1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong công tác thi hành án dân sự qua thực tiễn tỉnh thanh hóa

94 449 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Một số luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận văn thạc sĩ luật học: "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Côn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN ANH TUẤN

MèI QUAN HÖ PHèI HîP GI÷A C¥ QUAN THI HµNH ¸N D¢N Sù VíI C¥ QUAN, Tæ CHøC H÷U QUAN TRONG THI HµNH ¸N D¢N Sù -

QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN ANH TUẤN

MèI QUAN HÖ PHèI HîP GI÷A C¥ QUAN THI HµNH ¸N D¢N Sù VíI C¥ QUAN, Tæ CHøC H÷U QUAN TRONG THI HµNH ¸N D¢N Sù -

QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Anh Tuấn

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CƠ QUAN, TỔ CHỨC HỮU QUAN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 9

1.1 Khái niệm, chủ thể, hình thức, đặc điểm, vai trò của mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự 9

1.1.1 Khái niệm, chủ thể, hình thức 9

1.1.2 Đặc điểm mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan 14

1.1.3 Vai trò của mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan 15

1.2 Nội dung phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự 17

1.2.1 Trách nhiệm phối hợp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện 22

1.2.2 Trách nhiệm của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự 23

1.2.3 Trách nhiệm phối hợp của Ủy ban nhân dân cấp xã 25

1.2.4 Quan hệ phối hợp với các cơ quan chuyên môn ở địa phương 25

1.3 Các yếu tố tác động đến mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan 29

Trang 5

1.3.1 Yếu tố pháp lý 29

1.3.2 Phương thức phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan 32

1.3.3 Yếu tố con người 34

Kết luận chương 1 35

Chương 2: THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CƠ QUAN, TỔ CHỨC HỮU QUAN VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN KẾT QUẢ THI HÀNH ÁN TẠI TỈNH THANH HÓA 37

2.1 Sơ lược về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình thực hiện nhiệm vụ THADS tại tỉnh Thanh Hóa có liên quan trực tiếp đến công tác phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan hữu quan 37

2.1.1 Sơ lược về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Thanh Hóa 37

2.1.2 Tình hình tổ chức, hoạt động của các cơ quan Thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 38

2.2 Thực trạng về quan hệ phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan ở tỉnh Thanh Hóa những năm gần đây 41

2.2.1 Kết quả đạt được 41

2.2.2 Nguyên nhân của kết quả đạt được 48

2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân 49

Kết luận chương 2 59

Chương 3: ĐỀ XUẤT VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO TỐT MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CƠ QUAN, TỔ CHỨC HỮU QUAN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ HIỆN NAY 60

3.1 Một số đề xuất đối với công tác phối hợp trong THADS 60

3.2 Các giải pháp 61

Trang 6

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật quy định về sự phối hợp giữa cơ quan thi

hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án

dân sự 61

3.2.2 Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chỉ đạo của chính quyền đối với hoạt động phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức hữu quan 62

3.2.3 Xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ cụ thể của các cơ quan, tổ chức hữu quan 63

3.2.4 Nâng cao năng lực, nhận thức và tinh thần trách nhiệm của Chấp hành viên và cán bộ công chức các cơ quan, tổ chức hữu quan 65

3.2.5 Xây dựng kiện toàn Ban chỉ đạo thi hành án dân sự để chỉ đạo điều hành hoạt động phối hợp thi hành án dân sự giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức hữu quan đạt hiệu quả hơn 69

3.2.6 Ban chỉ đạo thi hành án dân sự có biện pháp xử lý nghiêm minh những vi phạm, thiếu trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan, tổ chức hữu quan trong phối hợp thi hành án dân sự 72

3.2.7 Các giải pháp khác 74

Kết luận chương 3 75

KẾT LUẬN 78

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTP: Bộ Tư pháp BCA: Bộ Công an CHV: Chấp hành viên CBCC: Cán bộ, công chức TAND: Tòa án nhân dân VKSND: Viện kiểm sát nhân dân THADS: Thi hành án dân sự HĐND: Hội đồng nhân dân UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành án dân sự là hoạt động quan trọng nhằm đưa bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay của Toà án; bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và quyết định của Trọng tài thương mại được đưa ra thi hành trong thực tế, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân, góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội

Thực tế đã chứng minh, một mình cơ quan THADS tiến hành tổ chức thi hànhán một cách độc lập thì không thể hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, công tác này có đạt hiệu quả hay không cần có sự quan tâm phối hợp của các cấp, các ngành, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị Theo Luật THADS thì cơ quan THADS trong quá trình tổ chức thi hành án phải phối hợp với rất nhiều các ban, ngành, cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương Phối hợp được thực hiện thông qua quan hệ phối hợp giữa các chủ thể của mối quan hệ phối hợp Do đó khi thực hiện các nội dung phối hợp, cơ quan THADS, Chấp hành viên cần xây dựng mối quan hệ với các chủ thể khác để thực hiện các nội dung cần phối hợp Do vậy việc xây dựng mối quan

hệ phối hợp trong THADS là hết sức quan trọng trong quá trình xử lý vụ việc

về THADS Nhằm bảo đảm sự gắn kết giữa hoạt động xét xử và hoạt động thi hành án, tăng cường sự phối hợp của Tòa án, Công an, Viện kiểm sát, Ủy ban nhân dân các cấp, các ban ngành, phòng ban chuyên môn, các đơn vị, tổ chức khác có liên quan trong hoạt động THADS nhằm thi hành đạt hiệu quả cao

Trang 9

nhất Để triển khai có hiệu quả nội dung này, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa

án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã ban hành Quy chế số 14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự (THADS) Quá trình thực hiện cho thấy, Quy chế số 14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC về phối hợp liên ngành trong công tác thi hành án dân sự (THADS) không những đã tạo

cơ sở để các ngành thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình mà còn góp phần gắn kết trách nhiệm phối hợp giữa các ngành có liên quan nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác THADS Qua số liệu thống kê của Tổng cục Thi hành án dân sự Bộ Tư pháp thì, với sự nỗ lực, quyết liệt chỉ đạo của liên ngành Trung ương, Quy chế đã được triển khai toàn diện trên các nội dung, phát huy vai trò quan trọng trong thực tiễn công tác THADS Tới nay, 63/63 tỉnh, thành phố trong toàn quốc đã ban hành Quy chế phối hợp trong công tác THADS Đối với cấp huyện, về cơ bản đã tổ chức ký mới Quy chế phối hợp liên ngành, trong đó, có 100 Chi cục (của 16 tỉnh) thực hiện theo nội dung Quy chế của tỉnh đã ký mà không ban hành quy chế riêng Thực hiện Quy chế phối hợp liên ngành, đối với việc thi hành các vụ án lớn, phức tạp, khó thi hành, cơ quan THADS đã làm tốt vai trò chủ trì, chủ động báo cáo Ban Chỉ đạo THADS để chỉ đạo, phối hợp với các cơ quan Công an, TAND, VKSND cùng cấp trong việc tổ chức họp liên ngành để kịp thời có quan điểm, đường lối thống nhất giải quyết vụ việc Từ đó, giúp hạn chế lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; góp phần nâng cao hiệu quả công tác THADS; bảo đảm các bản án, quyết định được thi hành nghiêm trên thực tế, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, nhà nước và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thi hành án dân sự thì tính đến ngày 31/3/2016, tổng số việc THADS trọng điểm là 2.860 việc với tổng số tiền là 476.812.727.287.000 đồng Trong 26 địa phương có lượng

Trang 10

án lớn, các địa phương có nhiều vụ việc thuộc danh sách án trọng điểm là Bình Dương (234 việc), Đồng Nai (112 việc), Hà Nội (83 việc), Thanh Hóa (79 việc), thành phố Hồ Chí Minh (67 việc)… đặc biệt, Tây Ninh là đơn vị rà soát lập danh sách nhiều nhất với 320 vụ việc Tuy nhiên, công tác phối hợp vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định Một số Tòa chuyển giao bản án, quyết định cho cơ quan THADS cấp tỉnh và cấp huyện còn chậm, không gửi kèm các tài liệu liên quan theo đúng quy định; chưa thông báo bằng văn bản cho cơ quan THADS về trách nhiệm dân sự trong bản án, quyết định của vụ án hình

sự Một số việc cần phải có đính chính, giải thích quyết định, bản án của Tòa

án nhưng chưa thực hiện đúng theo quy định Cá biệt, có việc cơ quan THADS

đề nghị nhiều lần nhưng chưa nhận được trả lời hoặc trả lời chung chung của

cơ quan Tòa án có thẩm quyền, gây khó khăn cho việc tổ chức thi hành án

Đối với Thanh Hóa, đây là tỉnh lớn, địa bàn rộng, phức tạp Thời gian qua công tác phối hợp cũng đã thu được những kết quả nhất định Kết quả THADS của tỉnh Thanh Hóa năm 2017 (năm công tác được quy định tính từ ngày 01/10/2016 đến ngày 30/9/2017) hết sức khả quan: Đã giải quyết xong 11.048 việc có điều kiện thi hành, đạt tỷ lệ 81,4% (so với chỉ tiêu được Quốc hội, Bộ Tư pháp, Tổng cục THDS giao vượt 11,4%); Về tiền đã giải quyết xong 457 tỷ 738 triệu 948 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 53,37% (vượt chỉ tiêu Quốc hội giao 23,37%) Tuy nhiên, so với yêu cầu thì công tác phối hợp trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa cũng còn những bất cập Để làm

cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá, hoàn thiện thêm về công tác phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với cơ quan tổ chức hữu quan trong việc tổ chức thi hành các bản án trên phạm vi toàn hệ thống các cơ quan thi hành

án dân sự trong cả nước, tác giả chọn đề tài “Mối quan hệ phối hợp giữa

cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự - qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài Luận văn

Thạc sĩ Luật học tại Khoa Luật, trường Đại học quốc gia Hà Nội

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Những năm gần đây, trước những đòi hỏi khách quan của công tác THADS đã có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, cụ thể:

- Luận án Tiến sỹ luật học: Pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động thi

hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay (năm 2008) của TS.Nguyễn Quang Thái

- Luận án Tiến sỹ luật học: Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở

Việt Nam (năm 2008) của TS Nguyễn Thanh Thủy

- Luận án Tiến sỹ luật học: Hiệu quả áp dụng pháp luật thi hành án

dân sự ở Việt Nam (năm 2012) của TS Đặng Đình Quyền

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ: "Mô hình quản lý thống nhất công tác thi

hành án", mã số 96-98- 027/ĐT do Cục Thi hành án dân sự - Bộ Tư pháp chủ trì

thực hiện; Đề tài: "Thi hành án dân sự, thực trạng và hướng hoàn thiện của Dự

án VIE/98/001" do Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện dự án

- Một số luận án và công trình nghiên cứu khác như: Luận văn thạc sĩ

luật học: "Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, thực tiễn áp dụng và

hướng hoàn thiện" của tác giả Nguyễn Công Long; Luận văn thạc sĩ luật học

của tác giả Lê Xuân Hồng về "Xã hội hóa thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quang Thái về "Đổi mới tổ chức và hoạt

động thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Lê

Anh Tuấn về "Đổi mới thủ tục thi hành án dân sự ở Việt Nam"; Luận văn Thạc

sĩ luật học của tác giả Vi Trọng Thụ về "Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan

THADS với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS ở tỉnh Thanh Hóa"

(Học viện Chính trị Quốc gia)

- Bên cạnh đó là Giáo trình môn Luật tố tụng dân sự của trường Đại học

luật Hà Nội và các trường Đại học có chuyên ngành luật;

Trang 12

- Một số bài viết đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và pháp luật: Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

chuyên đề về nghiệp vụ thi hành án dân sự năm 2005: "Các biện pháp cưỡng

chế thi hành án dân sự" của tác giả Trần Phương Thảo, Tạp chí Luật học số

7/2007: "Một số kiến nghị từ thực tiễn hoạt động kiểm sát thi hành án dân sự ở

xã, phường, thị trấn" của tác giả Nguyễn Ngọc Kiên, Tạp chí Kiểm sát số

19/2006: "Hòa giải - biện pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo

trong THADS" của tác giả Phạm Quốc Toản, Tạp chí Dân chủ và pháp luật số

chuyên đề tháng 7/2006: "Thi hành án dân sự phải là công việc, nhiệm vụ của

cấp uỷ, chính quyền đoàn thể nhân dân" của tác giả Trương Vĩnh Trọng, Tạp

chí Dân chủ và PL 8/2005: "Biện pháp tự nguyện trong thi hành án dân sự" của tác giả Phạm Quang Dũng, Tạp chí Dân chủ và PL số 4/2005: "Vai trò của

công tác hòa giải trong THADS" của tác giả Đỗ Xuân Lợi, Tạp chí Dân chủ và

pháp luật số 01/2005: "Tổ chức và hoạt động thi hành án dân sự trong cải cách

tư pháp" của PGS.TS Nguyễn Văn Luyện vv

Các công trình nêu trên đã có nội dung nghiên cứu về thi hành án dân sự

ở những góc độ, khía cạnh và mức độ khác nhau, có tác động liên quan đến việc hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự Ở một số công trình cũng đã đề cập đến mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS Tuy nhiên chỉ ở góc độ nêu lên việc thực hiện mối quan hệ đó ở trong tỉnh chứ chưa nêu lên được việc

đã áp dụng thực hiện công tác phối hợp đó trong phạm vi cả nước như thế nào,

đã thực hiện đúng yêu cầu của Luật, Thông tư, Nghị định, Quy chế của Bộ, Ban, Ngành ở Trung ương xây dựng và triển khai cho địa phương áp dụng hay

chưa Chính vì thế tác giả chọn đề tài: “Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan

Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự

- qua thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” Tuy nhiên, để hoàn thiện đề tài này, tác giả

có tham khảo, kế thừa và chọn lọc các kết quả nghiên cứu nêu trên

Trang 13

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng

Qua thực tiễn mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS ở tỉnh Thanh Hóa nhằm đánh giá thực trạng THADS và mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS hiện nay của toàn hệ thống các cơ quan THADS trong cả nước để làm rõ một số vấn đề lý luận về mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS nhằm mục đích nghiên cứu

là đề xuất các giải pháp bảo đảm thực hiện mối quan hệ này trong thời gian tới

4 Phạm vi nghiên cứu

Qua thực tiễn quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS tại tỉnh Thanh Hóa Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với

cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS nói chung Phạm vi nghiên cứu được giới hạn dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật, thông qua thực tiễn và số liệu của các cơ quan THADS tại địa phương tỉnh Thanh Hóa trong 5 năm qua, từ năm 2013 đến năm 2017

Đối với các cơ quan hữu quan trong THADS ở đây bao gồm: Cơ quan Công an, TAND, VKSND; cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo

Trang 14

đảm; cơ quan tài chính; cơ quan quản lý về Tài nguyên và môi trường; cơ quan Xây dựng và Quản lý đô thị, cơ quan Tư pháp, cơ quan Thuế, Kho bạc Nhà nước, BHXH ; Các tổ chức hữu quan gồm: các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức tín dụng, ngân hàng; các văn phòng luật sư; các văn phòng công chứng; văn phòng thừa phát lại; Tổ chức Thẩm định giá, Tổ chức Bán đấu giá tài sản vv

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận của luận văn

Phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác -

Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp cụ thể được sử dụng kết hợp để nghiên cứu là: Phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp nhằm thông qua thực tiễn tại địa phương tỉnh Thanh Hóa để đánh giá thực trạng mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS hiện nay để đưa ra quan điểm, đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS theo yêu cầu đòi hỏi của xã hội hiện nay

6 Ý nghĩa và những điểm mới của luận văn

Luận văn đã đưa ra và luận giải được một số quan điểm cơ bản về mối quan hệ phối hợp giữacơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS, góp phần bổ sung, làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật thi hành án dân sự

Từ việc đánh giá thực trạng mối quan hệ phối hợp giữacơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS tại tỉnh Thanh Hóa, tác

Trang 15

giả đã đưa ra được những điểm bất cập cần bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về nội dung phối hợp trong thi hành án dân sự nói chung

Qua đó nắm bắt cụ thể vị trí, vai trò và trách nhiệm của từng cơ quan,

tổ chức trong hoạt động phối hợp với cơ quan THADS Từ đó Luận văn có những kiến nghị, đề xuất để nâng cao hiệu quả mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm giải quyết dứt điểm những

vụ án phức tạp, kéo dài, giảm lượng án tồn đọng và nâng cao hiệu quả hoạt động THADS Thông qua đó góp phần tích cực vào triển khai thực hiện các nội dung phối hợp trong THADS nhằm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước

về công tác THADS; quản lý, chỉ đạo, điều hành và tổ chức thi hành bản án, quyết định đạt hiệu quả cao

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Thi

hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự

Chương 2: Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với

cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự qua thực tiễn tại tỉnh Thanh Hóa

Chương 3: Một số yêu cầu và giải pháp nhằm đảm bảo tốt mối quan hệ

phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự hiện nay

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CƠ QUAN, TỔ CHỨC HỮU QUAN

TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, chủ thể, hình thức, đặc điểm, vai trò của mối quan

hệ phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức hữu

quan trong thi hành án dân sự

1.1.1 Khái niệm, chủ thể, hình thức

1.1.1.1 Khái niệm

Để làm sáng tỏ khái niệm về mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự, trước hết cần làm rõ khái niệm về thi hành án dân sự

Liên quan đến vấn đề trên, hiện nay đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này Mặc dù vậy, quan điểm của các nhà khoa học cũng còn khác nhau trong việc đưa ra khái niệm về thi hành án dân sự:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, thi hành án là một giai đoạn tố tụng:

"Bởi nếu tách ra thì sẽ không thực hiện được mục tiêu chung của toàn bộ quá trình tố tụng Khi chân lý được làm sáng tỏ thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án, thì mới dừng lại ở việc làm rõ đúng hay sai, phải hay trái trên văn bản giấy tờ Muốn nó được thực hiện trên thực tế, cần phải chờ ở hiệu quả của công tác thi hành án Vì vậy, thi hành án là giai đoạn tiếp theo của quá trình xét xử Ở giai đoạn này, cơ quan thi hành án áp dụng các biện pháp được pháp luật quy định để đưa chân lý trở thành hiện thực trong đời sống thực tế" Hoạt động thi hành án gắn liền với quá trình xét xử, tiếp theo quá trình xét xử Thi hành án là hoạt động bảo vệ pháp luật khác về bản chất với các hoạt động hành chính là tổ chức và quản lý Thi hành án là nhằm mục đích thực thi các

Trang 17

phán quyết của Tòa án, đảm bảo các phán quyết của Tòa án được thi hành và thi hành có hiệu quả trên thực tế Hoạt động thi hành án này gắn liền với quá trình xét xử, chịu sự chi phối của quá trình xét xử

Quan điểm thứ hai cho rằng, thi hành án là một giai đoạn mang tính

hành chính - tư pháp: Không thể đồng nhất hoạt động thi hành án với hoạt động tố tụng, bởi lẽ hoạt động thi hành án có tính chất chính trị, pháp lý, xã hội của nó Nghiên cứu hoạt động thi hành án hiện nay cần đặt trong vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền Theo quan điểm này, quá trình tố tụng mà trọng tâm là việc xét xử của Tòa án chấm dứt khi Tòa án ra phán quyết nhân danh Nhà nước, trong đó Tòa án đã xác định quyền, nghĩa vụ các bên, còn việc thi hành phán quyết đó là giai đoạn khác, không thuộc quá trình tố tụng Thi hành án không phải là giai đoạn tố tụng, bởi vì "thi hành án có mục đích khác với mục đích tố tụng, tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của các vụ việc đã diễn ra trên thực tế, trên cơ sở đó đưa ra phương án giải quyết vụ việc theo đúng quy định của pháp luật, còn thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật"

Tác giả Luận văn đồng ý với quan điểm thứ hai vì bản chất thi hành án dân sự là việc thi hành các quyết định của Tòa án tuyên trong bản án, quyết định hoặc quyết định của các cơ quan có thẩm quyền khác về dân sự, không giải quyết lại nội dung vụ việc; Là hoạt động bảo vệ quyền lợi cho các đương

sự về mặt thực tế Khi tổ chức thi hành án , Cơ quan thi hành án căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án thi hành, không giải quyết những vấn đề về nội dung vụ việc Các đương sự có quyền định đoạt khi thi hành án nhưng sự định đoạt đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội Khi thi hành án, Cơ quan thi hành án có quyền áp dụng các biện pháp do luật định để thi hành án

Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên của thi hành án, có thể hiểu thi

Trang 18

hành án dân sự là hoạt động hành chính - tư pháp của Nhà nước, do cơ quan thi hành án tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định, nhằm đảm bảo thi hành các bản án, quyết định về dân sự của Tòa án hoặc quyết định khác của

cơ quan có thẩm quyền

Như vậy, chúng ta đã nắm được khái niệm về THADS Còn để nắm rõ khái niệm mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan hữu quan trong THADS trước hết chúng ta phải nắm được khái niệm về phối hợp, về mối quan hệ và các cơ quan hữu quan trong THADs là những cơ quan nào?:

- Thứ nhất, về sự phối hợp chúng ta có thể hiểu: Sự phối hợp là hành vi

tổ chức, làm cho những người khác nhau làm việc cùng nhau cho một mục tiêu hoặc có hiệu lực thực hiện các mục tiêu mong muốn trong một tổ chức

Sự phối hợp là một chức năng quản lý các hoạt động khác nhau của tổ chức được điều chỉnh đúng và liên kết với nhau

Thứ hai, về mối quan hệ có thể hiểu: Mối quan hệ được hiểu là sự gắn

bó tác động qua lại lẫn nhau mang tính hệ thống thể hiện mối liên hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng, bộc lộ bản chất của chúng thông qua các

sự vật hiện tượng khác

- Thứ ba, các cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS là các cơ quan,

tổ chức có liên quan đến hoạt động THADS, phối hợp, hỗ trợ cơ quan THADS tổ chức thi hành các bản án, quyết định theo qui định pháp luật, gồm

cơ quan TAND, VKSND, CAND, UBND các cấp, cơ quan quản lý tài sản đăng ký bảo đảm, cơ quan tài chính, cơ quan quản lý đất đai, Tài nguyên và môi trường, cơ quan xây dựng và quản lý đô thị, cơ quan Tư pháp, cơ quan Thuế, Kho bạc Nhà nước, BHXH, các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các tổ chức Thẩm định giá, tổ chức Bán đấu giá tài sản thi hành án; các đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp Phụ

nữ, Hội Cựu chiến binh, vv

Trang 19

Theo Thạc sĩ Vi Trọng Thụ thì:

Hoạt động THADS không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân, tài sản của đương sự mà còn ảnh hưởng và có liên quan đến nhiều cơ quan, tổ chức; liên quan đến việc quản lý con người, quản

lý tài sản của người phải thi hành án, người được thi hành án Vì vậy trong quá trình THADS luôn đòi hỏi sự phối hợp, sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan

Nếu không có sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan thì cơ quan THADS không thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình và đôi khi không có khả năng tự mình thực hiện được Và do vậy, bản án, quyết định của Tòa án sẽ không được thi hành hoặc thi hành không triệt để, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, pháp luật không được tôn trọng, trật tự kỷ cương không được đảm bảo và sẽ ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước, vào pháp luật [67]

Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm: Mối quan hệ phối hợp giữa

cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan trong THADS là việc cơ quan THADS chủ động liên hệ, đấu mối, bàn bạc, yêu cầu hoặc đề nghị các

cơ quan, tổ chức, các ban ngành có chức năng, thẩm quyền liên quan đến việc

tổ chức thực thi các bản án, quyết định của Tòa án do cơ quan THADS tổ chức thi hành nhằm đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi

có hiệu quả trên thực tế

1.1.1.2 Chủ thể của mối quan hệ phối hợp trong THADS bao gồm

+ Cơ quan THADS, Chấp hành viên, thẩm tra viên, thư ký THADS và các công chức làm THADS

+ Các cơ quan tiến hành tố tụng (Cơ quan Công an, VKSND, TAND các cấp);

Trang 20

+ Cấp ủy, chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp);

+ Tổ chức đoàn thể (Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên ); + Các cơ quan hữu quan (cơ quan Tài chính, Thuế, cơ quan đăng ký quyền sử dụng đất, phương tiện giao thông );

+ Cơ quan, tổ chức và cá nhân khác (Ngân hàng, Kho bạc, các tổ chức tín dụng, Thẩm định giá, bán đấu giá )

1.1.1.3 Hình thức của mối quan hệ phối hợp:

Có nhiều cách phân loại khác nhau, nên có nhiều loại phối hợp khác nhau, căn cứ vào mối quan hệ bên trong, bên ngoài, cấp trên, cấp dưới có một số loại phối hợp chủ yếu sau:

- Phối hợp bên ngoài, là mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS, chấp hành viên, thẩm tra viên, thư ký thi hành án và công chức kháclàm công tác THADS với coq quan, tổ chức, cá nhân có lêmn quan nằm ngoài

hệ thống các cơ quan THADS để thục hiện các nhiệm vụ chuyên môn của

cơ quan THADS;

- Phối hợp bên trong, là mối quan hệ trong nội bộ cơ quan THADS, bao gồm mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan THADS trong hệ thống; giữa các phòng, các bộ phận chuyên môn hoặc giữa các cá nhân trong cơ quan THADS;

- Phối hợp ngang là mối quan hệ ngang cấp giữa cơ quan THADS với các cơ qaun khác cùng cấp (Chi cục THADS huyện với các phòng, ban ở cấp huyện; Cục THADS tỉnh với các Sở, ngành cấp tỉnh );

- Phối hợp dọc là mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan cấp trên với cơ quan cấp dưới, giữa cơ quan quản lý với cơ quan bị quản lý;

- Phối hợp tự nguyện: đây là sự phối hợp xuất phát hoàn toàn từ sự nhận thức của các cơ quan, tổ chức về sự cần thiết đạt được sự thống nhất, sự

Trang 21

đồng thuận trong hoạt động với cơ quan THADS mà không phải chịu sự ràng buộc hoặc một chi phối nào về mặt thể chế hoặc một áp đặt, ép buộc của bất

cứ một cơ quan nào đó;

- Phối hợp bắt buộc: đây là sự phối hợp được quy định về mặt thể chế, trong đó cơ quan THADS và các cơ quan có liên quan buộc phải tuân thủ yêu cầu phối hợp của một cơ quan khác Sự phối hợp bắt buộc có thể được chia làm hai loại:

+ Phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan cùng cấp để giải quyết những công việc thường xuyên thuộc chức năng, thẩm quyền của nhau trong khuôn khổ thể chế được quy định;

+ Phối hợp dưới sự chi phối của bên thứ ba nhằm giải quyết những vấn

đề mà sự phối hợp bình thường giữa cơ quan THADS với các cơ quan khác không tự giải quyết được hoặc những vấn đề phức tạp vượt quá thẩm quyền

và khả năng nguồn lực của một cơ quan

1.1.2 Đặc điểm mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan

Thứ nhất, tuân thủ quy định của pháp luật

Tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân đều phải tuân thủ các qui định của pháp luật và nhất là các cơ quan thực thi pháp luật phải chấp hành nghiêm

và thực hiện đúng các qui định pháp luật Khi các cơ quan, tổ chức hữu quan phối hợp hỗ trợ cho cơ quan THADS tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã qui định Chấp hành viên, người đại diện cho cơ quan THADS khi thực hiện nhiệm vụ của mình chỉ tuân theo pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật, thực hiện đúng các qui định pháp luật về THADS và các qui định pháp luật khác có liên quan, không làm những điều CHV không được làm theo qui định Luật THADS

Trang 22

Thứ hai, chủ động, thường xuyên trong quá trình tổ chức thi hành vụ việc

Cơ quan THADS, Chấp hành viên phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan theo trình tự thủ tục qui định, việc phối hợp này phải được thực hiện thường xuyên vì hầu như các giai đoạn trong quá trình tổ chức thi hành án đều phải có sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, tổ chức hữu quan

Để việc phối hợp đạt hiệu quả thì các cơ quan, tổ chức hữu quan phải cung cấp đầy đủ chính xác và kịp thời các yêu cầu của cơ quan THADS, của CHV, trong trường hợp có nhiều cơ quan, tổ chức cùng tham gia, phối hợp để thực hiện một nhiệm vụ thì yêu cầu phải có sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ

Thứ ba, không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ và hoạt động chuyên môn của các cơ quan, tổ chức hữu quan

Khi phối hợp thực hiện việc THADS kể cả phối hợp tự nguyện và phối hợp bắt buộc thì cơ quan THADS, Chấp hành viên không được làm ảnh hưởng đến chức năng, nhiệm vụ chuyên môn của các cơ quan, tổ chức hữu quan phối thợp trong quá trình THADS Tuy nhiên, các cơ quan, tổ chức khác thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của mình phải luôn có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ cơ quan THADS trong hoạt động THADS để đảm bảo cho các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế một cách nhanh chóng, thuận lợi nhất

1.1.3 Vai trò của mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan

Theo Thạc sỹ Bùi Thị Lê Duyên thì: Thi hành án dân sự là hoạt động liên quan trực tiếp đến quyền về tài sản và nhân thân của các bên đương sự,

để giải quyết việc thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải tiến hành nhiều thủ tục như: Tống đạt, xác minh, áp dụng các biện pháp đảm bảo, biện pháp cưỡng chế thi hành án v.v vì thế, cơ quan thi hành án dân sự không thể

“đơn thân độc mã” thực hiện được các công việc trên, mà cần có sự phối hợp

Trang 23

với các cơ quan, tổ chức có liên quan Ví dụ: Liên quan đến quyền sử dụng đất cơ quan thi hành án dân sự cần sự phối hợp của cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường; liên quan đến tài khoản cần sự phối hợp của ngân hàng, tổ chức tín dụng v.v Việc phối hợp tốt với các cơ quan, tổ chức, ban ngành liên quan trong thi hành án dân sự là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tác thi hành án dân sự Có thể nói, không chỉ riêng cơ quan thi hành án dân sự tại thành phố Hồ Chí Minh, mà tất cả các

cơ quan thi hành án dân sự trong cả nước đều ý thức rằng, nếu nhận được sự phối hợp hỗ trợ tốt từ các cơ quan, ban ngành liên quan thì công tác thi hành

án đạt kết quả cao Ở đâu, nơi nào có sự quan tâm của cấp uỷ, Ủy ban nhân dân, nơi đó công việc thi hành án thuận lợi và đạt được thành tích tốt

Tuy nhiên, để tạo được mối quan hệ tốt với các cơ quan ban ngành, các

tổ chức là điều không dễ dàng đối với lãnh đạo cũng như chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự, vì cơ quan thi hành án dân sự được thành lập để thực hiện nhiệm vụ chính và duy nhất là tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án về phần dân sự mà quyền lợi của các bên đương sự giai đoạn này luôn mâu thuẫn nhau (một bên là được thi hành án bên kia là phải thi hành án)

và đây cũng là giai đoạn mà quyền về tài sản, nhân thân của các bên được thi hành trên thực tế, nên mâu thuẫn càng gay gắt và quyết liệt hơn, khiếu nại - tố cáo cũng vì thế mà diễn ra nhiều hơn, phức tạp hơn Từ đó, tên gọi và hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự không mang lại thiện cảm cho cơ quan,

tổ chức, cá nhân nói chung và người dân, doanh nghiệp nói riêng, hoạt động thi hành án dân sự đã khó khăn lại càng khó khăn hơn Đồng thời, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan không thấy được hết trách nhiệm của mình hoặc có nhận biết trách nhiệm nhưng không thực hiện, thực hiện không đầy đủ, không kịp thời các yêu cầu của chấp hành viên, thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, dẫn đến một thực tế không thể phủ nhận được là lượng hồ sơ thi hành án dân sự còn tồn đọng nhiều

Trang 24

Hơn thế nữa, cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan được thành lập muộn (tách ra từ Toà án nhân dân) cơ sở vật chất nghèo nàn (trụ sở nhỏ hẹp, trang thiết bị thiếu thốn không xứng tầm với các cơ quan ban ngành tại địa phương ), đồng thời, một số cán bộ công chức thi hành án dân sự thiếu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, một số cán bộ công chức có thái độ nhũng nhiễu gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp, có văn hóa ứng xử không phù hợp và một số chưa nắm vững quy định của pháp luật, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được nhu cầu công việc, từ đó, uy tín ngành thi hành án dân sự có phần giảm sút, ảnh hưởng đến mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức trong thi hành án dân sự Từ sau khi có Luật Thi hành án dân sự, vị thế cơ quan thi hành án dân sự được nâng lên, các cơ quan thi hành án dân sự đã ý thức và quan tâm xây dựng mối quan

hệ với các cơ quan, tổ chức, ban ngành ở địa phương, nên hiệu quả công tác thi hành án dân sự được nâng lên rõ rệt [80]

Từ những phân tích, có thể thấy phối hợp với các cơ quan hữu quan trong thi hành án dân sự là điều không thể thiếu trong hoạt động thi hành án dân sự, qua đó: (i) Bảo đảm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thực tế trong cuộc sống; (ii) Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân; góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; (iii) Thông qua việc thi hành án, Cơ quan thi hành án phát hiện sai sót của Tòa án trong việc áp dụng pháp luật từ đó kiến nghị Tòa án có thẩm quyền kịp thời chỉ đạo công tác xét xử, hướng dẫn áp dụng pháp luật và kiến nghị trong việc lập pháp; (iv) Góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

1.2 Nội dung phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự, Chấp hành viên với cơ quan, tổ chức hữu quan trong thi hành án dân sự

Tùy thuộc vào mối quan hệ với cơ quan, tổ chức khác nhau; công việc

Trang 25

khác nhau, sẽ có những nội dung phối hợp khác nhau Tuy nhiên, thực tiễn THADS thấy có một số nội dung phối hợp sau:

- Tham gia ý kiến, cho ý kiến vào kế họach công tác của cơ quan THADS;

- Thực hiện các quyết định của Chấp hành viên cơ quan THADS;

- Tham gia vào quá trình THADS (thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, làm chứng, cung cấp thông tin );

- Giải thích, đính chính những sai sót, vướng mắc trong bản án, quyết định;

- Chuyển giao bản án, quyết định;

- Giao nhận, xử lý tang vật, tài sản thi hành án;

- Thẩm định về chuyên môn đối với tài sản kê biên bán đấu giá;

- Tiêu hủy tài sản, vật chứng;

- Giải quyết các vấn đề vướng mắc trong THADS;

- Tổ chức cán bộ;

- Vấn đề tài chính, kế toán

Theo pháp luật về thi hành án dân sự hiện hành, nhiệm vụ của cơ quan thi hành án dân sự được cụ thể hoá bởi nhiệm vụ quyền hạn của Chấp hành viên, của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, trong đó:

- Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định của pháp luật Nội dung nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 bao hàm những công việc chấp hành viên được làm, đặc biệt khoản 4 và khoản 6 Điều luật này nêu rõ chấp hành viên có quyền yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án và thực hiện các công việc pháp luật quy định, đây là nội dung quan trọng để chấp hành viên thực hiện việc thi hành án đúng pháp luật Ở cuối điều luật này quy định: “Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình,

Trang 26

chấp hành viên phải tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm trước pháp luật

về việc thi hành án và được pháp luật bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và uy tín”, để được pháp luật bảo vệ, trước tiên chấp hành viên phải sử dụng quyền và thực hiện nghĩa vụ đúng pháp luật, hành xử đúng chuẩn mực đạo đức được quy định

Để hạn chế tiêu cực, giúp chấp hành viên nâng cao ý thức trách nhiệm, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã dành Điều 21 quy định những việc chấp hành viên không được làm, theo đó, khoản

7, khoản 8 nhấn mạnh điều chấp hành viên không được sách nhiễu, gây phiền

hà cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thi hành án; không được cố ý thi hành trái nội dung bản án, quyết định, trì hoãn, kéo dài thời gian giải quyết việc thi hành án

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định buộc người thi hành công vụ trong hoạt động thi hành án dân sự phải nghiêm khắc hơn trong quá trình hoạt động của mình để tránh gây thiệt hại cho cá nhân, cơ quan, tổ chức và nhà nước

- Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải là chấp hành viên, nên ngoài nhiệm vụ, quyền hạn của chấp hành viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có các nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 23 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 Điểm c khoản 1 Điều luật này quy định Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan phối hợp trong việc thi hành án, đây là nội dung quan trọng và cần thiết để cơ quan thi hành án dân sự có được sự hỗ trợ trong tổ chức thi hành án

Ngoài ra, trong quá trình thi hành án dân sự, chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự phải áp dụng các điều luật quy định về thủ tục thi hành án trong Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành, các văn bản pháp luật có liên quan để phối hợp với các cơ quan hữu quan như:

Trang 27

+ Điều 89 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về xác minh thông tin về tài sản có đăng ký giao dịch bảo đảm (phối hợp với cơ quan quản lý tài nguyên môi trường – Văn phòng đăng

ký quyền sử dụng đất ); Điều 62, Điều 63 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án (phối hợp với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp, ); Điều 124 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về xử lý vật chứng, tài sản tuyên tịch thu sung công (phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp) v.v ;

+ Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 về thủ tục thi hành án dân sự;

+ Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/07/2010 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục thi hành án dân sự và phối hợp liên ngành trong thi hành án dân sự;

+ Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 11/7/2011 hướng dẫn hoạt động của Ban Chỉ đạo thi hành

14/2011/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-án dân sự;

+ Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT-BTP-BTC ngày 22/9/2010 của

Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn về chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án dân sự

Cùng với quy định trách nhiệm của cơ quan thi hành án dân sự thì pháp luật cũng xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan phối hợp với cơ quan thi hành án trong việc thi hành án dân sự Theo quy định tại Điều 11 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên, cụ thể là:

Trang 28

(1) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình

cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong việc thi hành án; (2) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên theo quy định của Luật này; Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của

cơ quan thi hành án dân sự, chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định của pháp luật

Vấn đề này được quy định ngay từ các Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1989 và năm 1993, điều đó cho thấy, ngay từ những ngày đầu thành lập

cơ quan thi hành án dân sự, đã khẳng định cần thiết phải có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức, liên quan trong thi hành án dân sự Bên cạnh đó, để nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cá nhân trong việc phối hợp thi hành án dân sự, Điều 10 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi,

bổ sung năm 2014 đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại: “Cơ quan, tổ chức và cá nhân vi phạm quy định của Luật này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật” Đồng thời, khoản 6 Điều 162 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 cũng quy định:

“Không thực hiện yêu cầu của chấp hành viên về việc cung cấp thông tin, giao giấy tờ liên quan đến tài sản bị xử lý để thi hành án mà không có lý do chính đáng” và khoản 10: “Không chấp hành quyết định của chấp hành viên

về việc khấu trừ tài khoản, trừ vào thu nhập, thu hồi giấy tờ có giá của người phải thi hành án” là hành vi vi phạm hành chính v.v Như vậy, xét ở các khía cạnh pháp lý khác nhau thì mối quan hệ pháp hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các cơ quan tổ chức hữu quan là mối quan hệ tất yếu và cũng phù

hợp với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta đó là: “Quyền lực Nhà nước là

thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước

Trang 29

trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” trong Hiến

pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Để thực hiện có hiệu quả nội dung này, liên ngành đã ban hành Quy chế số 14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/10/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công

an, TANDTC, VKSNDTC về phối hợp liên ngành trong công tác thi hành

án dân sự Tuy nhiên, nối dung phối hợp ở từng cấp độ khác nhau sẽ có sự khác nhau Hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự gắn liền với sự phối hợp của các cơ quan hữu quan từ giai đoạn thụ lý cho đến khi kết thúc vụ việc Do vậy, nội dung của mối quan hệ phối hợp được xác định:

1.2.1 Trách nhiệm phối hợp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Điều 173 và Điều 174 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi,

bổ sung năm 2014 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong thi hành án dân sự, bao gồm:

- Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành

án dân sự trên địa bàn

- Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp

- Có ý kiến bằng văn bản về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp

- Quyết định khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác thi hành án dân sự

- Yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp báo cáo công tác thi hành án dân sự ở địa phương

Với những nội dung trên cho thấy, trong quan hệ phối hợp, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo việc tổ

Trang 30

chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng

về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện Đây là các quy định mang tính pháp lý, ràng buộc trách nhiệm giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự trong thi hành án dân sự

1.2.2 Trách nhiệm của Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự

Ban chỉ đạo thi hành án (do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện làm Trưởng ban chỉ đạo thi hành án) được thành lập

từ năm 2001 theo Chỉ thị số 20/2001/CT-TTg ngày 11 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác thi hành

án dân sự Thực tiễn thực hiện cho thấy, Ban chỉ đạo thi hành án dân sự ở các địa phương về cơ bản đã phát huy được hiệu quả, là cầu nối trong việc phối hợp giữa cơ quan thi hành án dân sự với các ngành để tham mưu giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện chỉ đạo thi hành đối với các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương Bên cạnh đó, theo quy định của Luật Thi hành án dân sự thì hệ thống các cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức theo ngành dọc, nhưng đây là hoạt động đòi hỏi phải có sự quan tâm chỉ đạo của cấp uỷ, chính quyền địa phương, sự phối kết hợp chặt chẽ, hiệu quả của các cấp, các ngành có liên quan ở địa phương, nhất là đối với những vụ việc thi hành án phức tạp, cần phải cưỡng chế Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 173 và Điều 174 của Luật Thi hành án dân sự thì Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có nhiệm vụ, quyền hạn: Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự trên địa bàn; Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự

an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành

Trang 31

án dân sự cấp tỉnh, cấp huyện Tuy nhiên, Luật Thi hành án dân sự lại chưa quy định cơ chế, phương thức phù hợp để tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định nêu trên Trong bài phát biểu chỉ đạo công tác tư pháp của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị triển khai công tác tư pháp năm 2009 cũng đã nhấn mạnh:

Bộ cần chủ động tham mưu cho Chính phủ xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án dân sự; tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức của cơ quan Thi hành án dân sự, ở Trung ương có thể là tổng cục, còn ở cấp tỉnh, cấp huyện cần tổ chức theo mô hình phù hợp, đảm bảo cơ chế vận hành hiệu quả, thông suốt, gắn chặt với sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương

Việc thành lập Ban chỉ đạo thi hành án dân sự ở cấp tỉnh và cấp huyện

do Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch làm Trưởng ban vừa thể hiện sự trao quyền, vừa gắn với sức mạnh của chính quyền địa phương, bảo đảm góp phần nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự Do vậy, các quy định hiện hành đã xác định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự để tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp Thành phần Ban Chỉ

đạo thi hành án dân sự gồm: Trưởng ban chỉ đạo thi hành án dân sự là Chủ

tịch hoặc Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân; Phó trưởng ban là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; Các ủy viên gồm: Đại diện lãnh đạo cơ quan tư pháp, công an, tài chính, tài nguyên và môi trường, mời đại diện lãnh đạo cơ quan Toà án nhân dân và Mặt trận Tổ quốc cùng cấp

Trang 32

1.2.3 Trách nhiệm phối hợp của Ủy ban nhân dân cấp xã

Cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thi hành án dân sự, đặc biệt là phối hợp thực hiện việc xác minh, tống đạt, thỏa thuận thi hành án… Trách nhiệm phối hợp của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã đã được pháp luật quy định, cụ thể: Theo khoản 3 Điều 117 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân năm

2003, Uỷ ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ: “Tổ chức thực hiện hoặc phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc thi hành án theo quy định của pháp luật” Điều 175 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm

2014 quy định:

Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với chấp hành viên và cơ quan thi hành án dân sự trong việc thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án và các nhiệm vụ khác về thi hành án dân sự trên địa bàn

1.2.4 Quan hệ phối hợp với các cơ quan chuyên môn ở địa phương

Cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn ở địa phương như: Cơ quan quản lý tài nguyên và môi trường, cơ quan quản

lý xây dựng đô thị, cơ quan tài chính, cơ quan thuế, ngân hàng, bảo hiểm

xã hội, cơ quan quản lý doanh nghiệp, cơ quan công an, Viện kiểm sát… trong việc xác minh, áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự…

- Với cơ quan tài chính: Điều 124 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 đã quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan tài chính trong việc tiếp nhận tài sản, vật chứng sung công, thanh toán các chi phí trong quá trình xử lý vật chứng, tài sản sung công và hoàn trả lại tiền khi phát hiện có sai lầm trong việc sung công tài sản, vật chứng Điều 32

Trang 33

Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự cũng xác định: Cơ quan tài chính có trách nhiệm tiếp nhận để xử lý vật chứng, tài sản bị tuyên tịch thu, sung quỹ nhà nước Còn cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm thông báo và ấn định cho cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận vật chứng, tài sản thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được thông báo để tiếp nhận Hết thời hạn nêu trên mà không tiếp nhận vật chứng, tài sản thì cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận phải thanh toán các khoản chi phí cho việc bảo quản tài sản và phải chịu

mọi rủi ro kể từ thời điểm chậm tiếp nhận

- Với cơ quan công an: Cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với các

cơ quan công an trong việc xác minh thi hành án; phối hợp giải quyết thi hành án dân sự đối với người phải thi hành án dân sự đang chấp hành hình phạt tù; xử lý các hành vi vi phạm trong thi hành án dân sự; thực hiện các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế thi hành án, đặc biệt là hỗ trợ cưỡng chế có huy động lực lượng; chuyển giao vật chứng, tài liệu liên quan đến việc thi hành án dân sự…

Điều 180 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức được giao theo dõi, quản lý người đang chấp hành án hình sự có trách nhiệm phối hợp

với cơ quan thi hành án dân sự các nội dung sau đây:

+ Giáo dục người đang chấp hành án hình sự thực hiện nghiêm túc

nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Toà án;

+ Cung cấp cho cơ quan thi hành án dân sự thông tin liên quan về người phải thi hành nghĩa vụ về dân sự đang chấp hành án hình sự; thực hiện việc thông báo giấy tờ về thi hành án dân sự cho người phải thi hành án đang

chấp hành án hình sự;

+ Phối hợp với cơ quan thi hành án dân sự thu tiền thi hành án theo quy

định của Luật này;

Trang 34

+ Kịp thời thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự về nơi cư trú của người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt tù, được đặc xá, được miễn chấp

hành hình phạt tù

- Với Viện kiểm sát nhân dân các cấp: Cơ quan thi hành án dân sự phối hợp với Viện kiểm sát các cấp trong việc thi hành án, nhưng thực chất là Viện kiểm sát nhân dân các cấp kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong thi hành án

để hỗ trợ cơ quan thi hành án dân sự thực hiện đúng quy định pháp luật trong việc thụ lý; xác minh; phân loại hồ sơ; xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án;

xử lý tiêu huỷ vật chứng; giải quyết khiếu nại – tố cáo; cưỡng chế thi hành án

về xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp tài sản

phát sinh trong quá trình thi hành án dân sự

Điều 179 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm

2014 quy định trách nhiệm của cơ quan ra bản án, quyết định có trách nhiệm:

+ Bảo đảm bản án, quyết định đã tuyên chính xác, rõ ràng, cụ thể, phù

hợp với thực tế

+ Có văn bản giải thích những nội dung mà bản án, quyết định tuyên chưa rõ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của đương sự hoặc của cơ quan thi hành án dân sự Trường hợp vụ việc phức tạp thì thời

hạn trả lời không quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu

+ Trả lời kiến nghị của cơ quan thi hành án dân sự về việc xem xét lại bản án, quyết định của Toà án theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trong thời

hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị

Trang 35

+ Thụ lý và kịp thời giải quyết yêu cầu của cơ quan thi hành án dân sự, đương sự về việc xác định quyền sở hữu, phân chia tài sản hoặc giải quyết tranh chấp về quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản thuộc thẩm quyền của Toà

án phát sinh trong quá trình thi hành án

- Với cơ quan ngân hàng, bảo hiểm xã hội: Theo Điều 176 và Điều 177 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì ngân hàng, tổ chức tín dụng và bảo hiểm xã hội có các nhiệm vụ sau: Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về tài khoản, các khoản thu nhập của người phải thi hành án theo yêu cầu của chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của chấp hành viên về phong tỏa tài khoản, phong toả tài sản; khấu trừ tiền trong tài khoản; giải toả việc phong toả tài khoản, phong toả tài sản; khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của chấp hành viên, cơ quan thi

hành án dân sự

- Với cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm: Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định về trách nhiệm của cơ quan đăng ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm trong thi hành

án dân sự như sau:

+ Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký tại cơ quan đăng

ký tài sản, đăng ký giao dịch bảo đảm ngay sau khi nhận được yêu cầu của

chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự

+ Thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng đất cho người mua được tài sản, người được thi hành án nhận tài sản để trừ vào số

tiền được thi hành án

+ Thu hồi, sửa đổi, hủy các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, giấy tờ đăng ký giao dịch bảo đảm đã cấp cho người phải thi hành

án; thực hiện việc cấp mới các giấy tờ theo quy định của pháp luật

Trang 36

1.3 Các yếu tố tác động đến mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan

1.3.1 Yếu tố pháp lý

Kể từ khi công tác THADS được chuyển giao từ Toà án nhân dân các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ Đến nay, hệ thống pháp luật về THADS ngày càng hoàn thiện hơn từ Pháp lệnh THADS năm 1993 đến Pháp lệnh THADS 2004, Luật THADS năm 2008; Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS năm 2014 và nhiều văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể và chi tiết đáp ứng được đòi hỏi của xã hội Cụ thể:

Về trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân với cơ quan THADS, Chấp hành viên được quy định tại Điều 11 Luật THADS như sau:

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ của mình cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm phối hợp với cơ quan THADS trong việc thi hành án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu của cơ quan THADS, Chấp hành viên theo quy định của Luật này

Mọi hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật đối với hoạt động của cơ quan THADS, Chấp hành viên đều bị xử lý theo quy định pháp luật

Nhiệm vụ quyền hạn của Chấp hành viên được quy định tại Điều

20 Luật THADS đồng thời là nghĩa vụ phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan để xác minh, xử lý vật chứng, tài sản Theo Khoản 4 Điều 20 quy định: Chấp hành viên có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án hoặc phối hợp với cơ quan có liên quan xử lý vật chứng tài sản và những việc khác liên quan đến thi hành án; Điều 6: Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật

Trang 37

Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó thủ trưởng được quy định tại Điều 23 Luật THADS: Điểm c Khoản 1 quy định Thủ trưởng cơ quan THADS được quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp trong việc tổ chức thi hành án, đây là nội dung quan trọng và cần thiết để cơ quan THADS

có được sự hỗ trợ trong tổ chức thi hành án

Chấp hành viên phải phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong quá trình tổ chức thi hành án như tại Điều 89 Luật THADS qui định về việc xác minh thông tin tài sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc đăng ký giao dịch bảo đảm, trước khi kê biên, chấp hành viên phải phối hợp với cơ quan quản lý tài nguyên - môi trường, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất,…yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản; Điều 62, Điều 63 Luật THADS quy định về xét miễn giảm nghĩa vụ thi hành án, phải phối hợp với Tòa án và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; Điều 124 Luật THADS quy định về xử lý vật chứng, tài sản tuyên tịch thu sung công phải phối hợp với cơ quan tài chính cùng cấp

Ngoài ra, nhiều văn bản hướng dẫn thi hành quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan thi hành án, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức hữu quan trong từng giai đoạn, từng trường hợp như:

- Nghị định số 58/2009/NĐ - CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS năm 2008

về thủ tục thi hành án (Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009) và nay được thay thế bởi Nghị định số 62/2015/NĐ - CP ngày 28/7/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự [30];

- Thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 26/7/2010 của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao về hướng dẫn một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên

Trang 38

ngành trong THADS nay được thay thế bởi Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01/8/2016 quy định một số vấn đề về thủ tục THADS và phối hợp liên ngành trong THADS [24];

- Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 11/7/2011 hướng dẫn hoạt động của Ban chỉ đạo THADS

14/2011/TTLT-BTP-BCA-BTC-TANDTC-và nay được thay thế bởi Thông tư liên tịch số BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 19/5/2016 Quy định hoạt động của Ban chỉ đạo THADS [17];

05/2016/TTLT-BTP-BCA Thông tư liên tịch số 144/2010/TTLT05/2016/TTLT-BTP-BCA BTP05/2016/TTLT-BTP-BCA BTC ngày 22/9/2010 của

Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính hướng dẫn về chế độ thu nộp, quản lý, sử dụng phí THADS và nay được thay thế bởi Thông tư số 216/2016/TT-BTC ngày 10/11/2016 của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và

sử dụng phí THADS, thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2017;

- Thông tư liên tịch số 07/2013/TTLT-BTP-BCA-BTC ngày 06/02/2013 hướng dẫn trình tự, thủ tục thu nộp quản lý tiền, giấy tờ của người phải THADS và trả tiền, giấy tờ cho người được THADS là phạm nhân;

- Thông tư liên tịch số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012 của

Bộ Tư pháp, Bộ Công an quy định về phối hợp bảo vệ cưỡng chế [15];

- Quy chế phối hợp liên ngành số VKSNDTC ngày 9/10/2013 của Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao [18];

14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC Thông tư liên tịch số 15/2013/TTLT14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC BTP14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC BGTVT14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC BTNMT14/2013/QCLN/BTP-BCA-TANDTC BCA ngày 05/11/2013 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Tài nguyên môi trường, Bộ Công an hướng dẫn việc trao đổi, cung cấp thông tin về tài sản đảm bảo giữa cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm với tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền lưu hành tài sản

Trang 39

- Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT-BTP-BTC-BLĐTBXH- NHNNVN ngày 14/01/2014 giữa Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động Thương binh

và xã hội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn việc cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để thi hành án dân sự

- Quy chế phối hợp số 01/QCLN/NHNNVN - BTP ngày 18/3/2015 của Ngân hàng NN Việt Nam và Bộ Tư pháp trong công tác thi hành án dân sự;

- Quy chế phối hợp số 1680/QCPH-BHXHVN-TCTHADS ngày 08/5/2015 giữa Tổng cục Thi hành án dân sự và Bảo hiểm xã hội Việt Nam trong công tác thi hành án dân sự;

- Thông tư liên tịch số 06/2016/TTLT- BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 31/5/2016 của Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án

nhân dân tối caov/v hướng dẫn phối hợp trong thống kê thi hành án dân sự

Ngoài ra Cục THADS tỉnh Thanh Hóa đã ký kết với Ngân hàng Nhà nước tỉnh Thanh Hóa Quy chế phối hợp số 01/QCPH/NHNN-CTHADS ngày 16/10/2015 nhằm phối hợp, giải quyết xử lý tài sản thu hồi vốn nhanh chóng cho các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa

Như vậy, bằng những quy định cụ thể trong các văn bản Luật, Nghị định, Thông tư, Quy chế phối hợp nêu trên đã tạo thuận lợi về cơ sở pháp lý để

cơ quan THADS chủ động thực hiện mối quan hệ phối hợp và các cơ quan, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trong quan hệ phối hợp được tốt hơn

1.3.2 Phương thức phối hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức hữu quan

Để đảm bảo phát huy hiệu quả của công tác phối hợp trong THADS, cơ quan THADS, Chấp hành viên phải thiết lập và duy trì được mối quan hệ tốt với các cơ quan, tổ chức hữu quan nhằm giải quyết tốt các nội dung phối hợp,

cơ quan thi hành án có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thiết lập mối quan hệ phối hợp với các cơ quan tổ chức hữu quan

Trang 40

Phương thức phối hợp là cách thức thực hiện việc phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan liên quan nhằm thực hiện một công việc cụ thể thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan THADS, của Chấp hành viên hoặc công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ quan khác liên quan tới cơ quan THADS Có rất nhiều phương thức tiến hành phối hợp khác nhau, tuy nhiên trên thực tế có một số phương thức sau đây:

- Tổ chức các cuộc họp liên ngành giữa cơ quan THADS với cơ các

quan có liên quan để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi phối hợp Đây là phương thức hiệu quả nhất, thường được áp dụng để phối hợp giải quyết những vấn đề khó khăn vướng mắc, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành hoặc vượt quá thẩm quyền của cơ quan chủ trì phối hợp

- Tổ chức các buổi họp hoặc buổi làm việc giữa cơ quan Thi hành án dân

sự, Chấp hành viên với cơ quan, tổ chức có liên quan Phương thức này thường

được sử dụng trong những trường hợp nội dung công việc giải quyết không phức tạp, không có liên quan đến nhiều cơ quan, nhiều cấp và phạm vi hẹp

- Gửi văn bản trao đổi, tùy theo nội dung công việc mà cấp độ trong

các văn bản có thể là trao đổi, đề nghị, kiến nghị, yêu cầu Phương thức phối hợp này được sử dụng phổ biến khi xử lý các nội dung thuộc loại phối hợp bắt buộc hoặc các nội dung cần giải quyết phải có văn bản của cơ quan

có liên quan theo quy định của pháp luật; nhiều cơ quan mà các cơ quan ở cách xa nhau không thuận tiện cho việc đi lại

- Xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan

có liên quan Đối với các cơ quan, tổ chức thường xuyên phối hợp cơ quan

THADS và bắt buộc phải có sự phối hợp thì để đảm bảo việc phối hợp chặt chẽ, kịp thời, cần phải có quy chế phối hợp, qui định thống nhất cách thức thực hiện, nội dung thực hiện

Ngoài các phương thức nêu trên, do sự phát triển của khoa học công

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w