham gia của rất nhiều bên từ NLĐ, người sử dụng lao động đến các tổ chức, cá nhân khác có liên quan Do vậy, việc thống nhất quản lý, xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn, quy định chung, một khung hành động để tất cả các bên cùng thực hiện là một việc cần phải làm Hệ thống pháp luật tạo nên môi trường pháp lý cho các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo ATLĐ, trở thành kim chỉ nam cho việc thiết lập những kế hoạch đảm bảo an toàn trong lao động trong phạm vi từng doanh nghiệp nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung Pháp luật về ATLĐ tại mỗi quốc gia cũng có vai trò quan trong việc đảm bảo thực hiện các tiêu chuẩn ATLĐ được thừa nhận trên toàn

Trang 30

thế giới và ban hành những tiêu chuẩn riêng phù hợp với đặc thù của đất nước Dưới sự bảo hộ của pháp luật, các tiêu chuẩn ATLĐ được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước, thông qua các biện pháp mang tính cưỡng chế nhà nước như: truy cứu trách nhiệm hình sự; xử phạt vi phạm hành chính Ngoài ra, pháp luật còn có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi vi phạm gây mất ATLĐ thông qua những quy định liên quan đến việc giám sát ATLĐ, kiểm định máy móc, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt

về ATLĐ, quy định về lập kế hoạch ATLĐ, quy định về huấn luyện ATLĐ và hoạt động thanh tra nhà nước trong lĩnh vực ATLĐ,…

1.2.2 Nội dung pháp luật về đảm bảo an toàn lao động cho người lao động

Như đã đề cập, hệ thống pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ được tiếp cận trên hai phạm vi là: Pháp luật quốc tế (các Công ước đa phương, các Điều ước khu vực,…) và pháp luật quốc gia Trong hệ thống pháp luật quốc tế hiện nay có những Công ước và Điều ước quy định về vấn đề đảm bảo ATLĐ như: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1979; Công ước về Quyền trẻ em năm 1989; Các Công ước số 155, 187 và 174 của ILO; Hiến chương Xã hội châu Âu năm 1981; Nghị định thư bổ sung Công ước Mỹ về nhân quyền; Hiến chương châu Phi về quyền của nhân dân và con người năm 1981;… Ở các quốc gia, pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ là một nội dung cơ bản trong pháp luật lao động ở mỗi nước Theo đó, mỗi quốc gia kế thừa các cam kết quốc tế về ATLĐ dưới những góc nhìn khác nhau nhưng gặp nhau ở một số nội dung cơ bản như:

Thứ nhất, thừa nhận quyền được làm việc trong môi trường an toàn

của mỗi NLĐ

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 là văn bản quốc tế đầu tiên công nhận một cách chính thức quyền được làm việc

Trang 31

trong môi trường an toàn của mỗi NLĐ Bản “Bình luận chung số 14” của Ủy ban về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa giải thích: Quyền được chăm sóc sức khỏe của con người được hiểu là quyền được thụ hưởng những cơ sở vật chất, hàng hóa, dịch vụ và tất cả những điều kiện cần thiết để đạt được tiêu chuẩn sức khỏe cao nhất Quyền này phải được thể hiện đầy đủ trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia và phải được hiện thực hóa thông qua những chính sách

y tế quốc gia với kế hoạch hành động chi tiết như: chính sách về đảm bảo sức khỏe nghề nghiệp, các tiêu chuẩn an toàn trong lao động,… Ở Trung Quốc,

Ủy ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc đề ra những quy định về an toàn vệ sinh lao động bao gồm 2 đạo luật chính đó là Luật phòng ngừa và kiểm soát bệnh nghề nghiệp và Luật về sản xuất an toàn Có hiệu lực từ ngày 01/5/2002,

Bộ Luật về phòng ngừa và kiểm soát bệnh nghề nghiệp của Cộng hòa dân chủ Trung Hoa là một văn bản quan trọng, đóng vai trò trong việc phòng ngừa, kiểm soát và đảm bảo an toàn lao động ở Trung Quốc trong đó cũng xác định các quyền được bảo vệ sức khỏe tại nơi làm việc của người lao động, các nghĩa vụ và nhiệm vụ của người sử dụng lao động trong việc bảo vệ người lao động Ngoài ra, luật này còn đưa ra những khái niệm cụ thể về các bệnh nghề nghiệp, đồng thời đề ra cách xử lý đối với người mắc bệnh

Thứ hai, yêu cầu xây dựng, áp dụng các tiêu chuẩn về ATLĐ cho NLĐ

Hệ thống các Công ước của ILO thiết lập khoảng 40 tiêu chuẩn về ATLĐ và sức khỏe nghề nghiệp, hơn 40 Bộ quy tắc để áp dụng trong thực tiễn cũng là một kênh tham khảo khá đầy đủ để các quốc gia có thể tham khảo

và áp dụng trên thực tế Ví dụ, một trong những nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong điều lệ hoạt động của ILO là người lao động phải được bảo vệ chống lại bệnh tật, ốm đau và tai nạn phát sinh từ việc làm Xuất phát từ nguyên tắc này, hàng loạt những công ước và chương trình hành động vì an

Trang 32

toàn và sức khỏe nghề nghiệp đã được xây dựng và thực hiện như: Công ước

số 155 về ATLĐ, VSLĐ và môi trường lao động năm 1981 áp dụng cho tất cả các ngành kinh tế; NLĐ và NSDLĐ của tất cả các nước thành viên [15] Theo

đó, việc xây dựng chính sách với mục đích phòng ngừa TNLĐ và những tổn thương sức khỏe phát sinh do công việc cần có sự tham khảo ý kiến của các bên liên quan như NLĐ, NSDLĐ Nội dung của chính sách ATLĐ của mỗi quốc gia phải bao gồm tất cả những vấn đề từ an toàn máy móc, huấn luyện

an toàn đến thông tin tuyên truyền,… và tất cả những nội dung này đều phải được định kỳ xem xét tính phù hợp với thực thực tế để có sự điều chỉnh phù hợp Hay như Công ước số 174 về phòng ngừa những TNLĐ nghiêm trọng được thông qua với mục đích ngăn ngừa các tai nạn nghiêm trọng liên quan đến các chất nguy hiểm và hạn chế hậu quả tai nạn [16] Công ước này được

áp dụng cho những cơ sở có nguy cơ xảy ra tai nạn nghiêm trọng với những nguyên tắc chung như: nguyên tắc yêu cầu phải tham khảo ý kiến của các tổ chức đại diện cho NLĐ, NSDLĐ trong việc xây dựng, thi hành và định kỳ xem xét lại chính sách quốc gia trong việc bảo vệ con người khỏi những tai nạn nghiêm trọng Năm 2006, Công ước 187 về cơ chế tăng cường công tác ATVSLĐ được thông qua với mục tiêu cải thiện không ngừng tình trạng an toàn và vệ sinh lao động để ngăn chặn TNLĐ, BNN và tử vong do lao động

Tại Philipin, những quy định về áp dụng tiêu chuẩn ATLĐ được lồng ghép trong Bộ luật lao động năm 1947 Mặc dù không được tách riêng ra nhưng những nội dung về đảm bảo ATLĐ cũng được đề cập khá đầy đủ (từ Điều 156 đến Điều 210) gồm các quy định về: “Hội đồng đền bù cho NLĐ”

để giải quyết các chế độ liên quan đến quan hệ lao động; các chế độ an toàn, sức khỏe và phúc lợi xã hội cho NLĐ [39]

Tại Nhật Bản, vấn đề áp dụng quy định về đảm bảo ATLĐ được quy định riêng trong Luật an toàn và sức khỏe công nghiệp gồm 12 Chương, 123

Trang 33

Điều và 22 Phụ lục Trong đó đưa ra các quy định về xây dựng kế hoạch phòng ngừa TNLĐ; tổ chức quản lý an toàn và sức khỏe; đưa ra các biện pháp phòng ngừa các mỗi nguy hiểm hoặc nguy cơ làm giảm sức khỏe NLĐ; quy định về an toàn máy móc, hóa chất; các biện pháp bố trí nơi làm việc cũng như là các biện pháp duy trì và tăng cường sức khỏe của NLĐ [28]…

Thứ ba, xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn ATLĐ trong từng ngành

Bên cạnh những Công ước mang tính hoạch định chính sách chung thì ILO còn ban hành những công ước về an toàn trong một số lĩnh vực tiêu biểu như Công ước số 167 về an toàn và sức khỏe trong ngành xây dựng Phạm vi

áp dụng của Công ước này là tất cả các hoạt động trong xây dựng như: xây cất, công trình xây dựng, kể cả dựng lên và tháo dỡ, bao gồm cả cách thức tiến hành, việc điều hành hay vận chuyển tại một địa điểm xây dựng, từ lúc chuẩn bị địa điểm đến lúc hoàn thành dự án Trong phần nội dung, Công ước yêu cầu hệ thống pháp luật của mỗi thành viên phải có quy định rõ ràng về: quyền cũng như là nghĩa vụ của công nhân trên công trường xây dựng; quy định về nguyên tắc quản lý lao động trên công trường xây dựng (luôn phải có

ít nhất hai người quản lý lao động cùng hoạt động trên công trường xây dựng); quy định về các biện pháp bảo vệ và phòng ngừa rủi ro tại nơi làm việc (những yêu cầu về giàn giáo và thang; yêu cầu về thiết bị và cơ cấu nâng; yêu cầu về phương tiện vận tải, chuyên chở đất, vật liệu; yêu cầu khi làm việc trong môi trường nước; yêu cầu về chiếu sáng; yêu cầu về chăm sóc sức khỏe;

giáo dục an toàn và báo cáo về các tan nạn….) [38]

Ngoài những Công ước nêu trên thì ILO còn ban hành rất nhiều Công ước khác có liên quan đến ATVSLĐ trong lĩnh vực ngành như: Công ước 152

về an toàn và sức khỏe đối với việc làm ở hải cảng; Công ước số 176 về an toàn sức khỏe trong các hầm mỏ…

Trang 34

Ở Singapore, Luật An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc có hiệu lực

từ ngày 1/3/2006 là công cụ pháp lý chính tác động đến khuôn khổ An toàn

và sức khỏe tại nơi làm việc Theo đó, Luật nhấn mạnh tầm quan trọng của quản lý chủ động An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc thông qua việc yêu cầu các bên liên quan thực hiện các biện pháp khả thi hợp lý để đảm bảo an toàn và sức khỏe của người lao động và những người khác do ảnh hưởng bởi công việc đang được thực hiện [30] Cùng với đó, là 26 văn bản dưới luật của Luật An toàn và sức khỏe tại nơi làm việc cũng cung cấp các tiêu chuẩn cụ thể đối với những công việc rủi ro cao hơn mà những ngành này phải tuân thủ Gần đây ở Singapore có 39 bộ quy tắc ứng xử được thông qua và rất nhiều hướng dẫn nhằm cung cấp những hướng dẫn về an toàn và sức khỏe cho từng lĩnh vực cụ thể

Thứ tư, ghi nhận và đảm bảo thực thi các biện pháp phòng, chống các

yếu tố nguy hại cho người lao động

Trong quá trình lao động, việc dự đoán được những nguy cơ gây mất

an toàn và áp dụng những biện pháp phòng ngừa cần thiết sẽ góp phần chủ yếu vào việc giảm số vụ tai nạn cho NLĐ do đó thông thường đây là một trong những nội dung có vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật về ATLĐ

ở mỗi quốc gia Các biện pháp phòng, chống ở đây có thể kể đến: hoạt động thông tin tuyên truyền, giáo dục và huấn luyện ATLĐ; chế độ BHLĐ, Tại Hàn Quốc, trong Luật an toàn và sức khỏe công nghiệp có dành hẳn Chương

IV để quy định về các biện pháp phòng ngừa tai nạn, rủi ro nhằm đảm bảo trách nhiệm của các nhà chức trách trong công tác đảm bảo ATLĐ và giúp NLĐ được tiếp cận với những biện pháp phòng tránh rủi ro có hiệu quả tại nơi làm việc Cũng tương tự như vậy, trong Luật an toàn và sức khỏe công nghiệp của Nhật Bản có dành ra Chương IV để quy định về các biện pháp phòng ngừa các mối nguy hiểm hoặc nguy cơ làm suy giảm sức khỏe NLĐ

Trang 35

Thứ năm, yêu cầu sử dụng các biện pháp kiểm soát và áp dụng chế tài

xử lý đối với những hành vi vi phạm

Pháp luật về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ bên cạnh việc ghi nhận quyền được làm việc trong môi trường an toàn của NLĐ, đưa ra những tiêu chuẩn an toàn, các biện pháp phòng ngừa tai nạn thì cũng không thể thiếu nội dung về các biện pháp kiểm soát hoạt động áp dụng pháp luật và các chế tài xử lý nhằm tăng tính răn đe từ đó giúp tăng ý thức chấp hành luật Xét ngay tại

Điều 9 Công ước số 155 có quy định: “(1) Việc thi hành pháp luật và pháp

quy về an toàn lao động, vệ sinh lao động và môi trường làm việc phải được bảo đảm bằng một hệ thống thanh tra thích hợp, hoạt động có hiệu quả (2)

Hệ thống thi hành pháp luật phải quy định các h́ ình thức xử phạt thích đáng đối với những trường hợp vi phạm pháp luật và pháp quy” Với mục đích thể

chế hóa quy định này đồng thời cũng là để hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thi hành cho hệ thống pháp luật, các quốc gia thành viên của ILO như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Việt Nam đều đã xây dựng được hệ thống các quy định

về thanh tra lao động và các chế tài xử lý đối với từng hành vi vi phạm trên cơ

sở phù hợp với điều kiện của quốc gia mình

Trang 36

Việt Nam với tư cách là một thành viên trong cộng đồng quốc tế và với việc Chủ tịch nước ra Quyết định số 193/QĐ-CTN ngày 30 tháng 5 năm 1994 phê chuẩn 12 công ước của ILO trong đó có Công ước số 155 và lần lượt những năm sau đó phê chuẩn các Công ước khác của ILO như 174, 187 thì trách nhiệm của chúng ta chính là phải xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật về ATLĐ trên cơ sở tuân thủ theo nội dung của những Công ước cũng như Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên góp phần hoàn thiện

hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về ATLĐ nói riêng Có hoàn thành tốt được nhiệm vụ này thì Việt Nam mới có thể vững vàng trong công cuộc hội nhập với kinh tế thế giới, cải thiện môi trường lao động và phát triển nền kinh tế thị trường vững mạnh

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM

VỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN LAO ĐỘNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ

THỰC TIỄN THI HÀNH TRONG NGÀNH XÂY DỰNG

2.1 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về đảm bảo an toàn

lao động cho người lao động

2.1.1 Quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể liên quan

Nội dung này được quy định tại Điều 138 Bộ luật lao động năm 2012

và Điều 6, 7 Luật an toàn, vệ sinh lao động năm 2015 Đây là nội dung rất cần thiết nhằm giúp các bên trong quan hệ lao động hiểu và thực hiện đúng được bổn phận, trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo ATLĐ đồng thời cũng tạo nên cơ sở pháp lý để xác định trách nhiệm khi có sự cố về ATLĐ xảy ra

Quyền và nghĩa vụ của NSDLĐ

NSDLĐ có nghĩa vụ xây dựng, tổ chức thực hiện và phối hợp với các

cơ quan tổ chức trong việc đảm bảo ATLĐ tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình; tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật ATLĐ; thực hiện các biện pháp giảm thiểu rủi ro, nguy hiểm; tổ chức huấn luyện, hướng dẫn, chỉ dẫn NLĐ và tổ chức lấy ý kiến NLĐ về kế hoạch và hoạt động đảm bảo ATLĐ Bên cạnh nghĩa vụ, NSDLĐ còn có quyền yêu cầu NLĐ phải chấp hành các nội quy về ATLĐ tại nơi làm việc; huy động NLĐ tham gia ứng cứu khẩn cấp, khắc phục sự cố TNLĐ cũng như là khiếu nại, tố các hoặc khởi kiện khi phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật về ATLĐ Có thể thấy trong quan hệ lao động, NSDLĐ với tư cách là chủ thuê mướn, nắm ưu thế quyết định và là chủ thể chính trong công tác xây dựng một môi trường làm việc an toàn do đó vấn đề nghĩa vụ của NSDLĐ trong công tác đảm bảo ATLĐ phải được chú trọng nhiều hơn Tuy nhiên trên thực tế ghi nhận trong những quy

Trang 38

định của pháp luật thì nội dung nghĩa vụ của NSDLĐ trong trường hợp này lại quá chung chung và gần như là không có cơ chế đảm bảo thực hiện do đó

tính hiệu quả của quy định chưa cao

Quyền và nghĩa vụ của NLĐ

NLĐ khi làm việc theo hợp đồng lao động có quyền được đảm bảo ATLĐ, được cung cấp thông tin đầy đủ về các yếu tố nguy hiểm, có hại tại nơi làm việc và được hướng dẫn những biện pháp để phòng tránh; được thực hiện chế độ BHLĐ và chăm sóc sức khỏe; được quyền yêu cầu NSDLĐ bố trí công việc phù hợp với sức khỏe và từ chối làm những công việc có nguy cơ gây mất ATLĐ; có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật Nếu như quyền được đảm bảo an toàn khi làm việc của NLĐ là đương nhiên thì NLĐ cũng cần phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo ATLĐ Nghĩa vụ của NLĐ được chia thành ba nhóm chính: nhóm nghĩa vụ tuân thủ những quy định về ATLĐ do NSDLĐ đưa ra tại nơi làm việc cũng như là tuân thủ những quy định khác của pháp luật về đảm bảo ATLĐ; nhóm nghĩa vụ bảo quản, giữ gìn các trang bị BHLĐ cá nhân đã được trang bị và nhóm nghĩa vụ liên quan đến việc thực hiện chế độ báo cáo khi phát hiện nguy cơ mất an toàn và nghĩa vụ tham gia khắc phục sự cố, TNLĐ theo yêu cầu của NSDLĐ Xét thấy, NLĐ với vị trí là bên yếu thế hơn trong quan hệ lao động do đó trong công tác đảm bảo ATLĐ luôn được trao nhiều quyền hơn là nghĩa vụ Tất cả những quyền của NLĐ đều được đề cập tương đối đầy

đủ trên tinh thần quyền của NLĐ phải tương xứng với nghĩa vụ của NSDLĐ

2.1.2 Quy định về các biện pháp phòng ngừa các yếu tố nguy hiểm,

có hại cho người lao động

Thông tin, tuyên truyền, giáo dục về ATLĐ

Thông tin về ATLĐ là một trong những nội dung bắt buộc phải thực hiện của NSDLĐ, ngay tại Khoản 2 Điều 146 Bộ luật lao động năm 2012 có

Trang 39

quy định cấm hành vi che giấu, khai báo hoặc khai báo sai sự thật về TNLĐ Việc thông tin đầy đủ cần phải được thực hiện tại nơi làm việc bởi NSDLĐ nhằm giúp NLĐ hiểu được rõ ràng tính chất nguy hiểm của công việc, tình trạng an toàn từ đó tự nâng cao ý thức trong việc thực hiện những biện pháp đảm bảo ATLĐ Trách nhiệm cung cấp thông tin về các biện pháp ATLĐ còn thuộc về nhà sản xuất khi cung cấp hàng hóa có khả năng gây mất an toàn cho người sử dụng Công tác tuyên truyền, giáo dục ATLĐ thuộc trách nhiệm của các đơn vị sử dụng lao động, các cơ quan nhà nước, các hộ gia đình cũng như

là các cơ quan thông tin đại chúng Theo đó, định kì những cá nhân, tổ chức có trách nhiệm cần tổ chức tuyên truyền, phổ biến kiến thức và kỹ năng về đảm bảo ATLĐ cho NLĐ; tuyên truyền, vận động xóa bỏ những hủ tục, thói quen gây nguy hại cho bản thân cũng như là cộng đồng trong quá trình lao động

Huấn luyện ATLĐ

Huấn luyện ATLĐ là hoạt động có vai trò quan trọng nhất trong công tác đảm bảo ATLĐ Trách nhiệm tổ chức huấn luyện ATLĐ trực tiếp thuộc về NSDLĐ, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định điều kiện tổ chức dịch vụ huấn luyện ATLĐ; nội dung huấn luyện; tiêu chuẩn huấn luyện viên và danh mục những công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ Việc huấn luyện về ATLĐ

là yêu cầu bắt buộc, giúp cho cả NLĐ, NSDLĐ và các chủ thể khác liên quan đến quá trình lao động có được những hiểu biết về vai trò, tầm quan trọng, lợi ích và các biện pháp ATLĐ từ đó giúp cho công tác đảm bảo ATLĐ đạt được hiệu quả cao, tránh được những rủi ro về tính mạng, sức khỏe của NLĐ cũng như là tránh được những xung đột không đáng có trong lao động

Chế độ BHLĐ, chăm sóc sức khỏe cho NLĐ

Chế độ BHLĐ được thực hiện thông qua việc NLĐ được cung cấp những phương tiện bảo vệ cá nhân trong quá trình lao động Trang bị phương

Trang 40

tiện bảo vệ cá nhân là nội dung quan trọng của công tác BHLĐ được Nhà nước ta quan tâm thể hiện trong chính sách, quy định của pháp luật ngay từ buổi đầu thành lập Theo đó, NLĐ, đặc biệt là NLĐ làm công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại được trang bị những thiết bị bảo hộ như: quần áo, mũ, giày, găng tay, kính,… các phương tiện bảo vệ khi lặn, bơi, làm việc trên cao hay trong môi trường từ trường,… Người sử dụng là động phải chịu trách nhiệm chi trả cho việc mua sắm, sản xuất để trang bị đầy đủ cho NLĐ các trang thiết bị bảo hộ đạt tiêu chuẩn về chất lượng trong quá trình làm việc Đồng thời chính NLĐ cũng phải có trách nhiệm sử dụng trang thiết bị BHLĐ đúng mục đích, không được bán hay sử dụng vào mục đích cá nhân

Quy định về chế độ chăm sóc sức khỏe

Đây là một trong những hoạt động được thực hiện với mục đích tạo nên một môi trường làm việc an toàn cho NLĐ Việc chăm sóc sức khỏe được thực hiện xuyên suốt từ khâu tuyển chọn NLĐ, hoạt động chăm sóc sức khỏe trong suốt quá trình lao động (quy định về khám sức khỏe định kỳ hàng năm) đến quy định về chăm sóc, điều trị cho NLĐ khi bị TNLĐ

Quy định về quản lý máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ

Danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ được Bộ lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Khi sử dụng những phương tiện lao động này, NSDLĐ có trách nhiệm lập phương án bảo quản, lưu giữ theo quy định của pháp luật cũng như tuân thủ quy định về kiểm định an toàn định kỳ đối với những phương tiện này Hoạt động kiểm định an toàn thiết bị là bước đầu tiên trong công tác phòng ngừa các yếu tố nguy hại và TNLĐ, giúp đánh giá đúng tính chất, mức độ nguy hiểm, mức độ an toàn cho người sử dụng để từ đó đưa ra phương án sử dụng an toàn Trong quá trình sử dụng những loại máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn cần thao tác chuẩn xác theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tuyệt đối tuân thủ những quy định về an toàn

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w