Tuy nhiên, rủi ro cho vay bằng TCTS thường phát sinh do khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng đúng hạn như đã cam kết, trong khi tài sản thế chấp không được kiểm soát một cách c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
PH¸P LUËT KIÓM SO¸T CHO VAY B»NG THÕ CHÊP TµI S¶N
ë C¸C NG¢N HµNG TH¦¥NG M¹I Cæ PHÇN ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ QUỲNH TRANG
PH¸P LUËT KIÓM SO¸T CHO VAY B»NG THÕ CHÊP TµI S¶N
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Quỳnh Trang
Trang 4SOÁT CHO VAY BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN 6 1.1 Khái luận về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân
hàng thương mại cổ phần 6
1.1.1 Khái lược về cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại
cổ phần 6 1.1.2 Những vấn đề cơ bản về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản
ở ngân hàng thương mại cổ phần 12
1.2 Khái luận về pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài
sản ở ngân hàng thương mại cổ phần 19
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở
ngân hàng thương mại cổ phần 19 1.2.2 Nội dung của pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài
sản ở ngân hàng thương mại cổ phần 20 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHO VAY
BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 34 2.1 Khái quát hệ thống các ngân hàng thương ma ̣i cổ phần và
nguồn luật điều chỉnh về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại các ngân hàng thương ma ̣i cổ phần ở Việt Nam 34
Trang 52.1.1 Khái quát hệ thống các ngân hàng thương ma ̣i cổ phần ở Việt Nam 34
2.1.2 Một số nguồn luật chủ yếu điều chỉnh về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại các ngân hàng thương ma ̣i cổ phần ở Việt Nam 35
2.2 Thực trạng pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 36
2.2.1 Thực trạng pháp luật về chủ thể kiểm soát 36
2.2.2 Thực trạng pháp luật về đối tượng bị kiểm soát 44
2.2.3 Thực trạng pháp luật về nội dung kiểm soát 47
2.2.4 Thực trạng pháp luật về quy trình kiểm soát 56
2.2.5 Thực trạng pháp luật về xử lý vi phạm 58
2.2.6 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp 63
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam 67
2.4 Đánh giá thực trạng pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 71
2.4.1 Ưu điểm 71
2.4.2 Tồn tại 73
2.4.3 Nguyên nhân 81
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 85
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT CHO VAY BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT NAM 86
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại cổ phân ở Việt Nam trong thời gian tới 86
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản t ại các ngân hàng thương ma ̣i cổ phần ở Việt Nam 88
3.2.1 Hoàn thiện một số quy định pháp luật làm căn cứ để kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần 89
Trang 63.2.2 Hoàn thiện quy định về kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương
mại cổ phần trong hoạt động cho vay bằng thế chấp tài sản 99
3.3 Một số kiến nghị thực hiện giải pháp 103
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106
KẾT LUẬN 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7TCTS Thế chấp tài sản
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa để giải quyết nhu cầu phân phối vốn, nhu cầu thanh toán phục vụ cho phát triển, mở rộng sản xuất kinh doanh của các cá nhân, tổ chức kinh tế với đặc thù kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ NHTM là trung gian tài chính của nền kinh tế, thực hiện huy động các nguồn vốn và sử dụng các nguồn vốn huy động này để thực hiện cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế
và các dịch vụ ngân hàng nhằm tạo ra lợi nhuận Trong các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cho vay là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất vì nó giúp tạo ra lợi nhuận cao nhất cho NHTM Việc sử dụng tài sản bảo đảm trong hoạt động tín dụng cũng được các NHTM đặt lên hàng đầu để làm cơ sở đảm bảo cho khoản vay, nhằm hạn chế rủi ro cho chính ngân hàng thương mại Tuy nhiên, rủi ro cho vay bằng TCTS thường phát sinh do khách hàng vay không trả được nợ cho ngân hàng đúng hạn như đã cam kết, trong khi tài sản thế chấp không được kiểm soát một cách chặt chẽ cũng có thể dẫn đến việc không xử lý được tài sản thế chấp khiến ngân hàng không thu hồi được vốn vay, từ đó có thể dẫn đến khả năng mất thanh toán của ngân hàng do không thanh toán các khoản huy động đầu vào Để hạn chế và ngăn ngừa rủi
ro trong hoạt động cho vay bằng TCTS, ngoài các biện pháp kỹ thuật nghiệp
vụ tín dụng thì việc thiết kế một hệ thống kiểm soát hiệu quả sẽ góp phần quan trọng trong việc kiểm soát, hạn chế rủi ro, đảm bảo an toàn trong hoạt động cho vay bằng TCTS, hạn chế được tối đa sự thất thoát vốn của NHTM
Để nâng cao hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS của NHTM, pháp luật đã có những quy định nhằm điều chỉnh các quan
hệ trong hoạt động này
Trang 9Song, pháp luật về kiểm soát cho vay bằng TCTS ở Việt Nam hiện nay
đã bộc lộ rất nhiều bất cập, gây khó khăn cho hoạt động kiểm soát và gây ra nhiều tranh chấp, khó giải quyết Thực trạng áp dụng pháp luật về kiểm soát cho vay bằng TCTS còn nhiều khó khăn, lúng túng, khó áp dụng
Để hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTM nói chung và NHTMCP nói riêng, cần phải nghiên cứu một cách tổng thể không những lý luận về pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS mà còn phải nghiên cứu về thực trạng hệ thống pháp luật về cho vay bằng TCTS, trên
cơ sở đó đưa ra hướng và giải pháp hoàn thiện phù hợp
Để góp phần giải quyết vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài “Pháp luật kiểm
soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP ở Việt Nam
Lê Thị Thanh (2014), “Pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký
giao dịch bảo đảm Ở Việt Nam hiện nay” [35] Bài viết đã nghiên cứu một số
vấn đề lý luận về pháp luật giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm, trên cơ sở đó xem xét các quy định phù hợp và những bất cập về thực trạng hệ thống pháp luật giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các gợi ý nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm và đăng ký giao dịch bảo đảm ở Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế
Nguyễn Ngọc Kim Cương (2014), “Pháp luật về quản lý sử dụng vốn
của ngân hàng thương mại ở Việt Nam và thực tiễn tại Ngân hàng thương mại
cổ phần công thương Việt Nam chi nhánh Ba Đình” [9] Tác giả đã phân tích
một cách có hệ thống các quy định pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại ngân
Trang 10hàng thương mại, đưa ra những nhận xét, đánh giá việc thực hiện các quy định này trong thực tế để làm rõ những bất cập của pháp luật trong quản lý và
sử dụng vốn của các ngân hàng thương mại cổ phần, cụ thể là ngân hàng Công thương Việt Nam- Chi nhánh Ba Đình, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý sử dụng vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Nguyễn Thị Phương Linh (2010), “Tăng cường kiểm soát tín dụng tại
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Đà Nẵng” Bài viết đã trình
bày được những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại, nêu những nội dung thực tế, đánh giá
về công tác tín dụng cũng như hệ thống kiểm soát nội bộ và có những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm soát tín dụng tại Ngân hàng NN&PTNT
Đà Nẵng Tuy nhiên, bài viết vẫn chưa nêu đầy đủ và bao quát về kiểm soát tín dụng, bởi lẽ kiểm soát tín dụng không chỉ là kiểm soát nội bộ ngân hàng
mà còn kiểm soát cả khách hàng vay vốn, thậm chí khách hàng có thể kiểm soát trở lại ngân hàng;…
Xem xét một cách tổng quát, những vấn đề liên quan đến kiểm soát hoạt động cho vay đã có nhiều tác giả nghiên cứu trong công trình nghiên cứu khoa học Tuy nhiên do phạm vi đề tài rộng nên các tác giả chưa đề cập một cách có hệ thống về pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản của ngân hàng thương mại cố phần Việt Nam, từ đó nhằm nâng cao khả năng kiểm soát cho vay bằng TCTS Với đề tài này tác giả sẽ tập trung nghiên cứu
về kiểm soát cho vay bằng TCTS mà các tác giả trước đây chưa đề cập một cách đầy đủ hoặc chưa giải quyết một cách thỏa đáng nhằm bổ sung đầy đủ cả
về lý luận lẫn thực tiễn, góp phần thúc đẩy công tác kiểm soát cho vay bằng TCTS tại NHTMCP ở Việt Nam
Trang 114 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại các NHTMCP ở Việt Nam hiện nay của chính các NHTMCP
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với tính chất và yêu cầu của đề tài:
- Phương pháp luận: Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
- Phương pháp cụ thể: Thu thập văn bản, tài liệu, phân tích, tổng hợp,
so sánh
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn kết hợp chúng với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp phân tích kết hợp với thu thập văn bản, tài liệu được sử dụng để làm rõ quy định của pháp luật hiện hành về kiểm soát cho vay bằng TCTS; Phương pháp so sánh được áp dụng để tìm ra những nét khác biệt và tương đồng giữa quy định của pháp luật Việt Nam với các nước khác, so sánh khái niệm kiểm soát với kiểm tra, giám sát; Phương pháp tổng hợp nhằm khái quát thực trạng áp dụng pháp luật từ đó chỉ ra được những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân về kiểm soát cho vay bằng TCTS của NHTMCP nhằm đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Trang 126 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về pháp luật kiểm soát cho vay bằng
thế chấp tài sản ở các ngân hàng thương mại cổ phần
Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chập tài
sản tại ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về kiểm soát
cho vay bằng thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT CHO VAY BẰNG THẾ CHẤP TÀI SẢN
Ở CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN
1.1 Khái luận về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần
1.1.1 Khái lược về cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần
Khái lược về các ngân hàng thương mại cổ phần
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian, hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Hoạt động kinh doanh của NHTM cũng giống như một doanh nghiệp, đều hướng tới mục đích cuối cùng là tối đa hóa lợi nhuận Sự phát triển của hệ thống NHTM có tác động rất lớn đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trường thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu
Hiện nay, đa phần các NHTM được tổ chức và hoạt động dưới hình thức NHTMCP
NHTMCP là NHTM được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước [13, tr.16]
NHTMCP huy động vốn điều lệ thông qua phát hành cổ phiếu Việc nắm giữ cổ phiếu cho phép người sở hữu có thể tham gia quyết định các hoạt động của ngân hàng, tham gia chia cổ tức từ thu nhập của ngân hàng đồng thời phải gánh chịu các loại tổn thất có thể xảy ra Do vốn sở hữu được hình thành thông qua thị trường tập trung, các ngân hàng cổ phần có khả năng tăng vốn nhanh
Trang 14chóng, vì vậy thường là các ngân hàng lớn, số cổ đông nhiều, thông thường là
từ 100 cổ đông trở lên (Ví dụ: Ở Việt Nam, NHTMCP phải có tối thiểu 100 cổ đông, không hạn chế số lượng cổ đông tối đa) Các tổ hợp ngân hàng lớn nhất thế giới hiện nay đều là NHTMCP Các NHTMCP thường có phạm vi hoạt động rộng, hoạt động đa năng, có nhiều chi nhánh hoặc công ty con
Cơ cấu tổ chức quản lý của tổ chức tín dụng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc)
Khái lược về cho vay bằng thế chấp tài sản của các ngân hàng thương ma ̣i cổ phần
Trước tiên cần tìm hiểu khái niệm cho vay và khái niệm thế chấp tài sản Cụ thể:
Cho vay là một hoạt động tín dụng mà tín dụng được hiểu như sau: Tín dụng là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người
đi vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả [10, tr.101]
Như vậy, khái niệm cho vay được hiểu là quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người cho vay và người đi vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang tính chức năng Mặc dù theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các tổ chức khác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối với khách hàng như một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của các tổ chức này hoàn toàn không phải là nghề nghiệp mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện Điều này thể hiện ở chỗ hoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải
Trang 15thỏa mãn một số điều kiện nhất định như phải có vốn pháp định: phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo luật định
Thế chấp tài sản là biện pháp được sử dụng phổ biến nhất trong hoạt động cho vay có bảo đảm Pháp luật một số nước định nghĩa thế chấp như sau:
Bộ luật Dân sự Pháp đã quy định:
Thế chấp là một quyền tài sản đối với bất động sản được sử dụng vào việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Về bản chất, quyền thế chấp không thể phân chia và tồn tại trên tất cả các bất động sản thế chấp, trên từng bất động sản và mỗi phần của những bất động sản
ấy Quyền thế chấp tiếp tục trên các bất động sản dù bất động sản
đã chuyển dịch sang tay người khác [21, Điều 2114]
Bộ luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định:
Hợp đồng thế chấp là hợp đồng qua đó một người gọi là người thế chấp nhượng một tài sản cho người khác gọi là người nhận thế chấp như một bảo đảm thi hành một nghĩa vụ, nhưng không chuyển giao tài sản đó cho người nhận thế chấp [22, Điều 702]
Theo pháp luật dân sự Nhật Bản:
Thế chấp là một chế định bảo đảm nghĩa vụ bằng tài sản Trong đó không có việc chuyển giao tài sản thế chấp [3]
Bộ luật dân sự 2015 Việt Nam quy định:
Thế chấp tài sản là việc một bên (gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (gọi là bên nhận thế chấp) [32, Điều 37] Như vậy, pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật của hầu hết các nước khác đều quy định thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản, được hình thành không có sự chuyển giao tài sản, do thỏa thuận của các
Trang 16bên trong đó bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyền
Trong phạm vi của đề tài, thế chấp tài sản sẽ được nghiên cứu dưới các khía cạnh chủ yếu sau: (i) Quy định về tài sản thế chấp; (ii) Quy định hợp đồng thế chấp; (iii) Quy định về đăng ký giao dịch thế chấp; (iv) Quy định về
xử lý tài sản thế chấp
Thứ nhất, quy định về tài sản thế chấp
Trước hết phải định nghĩa được tài sản là gì? và gồm những loại nào? (Ví dụ: ở Việt Nam, theo Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”;…)
Pháp luật về giao dịch thế chấp phải mô tả được các loại tài sản thế chấp, trên cơ sở đó mới quy định các nội dung cụ thể khác trong giao dịch thế chấp và đăng ký giao dịch thế chấp
Thông thường pháp luật các quốc gia quy định: tài sản thế chấp là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
Có nhiều tình huống thực tế có thể xảy ra, do vậy pháp luật phải dự liệu
để có các quy định làm căn cứ pháp lý, tạo điều kiện tối đa cho việc bảo đảm quyền và lợi ích của các bên trong giao lưu dân sự, kinh doanh, thương mại Chẳng hạn: Đối với trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bằng thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, hoặc trường hợp tài sản thế chấp không thuộc
sở hữu của bên thế chấp,… thì pháp luật phải quy định cụ thể, chặt chẽ
Thứ hai, quy định về hợp đồng thế chấp
Trong hợp đồng thế chấp thì vấn đề thời điểm hợp đồng thế chấp có hiệu lực là rất quan trọng Do vậy, pháp luật phải quy định rõ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp
Hợp đồng thế chấp được ký kết xuất phát từ sự tự nguyện, hợp pháp phải có hiệu lực pháp lý ngay với các bên giao dịch
Trang 17Trong kinh tế thị trường, pháp luật nên quy định: Hợp đồng thế chấp được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết Tất nhiên, pháp luật cũng phải quy định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng thế chấp trong những trường hợp đặc biệt Chẳng hạn trường hợp:
- Các bên có thoả thuận khác;
- Hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý đối với người thứ ba
Việc thay đổi một hoặc các bên tham gia hợp đồng thế chấp không làm thay đổi thời điểm hợp đồng thế chấp có giá trị pháp lý đối với người thứ ba
Thứ ba, quy định về đăng ký giao dịch thế chấp
Mỗi quốc gia khác nhau, trong mỗi thời kỳ khác nhau, pháp luật quy định về các trường hợp phải đăng ký giao dịch thế chấp là khác nhau Song, những giao dịch thế chấp mà pháp luật quy định phải đăng ký giao dịch thế chấp thông thường là: Thế chấp quyền sử dụng đất; Thế chấp rừng sản xuất là rừng trồng; thế chấp tàu bay; Thế chấp tàu biển
Còn các trường hợp không bắt buộc phải đăng ký giao dịch thế chấp thì các bên trong quan hệ giao dịch thế chấp có quyền đăng ký và pháp luật
về đăng ký giao dịch thế chấp phải có các quy định nhằm tạo cơ sở pháp lý thuận tiện nhất để các chủ thể trong quan hệ giao dịch thế chấp thực hiện quyền của mình
Thứ tư, quy định về xử lý tài sản thế chấp
Có nhiều trường hợp, bên chủ thể có nghĩa vụ trong quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại không thực hiện nghĩa vụ đối với bên có quyền Trong trường hợp các bên có giao dịch cho vay bằng thế chấp tài sản thì tài sản thế chấp phải được xử lý để bên có quyền được hưởng quyền của mình
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên trong quan hệ giao dịch thế chấp và bên thứ ba liên quan, pháp luật về giao dịch thế chấp phải quy định về nội dung, trình tự thủ tục xử lý tài sản thế chấp Trong đó cần có các quy phạm pháp luật quy định về những nội dung cụ thể sau:
Trang 18- Các trường hợp xử lý tài sản thế chấp;
- Nguyên tắc xử lý tài sản thế chấp;
- Các phương thức xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận;
Như vậy, từ khái niệm về cho vay và khái niệm về thế chấp tài sản, có thể định nghĩa hoạt động cho vay bằng TCTS ở NHTMCP như sau:
Cho vay bằng TCTS ở NHTMCP là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh
mang tính chức năng của ngân hàng hoạt động kinh doanh, thương mại theo
mô hình công ty cổ phần trong đó bao gồm bên cho vay là ngân hàng thương mại cổ phần và bên vay là cá nhân, tổ chức có nhu cầu vay tiền của ngân hàng
để thỏa mãn những nhu cầu về kinh doanh hoặc tiêu dùng và họ phải có tài sản của mình hoặc của người thứ ba dùng để thế chấp nhằm bảo đảm nghĩa vụ trả nợ tiền vay cho ngân hàng thương mại cổ phần
Khác với hoạt động cho vay không có bảo đảm bằng tài sản thì việc cho vay có bảo đảm bằng TCTS được áp du ̣ng đối với các khách hàng vay không đủ uy tín , không đủ điều kiê ̣n để cho vay không có bảo đảm Viê ̣c áp dụng biện pháp thế chấp này không chỉ tạo ra những hành lang pháp lý an toàn cho hoạt động tín dụng nói chung và sự phát triển của nền kinh tế , mà nó còn tạo ra rất nhiều cơ hội để mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng ngân hà ng của các chủ thể có nhu cầu cần vốn cho hoạt động kinh doanh của mình Mă ̣t khác, nó là cơ sở để các NHTMCP ra quyết định cấp tín dụng Ngoài ra, biê ̣n pháp này còn mang tính chất phòng ngừa rủi ro Đây được xem là mu ̣c đích của việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay , đảm bảo cho ngân hàng có khả năng thu hồi được số tiền đã cho khách hàng của mình vay Trong trường hợp khách hàng vay lâm vào tình tra ̣ng phá sản hay gă ̣p khó khăn tro ng sản xuất, kinh doanh, viê ̣c cho vay bằng TCTS sẽ xác lâ ̣p quyền ưu tiên là chủ nợ
có bảo đảm của NHTMCP trong việc thu hồi nợ Mục đích của việc cho vay
Trang 19bằng TCTS là ta ̣o cơ sở bảo đảm an toàn cho hoa ̣t đô ̣ng cho vay của các
NHTMCP, bản chất của thế chấp tài sản là sử dụng những giá trị của tài sản thế chấp để trả nợ thay cho các khoản vay mà người vay đã dùng vào sản xuất, kinh doanh nhưng không có khả năng trả nợ ngân hàng Đặc điểm này khác biê ̣t so với cho vay không có bảo đảm bằng tài sản , bởi lẽ ngân hàng thực hiê ̣n cho vay không có bảo đảm bằng tài sản chỉ dựa trên uy tín của khách hàng, điều này khiến cho viê ̣c thu hồi vốn vay của ngân hàng gă ̣p nhiều khó khăn khi khách hàng vay vốn không có khả năng trả được nợ
Chính vì thế, việc cho vay có bảo đảm bằng tài sản, đă ̣c biê ̣t là cho vay bằng TCTS được coi là phổ biến nhất hiện nay, bởi có nhiều khách hàng dùng tài sản để bảo đảm tiền vay tại các ngân hàng nhưng vẫn có nhu cầu sử dụng tài sản hoặc luân chuyển tài sản đó (đối với tài sản là hàng hóa luân chuyển) Nếu đưa các tài sản này vào cầm cố để bảo đảm tiền vay thì khách hàng vay
sẽ không đáp ứng được các điều kiện nói trên
1.1.2 Những vấn đề cơ bản về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần
Khái niệm kiểm soát
Khái niệm kiểm soát ban đầu được sử dụng như một phương pháp giúp kiểm toán viên xác định phương pháp hiệu quả nhất trong việc lập kế hoạch kiểm toán, sau đó được xem là một bộ phận chủ yếu trong hệ thống quản trị doanh nghiệp Chưa có định nghĩa chung cho thuật ngữ kiểm soát mà tùy vào góc độ khác nhau, có các cách định nghĩa khác nhau cho thuật ngữ này
Theo Schoderbek, Peter P Richard A Cosier and John C Aplin (1988):
“Kiểm soát là hoạt động đánh giá và chỉnh sửa lệch lạc từ tiêu chuẩn” [11, tr.13]
Với định nghĩa này có thể thấy kiểm soát chính là việc xây dựng các tiêu chuẩn, sau đó sẽ đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn đã được thiết lập và cuối
Trang 20cùng sẽ chỉnh sửa các sai lệch (nếu có) Ở đây mặc dù đã nói đến các hoạt động trong quá trình kiểm soát nhưng lại không chỉ chi tiết xem tổ chức cần dựa vào đâu để xây dựng tiêu chuẩn này
Theo Jones and George (2003): “Kiểm soát là quá trình nhà quản lý
giám sát và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [11, tr.13] Ở đây kiểm soát là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở mọi
bộ phận trong doanh nghiệp và quá trình kiểm soát là phương tiện nhằm giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình Với định nghĩa này mặc
dù đã đưa ra các mục tiêu cần đạt được nhưng lại không đưa ra các tiêu chuẩn
cụ thể để giúp doanh nghiệp đánh giá các hoạt động của mình
Với tư cách là một chức năng quản trị, kiểm soát được hiểu là quá trình
đo lường kết quả đạt được trên thực tế và so sánh với những tiêu chuẩn nhằm phát hiện sự sai lệch và nguyên nhân của sự sai lệch, trên cơ sở đó đưa ra biện pháp điều chỉnh sự sai lệch để đảm bảo tổ chức đạt được mục tiêu
Một quy trình kiểm soát thường có bốn giai đoạn:
- Xác định tiêu chuẩn kiểm soát
Tiêu chuẩn kiểm soát chính là các chuẩn mực, mục tiêu đặt ra cho việc thực hiện Nó là kết quả cuối cùng mà chúng ta mong muốn đạt được Một tổ chức có nhiều loại tiêu chuẩn kiểm soát khác nhau, các tiêu chuẩn kiểm soát
đề ra phải hợp lý và có khả năng thực hiện trên thực tế
- Đo lường và đánh giá việc thực hiện
Căn cứ với các tiêu chuẩn đặt ra, tiến hành đo lường việc thực hiện nhiệm vụ để xác định kết quả thực hiện tại một thời điểm được xác định, từ
đó có những kết luận đúng đắn về hoạt động, kết quả thực hiện, phát hiện những sai lệch có thể xảy ra và nguyên nhân của sai lệch
- So sánh kết quả đạt được với các chỉ tiêu:
Trang 21Bước so sánh giúp xác định mức độ chênh lệch giữa kết quả thực tế và tiêu chuẩn Nếu kết quả thực hiện phù hợp với các tiêu chuẩn thì việc thực hiện vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch và không cần sự điều chỉnh Nếu kết quả thực hiện không phù hợp với tiêu chuẩn thì sự điều chỉnh là cần thiết
- Điều chỉnh các sai lệch:
Nếu kết quả thực tế có những sai lệch so với tiêu chuẩn đặt ra ban đầu thì phải phân tích rõ nguyên nhân dẫn đến sai lệch và đề ra biện pháp khắc phục những sai lệch đó Điều chỉnh các sai lệch có thể được coi là mục đích của việc kiểm soát, bởi vì thông qua việc điều chỉnh mà mục tiêu và kế hoạch
đề ra mới được thực hiện.Điều chỉnh các sai lệch chính là vấn đề mà qua đó việc kiểm soát được thấy rõ như là một phần của toàn bộ hệ thống quản trị và
là nơi mà nó liên hệ với các chức năng quản trị khác
Kiểm soát là chức năng cuối cùng và không thể thiếu của quá trình quản lý (một quy trình quản lý gồm 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát) Nếu việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo làm tốt mà chức năng kiểm soát không được thực hiện hoặc thực hiện không tốt thì kết quả có thể sẽ không đúng với chỉ tiêu, kế hoạch đề ra
Để tiến hành hoạt động kiểm soát một cách chính xác và toàn diện, cần phải có hoạt động kiểm tra, giám sát
Theo từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là “xem xét tình hình thực
tế để đánh giá nhận xét”; giám sát được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc sai những điều đã quy định”
Từ định nghĩa trên có thể thấy rằng kiểm tra và giám sát là hoạt động nằm trong hoạt động kiểm soát Bởi lẽ, về cơ bản, kiểm soát, kiểm tra và giám sát có nội hàm ý nghĩa tương đương nhau, đó là xem xét đánh giá hoạt động
để các quy định, mục tiêu đã đề ra được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, chính xác, đầy đủ Tuy nhiên, so với kiểm tra và giám sát, kiểm soát có phạm
Trang 22vi xem xét, đánh giá rộng hơn, hình thức phong phú hơn, nó bao hàm cả việc kiểm tra và giám sát
Khái niệm về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở NHTMCP
và các hoạt động kiểm soát cho vay bằng TSTC ở NHTMCP
Kiểm soát cho vay bằng TCTS tại NHTMCP là quá trình đo lường kết
quả hoạt động cho vay bằng thế chấp tài sản ở NHTMCP, so sánh với các tiêu chuẩn, phát hiện sai lệch và nguyên nhân, tiến hành các điều chỉnh nhằm cho kết quả cuối cùng phù hợp với mục tiêu mà NHTMCP xác định khi cho vay bằng TCTS tại NHTMCP
Hoạt động kiểm soát cho vay được tiến hành trong suốt quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, kể từ lúc ngân hàng nhận được hồ sơ vay vốn của khách hàng cho đến khi khách hàng trả nợ xong
Tiêu chuẩn kiểm soát hoạt động cho vay bằng TCTS chính là các quy phạm pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động cho vay bằng TCTS của các tổ chức tín dụng, trong đó có NHTMCP (Ví dụ: Ở Việt Nam, quy định về kiểm soát cho vay bằng TCTS có ở Luật các Tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự, Luật đất đai…); các quy định trong điều lệ, nội quy, quy chế hoạt động của NHTMCP đặt ra đối với việc cho vay bằng TCTS này
Trên cơ sở các quy phạm pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế làm tiêu chuẩn để đo lường hoạt động cho vay bằng TCTS ở NHTMCP có phù hợp với các quy định trên hay không và nếu như có sai lệch, tức là khác với tiêu chuẩn thì phải tìm ra nguyên nhân của những sai lệch đó Nguyên nhân sai lệch có thể
là do quy định của pháp luật không phù hợp với quy luật khách quan, do điều
lệ, nội quy, quy chế của NHTMCP quy định không đúng; nếu như quy phạm pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế phù hợp thì có thể do nghị quyết của HĐQT, do hoạt động của các thành viên HĐQT, ban giám đốc, từ những nguyên nhân đó tiến hành việc điều chỉnh nhằm làm cho kết quả cuối cùng phù hợp với mục tiêu đề ra của NHTMCP khi thực hiện cho vay bằng TCTS
Trang 23Hoạt động kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản tại ngân hàng thương mại cổ phần
Hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS tại NHTMCP là hoạt động có tính chất phức tạp, liên quan đến các vấn đề về tài sản thế chấp, giao dịch thế chấp, quy trình cho vay bằng thế chấp, kiểm soát đối với khách hàng và liên quan đến nhiều chủ thể (NHTMCP, khách hàng đi vay, người thứ ba liên quan đến tài sản thế chấp) Vì vậy cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật để giải
+ Kiểm soát năng lực của người vay: năng lực hành vi dân sự của khách hàng hoặc người bảo lãnh; những hồ sơ pháp lý chứng minh năng lực pháp lý của doanh nghiệp vay vốn; mô tả quá trình hoạt động của doanh nghiệp đến hiện tại, cơ cấu sở hữu, chủ sở hữu, sản phẩm, người cung ứng…
+ Kiểm soát dòng tiền được tạo để trả nợ ngân hàng: thu nhập đã qua; doanh thu bán hàng; tình hình phân chia cổ tức; dòng tiền từ phương án kinh doanh hiện tại và dự kiến; tính thanh khoản của các tài sản lưu động; vòng quay nợ phải thu, phải trả và hàng tồn kho; cơ chế kiểm soát chi phí…
+ Kiểm soát tính pháp lý của khoản vay bằng thế chấp: các luật hiện hành liên quan đến khoản tín dụng đang được xem xét; đủ hồ sơ giấy tờ phục
vụ cho công việc kiểm soát; hồ sơ giấy tờ cho vay, giải ngân phải có đầy đủ
và được ký bởi các bên; mức độ phù hợp của khoản vay đối với các quy phạm pháp luật, nội quy, quy chế của ngân hàng,…
Trang 24+ Kiểm soát tài sản thế chấp: những loại tài sản; giá trị tài sản; tình trạng tài sản; tình trạng bảo hiểm Quy định tài sản thế chấp được thực hiện nhằm đáp ứng hai mục tiêu của người cho vay: thứ nhất, nếu người vay không
có khả năng hoàn trả thì người cho vay có quyền thu giữ và bán tài sản để thu hồi lại khoản tiền đã cho vay; thứ hai, việc thế chấp sẽ tạo ra lợi thế về tâm lý cho người cho vay Bởi vì các tài sản cụ thể đã được dùng để thế chấp cho khoản vay nên người vay sẽ cảm thấy cần phải làm việc tích cực hơn để thanh toán nợ của mình và tránh khả năng để mất những tài sản có giá trị
+ Kiểm soát quy trình cho vay bằng thế chấp: kiểm soát kể từ khi giao kết hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp cho đến khi thanh lý hợp đồng (Ví dụ: Đối với những tài sản thế chấp cần đăng ký giao dịch thế chấp thì phải
có quy trình đăng ký giao dịch thế chấp, vấn đề ở đây là phải kiểm soát xem tài sản thế chấp có được đăng ký đúng quy trình hay không?);…
Ý nghĩa của kiểm soát cho vay bằng TCTS
- Đối với ngân hàng:
Không phải ngẫu nhiên mà kiểm soát tiền vay là hoạt động được nhắc đến trong mọi quan hệ tín dụng Và nếu bảo đảm kiểm soát tiền vay thành công, không những ngân hàng bảo đảm được khả năng hoàn trả vốn vay mà còn sản sinh lợi nhuận, bảo đảm hoạt động kinh doanh của ngân hàng Đối với những khoản vay mà ngân hàng không đòi hỏi tài sản bảo đảm thì ngân hàng phải thẩm định khách hàng một cách chặt chẽ hơn, nhờ đó mà chất lượng tín dụng được nâng cao, khả năng thẩm định của cán bộ tín dụng cũng được cải thiện Mặt khác những tài sản mà lẽ ra doanh nghiệp phải đem bảo đảm sẽ được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh để nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tạo điều kiện tốt hơn để doanh nghiệp hoàn trả vốn vay cho ngân hàng Đây là một điều mà cả ngân hàng và khách hàng cùng mong đợi Đối với những khoản vay mà ngân hàng đòi hỏi tài sản bảo đảm sẽ
Trang 25tạo tâm lý mạnh dạn cho ngân hàng khi đưa ra quyết định cho vay, như vậy sẽ dẫn đến kết quả là ngân hàng mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế
Thêm nữa, kiểm soát cho vay thường xuyên và xuyên suốt còn giúp ngân hàng nắm bắt được những nhu cầu mới của khách hàng, từ đó tạo cơ hội kinh doanh mới cho ngân hàng
- Đối với khách hàng:
Cũng theo như sự phân tích ở trên, khách hàng muốn có được khoản vốn từ ngân hàng thì chỉ có tạo ra sự bảo đảm cho chính khoản tiền mà mình cần Trong điều kiện thị trường tài chính chưa phát triển như ở nước ta hiện nay thì tín dụng ngân hàng vẫn là rất quan trọng, còn đối với những doanh nghiệp chưa có khả năng đó thí tín dụng ngân hàng đã trở thành nguồn thiết yếu cho mở rộng sản xuất, đầu tư Việc ngân hàng thẩm định các dự án khi xem xét cho vay coi như là lần xét duyệt thứ hai cho dự án của khách hàng, tạo thêm cơ sở cho sự thành công của dự án Đa phần khách hàng đều không mong muốn phải bảo đảm bằng tài sản vì như vậy sẽ bị ràng buộc vào khoản vay nhưng chính sự ràng buộc này lại tạo cho họ động lực để thực hiện tốt dự
án và cái lợi đầu tiên và lớn nhất mang lại chính là lợi nhuận cho chính họ
- Đối với nền kinh tế:
Vai trò của bảo đảm tiền vay đối với nền kinh tế mang tính gián tiếp Khi chất lượng tín dụng được nâng cao sẽ thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế Nó giúp cho quá trình phân phối lại vốn tiền tệ diễn ra theo đúng yêu cầu: vốn từ nơi tạm thời nhàn rỗi chuyển sang nơi đang cần để mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng tiêu dùng, kích thích tổng cầu Bảo đảm tiền vay sẽ tránh được sự lãng phí do vốn bị chuyển vào những ngành làm ăn không hiệu quả hay có ý định chiếm dụng vốn cho những mục đích xấu Ngành ngân hàng là một ngành kinh doanh gặp rất nhiều rủi ro, mặt khác hoạt động của nó lại mang tính hệ thống cao Chính
Trang 26nhờ bảo đảm tiền vay đã hạn chế được những mất mát mà ngân hàng phải gánh chịu, tránh cho nền kinh tế những tổn thất to lớn do sự khủng hoảng của
hệ thống ngân hàng Tác động tích cực của bảo đảm tiền vay là góp phần củng cố niềm tin của dân chúng vào hệ thống tài chính, tạo điều kiện để họ gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn để phát triển sản xuất, đóng góp cho sự phát triển của xã hội Bảo đảm tiền vay có tác dụng rất to lớn đối với nền kinh tế, đây là điều không thể phủ nhận Vì vậy Chính phủ các nước luôn phải ban hành nhiều văn bản pháp luật cho vấn đề bảo đảm tiền vay trong cho vay của các ngân hàng thương mại
Kiểm soát tín dụng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng Nó không chỉ giúp các nhà quản lý ngân hàng phát hiện ra nhũng khoản cho vay có vấn đề nhanh hơn mà còn giúp xác định được vấn đề các cán bộ tín dụng có tuân thủ đúng chính sách cho vay của ngân hàng hay không Kiểm soát tín dụng cũng giúp các nhà quản lý cao cấp và hội đồng quản trị của ngân hàng trong việc đánh giá toàn bộ rủi ro tiềm tàng của ngân hàng và nhu cầu vốn của nó trong tương lai
1.2 Khái luận về pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản
ở ngân hàng thương mại cổ phần
1.2.1 Khái niệm pháp luật kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần
Hoạt động tín dụng trong đó có hoạt động cho vay là loại hình nghiệp
vụ quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn ở hầu hết các ngân hàng thương mại Đây cũng là mảng hoạt động mang lại nguồn lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại Đồng thời cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất Các biện pháp bảo đảm tiền vay, trong đó có thế chấp tài sản được sử dụng nhằm ngăn ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và các ràng buộc pháp lý để thu hồi khoản tiền
đã cho khách hàng vay trong trường hợp khách hàng vay vi phạm nghĩa vụ trả
Trang 27nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng Hơn nữa, nhằm đảm bảo an toàn hiệu quả cao trong hoạt động cho vay, các NHTM cần phải có một hệ thống kiểm soát chặt chẽ đảm bảo việc thực hiện hoạt động cho vay bằng TCTS được thực hiện theo đúng quy trình, đúng mục đích mà ngân hàng hướng tới khi cho vay Pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS của các nước đều chú trọng tới việc điều chỉnh cơ chế kiểm soát hoạt động hiệu lực, hiệu quả, bảo đảm an toàn, tránh rủi ro đổ vỡ đối với từng ngân hàng
và hệ thống các tổ chức tín dụng
Pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP là hệ thống các
quy phạm pháp luật quy định và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình kiểm soát các hoạt động cho vay bằng TCTS tại NHTMCP
Pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP là công cụ để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP nhằm đảm bảo để chúng phát sinh, vận động theo những trật tự phù hợp với ý chí của Nhà nước
và bảo vệ lợi ích của các bên tham gia quan hệ kiểm soát cho vay bằng TCTS Ngoài ra, đòi hỏi phương thức tác động và nội dung điều chỉnh của pháp luật ngoài việc phải phù hợp với nền kinh tế thị trường còn phải phù hợp với cơ cấu tổ chức và hoạt động của loại hình NHTMCP
Ở Việt Nam, quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP chứa đựng ở nhiều loại văn bản pháp luật như:
Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật các TCTD, Luật NHNN, Luật doanh nghiệp,… cùng một số nghị định, thông tư có liên quan
1.2.2 Nội dung của pháp luật về kiểm soát cho vay bằng thế chấp tài sản ở ngân hàng thương mại cổ phần
Pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP có nhiều nội dung, trong đó có những nội dung chủ yếu sau: (i) Quy định về chủ thể kiểm
Trang 28soát; (ii) Quy định về đối tượng bị kiểm soát; (iii) Quy định về nội dung kiểm soát; (iv) Quy định về quy trình kiểm soát; (v) Quy định về xử lý vi phạm;
(vi) Quy định về giải quyết tranh chấp
1.2.2.1 Quy định về chủ thể kiểm soát
Chủ thể của hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS tại NHTMCP bao gồm: Ngân hàng nhà nước, trong đó NHNN kiểm soát với tư cách là tổ chức quyền lực công (cơ quan nhà nước) và hoạt động chủ yếu là thanh tra, kiểm soát với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng (Ngân hàng trung ương) và hoạt động chủ yếu là kiểm soát các ngân hàng thương mại; Khách hàng (Trong hoạt động cho vay, không chỉ NHTM kiểm soát khách hàng mà khách hàng cũng có thể kiểm soát trở lại ngân hàng); NHTMCP Tuy nhiên, xuất phát từ bản chất của hợp đồng tín dụng, khi NHTM thực hiện hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng thì bất lợi lớn nhất thuộc về NHTM Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài này chỉ nghiên cứu hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS của NHTMCP và chủ thể kiểm soát chính là NHTMCP
Hoạt động kiểm soát trong NHTMCP bao gồm: (i) Kiểm soát của ĐHĐCĐ đối với hoạt động của HĐQT, thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng giám đốc) thực hiện điều lệ, nghị quyết của ĐHĐCĐ; (ii) Kiểm soát của HĐQT đối với Giám đốc (Tổng giám đốc); (iii) Kiểm soát của BKS đối với hoạt động quản lý, điều hành của các thành viên HĐQT, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) và của những người quản lý, điều hành khác trong NHTMCP
Việc quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng chủ thể tham gia hoa ̣t đô ̣ng kiểm soát cho vay bằng TCTS ở các NHTMCP không chỉ giúp cho việc quản lý, điều hành, kiểm soát nội bộ ngân hàng được thực hiện một cách hiệu quả, hiệu lực, mà nó còn giúp xác định được trách nhiệm của từng cá nhân, chủ thể khi có vi phạm xảy ra đối với hoạt động cho vay bằng
Trang 29TCTS (Ví dụ: Khi NHTMCP quyết định cho một khách hàng vay vốn, thì cần phải xác định ai là người có thẩm quyền ký kết hợp đồng vay vốn đó? Ai là người kiểm soát hoạt động cho vay nói trên? Nếu có vi phạm xảy ra thì ai là người chịu trách nhiệm?)
Chủ thể kiểm soát trong hoạt động cho vay bằng TCTS ở NHTMCP là ĐHĐCĐ, HĐQT, BKS Tuy nhiên, BKS chính là chủ thể kiểm soát chủ yếu đối với hoạt động của ngân hàng nói chung và cho vay bằng TCTS nói riêng
Vì thế pháp luật của hầu hết các nước đều xác lập vị trí độc lập cho Ban kiểm soát trong hoạt động kiểm tra, giám sát đối với ngân hàng
Thông thường, ĐHĐCĐ họp thường niên một năm một lần nên việc giám sát của cổ đông thông qua phiên họp bị hạn chế, BKS trở thành cơ quan được ủy quyền trong hoạt động kiểm tra, giám sát theo yêu cầu của ĐHĐCĐ,
cổ đông hoặc nhóm cổ đông ĐHĐCĐ bầu ra các thành viên BKS, đồng thời, ban hành điều lệ, quy chế tổ chức và hoạt động của BKS để xác định thẩm quyền, nghĩa vụ cũng như các hoạt động cụ thể của BKS Công việc của ban kiểm soát chủ yếu mang tính nghề nghiệp, do đó thành viên BKS phải là người
có chuyên môn về tài chính Ban kiểm soát thực hiện kiểm toán nội bộ, kiểm soát, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật, quy định nội bộ, Điều lệ
và nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông, chủ sở hữu, Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên
Đối với hoạt động cho vay bằng TCTS thì BKS sẽ kiểm soát hoạt động cho vay này như thế nào? Trước hết là đánh giá việc thực hiện công tác của các cán bộ tín dụng đã đúng với quy định của pháp luật, đã phù hợp với các chủ trương chính sách của ngân hàng hay chưa Tiếp theo đó là việc Ban kiểm soát xem xét đánh giá hoạt động cho vay bằng TCTS, BKS có trách nhiệm nhìn nhận phân tích vấn đề để thấy được những điểm tiến bộ cũng như hạn chế hay sai sót trong công tác để từ đó BKS thực hiện vai trò của mình là tiến
Trang 30hành kiểm soát hoạt động cho vay, đề ra các giải pháp khắc phục hạn chế đồng thời đưa ra các chủ trương chính sách phát huy mặt tích cực hiệu quả trong công tác từ đó có báo cáo chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ Như vậy, BKS trong NHTMCP không chỉ kiểm soát các hoạt động liên quan đến tổ chức nội bộ của ngân hàng mà còn kiểm soát tất cả các hoạt động bao gồm cả cho vay bằng TCTS, họ như người đại diện cho cổ đông đứng ra theo dõi, giám sát hết mọi hoạt động kinh doanh sao cho đúng điều lệ, nội quy, quy chế của chính ngân hàng đó Tuy nhiên không gọi là giám sát bởi trên thực tế vai trò của họ còn là đánh giá đề ra các giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả trong mọi hoạt động ngân hàng
Ngoài ra BKS còn trang bị cho mình bộ máy giúp việc chính là kiểm
toán nội bộ Tổ chức kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp là không bắt buộc,
các doanh nghiệp tùy theo yêu cầu quản lý tài chính có thể thuê hoặc bố trí bộ phận chuyên môn thực hiện kiểm toán nội bộ Tuy nhiên, riêng đối với các TCTD, đặc biệt là NHTMCP, bắt buộc phải tổ chức kiểm toán nội bộ Xuất phát từ đặc thù trong hoạt động và vị trí, vai trò của các TCTD trong việc thực hiện chính sách tiền tệ, nên tổ chức kiểm toán nội bộ được thiết lập là một bộ phận thuộc BKS
1.2.2.2 Quy định về đối tượng bị kiểm soát
Đối tượng bị kiểm soát của hoạt động kiểm soát là hoạt động cho vay bằng thế chấp tài sản cụ thể là: khách hàng vay, người có thẩm quyền trong việc quyết định cho vay bằng TCTS tại NHTMCP; tài sản thế chấp
Đối với khách hàng vay, NHTMCP phải kiểm soát việc sử dụng vốn vay có theo đúng mục đích đã ghi trong hợp đồng cho vay không Ngoài ra, cần phải kiểm tra tiến độ thực hiện dự án, phương án; đánh giá hiệu quả của dự án, phương án vay vốn, từ đó đánh giá được tiến độ và khả năng trả
nợ của khách hàng
Trang 31Ngoài ra, cần xác định người có thẩm quyền trong việc quyết định cho vay bằng TCTS của NHTMCP để khi có vi phạm xảy ra thì xác định được ai
là người có trách nhiệm đối với vi phạm (ví dụ như: vượt quá thẩm quyền quyết định cho vay hay quyết định cho vay đối với khách hàng mà pháp luật quy định cấm, hạn chế cho vay) Thông thường đối với các NHTMCP, Giám đốc (Tổng giám đốc) là người điều hành cao nhất của NHTMCP, chịu trách nhiệm trước HĐQT về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình Quyết định các vấn đề thuộc thẩm quyền liên quan đến hoạt động kinh doanh hằng ngày của NHTMCP Ngoài ra, đối với những khoản vay có giá trị lớn, có tính chất phức tạp thì người có thẩm quyền cấp tín dụng có thể là ĐHĐCĐ hoặc HĐQT
Tài sản thế chấp là đối tượng bị kiểm soát chính của hoạt động cho vay bằng TCTS tại NHTMCP Quy định về tài sản thế chấp là nội dung quan trọng mà pháp luật cần phải xác định rõ trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc minh bạch hóa tình trạng pháp lý của tài sản
1.2.2.3 Quy định về nội dung kiểm soát
- Kiểm soát hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp
Trong hoạt động cho vay bằng thế chấp tài sản, hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản Hợp đồng thế chấp có thể được đưa vào trong hợp đồng cho vay (như là một điều khoản của hợp đồng) hoặc có thể được lập thành văn bản riêng (hợp đồng thế chấp)
Đối với trường hợp bên vay vốn đồng thời là bên thế chấp thì hợp đồng thế chấp đương nhiên có cùng bản chất với hợp đồng cho vay vì chúng có cùng chủ thể, cùng mục đích thiết lập hợp đồng và đều được lập dưới hình thức văn bản hợp đồng
Đối với trường hợp nghĩa vụ trả nợ của bên vay được bảo đảm bằng thế chấp tài sản của bên thứ ba, lúc này sẽ tồn tại hai hợp đồng có cơ cấu chủ thể khác nhau: Hợp đồng cho vay được kí kết giữa NHTMCP (bên cho vay) với
Trang 32tổ chức, cá nhân vay vốn (bên vay) Hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết giữa NHTMCP (bên nhận thế chấp) với bên thế chấp (bên thứ ba dùng bằng tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của bên vay với NHTM) Do
có cơ cấu chủ thể độc lập như vậy nên hai hợp đồng này không chi phối lẫn nhau về bản chất pháp lý
- Kiểm soát tư cách pháp lý của khách hàng Hoạt động cho vay bằng TCTS luôn chứa đựng nhiều rủi ro, có những rủi ro mang tính khách quan, không thể kiểm soát được và có những rủi cho mang tính chủ quan có thể hạn chế, khắc phục được Để hoạt động này đạt được kết quả tốt cần thiết phải có quy định nhằm hạn chế tối đa những rủi ro có thể kiểm soát được, trong đó việc đưa ra một số hạn chế về đối tượng được phép vay vốn là thực sự cần thiết, đảm bảo an toàn trong cho vay bằng TCTS Ví dụ: pháp luật Việt Nam
có các quy định về những trường hợp không được cấp tín dụng, hạn chế cấp
tín dụng và quy định về giới hạn cấp tín dụng
- Kiểm soát giá trị pháp lý của tài sản thế chấp cũng là một nội dung quan trọng của hoạt động kiểm soát vì nếu xảy ra vi phạm hợp đồng tín dụng
thì tài sản thế chấp có thể được xử lý để ngân hàng thu hồi nợ
Tài sản thế chấp phải đáp ứng được các khía cạnh sau: chắc chắn bên thế chấp có quyền thế chấp đối với tài sản; tài sản thế chấp không có bất kì sự tranh chấp nào để giảm thiểu tối đa những rủi ro tiềm ẩn đối với tài sản thế chấp; về những hạn chế quyền đối với tài sản thế chấp hay chính là quyền của những chủ thể khác trên tài sản thế chấp như: quyền về lối đi qua bất động sản, quyền của người đang thuê, đang mượn tài sản thế chấp; tài sản thế chấp không thuộc đối tượng cấm chuyển giao hay cấm kê biên theo quy định của pháp luật
1.2.2.4 Quy định về quy trình kiểm soát
Quy trình kiểm soát hoạt động cho vay được bắt đầu từ khi cán bộ tín dụng tiếp nhận hồ sơ khách hàng và kết thúc khi thanh lý hợp đồng cho vay
và hợp đồng thế chấp, được tiến hành theo trình tự sau:
Trang 33- Điều tra thông tin khách hàng và dự án vay vốn: Thông tin về khách hàng và dự án vay tiền có vai trò đặc biệt trong việc ra quyết định cho vay Thông tin đúng, đầy đủ giúp cho người ra quyết định cho vay đúng, thông tin sai lệch sẽ làm cho người ra quyết định sai lệch gây rủi ro tín dụng
- Phân tích tín dụng: Phân tích tín dụng là việc xử lý các thông tin thu
thập được, bằng các phương pháp phân tích để đưa ra những kết luận về khách hàng Phân tích tín dụng là một nội dung rất quan trong trong quy trình tín dụng Nội dung của phân tích tín dụng là đánh giá năng lực pháp lý của khách hàng, năng lực tài chính của khách hàng, tính khả thi của phương án,
dự án xin vay, đánh giá về tài sản và phương án bảo đảm tiền vay
- Ra quyết định cho vay: Qua kết quả phân tích tín dụng, kết hợp với điều kiện vay vốn và khả năng nguồn vốn của ngân hàng, nếu khách hàng đủ điều kiện vay vốn và ngân hàng có đủ khả năng về nguồn vốn thì ngân hàng
ra chấp thuận cho vay Ngược lại nếu không đáp ứng được các điều kiện cho vay thì từ chối cho vay
- Kiểm tra hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ đảm bảo tiền vay: Sau khi ra quyết định cho vay, nếu khách hàng được ngân hàng chấp thuận cho vay, ngân hàng và khách hàng cùng phối hợp để xây dựng hồ sơ cho vay và
hồ sơ đảm bảo tiền vay Hồ sơ chia thành 3 loại là hồ sơ do khách hàng lập,
hồ sơ do ngân hàng và khách hàng cùng lập và hồ sơ do ngân hàng lập
- Ký kết hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp: Soạn thảo xong hồ sơ cho vay là việc ký kết các hợp đồng Thông thường mỗi khoản cho vay có hai loại hợp đồng là hợp đồng cho vay và hợp đồng bảo đảm tiền vay
- Giải ngân, kiểm soát trong và sau khi cho vay: Sau khi hồ sơ cho vay hoàn chỉnh, hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp tiền vay được ký kết, các bên tiến hành làm thủ tục giải ngân tiền vay Giải ngân tiền vay có thể giải ngân bằng tiền mặt hoặc bằng chuyển khoản Giải ngân bằng chuyển khoản
Trang 34không chỉ có ý nghĩa tiết kiệm lao động, chi phí lưu thông tiền mặt mà còn có
ý nghĩa kiểm soát trong quá trình cho vay Ngân hàng chỉ giải ngân bằng tiền mặt khi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đòi hỏi phải thanh toán bằng tiền mặt Tiến độ giải ngân phải phù hợp với tiến độ triển khai dự án
- Kiểm soát quá trình sử dụng tiền vay, thu hồi nợ, cơ cấu lại kỳ hạn nợ, gia hạn nợ: Sau khi giải ngân, định kỳ khách hàng phải gửi báo cáo tình hình tài chính cho ngân hàng cho vay Ngân hàng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc sử dụng tiền vay của khách hàng Nếu ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích phải tiến hành thu hồi nợ trước hạn
và thực hiện các bước xử lý để thu nợ
Trong hợp đồng cho vay luôn xác định kế hoạch trả nợ Căn cứ vào kế hoạch trả nợ nhân viên ngân hàng đôn đốc khách hàng trả nợ theo đúng kế hoạch Trường hợp khách hàng không trả được nợ theo đúng kế hoạch do các nguyên nhân khách quan và xác định được nguồn và kế hoạch khắc phục, ngân hàng và khách hàng thống nhất lại kế hoạch trả nợ Thống nhất lại kế hoạch trả nợ được thể hiện bằng một trong hai phương thức là điều chỉnh kỳ hạn nợ hoặc gia hạn nợ Điều chỉnh kỳ hạn nợ là việc thay đổi thời điểm trả
nợ các kỳ hạn trong thời gian trả nợ mà không làm thay thời gian cho vay (không kéo dài kỳ cuối cùng) Gia hạn nợ là việc kéo dài thời gian cho vay (làm cho thời gian cho vay dài thêm)
- Xử lý rủi ro: Hoạt động cho vay luôn chứa đựng rủi ro Để phòng ngừa rủi ro, ổn định hoạt động kinh doanh các ngân hàng phải thường xuyên trích lập quỹ dự phòng rủi ro Quy mô quỹ dự phòng rủi ro trích lập căn cứ vào khối lượng tín dụng chung đồng thời căn cứ vào quy mô tài sản chứa đựng rủi ro cao
- Thanh lý hợp đồng: Kết thúc quá trình cho vay là việc thanh lý hợp đồng cho vay và thanh lý hợp đồng thế chấp Hợp đồng chỉ được thanh lý khi khách hàng đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với ngân hàng
Trang 351.2.2.5 Quy định về xử lý vi phạm
Việc thực hiện hợp đồng không đúng cam kết (tức là vi phạm hợp đồng cho vay và hợp đồng thế chấp tài sản) là căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lí đối với bên vi phạm Và việc truy cứu trách nhiệm pháp lí chính là một trong những biện pháp để hỗ trợ cho việc thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng
Tùy thuộc vào mức độ hậu quả thực tế xảy ra mà có 3 loại trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có hành vi vi phạm:
- Trách nhiệm nộp phạt vi phạm hợp đồng: nhằm để nâng cao tính kỷ luật hợp đồng nên không cần phải chứng minh có thiệt hại vật chất xảy ra Loại trách nhiệm này do các bên thỏa thuận hoặc áp dụng theo quy định pháp luật
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng: được áp dụng khi có thiệt hại vật chất thực tế và xác định được chứng minh bởi bên bị vi phạm Số tiền bồi thường thiệt hại do các bên thỏa thuận hoặc thông qua phán quyết của cơ quan tài phán có thẩm quyền
- Truy cứu trách nhiệm hình sự: trường hợp hành vi vi phạm có đủ yếu
tố cấu thành tội phạm thì người vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật
Ngoài ra, TCTD có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng
Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn, nếu các bên không có thỏa thuận khác thì TCTD có quyền xử lý nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hợp đồng cấp tín dụng, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật Việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ, mua bán nợ của TCTD thực hiện theo quy định của Ngân hàng nhà nước
Trong trường hợp khách hàng vay hoặc người bảo đảm không trả được
Trang 36nợ do bị phá sản, việc thu hồi nợ của TCTD được thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản
1.2.2.6 Quy định về giải quyết tranh chấp
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay của NHTM là biểu hiện
sự mâu thuẫn hay bất đồng về quyền và lợi ích phát sinh giữa các chủ thể từ hoạt động cho vay, dẫn đến xung đột lợi ích
Trong điều kiện của nền kinh tế hiện nay, hoạt động cho vay bằng TCTS của NHTMCP ngày càng đa dạng, không ngừng phát triển và trở nên phức tạp Vì vậy, tranh chấp trong hoạt động cho vay bằng TCTS có những biểu hiện đa dạng về chủ thể, nội dung, hình thức và mức độ khác nhau Đó
có thể là những bất đồng giữa NHTM và người đi vay trong việc trả lãi suất, điều chỉnh lãi suất hoặc có thể là mâu thuẫn giữa các bên trong việc phát mại tài sản đảm bảo , cũng có thể là tranh chấp phát sinh trong nội bộ quản lý của NHTMCP, như tranh chấp giữa các cổ đông với HĐQT, tranh chấp giữa kiểm soát viên với thành viên HĐQT, với thành viên Ban giám đốc, tranh chấp giữa thành viên HĐQT với thành viên Ban giám đốc… Tuy nhiên, trong thực tế, tranh chấp xảy ra chủ yếu liên quan đến lợi ích kinh tế, với một bên là NHTMCP và một bên là khách hàng vay vốn
Với tính chất phức tạp như vậy, cần thiết phải có quy định của pháp luật liên quan đến giải quyết tranh chấp trong hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên tranh chấp và đảm bảo trật
tự pháp luật trong kinh doanh thương mại nói chung và trong hoạt động cho vay bằng TCTS nói riêng
Thông thường pháp luật các quốc gia quy định các phương thức giải quyết tranh chấp đó là: (i) Thương lượng; (ii) Hòa giải; (iii) Trọng tài thương mại; (iv) Tòa án
Tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay bằng TCTS của NHTM
có những đặc điểm sau:
Trang 37Thứ nhất, nội dung của tranh chấp trong hoạt động cho vay bằng TCTS
của NHTM chủ yếu là mâu thuẫn về lợi ích kinh tế liên quan đến số tiền vay
và lãi suất cho vay, các khoản phí có liên quan đến khoản vay hoặc về tài sản thế chấp Bởi lẽ, mục đích cơ bản mà các chủ thể mong muốn đạt tới khi tham gia hoạt động cho vay là lợi nhuận hoặc đối tượng đầu tư, sử dụng Do vậy, trong quá trình thực hiện xung đột về lợi ích kinh tế là nội dung cơ bản của mọi tranh chấp trong hoạt động cho vay của NHTM Đặc điểm này giống như đặc điểm của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại nói chung, dù có những điểm khá đặc thù về đối tượng tranh chấp Ngoài ra nội dung tranh chấp cũng có thể là xung đột lợi ích, xung đột về thẩm quyền giữa các bên là chủ thể kiểm soát cho vay bằng TCTS trong chính nội bộ ngân hàng
Thứ hai, nguyên tắc giải quyết tranh chấp luôn ưu tiên bình đẳng, thỏa
thuận Khi có mẫu thuẫn phát sinh các bên luôn đặt nguyên tắc bình đẳng, thỏa thuận lên hàng đầu, trong trường hợp không thể thỏa thuận được thì các bên sẽ giải quyết tranh chấp thông qua phương thức giải quyết của cơ quan Trọng tài, Tòa án Đây cũng là đặc điểm chung của tranh chấp trong kinh doanh, thương mại
Thứ ba, chủ thể của quan hệ tranh chấp trong hoạt động kiểm soát cho
vay bằng TCTS chủ yếu giữa một bên là NHTM, còn bên kia là khách hàng vay (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân…) Trong quan hệ này, NHTM đóng vai trò là bên cho vay, có quyền và lợi ích xung đột với bên vay trong HĐTD Ngoài ra chủ thể tranh chấp cũng có thể là các thành viên trong nội bộ NHTMCP: Cổ đông công ty, kiểm soát viên, thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban giám đốc
Thứ tư, tranh chấp trong hoạt động cho vay bằng TCTS phát sinh gắn
liền với hoạt động cho vay bằng TCTS của NHTM Hoạt động cho vay bằng TCTS của NHTM vốn rất đa dạng, chịu sự tác động, điều tiết của các quy luật
Trang 38và yếu tố riêng của thị trường, chẳng hạn như quy luật cung cầu, sự biến đổi không ngừng của giá cả, chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước Những tranh chấp phát sinh trong trong hoạt động cho vay của NHTM cũng vì thế
mà có những biến đổi linh hoạt về hình thức biểu hiện, về tính chất mức độ và đòi hỏi cách thức giải quyết linh hoạt của các bên
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động cho vay bằng TCTS tại NHTMCP là:
Một là, việc giải quyết tranh chấp phải được thực hiện một cách nhanh
chóng, kịp thời, thuận lợi, không làm hạn chế, cản trở các hoạt động của các bên tranh chấp
Hai là, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay bằng
TCTS tại NHTMCP phải bảo đảm giữ bí mật của hoạt động kinh doanh cũng như uy tín, quan hệ hợp tác giữa các bên trong quan hệ tranh chấp Nếu việc giải quyết tranh chấp dẫn đến làm lộ bí mật kinh doanh hoặc gây tổn hại đến
uy tín, danh dự của các bên thì các bên có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp khác tốt hơn cho mình
Ba là, ưu tiên giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay
của NHTM bằng hình thức thương lượng trực tiếp giữa các bên Nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc có tính nền tảng là đảm bảo quyền tự định đoạt cho các bên tranh chấp Điều này có nghĩa là, cho dù có tranh chấp, nhưng đây là những tranh chấp về lợi ích kinh tế nên các bên có xu hướng
tự thương lượng để giải quyết Các phương thức giải quyết tranh chấp có
sự xuất hiện, can thiệp của bên thứ ba chỉ được sử dụng khi không thể giải quyết bằng tự thương lượng, lúc này các bên có yêu cầu bên thứ ba can thiệp để giải quyết tranh chấp
Bốn là, việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động cho vay của
NHTM phải có chi phí hợp lý về thời gian, cơ hội và chi phí tiền bạc Mỗi bên
Trang 39đều có quyền cân nhắc, so sánh giữa cái được và những chi phí phải bỏ ra để giải quyết tranh chấp, lợi ích kinh tế và sự ổn định quan hệ kinh doanh để từ
đó lựa chọn phương thức và đưa ra yêu cầu giải quyết tranh chấp Tranh chấp chỉ được giải quyết thỏa đáng khi các bên đã tìm ra phương án dung hòa được các lợi ích của các bên
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ nghiên cứu về hoạt động kiểm soát cho vay bằng TCTS, luận văn đã nghiên cứu được những vấn đề lý luận chủ yếu sau:
Kiểm soát cho vay bằng TCTS tại NHTMCP là quá trình đo lường kết
quả hoạt động cho vay bằng thế chấp tài sản ở NHTMCP, so sánh với các tiêu chuẩn, phát hiện sai lệch và nguyên nhân, tiến hành các điều chỉnh nhằm cho kết quả cuối cùng phù hợp với mục tiêu mà NHTMCP xác định khi cho vay bằng TCTS tại NHTMCP
Pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS ở NHTMCP là hệ thống các quy
phạm pháp luật quy định và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình kiểm soát các hoạt động cho vay bằng TCTS tại NHTMCP
Nội dung chủ yếu của pháp luật kiểm soát cho vay bằng TCTS tại NHTMCP: (i) Quy định về chủ thể kiểm soát; (ii) Quy định về đối tượng bị kiểm soát; (iii) Quy định về quy trình kiểm soát; (iv) Quy định về nội dung kiểm soát; (v) Quy định về xử lý vi phạm; (vi) Quy định về giải quyết tranh chấp