1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ giữa cơ quan cảnh sát điều tra và viện kiểm sát trong việc khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ (trên cơ sở thực tiễ

109 300 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

25 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN NGỌC LỊNH

MốI QUAN Hệ GIữA CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA Và VIệN KIểM SáT TRONG VIệC KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN VI PHạM QUY ĐịNH Về

ĐIềU KHIểN các PHƯƠNG TIệN GIAO THÔNG ĐƯờNG Bộ

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN NGỌC LỊNH

MốI QUAN Hệ GIữA CƠ QUAN CảNH SáT ĐIềU TRA Và VIệN KIểM SáT TRONG VIệC KHởI Tố, ĐIềU TRA CáC Vụ áN VI PHạM QUY ĐịNH Về

ĐIềU KHIểN các PHƯƠNG TIệN GIAO THÔNG ĐƯờNG Bộ

(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)

Chuyờn ngành: Luật hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự

Mó số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN HUYấN

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Ninh Bình, ngày tháng năm 2017

Người cam đoan

Nguyễn Ngọc Lịnh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8

1.1 Khái niệm mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 8

1.2 Đặc điểm mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 13

1.3 Nội dung mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 16

1.3.1 Mối quan hệ phối hợp 17

1.3.2 Mối quan hệ chế ước 19

Kết luận chương 1 25

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH 26

Trang 5

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về

mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ 26

2.1.1 Quan hệ trong tiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố 26

2.1.2 Quan hệ trong việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can 28

2.1.3 Quan hệ trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn 32

2.1.4 Quan hệ trong việc tiến hành các hoạt động điều tra 37

2.1.5 Quan hệ trong việc tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung 43

2.1.6 Kết thúc điều tra 45

2.1.7 Mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong các trường hợp khác 46

2.2 Tình hình TNGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ 01/01/2011 đến 31/12/2015 48

2.3 Thực tiễn mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 51

2.3.1 Kết quả đạt được 51

2.3.2 Tồn tại, hạn chế 59

2.3.3 Nguyên nhân của những tồn tại 69

Kết luận chương 2 72

Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 73

3.1 Yêu cầu nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 73

3.1.1 Về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước 73

Trang 6

3.1.2 Những yêu cầu tăng cường mối quan hệ giữa CQCSĐT và

VKSND trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm về an

toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 76

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND nhân dân trong khởi tố, điều tra các vụ vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình 78

3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật 78

3.2.2 Các giải pháp khác 84

KẾT LUẬN 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 97

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu Viết đầy đủ

BKS Biển kiểm soát

BLHS Bộ luật hình sự

BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CQCSĐT Cơ quan cảnh sát điều tra

CQĐT Cơ quan điều tra

ĐTV Điều tra viên

KSV Kiểm sát viên

TAND Tòa án nhân dân TNGT Tai nạn giao thông TPVTTXH Tội phạm về trật tự xã hội TTATGT Trật tự an toàn giao thông TTXH Trật tự xã hội

VKS Viện kiểm sát

VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình tại nạn giao thông trên địa bàn tỉnh Ninh

Bảng 2.2: Thống kê số tố giác, tin báo về tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bản tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2011-2015) 99

Bảng 2.3: Thống kê số vụ khám nghiệm hiện trường, khám

nghiệm tử thì trong các vụ tai nạn giao thông đường bộ trên địa bản tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2011-2015 99

Bảng 2.4: Số vụ án về vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ trong giai đoạn Điều tra, truy

tố trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2011 đến 2015 100

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu 2.1: Thống kê lỗi vi phạm do người điều khiển phương tiện

Biểu 2.2: Thống kê đối tượng gây TNGT đường bộ trên địa bàn

tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2011 - 2015 98

Biểu 2.3: Thống kê về địa bàn xảy ra TNGT đường bộ trên địa

bàn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn 2011- 2015 98

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi phạm tội, do đó, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là tất yếu, khách quan Trong đó CQĐT, VKS, Toà án

có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tiến hành tố tụng Tuy nhiên, sự phối hợp giữa CQĐT với VKS khác với sự phối hợp giữa VKS và Toà án Bởi lẽ,

sự phối hợp giữa VKS với Toà án thường chỉ xuất hiện sau khi vụ án đã được VKS truy tố và chuyển hồ sơ đến Toà án đưa ra vụ án để xét xử Còn công tác phối hợp giữa CQĐT và VKS không chỉ được thực hiện sau khi CQĐT kết luận điều tra vụ án chuyển hồ sơ đến VKS mà còn được thực hiện

từ khi CQĐT phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình, mỗi cơ quan tiến hành hoạt động một cách độc lập, chỉ tuân theo pháp luật và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hành vi tố tụng của mình Hơn nữa, VKS nhân dân và CQĐT khi tiến hành tố tụng đều có nghĩa vụ, trách nhiệm và mục đích chung là bảo vệ công

lý, bảo vệ pháp chế Vì vậy, CQĐT và VKS vừa chế ước lẫn nhau, vừa có trách nhiệm phối hợp với nhau để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động TTHS

Với tư cách là một trong những đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội, hệ thống giao thông đường bộ của tỉnh Ninh Bình trong những năm qua đã có những bước phát triển mạnh mẽ cả số lượng hạ tầng cơ sở lẫn thành phần phương tiện tham gia giao thông Tuy nhiên, hệ quả dẫn theo đó là tình trạng tai nạn giao thông diễn ra ngày càng tăng cả về 3 tiêu chí: số vụ, số người thiệt hại và mức độ thiệt hại Bên cạnh các nguyên nhân khách quan như

Trang 11

2

phương tiện giao thông, kết cấu hạ tầng giao thông cũng như công tác quản lý giao thông thì nguyên nhân chủ quan khác, đặc biệt là tình trạng vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông của người tham gia giao thông diễn ra phổ biến, nó thể hiện thái độ coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của bản thân và của người khác Bên cạnh đó, việc điều tra xác minh các vụ việc liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ còn nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài, việc xác định dấu vết, thu thập chứng cứ cũng như cả quá trình điều tra còn thiếu hiệu quả Một mặt là do tính chất vụ việc phức tạp, mặt khác do sự phối hợp của các cơ quan tiến hành

tố tụng trong quá trình điều tra, xác minh vụ việc liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ chưa tốt

Để góp phần vào nỗ lực chung của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội trong việc đấu tranh phòng ngừa, giảm thiểu tình hình tai nạn giao thông hiện nay thì các cơ quan chức năng phải phối hợp chặt chẽ với nhau, trong đó có Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của mình cùng phối hợp với các lực lượng chức năng khác để đấu tranh phòng ngừa, giảm thiểu tai nạn giao thông, bên cạnh đó xử lý nghiêm các hành vi vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quả nghiêm trọng

Mối quan hệ phối hợp giữa CQCSĐT và VKSND trong đấu tranh xử

lý tội phạm có vai trò rất quan trọng CQCSĐT có chức năng, nhiệm vụ tiến hành các hoạt động theo quy định của Bộ luật TTHS để phát hiện tội phạm

và người phạm tội, tiến hành các hoạt động điều tra, lập hồ sơ đề nghị truy

tố VKSND là cơ quan chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong TTHS để đảm bảo mọi hành vi phạm tội được phát hiện nhanh chóng, kịp thời và xử lý công minh, đúng pháp luật Tuy chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau nhưng giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 12

3

này luôn có sự phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động điều tra vụ án hình sự Thực tế hiện nay, mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong điều tra, xử lý các vụ án hình sự nói chung và các vụ vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng còn nhiều bất cập chưa có những quy định cụ thể, rõ ràng trong luật định để đảm bảo chức năng, thẩm quyền của mỗi bên trong quá trình tố tụng mà chỉ có những thông tư liên ngành, các văn bản pháp luật liên quan, một số các điều luật quy định trong Bộ luật TTHS hướng dẫn trách nhiệm của CQCSĐT và VKSND trong việc phối hợp tiến hành điều tra, xử lý tội phạm, chưa đáp ứng với những điều kiện khách quan và chủ quan trong quá trình đấu tranh tội phạm dẫn tới nhiều trường hợp điều tra, xử lý vụ án không hiệu quả, để lọt tội phạm và làm oan người vô tội

Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Mối quan hệ giữa Cơ quan cảnh

sát điều tra và Viện kiểm sát trong việc khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm các quy định về điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ (Trên cơ

sở thực tiễn địa bàn tỉnh Ninh Bình)” có ý nghĩa hết sức quan trọng và cần

thiết cả về lý luận và thực tiễn trong tình hình hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong tố tụng hình sự, đã có một

số công trình khoa học và bài viết nghiên cứu đề cập đến trên nhiều phạm vi

và lĩnh vực khác nhau, trong đó nổi lên một số đề tài sau: “Mối quan hệ giữa

Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong tố tụng hình sự”-

Luận án tiến sỹ của Đào Hữu Dân, Học viện cảnh sát nhân dân; “Vai trò của

VKS trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 08- NQ/TW của Bộ Chính trị”, Đề tài khoa học cấp Bộ của TS Lê Hữu Thể, Phó

viện trưởng VKS nhân dân tối cao; “Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và

Trang 13

4

Viện kiểm sát trong Tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ của Nguyễn

Tiến Sơn, Đại học Luật Hà Nội; “Mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và Viện

kiểm sát trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”, Bùi Thị Thu Trang, khóa

luận tốt nghiệp, đại học Luật Hà Nội Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có nhiều

chế định quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng liên quan đến quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong hoạt động tố TTHS Nhìn chung, các công trình khoa học, các bài viết nêu trên ở những góc độ, nhất định đã nghiên cứu tổng quát về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong quá trình khởi tố, điều tra các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về tội vi phạm các quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng

Các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội Vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng đã có một số công trình khoa học

và bài viết nghiên cứu đề cập đến như: “Tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ - những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Th.S Lê Văn Sua, Nghiên cứu và trao đổi, Cổng thông tin điện

tử Bộ tư pháp; “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ trong luật hình sự Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn tỉnh Bắc Ninh”, Nguyễn Đắc Dũng Luận văn thạc sỹ, Khoa luật Đại học quốc

gia Hà Nội; “ Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ trong Luật Hình sự Việt Nam”, Nguyễn Thị Hồng Diễm, khóa luận

tốt nghiệp, Đại học Cần Thơ

Ngoài ra, cho đến nay chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về mối quan hệ giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan cảnh sát điều tra trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 14

5

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đánh

giá quan hệ phối hợp giữa CQCSĐT với VKSND trong hoạt động đấu tranh phòng, chống các tội về trật tự an toàn giao thông nói chung, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng, làm rõ những bất cập, vướng mắc làm hạn chế đến hiệu quả hoạt động tố tụng hình

sự, luận văn đưa ra kiến nghị đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa VKSND với CQCSĐT trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Từ mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ:

Nhiệm vụ của đề tài:

- Làm rõ vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như khái niệm, đặc điểm và nội dung của mối quan hệ quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật hiện hành

- Phân tích các quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và đánh giá một cách khoa học thực tiễn mối quan hệ giữa CQcsĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra vụ án vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình; làm rõ những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của nó

- Trên cơ sở của thực tiễn, trước những yêu cầu thực tế đặt ra đề xuất một

số giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong việc phối hợp giải quyết các vụ án về vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Trên cơ sở đó đề xuất sửa đổi, bổ sung những quy định pháp luật cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành đáp ứng với tinh thần cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là mối quan hệ

Trang 15

- Về mặt không gian: Nghiên cứu, đánh giá thực trạng trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

- Về thời gian: Nghiên cứu trong thời gian 05 năm gần đây (từ năm

2011 đến hết năm 2015)

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác

- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu tranh phòng chống tội phạm để phân tích, lý giải các vấn đề Ngoài phương pháp luận trên, để phù hợp với tính chất của đề tài, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu, cụ thể: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp tổng kết kinh nghiệm; Phương pháp thống kê, so sánh để đánh giá, khái quát thực trạng hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp mà trọng tâm là CQCSĐT và VKSND Từ đó đánh giá một cách khoa học và chính xác, khách quan về việc duy trì và củng cố mối quan hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong hoạt động TTHS

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa nhất định trong việc làm sáng tỏ cả về phương diện lý luận và thực tiễn, xác định

rõ mối quan hệ giữa hai cơ quan CQCSĐT và VKSND là mối quan hệ chế ước và mối quan hệ phối hợp, trong đó mối quan hệ chế ước xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung, vụ án về vi phạm các quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng

Trang 16

7 Bố cục của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được cấu trúc thành 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa CQCSĐT và

VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện

hành và thực tiễn mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong việc khởi

tố, điều tra vụ án vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả mối quan hệ

giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ vi phạm các quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình

Trang 17

8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU

KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

1.1 Khái niệm mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi

tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Theo “Từ điển tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học - Nhà xuất bản Đà

Nẵng năm 2002 do tác giả Hoàng Phê chủ biên thì: “Quan hệ là sự gắn liền

về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thì có thể tác động đến sự vật kia” [6]

Theo “Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam” trên trang website http://www.bachkhoatoanthu.gov.vn thì:

Quan hệ là phạm trù triết học nói lên sự phụ thuộc lẫn nhau của các yếu tố trong một hệ thống nhất định, một trong những hình thức của sự thống nhất của các đối tượng, các thuộc tính của chúng Quan hệ mang tính chất khách quan và phổ biến Phạm trù quan hệ liên hệ chặt chẽ với khái niệm quy luật, thể hiện mối liên hệ bản chất của các sự vật, quy luật phát sinh và phát triển của chúng thông qua quan hệ của chúng với các sự vật khác Khi vạch ra mối quan

hệ giữa hai hoặc nhiều đối tượng, nhận thức khoa học dựa vào đặc tính khách quan của các đối tượng đó và vào thông số khách quan của đặc tính từng đối tượng Nghiên cứu và phân loại những 11 vấn

đề quan hệ là đối tượng của logic quan hệ - một bộ phận của logic hình thức hiện đại [48]

Trang 18

9

Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, NXB Đà Nẵng thì “mối quan hệ

nghĩa là sự gắn liền chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật với nhau ” [13]

Từ đó có thể hiểu mối quan hệ giữa hai hay nhiều sự vật, hiện tượng thể hiện ở sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự tồn tại và phát triển Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đã khẳng định rằng các sự vật hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan không thể tồn tại độc lập mà luôn là một thể thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, không thể hiểu được bất kỳ sự vật, hiện tượng nếu không đặt chúng trong mối quan hệ chặt chẽ với các sự vật hiện tượng khác Nói cách khác, các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều

có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ này phản ảnh tính toàn diện và tính phát triển, quan hệ qua lại tác động qua lại lẫn nhau phản ảnh sự vận động và phát triển liên tục trong không gian và thời gian

Xuất phát từ nguyên lý trên, trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước,

để đảm bảo sự vận hành và hoạt động có hiệu quả của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước thì mỗi cơ quan tuy được quy định chức năng, nhiệm vụ riêng song không thể không có mối quan hệ với các cơ quan khác trong quá trình hoạt động Do đó, theo quy định của BLTTHS hoạt động TTHS là một quá trình nhiều giai đoạn kế tiếp nhau như: khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Mỗi giai đoạn đều gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan tiến hành tố tụng nhất định Và trong từng giai đoạn, mối quan hệ giữa các cơ quan có đặc điểm, cách thức biểu hiện khác nhau

CQĐT (bao hàm CQCSĐT) và VKS (bao hàm VKSND) theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự là các cơ quan tiến hành tố tụng, có trách nhiệm thay mặt Nhà nước chứng minh tội phạm và người phạm tội khi phát hiện có tội phạm xảy ra trong thực tế đời sống xã hội

CQĐT là một chủ thể của TTHS có thẩm quyền nhân dân Nhà nước

Trang 19

10

(Công quyền) thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật bằng việc tham gia vào quá trình điều tra vụ án hình sự để xác định sự thật khách quan của vụ án và vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa

vụ nhất định do luật TTHS quy định căn cứ vào giai đoạn khởi tố điều tra tương ứng với hoạt động của mình khi giải quyết vụ án hình sự nhằm góp phần làm cho hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự đạt hiệu quả cao [6, tr.118]

Cũng như CQĐT, VKS là một chủ thể của TTHS có thẩm quyền nhân danh Nhà nước (Công quyền) thực hiện hoạt động bảo vệ pháp luật bằng việc tham gia vào quá trình điều tra – truy tố để xác định sự thật khách quan của

vụ án và vấn đề trách nhiệm hình sự của người phạm tội, đồng thời có các quyền hạn và nghĩa vụ nhất định do luật TTHS quy định căn cứ vào giai đoạn điều tra – truy tố tương ứng với hoạt động của mình khi giải quyết vụ án hình

sự nhằm góp phần làm cho hoạt động của hệ thống tư pháp hình sự đạt hiệu quả cao trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm [6, tr.119]

Quá trình chứng minh giải quyết vụ án hình sự là một quá trình tố tụng bao gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau từ khởi tố - điều tra đến truy tố, xét xử

và thi hành án Mỗi giai đoạn tố tụng là các bước giải quyết tương ứng và gắn liền với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhất định của mỗi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự CQĐT và VKS mặc dù là hai cơ quan độc lập trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của mình Nhưng với yêu cầu đặt ra là một mặt phải cương quyết xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, một mặt là phải đảm bảo tính khách quan, toàn diện và đúng pháp luật trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng thì trong quá trình khởi tố - điều tra các vụ án hình sự đã làm phát sinh mối quan hệ tố tụng hình sự giữa CQĐT và VKS

Khởi tố vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự đầu tiên của quá trình TTHS, có nhiệm vụ xác định có hay không có dấu hiệu tội phạm để quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc không khởi tố vụ án hình sự nhằm làm cơ sở

Trang 20

11

cho các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án [7, tr.295] Trong khi đó, điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai của quá trình TTHS, trong đó CQĐT và các cơ quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp do luật TTHS quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm, người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án [7, tr.315] Trong cả hai giai đoạn tố tụng, đều có sự tham gia của CQĐT và VKS, trong đó CQĐT có nhiệm vụ tiến hành các hoạt động điều tra còn VKS thực hành quyền công tố

và kiểm sát các hoạt động điều tra để đạt được mục đích chung của TTHS là phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Vì vậy, pháp luật tố tụng hình sự quy định cả hai cơ quan phải có mối quan hệ chặt chẽ trong quá trình giải quyết vụ án

Mối quan hệ giữa CQĐT và VKS vừa thể hiện mối quan hệ biện chứng, vừa thể hiện những nét riêng biệt của TTHS, đó là mối quan hệ đa dạng, phong phú thể hiện ở tất cả các hành vi tố tụng của những người tiến hành tố tụng của hai cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói riêng Tính riêng biệt của mối quan hệ này được thể hiện ở hai mặt của một vấn đề, đó là quan hệ phối hợp và quan hệ chế ước Hai mặt này vừa đan xen với nhau, bổ sung cho nhau nhưng lại không loại trừ, hạn chế lẫn nhau và cùng có chung một mục đích là giải quyết đúng đắn, chính xác, đúng pháp luật

Quan hệ phối hợp giữa CQĐT và VKS chính là quan hệ giữa các chủ thể tiến hành tố tụng khi tham gia vào mối quan hệ cùng hoạt động trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình theo qui định của pháp luật để hỗ trợ nhau trong giải quyết một công việc cụ thể trong quá trình khởi tố, điều tra vụ

án Đó chính là sự liên kết giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm mục đích phát hiện, khởi tố, điều tra và

xử lý tội phạm theo đúng quy định của pháp luật

Trang 21

12

Quan hệ chế ước CQĐT và VKS trong quá trình điều tra các vụ án hình sự được hiểu là sự hạn chế lẫn nhau giữa các chủ thể tiến hành tố tụng trong những điều kiện nhất định qui định bởi pháp luật nhằm đảm bảo tính khách quan, chính xác trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo tôn trọng quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tránh oan sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội

Quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và giải quyết vụ án về trật

tự an toàn giao thông đường bộ nói riêng, đã làm nảy sinh các mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, mối quan hệ trong nội bộ các cơ quan tiến hành tố tụng; mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng với những người tham gia tố tụng và các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ tham gia vào việc giải quyết vụ án hình sự Trong tổng thể các mối quan hệ đó thì mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là mối quan hệ xuyên suốt và cơ bản nhất của hoạt động tố tụng hình sự Đó là mối quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, trên cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật TTHS

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là một trong những tội thuộc nhóm tội liên quan đến trật tự an toàn giao thông, là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, xâm phạm vào những quy định cả Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng trong lĩnh vực giao thông đường bộ gây nên những thiệt hại về tính mạng, tổn hại đến sức khỏe, tài của của Nhà nước,

tổ chức và của công dân Đặc thù của hành vi phạm tội thường diễn ra rất nhanh, do lỗi vô ý của người vi phạm, bên cạnh đó hiện trường diễn ra hành vi phạm tội thường khó nắm bắt do nhiều nguyên nhân như: hiện trường thường

bị xáo trộn, khó xác định nhân chứng, vụ việc thường diễn ra vào ban đêm Vì vậy đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan tố tụng, đặc biệt là CQĐT và VKS trong việc xác minh, khởi tố, điều tra loại tội này, đảm bảo tội phạm được xử lý kịp thời, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Trang 22

13

Từ những vấn đề trên cho thấy: Mối quan hệ giữa CQCSĐT và

VKSND trong việc khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là mối quan hệ phối hợp và chế ước lẫn nhau, phát sinh trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật để hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhau trong quá trình điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bảo đảm mọi hành vi phạm tội

được phát hiện và xử lý kịp thời

1.2 Đặc điểm mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi

tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND được xác định cụ thể trong BLTTHS, trong Luật tổ chức VKSND nhân dân năm 2014, pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 và những văn bản pháp lý tố tụng hình sự khác có liên quan Qua nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn hoạt động điều tra và kiểm sát điều tra thì mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng và tội phạm nói chung, mối quan hệ này được biểu hiện ở những đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, mối quan hệ này được pháp luật tố tụng quy định, bắt buộc

hai cơ quan phải tuân thủ nghiêm chỉnh để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan Mối quan hệ này được xác lập từ khi nhận được tin báo, tố giác tội phạm cho đến khi tiến hành các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khởi tố vụ án, khởi tố

bị can cho đến khi kết thúc điều tra BLTTHS quy định những cơ quan và người tiến hành tố tụng mới được tham gia vào quá trình giải quyết vụ án hình sự và phải thực hiện đúng những nhiệm vụ quyền hạn, trách nhiệm luật

Trang 23

14

định cho Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQCSĐT (các Điều 34,

35 BLTTHS năm 2003); cho Kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND (các Điều 36, 37 BLTTHS năm 2003) Ngoài ra, pháp luật còn quy định thẩm quyền điều tra, quy định những hoạt động điều tra cụ thể như hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, khám nghiệm hiện trường, theo

đó CQCSĐT chỉ được thực hiện các hoạt động đó, đồng thời quy định nhiệm

vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm sát điều tra, quy định trách nhiệm của CQCSĐT trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKSND

Thứ hai, quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các

vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng và tội phạm nói chung vừa là quan hệ phối hợp, vừa là quan hệ chế ước nhưng cùng chung một mục đích là giải quyết đúng đắn vụ án, bảo vệ pháp chế, góp phần ổn định trật tự an toàn xã hội mang lại cuộc sống bình yên cho mọi người Xem xét mối quan hệ giữa hai cơ quan này trong giai đoạn khởi

tố, điều tra vụ án về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ điều nhận thấy trước hết là quan hệ chế ước của VKSND với CQCSĐT thể hiện tính quyền uy của VKSND do pháp luật quy định như quyền yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp ngăn chăn, quyền yêu cầu thực hiện các hoạt động điều tra tại hiện trường BLTTHS năm 2003 quy định:

CQCSĐT có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của VKSND Đối với những yêu cầu và quyết định tại các điểm 4,5,6 Điều 112 của Bộ luật này, nếu không nhất trí, CQCSĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với VKSND cấp trên trực tiếp Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị của CQCSĐT, VKSND cấp trên trực tiếp xem xét giải quyết và thông báo kết quả giải quyết cho CQCSĐT đã kiến nghị [16, Điều 114]

Trang 24

15

Pháp luật quy định ngay sau khi có quyết định khởi tố vụ án hình sự thì CQCSĐT phải tiến hành các hoạt động điều tra và VKSND thực hiện các hoạt động kiểm sát điều tra Khi thực hiện hoạt động kiểm sát điều tra, VKSND có quyền yêu cầu CQCSĐT tiến hành các hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ, củng cố kiểm tra chứng cứ Ví dụ, trong quá trình điều tra vụ

án, lời khai của bị can và người làm chứng, người liên quan còn mâu thuẫn, VKSND yêu cầu CQCSĐT tiến hành biện pháp điều tra đối chất hoặc trong trường hợp còn nghi ngờ về tính xác thực của vật chứng, VKSND yêu cầu CQCSĐT mở niêm phong tiến hành xem xét vật chứng tại chỗ Pháp luật quy định có những quyết định phải có sự phê chuẩn của VKSND như quyết định khởi tố bị can, quyết định bắt bị can để tạm giam, quyết định gia hạn tạm giữ thì CQCSĐT chỉ được thực hiện quyết định khi có sự phê chuẩn của VKSND Quan hệ chế ước của CQCSĐT với VKSND không mang tính quyền uy cao như quan hệ của VKSND với CQCSĐT nhưng cũng được BLTTHS quy định Trước hết khi thực hiện những hoạt động kiểm sát điều tra, VKSND phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi tố tụng của mình Thứ hai, đối với những quyết định của CQCSĐT mà VKSND cho rằng thiếu căn cứ, trái pháp luật nên đã không phê chuẩn hoặc đã ra quyết định hủy bỏ thì CQCSĐT vẫn phải thực hiện những có quyền kiến nghị lên VKSND cấp trên trực tiếp xem xét quyết định trong thời hạn luật định Thứ

ba, trong giai đoạn điều tra vụ án, CQCSĐT có trách nhiệm phát hiện những việc làm không đúng quy định pháp luật của Kiểm sát viên để thông báo kịp thời cho VKSND cùng cấp để giải quyết

Thứ ba, phạm vi của mối quan hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong giai

đoạn khởi tố, điều tra tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phát sinh từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm mà cụ thể là khi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ, có dấu hiệu của tội phạm, sau đó là khởi tố vụ án, khởi tố bị can, tiến hành các hoạt động điều tra cho

Trang 25

16

đến khi kết thúc hoạt động điều tra bằng việc CQCSĐT ban hành bản Kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra

Thứ tư, hình thức của mối quan hệ này là trao đổi thông tin bằng miệng

hoặc bằng văn bản về vụ án giữa Điều tra viên và Kiểm sát viên; họp bàn về giải quyết vụ án, thông thường trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án về vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thì CQCSĐT chủ động tổ chức họp để bàn cách giải quyết những vấn đề phức tạp, tránh sai sót khi thực hiện hoạt động điều tra, hoạt động kiểm sát điều tra; ban hành các văn bản tố tụng như lệnh, quyết định phê chuẩn các lệnh, quyết định theo quy định của pháp luật

1.3 Nội dung mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi

tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong giai đoạn khởi tố, điều tra là mối quan hệ tố tụng phát sinh khi có dấu hiệu của tội phạm, khởi tố và trong toàn bộ quá trình điều tra vụ án hình sự Mối quan hệ này bắt đầu từ khi

tiếp nhận nguồn tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố (cụ thể đối

với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là từ khi tiếp nhận tin báo về tai nạn giao thông đường bộ có hậu quả nghiêm trọng) cho đến đến khi có quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án và kết

thúc khi có kết luận điều tra Trong trường hợp VKSND trả hồ sơ điều tra bổ sung, mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND lại được xác lập lại

Việc tồn tại quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND là tất yếu, bởi

vì: thứ nhất, xuất phát từ chức năng nhiệm vụ do pháp luật tố tụng hình sự

quy định thì CQCSĐT có chức năng điều tra, còn VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng công tố và kiểm sát điều tra trong giai đoạn khởi tố, điều tra CQCSĐT và VKSND có chức năng hoàn toàn khác nhau và

Trang 26

17

có tư cách độc lập với nhau trong khi tiến hành tố tụng Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ đã được phân công CQCSĐT và VKSND cần hợp tác, tạo điều kiện trong việc điều tra, đánh giá kịp thời các chứng cứ, các hành vi phạm tội chính xác, nhanh chóng Bảo đảm áp dụng pháp luật đúng đắn và có hiệu quả

Thứ hai, xuất phát từ cách thức tiến hành tố tụng: Pháp luật luật tố tụng hình

sự quy định CQCSĐT tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập những chứng

cứ quan trọng, bao gồm cả những chứng cứ xác định có tội và những chứng

cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng cũng như những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo Do đó, không thể không có hoạt động kiểm sát điều tra của VKSND cũng như mối quan hệ tố tụng giữa CQCSĐT và VKSND trong bất kỳ hoạt động điều tra một vụ án hình sự nào trên thực tế Nếu VKSND giám sát chặt chẽ hoạt động điều tra của CQCSĐT ngay từ đầu thì không những đảm bảo cho hoạt động điều tra đúng pháp luật

mà còn khắc phục kịp thời những sai phạm, thiếu sót trong giai đoạn điều tra

vụ án hình sự Mặt khác nó còn có vai trò và ý nghĩa quan trọng để VKSND thực hiện tiếp các giai đoạn tố tụng sau, đặc biệt là giai đoạn truy tố Như vậy quá trình chứng minh, xác định sự thật của vụ án đồi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của hai cơ quan này, đồng thời phải có những quyền năng tố tụng độc lập, có sự kiểm tra, chế ước lẫn nhau để vụ án được giải quyết một cách khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Trên cơ sở các quy định của BLTTHS và các văn bản có liên quan thì mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố - điều tra vụ án hình sự nói chung và trong khởi tố, điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng, được thể hiện dưới hai hình thức: Phối hợp và chế ước

1.3.1 Mối quan hệ phối hợp

Phối hợp được hiểu là cùng hành động hoặc cùng hoạt động hỗ trợ lẫn nhau để giải quyết một công việc nào đó Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến

Trang 27

18

hành tố tụng để cùng giải quyết vụ án hình sự là một trong các đặc trưng điển hình phản ánh sự phân công, phân nhiệm bộ máy tư pháp của Nhà nước ta Sự phối hợp giữa hai cơ quan được thể hiện trên một số khía cạnh như sau

- Mối quan hệ này được xác lập từ khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm cho đến khi tiến hành các hoạt động khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi; áp dụng các biện pháp ngăn chặn, khởi tố vụ án, khởi tố bị can cho đến khi kết thúc điều tra

- VKSND có trách nhiệm phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định, đề nghị của CQCSĐT trong thời gian ngắn nhất để tạo điều kiện cho CQCSĐT tiến hành các hoạt động điều tra đạt kết quả nhanh nhất, hiệu quả cao nhất Không được gây khó khăn cho CQCSĐT trong các thủ tục TTHS một cách trái pháp luật

- CQCSĐT có trách nhiệm cung cấp tài liệu thông báo kịp thời cho VKSND và tạo thuận lợi cho VKSND trực tiếp tham gia thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra tố tụng của CQCSĐT, đồng thời qua đó để VKSND nắm chắc hơn nội dung vụ phạm tội giúp cho việc truy tố và thực hiện quyền công tố trước Toà án

Sự phối hợp này sẽ tạo điều kiện cho hai cơ quan thực hiện tốt hơn chức năng nhiệm vụ của mình trong khởi tố, điều tra, truy tố tội phạm, đạt hiệu quả cao hơn, tránh được oan sai, bỏ lọt tội phạm Cụ thể:

- Trong hoạt động của CQCSĐT: CQCSĐT phải thông báo kịp thời và đầy đủ về tình hình vi phạm, tội phạm cho VKSND để bộ phận kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc phát hiện và giải quyết tin báo vi phạm, tội phạm của CQCSĐT; thông báo cho VKSND về tiến độ điều tra, quá trình giải quyết án, các vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình điều tra, giải quyết vụ

án VKSND thực hiện chức năng kiểm sát và phối hợp giải quyết; CQCSĐT phải chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu, quyết định của VKSND trong việc

Trang 28

áp dụng những biện pháp TTHS (áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn) khi trực tiếp phát hiện tội phạm hoặc CQCSĐT bỏ lọt tội phạm, hoặc những trường hợp khẩn cấp, kịp thời và không cần thiết phải chuyển cho CQCSĐT thực hiện; VKSND phải tuân thủ những quy định của BLTTHS về thời hạn, căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong quá trình điều tra, đồng thời kiểm sát điều tra cần phải cân nhắc một cách toàn diện giữa yêu cầu của pháp luật, yêu cầu điều tra và yêu cầu trong tình hình chính trị cụ thể trong các trường hợp cụ thể để phối hợp với CQCSĐT đảm bảo cho việc điều

tra có hiệu quả

1.3.2 Mối quan hệ chế ước

Trong giai đoạn điều tra, VKSND có nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất Trong các giai đoạn tố tụng hình sự, VKSND có trách nhiệm áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của bất kỳ cá nhân nào hoặc tổ chức nào Khi thực hiện chức năng kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự nếu phát hiện được những vi phạm của CQCSĐT thì VKSND có quyền áp dụng

Trang 29

20

mọi biện pháp mà BLTTHS quy định để loại trừ vi phạm, đó là tính chế ước của VKSND đối với CQCSĐT trong hoạt động tố tụng

Theo từ điển tiếng Việt thì: "Chế" là phép định ra, làm ra, đặt ra; còn

"ước" là bó buộc [13] Việc dùng khái niệm "chế ước" vì theo như pháp luật

tố tụng hình sự nước ta, VKSND có các quyền năng pháp lý như: Giám sát, yêu cầu, hủy bỏ Mà bản chất pháp lý của các quyền năng này là sự chế ước đối với hoạt động tố tụng của CQCSĐT - với tính chất là đối tượng của hoạt động kiểm sát

Suốt quá trình tố tụng từ khi tội phạm được phát hiện hay có dấu hiệu tội phạm đến khi khởi tố và tiến hành các hoạt động điều tra thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm và người phạm tội thì VKSND đều tham gia với tư cách

là cơ quan giám sát thông qua hai hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp (nghiên cứu hồ sơ) Việc thực hiện các quyền năng của VKSND trong quá trình giải quyết vụ án hình sự như yêu cầu điều tra, phê chuẩn các quyết định tố tụng hay hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của CQCSĐT được gọi là thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKSND với mục đích nhằm bảo đảm cho hoạt động điều tra được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, đồng thời ngăn ngừa mọi hoạt động xâm phạm đến quyền nhân thân của công dân

Ở bất kỳ một cơ chế hoạt động nào cũng phải có sự kiểm tra để hoạt động đó thực hiện một cách nghiêm chỉnh, bất kỳ quyền hạn nào cũng phải chịu sự giám sát, nếu không sẽ dẫn đến lạm quyền Trong khi hoạt động tố tụng của CQCSĐT ở chừng mực nào đó nhất định đều ảnh hưởng, liên quan đến quyền công dân, mà quyền này đã được pháp luật bảo vệ, nên bất kỳ hoạt động

tố tụng nào của CQCSĐT liên quan đến quyền công dân đều phải được cân nhắc và giám sát một cách chặt chẽ Ví dụ, CQCSĐT muốn áp dụng biện pháp cưỡng chế về tố tụng như khám xét khẩn cấp, bắt khẩn cấp, bắt bị can để tạm giam hoặc áp dụng biện pháp tạm giam thì tất cả các quyết định áp dụng các

Trang 30

21

biện pháp nói trên phải được VKSND cùng cấp phê chuẩn mới có hiệu lực thi hành Trong trường hợp CQCSĐT ra quyết định áp dụng các biện pháp nói trên không có căn cứ, tức là các quyết định vi phạm pháp luật thì VKSND có quyền quyết định hủy bỏ quyết định trái pháp luật đó và yêu cầu CQCSĐT phục hồi lại toàn bộ các các quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, ví dụ nếu đã bắt người thì phải trả tự do ngay hoặc nếu thu giữ tài sản thì trả lại cho chủ sở hữu

Thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm đặt

ra yêu cầu đối với CQCSĐT là không những phải xử lý nghiêm minh tội phạm và người phạm tội, mà còn đòi hỏi phải tuân thủ các quy định của pháp luật trong hoạt động tố tụng của mình Tuy nhiên, để có sự đảm bảo yêu cầu nói trên thì việc chế ước của VKSND đối với hoạt động tố tụng của CQCSĐT hoàn toàn là tất yếu Song VKSND thực hiện quyền chế ước cũng trong phạm

vi luật định chứ không phải VKSND tự đặt ra và yêu cầu CQCSĐT thực hiện

Sự chế ước được biểu hiện ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào tính chất của từng chế định, trong BLTTHS quyền chế ước của VKSND được quy định rất rộng và chặt chẽ từ việc phê chuẩn quyết định khởi tố bị can cho đến việc phê chuẩn, hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, điều này thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước ta là tôn trọng và bảo vệ quyền công dân đã được Hiến pháp ghi nhận Nếu VKSND thực hiện tốt các quyền năng chế ước thì sẽ góp phần vào kết quả giải quyết các vụ án hình sự đạt hiệu quả cao, nâng cao chất lượng công tác điều tra, tránh các sai sót và vi phạm các quy định của BLTTHS của CQCSĐT, đồng thời qua đó thể hiện rõ chức năng thực hành quyền công tố của VKSND trong tố tụng hình sự

Nghiên cứu các chế định của pháp luật tố tụng hình sự thấy rằng, quyền chế ước của VKSND được thực hiện dưới các hình thức cơ bản sau:

Thứ nhất, VKSND có quyền giám sát các hoạt động điều tra của

CQCSĐT một cách trực tiếp, như kiểm sát hoạt động khám nghiệm hiện

Trang 31

22

trường, kiểm sát hoạt động khám nghiệm tử thi, kiểm sát hoạt động hỏi cung

bị can… hoặc giám sát một cách gián tiếp thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu phản ánh hoạt động điều tra Qua hoạt động giám sát, VKSND có quan điểm là nhất trí, không nhất trí, phê chuẩn hay không phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQCSĐT Hoạt động giám sát là cơ sở để VKSND thực hiện quyền chế ước, chỉ khi thông qua hoạt động giám sát thì VKSND mới nắm rõ các hoạt động tố tụng của CQCSĐT đúng hay sai hoặc còn thiếu sót ở điểm nào, từ đó đưa ra các yêu cầu, biện pháp cụ thể để CQCSĐT thực hiện trong quá trình điều tra vụ án Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động giám sát của VKSND bị hạn chế khi cơ chế giám sát không đảm bảo, khi kiểm sát viên

- người trực tiếp tiến hành hoạt động giám sát nhận thức không đầy đủ và thực hiện không nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về quyền năng giám sát của mình hoặc khi CQCSĐT không phối hợp chặt chẽ với VKSND Bởi lẽ, yêu cầu đặt ra cho hoạt động kiểm sát khởi tố - điều tra vụ án hình sự

là phải kiểm sát ngay từ đầu, tức là VKSND phải giám sát ngay từ khi CQCSĐT phân loại, xử lý các tố giác và tin báo tội phạm, nếu như CQCSĐT không có sự phối hợp trong giải quyết các tố giác và tin báo tội phạm, thì hoạt động giám sát của VKSND bị hạn chế, điều đó có thể dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm của CQCSĐT

Thứ hai, VKSND có quyền đề ra yêu cầu CQCSĐT thực hiện các hoạt

động điều tra khi phát hiện thấy việc khởi tố - điều tra của CQCSĐT chưa đầy đủ, còn thiếu sót về chứng cứ để làm cơ sở chứng minh tội phạm và người phạm tội hoặc phát hiện có vi phạm pháp luật tố tụng hình sự có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm Ví dụ như VKSND có quyền yêu cầu CQCSĐT khởi tố bổ sung, nếu CQCSĐT không khởi tố thì VKSND khởi tố và yêu cầu điều tra hoặc khi kết thúc điều tra phát hiện việc

bỏ lọt tội phạm thì VKSND quyết định trả hồ sơ và yêu cầu CQCSĐT điều

Trang 32

23

tra bổ sung, yêu cầu cung cấp tài liệu cần thiết về tội phạm và việc vi phạm pháp luật của Điều tra viên Đề ra yêu cầu điều tra có thể được thực hiện ngay từ khi có tin báo, tố giác về tội phạm để làm rõ có tội phạm xảy ra hay không? Hoặc sau khi khởi tố vụ án hình sự để làm rõ đối tượng gây án, thậm chí ngay trong quá trình điều tra vụ án hình sự để củng cố chứng cứ về hành

vi phạm tội của các bị can

Thứ ba, VKSND có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của

CQCSĐT Đây là một trong những quyền năng thể hiện chức năng thực hành quyền công tố của VKSND, là phương tiện bảo đảm cho việc điều tra phải tuân theo pháp luật một cách nghiêm chỉnh và thống nhất, tránh tùy tiện trong hoạt động tố tụng hình sự của CQCSĐT Trên thực tế, VKSND chỉ thực hiện điều này khi đã có yêu cầu nhưng CQCSĐT không thực hiện hoặc không thể

tự hủy bỏ để khắc phục được Ví dụ như VKSND quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố của CQCSĐT nếu thấy quyết định đó không có căn cứ pháp luật

Do vậy, nếu VKSND thực hiện tốt, triệt để quyền năng này thì ngoài việc góp phần nâng cao chất lượng công tác điều tra, mà còn hạn chế rất nhiều trường hợp vụ án phải đình chỉ điều tra vì không có sự kiện phạm tội hoặc bị can không phạm tội v.v Để thực hiện quyền năng này được chính xác thì VKSND phải thực hiện chức năng kiểm sát điều tra ngay từ giai đoạn khởi tố,

từ đó thường xuyên chấn chỉnh hoạt động điều tra của CQCSĐT để làm sao không xảy ra vi phạm về tố tụng hình sự trong quá trình điều tra vụ án, nếu có

vi phạm xảy ra thì kịp thời yêu cầu khắc phục ngay, đặc biệt là ngăn chặn vi phạm quyền công dân

Quyền chế ước nói trên của VKSND cũng phải thực hiện đúng theo các quy định của pháp luật và cũng có giới hạn nhất định, chẳng hạn trong trường hợp không đồng ý với quyết định của VKSND cùng cấp thì CQCSĐT vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền đề nghị Viện trưởng - VKSND cấp trên trực tiếp

Trang 33

24

xem xét và quyết định, thời hạn cho cơ quan VKSND cấp trên xem xét giải quyết là 20 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị của CQCSĐT (Điều 114 BLTTHS năm 2003)

Việc phân tích bản chất, hình thức trong mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận và vận dụng thống nhất trong thực tiễn Đồng thời qua đó tìm ra những cơ sở khoa học để đổi mới, hoàn thiện các quy chế về mối quan hệ trong giải quyết các vụ án hình sự giữa hai

cơ quan này, qua đó thực hiện mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động tố tụng của CQCSĐT và VKSND trong khởi tố - điều tra các vụ án hình sự

Trong thực tế hiện nay có nhiều trường hợp do nhận thức không đúng đắn các quy định của pháp luật về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND nên đã có hiện tượng do chỉ tập trung vào việc phát hiện, điều tra tội phạm mà không chú ý đến việc chấp hành các quy định của pháp luật về việc phát hiện, điều tra xử lý tội phạm, thậm chí có trường hợp VKSND chỉ sử dụng đơn thuần quan hệ phối hợp mà không sử dụng quyền chế ước đã dẫn đến hiện tượng "hữu khuynh", làm thay CQCSĐT, né tránh, không cương quyết bảo vệ quan điểm đúng đắn cũng như các quy định pháp luật bị vi phạm Ngược lại,

sử dụng cứng nhắc quyền chế ước của VKSND đối với CQCSĐT có thể tạo nên mối quan hệ căng thẳng trong công tác Những trường hợp nói trên tuy không phải là hiện tượng phổ biến, nhưng cũng đã ảnh hưởng đến chất lượng điều tra, kiểm sát điều tra và kết quả công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay

Quan hệ phối hợp và chế ước của VKSND và CQCSĐT trong TTHS không phải là những quan hệ riêng rẽ, độc lập mà đặc điểm phối hợp và chế ước trong mối quan hệ đó đan xen trong từng chế định TTHS Đặc biệt VKSND không làm thay hoặc lấp chỗ trống cho CQCSĐT, mà là nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ chung của cơ quan tiến hành tố tụng

Trang 34

25

Kết luận chương 1

Trong chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ một số những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố điều tra vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như: Khái niệm; đặc điểm cũng như nội dung mối quan hệ Từ đó, tạo nên nhận thức đúng đắn về các quy định về mối quan hệ giữa CQCSĐT

và VKSND trong giai đoạn khởi tố, điều tra các vụ án nói chung, các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng

Những vấn đề về lý luận đã nghiên cứu trên là cơ sở định hướng cho việc nghiên cứu, đánh giá, thực trạng mối quan hệ giữa VKSND và CQCSĐT trong khởi tố, điều tra các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Ninh Bình Từ đó đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong công tác đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong thời gian tới

Trang 35

26

Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN MỐI QUAN HỆ GIỮA CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA VÀ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG KHỞI TỐ, ĐIỀU TRA VỤ ÁN VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NINH BÌNH

2.1 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về mối quan hệ giữa CQCSĐT và VKSND trong khởi tố, điều tra các vụ án

vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Hoạt động tố tụng hình sự bao gồm nhiều giai đoạn Nếu giai đoạn khởi

tố vụ án hình sự là giai đoạn xác định có tội phạm xảy ra hay không, thì giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn CQCSĐT thu thập chứng cứ để chứng minh làm rõ tội phạm và người phạm tội Hoạt động của CQCSĐT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự gồm hoạt động áp dụng các biện pháp ngăn chặn; hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu qua việc ghi thu lời khai của những người tham gia tố tụng, qua việc thu giữ vật chứng, khám nghiệm và những hoạt động điều tra khác để chứng minh đối với vụ án Trong tất cả các hoạt động này giữa CQCSĐT và VKSND hình thành một mối quan hệ tố tụng trên

cơ sở quy định của BLTTHS Mối quan hệ giữa hai cơ quan thể hiện trong quá trình VKSND thực hiện chức năng của mình, thể hiện trong việc CQCSĐT thực hiện các yêu cầu của VKSND, thể hiện trong việc VKSND đáp ứng các đề nghị của CQCSĐT

2.1.1 Quan hệ trong tiếp nhận, giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Theo pháp luật TTHS thì phát hiện và tố giác tội phạm là trách nhiệm chung của mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức xã hội và mọi công dân

Trang 36

27

Những cơ quan chuyên trách có chức năng, nhiệm vụ trực tiếp phát hiện và giải quyết tin báo về tội phạm là CQCSĐT và cơ quan có quyền hạn kiểm sát việc phát hiện và giải quyết tin báo tội phạm của CQCSĐT là VKSND

2 [16, Điều 103, Khoản 1]

Theo quy định này, CQCSĐT có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố về tội phạm nói chung và tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nói riêng Theo quy định tại Điều 150 BLTTHS năm 2003 thì Điều tra viên chủ trì tiến hành khám nghiệm hiện trường các vụ tai nạn giao thông có dấu hiệu của tội phạm và trong mọi trường hợp, trước khi tiến hành khám nghiệm hiện trường, Điều tra viên phải thông báo cho VKSND cùng cấp biết Kiểm sát viên phải có mặt để kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường CQCSĐT tiến hành kiểm tra xác minh xác định có dấu hiệu tội phạm hay không phải tội phạm để xem xét đưa

ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự và thông báo kết quả

xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố cho VKSND, thông báo kết quả xử lý đến các cơ quan tổ chức, cá nhân đã cung cấp thông tin về tội phạm, đồng thời áp dụng các biện pháp cần thiết bảo đảm an toàn cho công dân đã tố giác tội phạm Để tạo điều kiện cho việc phối hợp nhiệm vụ nói trên

có hiệu quả, CQCSĐT phải thường xuyên thông báo bằng văn bản cho VKSND cùng cấp về tình hình và việc xử lý đối với các hành vi vi phạm, tội phạm xảy ra trong địa phận quản lý của mình, theo định kỳ hoặc đột xuất đối

Trang 37

28

với các vụ án nghiêm trọng xảy ra, để VKSND giám sát và cùng phối hợp giải quyết Kiểm sát viên phải kiểm sát việc lập hồ sơ xác minh của Điều tra viên đảm bảo các hoạt động xác minh, kiểm tra nguồn tin, làm rõ các tình tiết liên quan, thu thập tài liệu, chứng cứ để xác minh dấu hiệu của tội phạm đối với các vụ vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Đồng thời kiểm sát việc tuân thủ quy định thời hạn giải quyết tố giác, tin báo

về tôi phạm và kiến nghị khởi tố đảm bảo việc giải quyết được tiến hành khẩn trương, kịp thời, phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố (hoặc không quá 02 tháng trong trường hợp có nhiều tình tiết phức tạp) CQCSĐT phải tiến hành kiểm tra, xác minh và ra quyết định về việc khởi tố, không khởi tố và thông báo cho người có liên quan biết (khoản 2 Điều 103 BLTTHS năm 2003)

Trong nội dung này VKSND cũng có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ và chuyển ngay mọi tố giác, tin báo và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu

có liên quan đã tiếp nhận cho CQCSĐT, tiến hành kiểm sát việc giải quyết mọi tố giác, tin báo về tội phạm của CQCSĐT, đảm bảo mọi tin báo, tố giác

về tội phạm, kiến nghị khởi tố đã tiếp nhận phải được kiểm tra xác minh theo đúng quy định của pháp luật, không để sót lọt tội phạm ngay trong giai đoạn điều tra ban đầu

2.1.2 Quan hệ trong việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

Sau khi kiểm tra xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu ban đầu về nguồn tin báo tội phạm, và kiến nghị khởi tố, xét thấy có dấu hiệu tội phạm CQCSĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can

BLTTHS 2003 quy định: " Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có

dấu hiệu tội phạm ” [16, Điều 100]

Và BLTTHS 2003 quy định: "1 Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã

thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT ra quyết định khởi tố bị can ” [16, Điều 126]

Trang 38

29

Khởi tố vụ án hình sự là một sự kiện pháp lý mở đầu quá trình tố tụng Trong giai đoạn này, CQCSĐT và VKSND cùng có nhiệm vụ xác định có hay không có sự việc phạm tội xảy ra Khi xác định có đủ dấu hiệu phạm tội thì CQCSĐT tiến hành khởi tố vụ án và gửi quyết định khởi tố cho VKSND trong phạm vi 24 giờ để VKSND kiểm sát việc chấp hành pháp luật của CQCSĐT trong việc khởi tố vụ án Trong một số loại tội thuộc khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình

sự quy định chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (Khoản 1, Điều 105 BLTTHS) Từ đó cho thấy, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, mặt khác khi

có đủ yếu tố cấu thành tội phạm như: Có hành vi vi phạm về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ quy định tại Luật giao thông đường bộ, có thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả thực tế thì CQCSĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật

Trên cơ sở giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, khi thấy có dấu hiệu của tội phạm thì CQCSĐT phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và phải gửi ngay Quyết định khởi tố vụ án kèm theo tài liệu liên quan cho VKSND có thẩm quyền (cùng cấp) để kiểm sát việc khởi tố Sau khi nhận được quyết định khởi tố, VKSND phải đăng ký vào sổ thụ lý của cơ quan mình để kiểm sát việc khởi tố và theo dõi tiến độ giải quyết của CQCSĐT VKSND kiểm tra tính có căn cứ của Quyết định khởi tố vụ án Tính có căn cứ

để khởi tố vụ án hình sự nói chung và tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiên giao thông đường bộ nói riêng được quy định tại Điều 100

Trang 39

1999 Sau khi nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, VKSND phải có quan điểm rõ ràng

là đồng ý hoặc không đồng ý quyết định của CQCSĐT

Nếu sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy Quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQCSĐT không có căn cứ hoặc trái pháp luật thì VKSND yêu cầu hoặc ra Quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQCSĐT (Khoản 2, Điều 109 BLTTHS 2003) Những quyết định của VKSND cùng cấp CQCSĐT phải thực hiện, nếu CQCSĐT không nhất trí thì vẫn phải thực hiện nhưng có quyền kiến nghị VKSND cấp trên trực tiếp bằng văn bản (Điều

114 BLTTHS 2003)

Công tác kiểm sát việc khởi tố vụ án có ý nghĩa vô cùng quan trọng VKSND sẽ loại trừ ngay từ ban đầu các hoạt động vi phạm thiếu sót của CQCSĐT để yêu cầu CQCSĐT có biện pháp khắc phục thiếu sót ngay từ ban đầu, tránh việc xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của những trường hợp liên quan và hạn chế được tốn kém chi phí cho hoạt động điều tra

Đối với Quyết định khởi tố bị can của CQCSĐT: Sau khi CQCSĐT ra Quyết định khởi tố bị can phải gửi toàn bộ hồ sơ tài liệu đến VKSND cùng cấp để đề nghị phê chuẩn và phải có Quyết định phê chuẩn Quyết định khởi tố

bị can của VKSND thì Quyết định đó mới có hiệu lực pháp lý Nếu VKSND không phê chuẩn thì CQCSĐT phải huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc VKSND sẽ yêu cầu bổ sung chứng cứ, tài liệu làm căn cứ để quyết định việc phê chuẩn (Khoản 4, Điều 126 BLTTHS 2003) Mọi quyết định của CQCSĐT đối với khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều được sự nhất trí của VKSND cùng cấp và nếu CQCSĐT không nhất trí thì có quyền kiến nghị với VKSND cấp trên xem xét Trong trường hợp thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị

Trang 40

và chế ước trong hoạt động tố tụng hình sự của VKSND đối với CQCSĐT trong điều tra các vụ án hình sự nói chung

Mối quan hệ này thể hiện thông qua việc VKSND chủ động phối hợp với CQCSĐT, tạo sự tin cậy lẫn nhau là yếu tố quan trọng cho sự thành công trong đấu tranh phòng, chống các TPVTTXH Chỉ có vậy VKSND mới chủ động trong thông tin về vụ án và làm tốt công tác thực hành quyền công tố ngay từ khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can

Sau khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, VKSND phải nghiên cứu kỹ và toàn diện các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án do CQCSĐT thu thập được Trong việc nghiên cứu, phải chú ý đến các chứng cứ buộc tội và cả chứng cứ gỡ tội Trường hợp cần thiết VKSND phải trực tiếp hỏi cung bị can, hỏi người làm chứng chứng trước khi ra quyết định phê chuẩn các quyết định của CQCSĐT để có những quyết định phê chuẩn chính xác và kịp thời trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm đáp ứng tình hình mới hiện nay Đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, ngoài các chứng cứ vật chất là các phương tiện tham gia giao thông, hiện trường tai nạn giao thông thì lời khai của bị can, bị hại, người làm chứng là nguồn chứng cứ vô cùng quan trọng, vì vậy, trong nhiều trường hợp, trước khi phê chuẩn các quyết định tố tụng của CQCSĐT thì VKSND phải trực tiếp hỏi cung bị can, bị hại, người làm chứng để có căn cứ vững chắc có quyết định phê chuẩn của mình

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w