1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn tại huyện như xuân, tỉnh thanh hóa

117 348 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã bám sát các quy định của Luật và thực tiễn của địa phươ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ ANH TUẤN

HO¹T §éNG GI¸M S¸T CñA HéI §åNG NH¢N D¢N CÊP HUYÖN - QUA THùC TIÔN T¹I HUYÖN NH¦ XU¢N, TØNH THANH HãA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

LÊ ANH TUẤN

HO¹T §éNG GI¸M S¸T CñA HéI §åNG NH¢N D¢N CÊP HUYÖN - QUA THùC TIÔN T¹I HUYÖN NH¦ XU¢N, TØNH THANH HãA

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS MAI VĂN THẮNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, dẫn chứng trong luận văn đảm bảo tính chính xác, độ tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành toàn bộ các môn học và thanh toán các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội

Tôi viết lời cam đoan này và kính đề nghị Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để cho tôi được bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn./

NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Anh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 8

1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong tổ chức bộ máy Nhà nước của Việt Nam 8

1.1.1 Vị trí của Hội đồng nhân dân cấp huyện 8

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện 11

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 14

1.2.1 Khái niệm hoạt động giám sát 14

1.2.2 Đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 17

1.2.3 Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 21

1.3 Nội dung, hình thức, hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 25

1.3.1 Nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 25

1.3.2 Các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 26

1.3.3 Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 33

1.4 Hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện và các yếu tố ảnh hưởng 34

1.4.1 Quan niệm về hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân 34

1.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 35

Kết luận Chương 1 42

Trang 5

Chương 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG

GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA 43 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng hoạt động giám sát của Hội

đồng nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa 43

2.1.1 Khái quát những đặc điểm về tự nhiên, kinh tế, văn hóa-xã hội huyện

Như Xuân 43 2.1.2 Khái quát về cơ cấu, tổ chức của Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân

tỉnh Thanh Hóa 44

2.2 Thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về hoạt động giám sát của

Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa 48 2.3 Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân qua thực

tiễn huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa 52

2.3.1 Hoạt động giám sát thông qua việc xem xét các báo cáo trình tại kỳ họp 52 2.3.2 Hoạt động giám sát thông qua hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn 56 2.3.3 Hoạt động giám sát thông qua xem xét văn bản quy phạm pháp luật

của Ủy ban nhân dân cùng cấp, Nghị quyết của các Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp 61 2.3.4 Hoạt động giám sát thông qua thành lập Đoàn giám sát 63 2.3.5 Hoạt động giám sát thông qua bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ

chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu 75 2.3.6 Hoạt động giám sát thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của

công dân 77

2.4 Đánh giá chung tình hình thực hiện hoạt động giám sát của Hội

đồng nhân dân qua thực tiễn huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa 79

2.4.1 Thực trạng đảm bảo hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện

Như Xuân tỉnh Thanh Hóa 79 2.4.2 Nguyên nhân cơ bản của những kết quả đạt được, tồn tại hạn chế cần

khắc phục 81

Kết luận Chương 2 84

Trang 6

Chương 3: QUAN ĐIỂM, KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU

QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA 85

3.1 Quan điểm, phương hướng nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 85

3.2 Những kiến nghị về hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 88

3.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa trong giai đoạn hiện nay 90

3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Ban Thường vụ Huyện ủy Như Xuân đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện 90

3.3.2 Nâng cao năng lực của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện 93

3.3.3 Nâng cao năng lực giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân 93

3.3.4 Nâng cao năng lực giám sát của các Ban thuộc Hội đồng nhân dân huyện 94

3.3.5 Nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy giúp việc cho Hội đồng nhân dân 95

3.3.6 Nâng cao chất lượng thực hiện các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân 95

3.3.7 Tăng cường mối quan hệ phối hợp giám sát giữa Hội đồng nhân dân huyện với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức Đoàn thể 99

3.3.8 Tạo các điều kiện thuận lợi cho Hội đồng nhân dân huyện trong hoạt động giám sát 101

Kết luận Chương 3 103

KẾT LUẬN 104

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân huyện Như Xuân khóa XIX

Bảng 2.2 Cơ cấu đại biểu Hội đồng nhân huyện Như Xuân khóa XX,

Bảng 2.3 Số chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện Như

Bảng 2.4 Số chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân huyện Như

Bảng 2.5 Các cơ quan, đơn vị trả lời chất vấn tại các kỳ họp của Hội

Bảng 2.6 Số lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ

Bảng 2.7 Số lượng Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã, thị

Bảng 2.8 Thống kê các Đoàn giám sát của Thường trực Hội đồng

nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân huyện Như

Bảng 2.9 Thống kê về kết quả lấy phiếu tín nhiệm của Hội đồng nhân

dân huyện Như Xuân theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 của

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu luận văn

Trong những năm qua, Hội đồng nhân dân các cấp nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng đã phát huy được vị trí, vai trò, chức năng là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân Hội đồng nhân dân đã thực hiện tốt chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và tổ chức hoạt động giám sát theo đúng quy định của Luật Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân đã bám sát các quy định của Luật và thực tiễn của địa phương, thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, trong đó có hoạt động giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trên địa bàn

Ngoài việc tổ chức giám sát thường xuyên theo quy định cuả Luật, Hội đồng nhân dân đã tập trung giám sát những vấn đề nổi cộm, bức xúc mà cử tri và Nhân dân kiến nghị, quan tâm Hoạt động giám sát đã nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản

lý, khẳng định được vị trí, vai trò, chức năng của Hội đồng nhân dân trong hệ thống chính trị, góp phần ổn định chính trị trên địa bàn, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển Do đó giám sát của Hội đồng nhân dân có một vị trí, vai trò rất quan trọng, bảo đảm Hội đồng nhân dân thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân; là công cụ quan trọng, nhằm giúp các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân nhận thức được sai sót, bất cập trong quản lý và hoạt động của mình

Thông qua hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân phát hiện những vấn đề bất cập, chỉ ra nguyên nhân và có những kiến nghị, đề xuất nhằm giải quyết những tồn tại, thiếu sót, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh tại địa phương Do vậy, nâng cao hiệu quả giám sát không chỉ là quá trình nỗ lực, phấn đấu không ngừng của cơ quan dân cử mà còn là đòi hỏi, mong đợi từ phía cử tri và Nhân dân

Tuy nhiên, trong thực tiễn, hoạt động của Hội đồng nhân dân nói chung và

Trang 9

Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng còn bộc lộ một số hạn chế như hoạt động còn hình thức, chưa phát huy và đáp ứng được vị trí, vai trò, chức năng theo quy định của Hiến pháp và Luật Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân còn lúng túng, bị động, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ Năng lực giám sát còn hạn chế, chưa kịp thời phát hiện và giám sát những vấn đề nổi cộm, bức xúc mà cử tri

và Nhân dân quan tâm; khả năng phát hiện các vấn đề trong giám sát còn yếu Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát của một số cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa nghiêm túc dẫn đến hiệu lực, hiệu quả giám sát chưa cao

Để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, Đảng và nhà nước ta đã từng bước hoàn thiện thể chế như ban hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 Đây là những văn bản quan trọng quy định về cơ cấu, tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước ở Trung ương và địa phương và liên quan mật thiết đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân ở các cấp chính quyền địa phương, trong đó có cấp huyện

Dù có những đổi mới đáng kể, nhưng trên thực tế, có thể thấy hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được mong mỏi của người dân Hệ thống chính quyền cơ sở vẫn còn nhiều bất cập,

cơ chế giám sát quyền lực ở địa phương còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết được một cách thực chất vai trò, bản chất của cơ quan dân cử địa phương

Huyện Như Xuân của Tỉnh Thanh Hóa là một huyện vùng núi với nhiều khó khăn, hạn chế về điều kiện kinh tế, tổ chức nhân sự, ý thức pháp luật Bên cạnh đó, đây cũng là huyện nằm cách xa trung tâm, có nhiều đồng bào dân tộc cùng chung sống Chính vì vậy, trong những năm qua, dù đã có nhiều đổi mới trong tổ chức hệ thống chính trị, tăng cường vai trò giám sát của cơ quan dân cử, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và kết quả chưa thực sự như mong muốn

Xuất phát từ những lý do trên và đồng thời với những trải nghiệm của cán bộ làm công tác giám sát trong Hội đồng nhân dân cấp huyện, tác giả quyết định lựa

Trang 10

chọn đề tài “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn

tại huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa” để thực hiện Luận văn thạc sĩ Luật học để,

một mặt, tiếp cận nghiên cứu sâu hơn nữa những vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng của hoạt động này, mặt khác, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp góp phần nhỏ vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động giám sát hết sức quan trọng của cơ quan dân cử này

2 Mục tiêu nghiên cứu của Luận văn

Luận văn hướng đến đạt được các mục tiêu sau:

- Nhận thức một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn ở Như Xuân, Thanh Hóa;

- Trên cơ sở những nghiên cứu về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn tại Như Xuân, Thanh Hóa để đưa ra những phương hướng, kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật, cơ chế thực hiện giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và ở huyện Như Xuân nói riêng

3 Đối tƣợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Những vấn đề lý luận, lịch sử về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện;

- Thực tiễn hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện ở huyện Như Xuân, Thanh Hóa;

- Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách của trung ương và địa phương liên quan đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng;

- Nghiên cứu thực tiễn tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân huyện Như Xuân liên quan đến cơ chế và thực hiện hoạt động giám sát;

Trang 11

- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân;

- Đề ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và cơ chế đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân nói riêng

- Phạm vi nghiên cứu

Để đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu, Luận văn chọn phạm vi nghiên cứu về thời gian là từ giai đoạn 2011 đến nay bởi nhiệm kỳ mới của Hội đồng nhân dân cấp huyện mới được tổ chức từ cuối năm 2016 nên chưa đủ số liệu để phân tích

mà cần có số liệu phân tích so sánh giữa hai nhiệm kỳ

Về mặt thực tiễn, đề tài luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa bàn huyện Như Xuân của tỉnh Thanh Hóa

4 Phương pháp nghiên cứu của Luận văn

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học và các phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Hội đồng nhân dân, chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân

Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong Luận văn chủ yếu là phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tiễn

5 Tình hình nghiên cứu Luận văn

Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân là đề tài nghiên cứu đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu thực hiện ở các cấp độ khác nhau

Trước hết cần phải kể đến Sách chuyên khảo “Chức năng giám sát của Hội

đồng nhân dân” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, NXB Tư pháp, 2016 Đây là

công trình cơ bản và toàn diện nghiên cứu về kinh nghiệm tổ chức Hội đồng địa phương của các quốc gia trên thế giới, quy định pháp luật hiện hành về chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân, phân tích thực trạng và đưa ra các giải pháp kiến nghị nâng cao hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung

Trang 12

Cuốn “Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử ở Việt Nam: Vấn đề và giải

pháp” do TS Nguyễn Sĩ Dũng và PGS.TS Vũ Công Giao làm đồng chủ biên, Nxb

Hồng Đức, 2015 Cuốn sách phân tích về hoạt động giám sát của các cơ quan dân

cử trên thế giới và Việt Nam, về đối tượng, công cụ giám sát, các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động giám của các cơ quan dân cử trên thế giới và thực tiễn ở Việt Nam Qua những phân tích nhóm tác giả đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay

Cuốn sách chuyên khảo của PGS.TS Trương Thị Hồng Hà (chủ biên) “Hoạt

động giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế giám sát quyền lực nhà nước”

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2015; Phạm Ngọc Kỳ, Về quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản, Nxb Tư pháp, Hà Nội viết năm 2007

Ngoài những công trình trên, những khía cạnh khác nhau về hoạt động của

cơ quan dân cử ở Việt Nam và trên thế giới được phân tích ở rất nhiều các công trình liên quan về hiến pháp, nghị viện các quốc gia trên thế giới, về Hiến pháp Việt Nam năm 1946 và trong nhiều công trình về quyền con người ở Việt Nam

Ở cấp độ Luận văn, luận án cũng có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân Tiêu biểu phải kể đến Luận án Tiến sỹ Luật học của

tác giả Nguyễn Hải Long "Hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng

nhân dân" năm 2012 được bảo vệ tại Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội dưới sự

hướng dẫn của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế Đây là công trình nghiên cứu quy mô, toàn diện và có chất lượng về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung ở

Việt Nam Luận án của Nguyễn Nam Hà “Chất lượng hoạt động giám sát của Hội

đồng nhân dân cấp tỉnh theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Luật án tiến sĩ Luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011;

Luận án của Bùi Giang Hưng “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân

tỉnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân, vì dân” Luận án tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội 2015

Ngoài ra, còn có nhiều công trình khác như: Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác

giả Đỗ Thị Phương "Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Hải Dương"

Trang 13

năm 2009; Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Tô Thị Hồng Lê "Hoạt động

giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu" năm 2013; Luận văn Thạc sĩ của

Lê Thị Bình Tuyết “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện qua

thực tiễn ở tỉnh Thanh Hóa” bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQGHN năm 2014; Luận văn

Thạc sĩ của Lê Thị Thu Hòa “Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh

qua thực tiễn ở Thanh Hóa” bảo vệ tại Khoa Luật năm 2016; Luận văn Thạc sĩ

“Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh – qua thực tiễn ở tỉnh Hưng Yên” của Phạm Thị Thảo bảo vệ tại Khoa Luật, ĐHQGHN năm 2015; Luận văn

Thạc sĩ của Lý Minh Vững “Vai trò của Hội đồng nhân dân trong việc giám sát

hoạt động của các cơ quan tố tụng hình sự” thực hiện tại Khoa Luật, ĐHQGHN

năm 2013 và nhiều công trình nghiên cứu liên quan

Có thể khẳng định, các nghiên cứu trên đã đề cập đầy đủ đến các vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân như chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, hình thức, đặc điểm hoạt động giám sát Tuy nhiên chưa

có đề tài nào nghiên cứu toàn diện và đầy đủ về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện tại một huyện miền núi cao, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn của tỉnh Thanh Hóa với tính chất là một đề tài độc lập, đi sâu nghiên cứu thực tiễn để đánh giá những mặt được, mặt chưa được, qua đó đưa ra được những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và cấp huyện nói riêng

6 Ý nghĩa của Luận văn

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa cho việc nâng cao nhận thức về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa

Những kiến nghị, đề xuất trong luận văn có thể sẽ được xem xét vận dụng ở Như Xuân để nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân ở đây

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu trong hoạt động nghiên cứu

Trang 14

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng và thực trạng hoạt động giám sát của Hội

đồng nhân dân cấp huyện qua thực tiễn huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Quan điểm, kiến nghị và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động

giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Như Xuân tỉnh Thanh Hóa

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN

1.1 Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong tổ chức bộ máy Nhà nước của Việt Nam

1.1.1 Vị trí của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Trở lại tiến trình lịch sử của dân tộc, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc tổ chức bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương để quản lý xã hội

và kháng chiến, kiến quốc Theo đó, ngày 22/11/1945, thay mặt Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 63/SL về tổ chức Hội đồng nhân dân

và Ủy ban hành chính các cấp Tại Sắc lệnh này, vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân đã được quy định tại Điều thứ nhất: "Để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương trong nước Việt Nam, sẽ đặt hai thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính Hội đồng nhân dân do Nhân dân bầu ra theo lối phiếu phổ thông và trực tiếp đầu phiếu là cơ quan thay mặt cho dân" Theo đó, Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, được Nhân dân trực tiếp bầu ra

Ngay từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Đảng và nhà nước ta

đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát triển Hội đồng nhân dân Theo đó, Hội đồng nhân dân đã làm được nhiều việc ích nước, lợi dân, đã thể hiện được vai trò là cơ quan đại biểu của Nhân dân, là chỗ dựa vững chắc để Nhân dân xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng ngày càng lớn mạnh

Để đáp ứng với yêu cầu thực tiễn, phát triển đi lên của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử, mô hình Hội đồng nhân dân ngày càng hoàn thiện; địa vị pháp lý của Hội đồng nhân dân ngày càng được đề cao, là cơ quan dân cử ở địa phương, đại diện cho Nhân dân địa phương, thực hiện chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương và giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên

Trang 16

địa bàn Theo đó, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều có quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và được cụ thể hóa tại Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 [48]

Tại Hiến pháp năm 2013 quy định: "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực

nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương

và cơ quan nhà nước cấp trên" [45, Điều 113]

Và tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm

2015 quy định: "Hội đồng nhân dân gồm các đại biểu Hội đồng nhân dân do cử tri

ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên"

Tại Khoản 2 Điều 6 quy định: " Đại biểu Hội đồng nhân dân là người đại

diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước Hội đồng nhân dân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình"

Như vậy, Hội đồng nhân dân cấp huyện có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ máy chính quyền địa phương, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương

và giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp theo đúng quy định của pháp luật

Tính chất quyền lực nhà nước của Hội đồng nhân dân cấp huyện thể hiện ở chỗ đây là cơ quan nhà nước ở địa phương (trong phạm vi địa giới hành chính nhất định), được thành lập bởi các đại biểu do Nhân dân địa phương bầu ra, đại diện cho

ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ Nhân dân Thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương; biến ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương thành quy phạm pháp luật (Nghị quyết) mang tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan

Trang 17

trong phạm vi địa phương mình Căn cứ vào pháp luật, có quyền bầu, miễn nhiệm, bãi miễn các chức danh thuộc Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, Hội thẩm nhân dân của Tòa án nhân dân cùng cấp, đồng thời cũng có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu ra Đồng thời có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân để đảm bảo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân được thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn…vv

Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân cấp huyện thể hiện ở chỗ Hội đồng nhân dân là cơ quan do cử tri ở địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín Về mặt hình thức, tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân huyện được thể hiện rõ nét nhất ở vấn đề cơ cấu đại biểu trong Hội đồng nhân dân Hội đồng nhân dân các cấp có một số lượng đại biểu nhất định đại diện cho nữ giới, người dân tộc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các cơ quan Nhà nước khác đóng tại địa phương Điều này có nghĩa, Hội đồng nhân dân không đại diện cho một Đảng phái, tổ chức nào mà đại diện cho toàn thể Nhân dân; thành phần trong Hội đồng nhân dân huyện thể hiện khối đại đoàn kết của toàn dân sống trong địa phương đó Tính chất đại diện của Hội đồng nhân dân khác với tính chất đại diện của Quốc hội Tại Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"; Khoản 1 Điều 79 Hiến pháp năm 2013 cũng quy định" Đại biểu Quốc hội là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình và của Nhân

dân cả nước " Còn Hội đồng nhân dân là cơ quan chỉ đại diện cho Nhân dân địa

phương bầu ra mình, đồng thời chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương đó và

cơ quan Nhà nước cấp trên Bằng các hoạt động như tiếp xúc cử tri, giám sát, khảo sát, tiếp công dân, kiến nghị chỉ đạo giải quyết khiếu nại, tố cáo… các đại biểu Hội đồng nhân dân thường xuyên lắng nghe, thu thập các ý kiến, kiến nghị, phản ánh của cử tri, Nhân dân và chuyển đến các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xem xét, giải quyết Thường xuyên đôn đốc các cơ quan hữu quan, người có thẩm

Trang 18

quyền phải nghiên cứu để giải quyết thỏa đáng những vấn đề mà cử tri, Nhân dân kiến nghị Trên cơ sở đó, Hội đồng nhân dân thay mặt Nhân dân quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, bảo đảm những quyết định đó thể hiện được ý chí và nguyện vọng của Nhân dân, phù hợp với lòng dân và tuân thủ nghiêm Hiến pháp, pháp luật

Để cụ thể hóa Điều 110, 111 Hiến pháp 2013, tại Khoản 1, Điều 4 Luật Tổ chức

chính quyền địa phương năm 2015 quy định" Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này" Theo đó, Hội

đồng nhân dân được hình thành ở ba cấp đó là cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Hội đồng nhân dân cấp huyện là cơ quan đại diện cho Nhân dân địa phương trong huyện, do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Vì vậy, Hội đồng nhân dân cấp huyện có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp quyết định những vấn đề trên các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh ở địa phương và giám sát hoạt động tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân theo đúng quy định của pháp luật

1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bộ máy chính quyền địa phương ngày càng được hoàn thiện theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy đối tượng

là tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân để phục vụ; sự hài lòng của tổ chức, doanh nghiệp và Nhân dân là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước Tại mục 2, Chương II Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 có quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp huyện (từ điều 19 đến điều 28), theo đó Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định các nhiệm vụ trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, khoa học công nghệ, tài nguyên và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội, dân tộc, tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính

Đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định chức năng,

Trang 19

nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương cấp huyện nói chung, trong đó có Hội đồng nhân dân tại điều 24 gồm:

- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn huyện;

- Quyết định những vấn đề của huyện trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hành chính nhà nước cấp trên

ủy quyền;

- Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã;

- Chịu trách nhiệm trước chính quyền địa phương cấp tỉnh về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện;

- Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế

- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn huyện

Và tại Điều 26 quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân cấp huyện Theo đó, Hội đồng nhân dân cấp huyện có các nhiệm vụ, quyền hạn trong tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền, cụ thể:

- Ban hành Nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân huyện;

- Quyết định biện pháp thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh; biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng chống tội phạm và các hành

vi vi phạm pháp luật khác, phòng chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật;

- Quyết định biện pháp để thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp; quyết định việc phân cấp cho chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương ở huyện;

Trang 20

- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Trưởng Ban, Phó Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

và các Ủy viên Ủy ban nhân dân huyện; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm Tòa

án nhân dân huyện;

- Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu theo quy định tại Điều 88 và Điều 99 của Luật này;

- Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện; bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp xã;

- Quyết định thành lập, bãi bỏ cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện;

- Giải tán Hội đồng nhân dân cấp xã trong trường hợp Hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của Nhân dân và trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phê chuẩn trước khi thi hành;

- Bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân huyện và chấp nhận việc đại biểu Hội đồng nhân dân huyện xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu

Trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường, Hội đồng nhân dân huyện có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Thông qua kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trung hạn và hằng năm của huyện, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện trước khi trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt;

- Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự toán ngân sách huyện; điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương Quyết định chủ trương đầu tư chương trình, dự án của huyện theo quy định của pháp luật;

- Quyết định quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn huyện trong phạm vi được phân quyền;

- Quyết định biện pháp quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển và các nguồn tài nguyên

Trang 21

thiên nhiên khác; biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường, phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai, bão, lụt ở địa phương theo quy định của pháp luật

- Hội đồng nhân dân cấp huyện còn quyết định biện pháp phát triển hệ thống giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ sở; biện pháp phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin, thể dục, thể thao; biện pháp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phòng chống dịch bệnh, thực hiện chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình; biện pháp phát triển việc làm, thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói, giảm nghèo; biện pháp bảo đảm việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật

- Hội đồng nhân dân cấp huyện giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện; giám sát hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp, Ban của Hội đồng nhân dân cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và văn bản của Hội đồng nhân dân cấp xã và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật

Có thể khẳng định rằng, chức năng, nhiệm vụ Hội đồng nhân dân cấp huyện được quy định cụ thể tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, là cơ sở

để Hội đồng nhân dân cấp huyện thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ trong điều kiện nước ta đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập sâu rộng quốc tế

1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.2.1 Khái niệm hoạt động giám sát

Để nhận thức đúng đắn bản chất, vai trò, nội dung và hình thức thực hiện chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung, trước hết cần hiểu toàn diện, đầy đủ khái niệm giám sát Hiện nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm giám sát

"Giám sát" nguyên gốc là từ Hán - Việt, được hiểu là xem xét và đàn

Trang 22

hạch Theo quan niệm này, giám sát là xem xét, kiểm tra; ngoài ra đối tượng bị giám sát phải chịu sự chất vấn của chủ thể giám sát [8, tr 25]

Trong từ điển tiếng Việt do Nhà xuất bản Hồng Đức biên soạn, “giám sát”

được hiểu là động từ chỉ “sự theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng quy định không”? [27, tr.243];

Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng thì định nghĩa “giám sát” là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không? là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định [52] Còn Đại

từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin chì định nghĩa “giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” [6]

Trên phương diện khoa học, cuốn “Nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, giám sát mang tính quyền lực nhà nước là “sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh” [48, tr.14,15]

Như vậy, tuy cách diễn đạt cả về lĩnh vực ngôn ngữ và khoa học có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng tựu chung lại từ "giám sát" có nội dung cơ bản là: Giám sát là quá trình các chủ thể nắm quyền lực tiến hành thường xuyên, liên tục một hoặc một số hoạt động theo dõi, kiểm tra các chủ thể thực hiện quyền lực để trên cơ sở đó đánh giá, kiến nghị, đưa ra các biện pháp đình chỉ, hủy bỏ các hành vi

vi phạm pháp luật của các đối tượng bị giám sát, buộc các chủ thể đó tuân thủ chức năng, nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật

Xét trên phương diện pháp lý, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân được chính thức quy định trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1983 Trong Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 1994, chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân một lần nữa được quy định đầy đủ, cụ thể hơn Với sự ra đời của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm

Trang 23

2003, chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân đã được quy định trong chương III với 24 điều (từ Điều 57 đến Điều 81) với những quy định khá chi tiết, cụ thể đã góp phần giúp Hội đồng nhân dân thuận lợi trong quá trình giám sát, đồng thời nâng cao

vị thế, vai trò của Hội đồng nhân dân Tuy nhiên, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và

Ủy ban nhân dân vẫn chưa giải thích một cách cụ thể, rõ ràng thuật ngữ này

Để quy định cụ thể hơn chức năng giám sát của Hội đồng nhân dân, ngày 20/11/2015, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân quy định giám sát là "việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý" Giám sát của Hội đồng nhân dân huyện bao gồm giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân Mặc dù vậy, trong tất cả các văn bản pháp luật nêu trên đều không đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh về giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng

Từ những phân tích trên, dưới góc độ khoa học pháp lý, theo tác giả khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng

được hiểu là: Việc Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban

của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; từ đó đưa ra các kết luận và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền, góp phần phát huy mọi tiềm năng, lợi thế của địa phương để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh

Như vậy, giám sát của Hội đồng nhân dân thực chất là thực hiện sự ủy

Trang 24

nhiệm quyền lực của Nhân dân để giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức,

cá nhân theo đúng quy định của pháp luật, là một hình thức thực hiện quyền giám sát của Nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lực nhà nước là Hội đồng nhân dân các cấp Hoạt động giám sát nhằm kiểm soát thực thi quyền lực nhà nước Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính của công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra Trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu, khảo sát, phỏng vấn trực tiếp và các điều kiện cần thiết khác để hoạt động giám sát được thực hiện nghiêm túc, hiệu quả

1.2.2 Đặc điểm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Căn cứ theo các quy định của pháp luật, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, về chủ thể của hoạt động giám sát Theo Điều 57 Luật tổ chức Hội

đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, giám sát của Hội đồng nhân dân huyện bao gồm: giám sát của Hội đồng nhân dân tại kỳ họp, giám sát của Thường trực Hội đồng nhân dân, giám sát của các Ban của Hội đồng nhân dân và giám sát của đại biểu Hội đồng nhân dân

Tuy nhiên, tại Điều 87, chương VI, mục 1, hoạt động của Hội đồng nhân dân tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và quy định tại điểm d, Khoản

5, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 có quy định thêm giám sát của Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân Đây là quy định mới của Luật, mở rộng thêm chủ thể giám sát để nâng cao vị thế, tạo thuận lợi cho Hội đồng nhân dân huyện trong hoạt động giám sát

Như vậy, chủ thể thực hiện quyền giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện bao gồm: Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân Theo đó, chủ thể giám sát của Hội đồng nhân dân bao gồm toàn thể các cơ quan trong Hội đồng nhân dân và cá nhân từng đại biểu Hội đồng nhân dân Với quy định như vậy nhằm mục đích để các cơ quan trong Hội đồng nhân

Trang 25

dân, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện chủ động thực hiện tốt và có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ giám sát, thể hiện bản chất là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương

Hai là, giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện tuân theo một quy trình, thủ tục nhất định Theo đó, để hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện thực

sự hiệu lực, hiệu quả, theo đúng quy định của pháp luật phải trải qua 2 giai đoạn, đó là: giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra (nghiên cứu hồ sơ, khảo sát, phỏng vấn các đối tượng giám sát và các tổ chức, cá nhân có liên quan) và giai đoạn đánh giá, đưa ra kiến nghị, kết luận Trong đó, giai đoạn thứ nhất là cơ sở để thực hiện giai đoạn thứ hai Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra thực hiện tốt thì việc đánh giá, kết

luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ có hiệu quả và ngược lại

Ba là, đối tượng bị giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện rất đa dạng, phong phú Theo pháp luật hiện hành, đối tượng giám sát của Hội đồng nhân dân

cấp huyện rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương và những người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Cụ thể đối tượng bị giám sát gồm:

- Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp

- Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân cùng cấp

- Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân ở địa phương

Như vậy đối tượng bị giám sát là rất đa dạng, gồm các chủ thể đại diện cho Nhân dân, đại diện cho cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, các cơ quan thuộc khối tư pháp và các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan Qua đó thấy rằng, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là rất quan trọng, vô cùng phức tạp và trên bình diện rất rộng Để hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện thực sự có hiệu lực, hiệu quả, các chủ thể giám sát của

Trang 26

Hội đồng nhân dân phải thực sự có kinh nghiệm, năng lực, bản lĩnh thì mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Bốn là, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là hoạt động có mục đích, đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân được thực hiện nghiêm túc trong thực tiễn Trước hết, mục đích của giám sát là đưa

ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, xem hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát có đúng quy định của pháp luật không, từ đó đề xuất, kiến nghị các biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái (nếu có) nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn trong bộ máy nhà nước, trên cơ

sở tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật về chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền của họ

Mặt khác, thông qua hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện, niềm tin, sự đồng thuận của cử tri và Nhân dân địa phương với các cơ quan nhà nước, với

cá nhân có chức vụ trong bộ máy nhà nước được củng cố, tăng cường, đây là điều kiện quan trọng để các cơ quan nhà nước triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách của Đảng và nhà nước đến các tầng lớp Nhân dân trên địa bàn huyện

Nhìn chung, mục tiêu giám sát là để đảm bảo rằng hoạt động của các cơ quan nhà nước phải đáp ứng, tuân thủ những nguyên tắc, thủ tục pháp lý theo quy định,

đồng thời hài hòa lợi ích giữa nhà nước và Nhân dân

Năm là, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là hoạt động mang tính dân chủ, khách quan, minh bạch Đảng và nhà nước ta đang xây dựng

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh

Theo đó, trong một nhà nước, xã hội dân chủ, thượng tôn pháp luật thì mục tiêu hoạt động của các cơ quan nhà nước đều hướng đến dân chủ, vì lợi ích của Nhân dân, lấy Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp là đối tượng phục vụ Dân chủ được xem xét không chỉ là mục tiêu, động lực mà còn là phương pháp thực hiện thông qua hoạt động giám sát Vì mục tiêu dân chủ, giám sát của Hội đồng nhân dân cấp

Trang 27

huyện thể hiện ý chí của Nhân dân về sự kiểm soát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân ở địa phương, đảm bảo rằng Hiến pháp, pháp luật, các văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan cấp trên, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện được thực thi nghiêm túc tại địa phương, do đó Hội đồng nhân dân huyện phải chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương - những người bầu ra mình để tiến hành hoạt động giám sát Đây là một kênh thông tin để cử tri và Nhân dân kiểm soát các công việc của các cơ quan nhà nước Đây cũng là nơi duy nhất ở địa phương mà các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải báo cáo, giải trình trước Hội đồng nhân dân trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao Các chất vấn được nêu tại kỳ họp, các cuộc giám sát chuyên đề đều xuất phát từ ý kiến, kiến nghị của cử tri

và Nhân dân Do đó, việc Hội đồng nhân dân thường xuyên báo cáo kết quả hoạt động giám sát của mình với cử tri và Nhân dân là hoạt động hết sức cần thiết Thông qua việc báo cáo về kết quả giám sát, cử tri và Nhân dân địa phương sẽ nắm bắt, giám sát lại hoạt động của Hội đồng nhân dân cũng như hoạt động chấp hành pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan Qua đó, nếu hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thực sự hiệu lực, hiệu quả thì mối quan hệ giữa Nhân dân địa phương với Hội đồng nhân dân được củng cố, tăng cường Vì vậy Hội đồng nhân dân tiến hành hoạt động giám sát vì Nhân dân, các hoạt động giám sát đó diễn ra dân chủ, khách quan, minh bạch và dưới sự giám sát của Nhân dân

Sáu là, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở phạm vi lãnh thổ của cấp chính quyền địa phương

Theo mô hình tổ chức quyền lực ở Việt Nam hiện nay, Hội đồng nhân dân cấp huyện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và cũng là cơ quan dân cử,

cơ quan được ủy nhiệm quyền lực của người dân địa phương trong phạm vi lãnh thổ địa phương Hội đồng nhân dân có chức năng tổ chức quyền lực và giám sát quyền lực trong phạm vi địa phương Vì vậy, giám sát việc thực hiện quyền lực là một chức năng đặc biệt quan trong của cơ quan dân cử địa phương qua đó thể hiện được

Trang 28

sứ mệnh là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và là cơ quan dân cử, cơ quan đại diện của Nhân dân

1.2.3 Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Một là, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là hết sức quan trọng trong hoạt động của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, là công

cụ đảm bảo giám sát thực hiện quyền lực của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Hiến pháp từ năm 1946 đến Hiến pháp 2013 khẳng định: Tất cả quyền lực

nhà nước thuộc về Nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực của mình thông qua cơ quan đại diện từ Quốc hội đến Hội đồng nhân dân các cấp Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thay mặt Nhân dân thực thi quyền lực nhà nước bằng cách căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật, tình hình thực tế địa phương mà quyết định các biện pháp tổ chức thực hiện Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Nghị quyết của Hội đồng nhân dân vừa mang tính đại diện, vừa mang tính quyền lực nhà nước, có giá trị bắt buộc chung đối với các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương Như vậy, ngoài chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương thì việc giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện là một trong những biện pháp cần thiết và không thể thiếu được, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân [2]

Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, vậy thì tiếng nói, tâm tư, nguyện vọng của cử tri và Nhân dân phải được coi trọng, phải bảo đảm sự tham gia thực chất của Nhân dân đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân cũng như các cơ quan nhà nước để mục tiêu cuối cùng là hướng tới quyền lợi thiết thực, chính đáng của Nhân dân Do đó, mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước, của cán bộ công chức nhà nước phải đặt dưới sự giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân thì khi ấy quyền lực nhà nước mới thực sự thuộc về Nhân dân Hễ ở đâu và chừng nào, quyền giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân bị xem nhẹ hoặc bị xâm hại thì khi ấy quyền lực của Nhân dân không được đảm bảo và thứ quyền lực ấy trở thành hình thức Chính vì vậy, bắt đầu công cuộc đổi mới, trong

Trang 29

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI năm 1986 của Đảng ta đã nhận định về Hội đồng nhân dân và xác định yêu cầu đối với Hội đồng nhân dân là "Tăng cường hiệu lực quản lý của nhà nước, trước hết nêu cao vị trí của Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp Vẫn còn tình trạng cơ quan dân cử các cấp được lựa chọn bầu cử và hoạt động một cách hình thức chủ nghĩa " [4, tr 98]

Hai là, giám sát góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong thực thi Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện Thông qua giám

sát, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện được tiếp cận, nghiên cứu khách quan nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần trong việc quyết định

những vấn đề quan trọng ở địa phương theo đúng quy định của pháp luật và ý chí,

nguyện vọng của Nhân dân Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

là việc nhằm xem xét, đánh giá các quy định của Hiến pháp và pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp có được thực thi nghiêm túc trên địa bàn huyện hay không? Các chính sách của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, của tỉnh, của huyện được các cơ quan nhà nước, các địa phương trong huyện triển khai thực hiện như thế nào? Tác động của chính sách đến sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện và các xã, thị trấn ra sao? Mục tiêu của hoạt động giám sát là đánh giá kết quả của quá trình thực hiện các chính sách của các cơ quan nhà nước, kết quả việc giải quyết các ý kiến kiến nghị hợp pháp của cử tri và Nhân dân Kết quả hoạt động giám sát có thể theo chiều hướng tích cực và ngược lại nhưng mục tiêu cuối cùng là đảm bảo Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân

huyện phải được thực thi nghiêm túc, có hiệu quả trên địa bàn huyện

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định, nhà nước

ta là nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên Theo đó, có thể suy luận rằng, với trách nhiệm đơn vị hành chính - lãnh thổ gắn liền

Trang 30

với việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện có trách nhiệm đại diện cho cử tri và Nhân dân giám sát Ủy ban nhân dân, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn xem có thực hiện nghiêm túc Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện hay không? Nếu có thì thực hiện như thế nào? Kết quả ra sao?

Hội đồng nhân dân cấp huyện quyết định các vấn đề quan trọng trên địa bàn huyện, biến ý chí của cử tri và Nhân dân trong huyện thành quy phạm pháp luật (Nghị quyết) mang tính chất bắt buộc đối với tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân

có liên quan trong phạm vi địa phương mình Thông qua hoạt động giám sát, Hội đồng nhân dân cấp huyện sẽ có thêm các căn cứ khoa học vững chắc, phù hợp với yêu cầu thực tế của địa phương khi quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương mình, đảm bảo tính khả thi của các quyết định, từ đó nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong thực tiễn cuộc sống

Hội đồng nhân dân các cấp nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng luôn xác định hoạt động giám sát là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Quán triệt nội dung Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Hội đồng nhân dân cấp huyện đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giám sát tại địa phương một cách tích cực và đạt được nhiều kết quả rõ nét trong những năm qua

Ba là, giám sát góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương nói riêng và bộ máy nhà nước nói chung Hội đồng nhân dân thực

hiện quyền giám sát để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn Trong một nhà nước pháp quyền thì yêu cầu Hiến pháp, pháp luật phải được thực thi một cách công bằng, bình đẳng và tuân thủ những nguyên tắc, thủ tục đã đề ra Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện góp phần đưa Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện được thực thi một cách nghiêm túc, công bằng, hạn chế tình trạng độc đoán hay lạm quyền trong thực

Trang 31

thi quyền lực nhà nước Do đó, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân rất quan trọng, là phương thức để yêu cầu các cơ quan hữu quan có trách nhiệm báo cáo, giải trình việc thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền, đồng thời, qua giám sát cũng phát hiện, ngăn chặn việc lạm dụng quyền lực, các hành vi tùy tiện, bất hợp pháp của các

cơ quan chức năng cũng như cán bộ, công chức trên địa bàn huyện

Thông qua hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện, các cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận ra được những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong hoạt động của mình, từ đó đưa ra những biện pháp, giải pháp khắc phục kịp thời

Ngoài ra, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện còn nhằm góp phần hạn chế sự thất thoát lãng phí nói chung, tăng tính hiệu quả trong hoạt động của các cơ quan nhà nước

Bốn là: Giám sát phát huy vai trò của các đại biểu Hội đồng nhân dân, đặc biệt là đại biểu Hội đồng nhân dân hoạt động kiêm nhiệm Thực tế phần lớn đại

biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện hoạt động kiêm nhiệm nên nhiều trường hợp, thành viên các Ban Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân thường có tâm lý “ỷ lại” cho cơ quan Thường trực Hội đồng nhân dân, các Phó Ban Hội đồng nhân dân hoạt động chuyên trách Vì vậy, hoạt động của đại biểu Hội đồng nhân dân nói chung và việc giám sát của các thành viên các Ban hoạt động kiêm nhiệm đôi khi qua loa, chiếu lệ, không chuyên sâu do thiếu kỹ năng, năng lực và bản lĩnh,

sự nhiệt tình của người đại biểu đại diện cho Nhân dân Và từ đó, việc phối hợp, hỗ trợ trong giám sát, phát hiện vấn đề, nêu quan điểm, chính kiến của thành viên các Ban Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân đối với đơn vị chịu sự giám sát

sẽ hạn chế Xu hướng này cần tránh bởi vì hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân là một công cụ quyền lực mang tính chất tập thể, do đó phải được tất cả các đại biểu Hội đồng nhân dân và thành viên các Ban Hội đồng nhân dân tham gia có trách nhiệm Trách nhiệm giám sát của Hội đồng nhân dân rất quan trọng, không thể giao cho một vài đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách hoặc các "chuyên gia", hoặc những người chỉ muốn giám sát các hoạt động bề nổi, mà cần phải được tất cả các đại biểu Hội đồng nhân dân tham gia với tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh, năng lực trước cử tri và Nhân dân đã bầu ra mình [11]

Trang 32

Năm là, giám sát góp phần đảm bảo quyền làm chủ thực sự của người dân,

góp phần tích cực vào việc kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng, đảm bảo công khai minh bạch trong tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước và sử dụng hiệu quả nguồn lực địa phương

1.3 Nội dung, hình thức, hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

1.3.1 Nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân được hiểu là những lĩnh vực hoạt động của bộ máy nhà nước nằm trong sự kiểm soát, giám sát của Hội đồng nhân dân Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân ban hành Nghị quyết và giám sát việc thực hiện Nghị quyết đó Theo đó, nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là việc Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc thực thi Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm

vi địa giới hành chính, những vấn đề trọng tâm, bức xúc mà cử tri và Nhân dân kiến nghị để các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết Căn cứ trên cơ

sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân, nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện bao trùm trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, cụ thể như sau: 1) Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế; 2) Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, y tế,

xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; 3) Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, tài nguyên và môi trường; 4) Giám sát các hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; 5) Giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; 6) Giám sát việc thi hành pháp luật của các cơ quan nhà nước ở địa phương; 7) Giám sát việc xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính

Như vậy, nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện rất rộng, toàn diện, bao quát toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, xây dựng, củng cố chính quyền, thực hiện

Trang 33

pháp luật, bảo đảm phát huy quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương Ngoài

ra, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân huyện còn có thể giám sát việc giải quyết các ý kiến, kiến nghị của cử tri nếu các cơ quan chức năng giải quyết chưa thỏa đáng, né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm

1.3.2 Các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện được hiểu là cách thức, biện pháp tác động của chủ thể giám sát đến đối tượng chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân nhằm làm cho các đối tượng đó tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện một cách tự giác và nghiêm minh

Kế thừa quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015

đã quy định cụ thể về các hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp, theo đó, Hội đồng nhân dân cấp huyện sử dụng các hình thức giám sát sau:

a) Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành án Dân

sự cùng cấp

Xem xét báo cáo là hình thức giám sát quan trọng của Hội đồng nhân dân Hình thức này là công cụ giám sát hữu hiệu để các đại biểu Hội đồng nhân dân tìm hiểu, thảo luận, phân tích về các thông tin nêu trong báo cáo, đánh giá về chất lượng, hiệu quả công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân,

Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành án Dân sự cùng cấp

Trước đây, các văn bản Luật chưa quy định Hội đồng nhân dân xem xét báo cáo hoạt động của cơ quan Thi hành án Dân sự cùng cấp Đây là điểm mới được quy định tại Khoản 1 Điều 57 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 Thông qua hoạt động này, Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể đánh giá việc thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cũng như Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp huyện trong thực tiễn đời sống xã hội; tăng cường trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu Ủy ban nhân dân và thủ trưởng các cơ quan có liên quan về công tác của họ trước Hội đồng nhân dân cùng cấp Đồng thời Hội đồng nhân dân cũng

Trang 34

có thể yêu cầu thủ trưởng các cơ quan có nghĩa vụ phải giải trình về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được nhà nước giao Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, Đảng

và nhà nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy quản lý hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương liêm chính, kiến tạo, phát triển, hoạt động lấy tiêu chí phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp là chủ yếu thì Hội đồng nhân dân càng đóng vai trò là trung tâm trong việc áp đặt trách nhiệm giải trình từ phía các cơ quan công quyền với Nhân dân Xuất phát từ xu hướng đó, phải nghiên cứu để các công cụ giám sát của Hội đồng nhân dân phải đa dạng, giúp Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân có cơ sở phản biện đối với các cơ quan thực thi chính sách, hướng tới mục tiêu tất cả vì sự phát triển của địa phương

và nâng cao đời sống của Nhân dân

Xét về thời gian thì tại kỳ họp cuối năm, Hội đồng nhân dân cấp huyện xem

xét, thảo luận báo cáo công tác hàng năm của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát

nhân dân, cơ quan thi hành án Dân sự cùng cấp Ở kỳ họp giữa năm, Thường trực

Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân huyện gửi báo cáo công tác đến đại biểu Hội đồng

nhân dân huyện; khi cần thiết, Hội đồng nhân dân huyện có thể xem xét, thảo luận Riêng đối với kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Hội đồng nhân dân cấp huyện xem xét, thảo

luận báo cáo công tác cả nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện

kiểm sát nhân dân cùng cấp

Ngoài ra, khi xét thấy cần thiết, Hội đồng nhân dân huyện có thể yêu cầu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp báo cáo về những vấn đề khác

Về trình tự xem xét các báo cáo, pháp luật hiện hành quy định rõ Hội đồng

nhân dân cấp huyện xem xét báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thi hành án Dân sự cùng cấp cùng cấp theo trình tự sau đây:

Trang 35

Thứ nhất, người đứng đầu Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ

quan Thi hành án Dân sự cấp huyện trình bày báo cáo;

Thứ hai, Trưởng Ban của Hội đồng nhân dân cấp huyện trình bày báo cáo thẩm tra (trừ các báo cáo của Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân và các Ban của Hội đồng nhân dân) các báo cáo của Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện phải được các Ban của Hội đồng nhân dân huyện thẩm tra theo sự phân công của Thường trực Hội đồng nhân dân cấp huyện

Thứ ba, Hội đồng nhân dân thảo luận Trước khi thảo luận, Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể tổ chức thảo luận ở Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân Trong quá trình thảo luận tại phiên họp toàn thể, nếu còn có những ý kiến khác nhau thì Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định;

Thứ tư, người đứng đầu cơ quan trình bày báo cáo có thể trình bày thêm những vấn đề có liên quan mà Hội đồng nhân dân cấp huyện quan tâm;

Thứ năm, Hội đồng nhân dân cấp huyện có thể ra Nghị quyết về báo cáo công tác khi xét thấy cần thiết

b) Chất vấn và trả lời chất vấn

Hoạt động chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phát huy tính dân chủ của Hội đồng nhân dân Chất vấn được hiểu là việc đại biểu Hội đồng nhân dân huyện nêu vấn đề mà cử tri và Nhân dân bức xúc, quan tâm trên các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh

án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu Thông qua hình thức chất vấn, Hội đồng nhân dân huyện nhận được các câu trả lời chất vấn của các chủ thể có trách nhiệm Qua đó, Hội đồng nhân dân cấp huyện kiểm soát được hoạt động của các cơ quan chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân Đồng thời, Hội đồng nhân dân có cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn để làm rõ và xác định trách nhiệm của đối tượng chịu sự giám sát Chất vấn cũng là cơ sở để

Trang 36

đối tượng bị chất vấn nâng cao trách nhiệm công vụ trong hoạt động lãnh đạo của mình, từ đó thực hiện tốt hơn chức trách, nhiệm vụ được giao Thực tiễn hoạt động chất vấn đã đem lại những kết quả tích cực, theo đó, các cơ quan của Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân tiếp tục theo dõi đối tượng bị chất vấn đưa ra các giải pháp sau chất vấn để giải quyết những vấn đề, nội dung bị chất vấn

Pháp luật Việt Nam, không quy định bắt buộc số cuộc chất vấn mà Hội đồng nhân dân phải tiến hành trong năm mà chỉ quy định hình thức chất vấn và trả lời chất vấn có thể được tiến hành tại kỳ họp, hoặc giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân Ngoài ra, pháp luật cũng quy định rõ về nội dung, trình tự chất vấn tại

kỳ họp, giữa hai kỳ họp của Hội đồng nhân dân để cụ thể hóa việc thực hiện quyền giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

c) Xem xét văn bản của Ủy ban nhân dân cùng cấp, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, các văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp

Đây là hình thức Hội đồng nhân dân cấp huyện giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân cùng cấp, Nghị

quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới ban hành

Về đối tượng giám sát: Là các văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới

Về trình tự giám sát: Hội đồng nhân dân cấp huyện xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cùng cấp và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới theo trình tự sau đây: Đại diện Thường trực Hội đồng nhân dân trình bày tờ trình của Thường trực Hội đồng nhân dân kèm theo văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới có dấu hiệu trái với Hiến pháp, pháp luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên; Hội đồng nhân dân thảo luận Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan; Hội đồng nhân dân cấp huyện ban hành Nghị quyết

Trang 37

Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp thì quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó

d) Thành lập Đoàn giám sát

Giám sát thông qua hoạt động của Đoàn giám sát là một trong những hình thức giám sát hữu hiệu của Hội đồng nhân dân Trên thực tế, việc sử dụng hình thức giám sát thông qua việc thành lập các Đoàn giám sát đã được Hội đồng nhân dân các cấp nói chung và Hội đồng nhân dân cấp huyện nói riêng sử dụng một cách thường xuyên và có hiệu quả Thông qua hình thức giám sát này, các đại biểu Hội đồng nhân dân nắm được tình hình thi hành pháp luật, các chính sách của nhà nước được tổ chức triển khai thực hiện ở địa phương như thế nào? Qua giám sát nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân địa phương đối với hoạt động của các cơ quan, đơn vị tại địa phương; đồng thời cũng tiếp thu các kiến nghị, đề xuất của các

cơ quan, địa phương có liên quan để từ đó có những kết luận khách quan, chính xác

về vấn đề mà Đoàn đã giám sát

Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, khi xét thấy cần thiết phải xác minh, làm rõ, hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình hoạt động của các đối tượng chịu giám sát thì Hội đồng nhân dân cấp huyện thành lập Đoàn giám sát Hàng năm, căn cứ vào chương trình giám sát đã đề ra hoặc khi xét thấy cần thiết, Thường trực Hội đồng nhân dân tự mình hoặc theo đề nghị của Ban của Hội đồng nhân dân hoặc của đại biểu Hội đồng nhân dân, Hội đồng nhân dân quyết định thành lập Đoàn giám sát Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ thành phần Đoàn giám sát, Trưởng Đoàn, Phó trưởng Đoàn giám sát, nội dung giám sát, thời gian tiến hành giám sát, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát

Theo quy định Khoản 2 Điều 55 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005, Khoản 2, Điều 62 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng

Trang 38

nhân dân năm 2015, trách nhiệm của Đoàn giám sát cơ bản bao gồm: Thông báo nội dung, kế hoạch giám sát cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu sự giám sát; Thông báo chương trình và thành phần Đoàn giám sát Mời đại diện Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan, các chuyên gia

về lĩnh vực được giám sát tham gia Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật; không làm cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm; xem xét, xác minh tại chỗ những vấn đề mà Đoàn thấy cần thiết Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành

vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền

xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật Đoàn giám sát phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình

Về trình tự xem xét báo cáo kết quả giám sát của Đoàn giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân dân được quy định cụ thể tại Khoản 4 Điều 55 Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân năm 2005, Khoản 3 Điều 62 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015

e) Bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu

Bỏ phiếu tín nhiệm là một trong những hình thức quan trọng của hoạt động giám sát Việc Hội đồng nhân dân huyện bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu là một hình thức giám sát mới của Hội đồng nhân dân Bỏ phiếu tín nhiệm được hiểu là việc Hội đồng nhân dân huyện thể hiện

Trang 39

sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm người không được Hội đồng nhân dân tín nhiệm Việc bỏ phiếu tín nhiệm góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước; đồng thời, giúp người được bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ

Quy định về các trường hợp cần lấy phiếu tín nhiệm, Nghị quyết số

35/2012/QH13 của Quốc hội đã nêu rõ: 1) Có ít nhất một phần ba tổng số đại biểu

Hội đồng nhân dân cùng cấp đề nghị; 2) Theo kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp; 3) Người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng

số đại biểu Hội đồng nhân dân trở lên đánh giá tín nhiệm thấp [34, Điều 11]

Cũng theo Nghị quyết trên, quy trình bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức

vụ do Hội đồng nhân dân bầu đã được quy định một cách rất chi tiết [34, Điều 9]

Ngoài ra, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm

2015 còn quy định cụ thể hậu quả của hình thức bỏ phiếu đó là: Người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá không tín nhiệm thì có thể xin từ chức; trường hợp không từ chức thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Hội đồng nhân dân bầu có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với người đó

f) Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân là một trong những hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện Đại biểu Hội đồng nhân dân

do Nhân dân trực tiếp bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân nên khi quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân bị xâm hại thì đại biểu Hội đồng nhân dân

có trách nhiệm yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết, đồng thời giám sát việc giải quyết đó Với tính chất là người đại diện của Nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân là cầu nối giữa Nhân dân với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 40

Hình thức giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân được hiểu là việc Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Hội đồng nhân dân tiến hành một hoặc tất cả các hoạt động bao gồm: tiếp nhận, xử lý, theo dõi, xem xét, đôn đốc và đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo luật định trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được chấp hành nghiêm minh Trong trường hợp cần thiết, Thường trực Hội đồng nhân dân tổ chức Đoàn giám sát hoặc giao cho Ban của Hội đồng nhân dân giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo tại địa phương

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Thường trực Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích của nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm, đồng thời yêu cầu người có thẩm quyền xem xét, giải quyết; nếu không đồng ý với việc giải quyết của người đó thì yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết

Cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của Thường trực Hội đồng nhân dân và phải báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày ra quyết định giải quyết

Tại các buổi tiếp công dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, các đại biểu Hội đồng nhân dân lắng nghe tâm tư nguyện vọng của Nhân dân, giải thích hướng dẫn cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo để chuyển đến cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết Qua đó khắc phục được tình trạng khiếu nại, tố cáo vượt cấp, chuyển vòng vo giữa các cơ quan nhà nước, giải quyết dứt điểm những yêu cầu bức xúc của Nhân dân

1.3.3 Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện

Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w