1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước qua thực tiễn tỉnh bắc giang

94 422 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Hiện nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí tron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ TRÍ HÙNG

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG THAM NHòNG L·NG PHÝ TRONG LÜNH VùC §ÇU T¦ X¢Y DùNG C¥ B¶N Cã Sö DôNG NG¢N S¸CH NHµ N¦íC QUA THùC TIÔN TØNH B¾C GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

VŨ TRÍ HÙNG

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ PHßNG, CHèNG THAM NHòNG L·NG PHÝ TRONG LÜNH VùC §ÇU T¦ X¢Y DùNG C¥ B¶N Cã Sö DôNG NG¢N S¸CH NHµ N¦íC QUA THùC TIÔN TØNH B¾C GIANG

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa ho ̣c: PGS.TS DƯƠNG ĐỨC CHÍNH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Trí Hùng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phu ̣ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CƠ BẢN 9

1.1 Vấn đề chung về tham nhũng, lãng phí 9 1.2 Khái quát chung công tác đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước 18 1.3 Quá trình hình thành phát triển pháp luật phòng, chống tham nhũng

và luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 24 1.4 Thực hiện Pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước 27 Kết luận chương 1 36

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG LÃNG PHÍ VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT PHÒNG CHỐNG, THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG 37

2.1 Khái quát tình hình đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang từ năm 2014-2016 37 2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang 40 2.3 Đánh giá chung 46 Kết luận chương 2 62

Trang 5

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN PHÁP LUẬT

VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ TRONG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

QUA THỰC TIỄN TỈNH BẮC GIANG 63

3.1 Quan điểm định hướng hoàn thiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang 63

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước 67

Kết luận chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CBCC, VC: Cán bộ công chức, viên chức ĐTXD: Đầu tư xây dựng

ĐTXDCB: Đầu tư xây dựng cơ bản HĐND: Hội đồng nhân dân NSNN: Ngân sách nhà nước PCTN: Phòng, chống tham nhũng THTK,CLP: Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí UBND: Ủy ban nhân dân

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua hơn 30 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ Để đạt được những thành tựu đó Nhà nước đã tiến hành đầu tư rất nhiều cho phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật làm tiền đề đẩy mạnh sản xuất, làm thay đổi cơ cấu kinh tế, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất

và tinh thần của nhân dân

Trong tổng số vốn đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước thì đầu tư xây dựng cơ bản chiếm một tỷ lệ lớn, đóng vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến quy mô và chất lượng phát triển của cơ sở hạ tầng Tuy nhiên, theo đánh giá chung, lĩnh vực xây dựng cơ bản từ NSNN vẫn còn nhiều khiếm khuyết, trong đó việc tham nhũng, thất thoát, lãng phí khi thực hiện dự án dẫn đến hiệu quả đồng vốn đầu tư thấp là những vấn đề gây bất bình trong xã hội

Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp,

là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, đảng viên cần quán triệt, thực hiện có hiệu quả chủ trương, giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí được xác định trong Nghị quyết Đại hội XI của Đảng

và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" Tiếp tục thực hiện nghiêm túc, đồng bộ mục tiêu, quan

điểm và các giải pháp được nêu trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X), chú trọng cả phòng và chống; cả phòng, chống tham nhũng và phòng, chống lãng phí, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật, sớm

Trang 8

lý của Nhà nước Trong các lĩnh vực trên thì lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản phát triển cơ sở hạ tầng được Nhà nước ưu tiên phát triển và chiếm tỷ trọng lớn từ nguồn Ngân sách nhà nước

Để tháo gỡ các vấn đề đó, Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm hạn chế, khắc phục, phòng chống tham nhũng, lãng phí nói chung và phòng chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN nói riêng Tuy nhiên tình trạng tham nhũng, lãng

Trang 9

3

phí vẫn còn nghiêm trọng và thực tế cho thấy nước ta chưa có "liều thuốc đặc trị" tệ nạn này Chính vì thế nhiệm vụ cấp bách đặt ra là các cấp, các ngành, các địa phương phải vào cuộc và phải có những giải pháp kiên quyết, mạnh

mẽ và đồng bộ thì mới có thể phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung một cách hiệu quả

Bắc Giang là một địa phương đang trong quá trình phát triển, ĐTXDCB nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống nhân dân với số vốn đầu tư mỗi năm hàng trăm tỷ đồng, việc tổ chức thực hiện cũng không tránh khỏi tình trạng gây thất thoát, tham nhũng lãng phí và chưa có giải pháp hữu hiệu để khắc phục

Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về

phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

có sử dụng ngân sách Nhà nước qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang” làm luận

văn thạc sỹ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về phòng, chống tham nhũng, lãng phí và giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB tại các dự án được đầu tư bằng nguồn vốn NSNN như cuốn

Quản lý tài chính trong lĩnh vực đầu tư xây dựng của tác giả Thái Bá Cẩn,

Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội năm 2003; Đề án chống thất thoát lãng phí trong đầu tư xây dựng của Bộ Xây dựng thực hiện tháng 9/2004; Hội thảo

khoa học “Về công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng trong XDCB, thực trạng và giải pháp” do Bộ Công an tổ chức ngày 10/11/2005 tại Hà nội; Giáo trình Lý luận và Pháp luật về phòng, chống tham nhũng của tác giả Nguyễn

Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, Chu Hồng Thanh, Vũ Công Giao nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội năm 2013;

Trang 10

4

Một số nghiên cứu tiêu biểu khác có thể kể đến như:

“Một số giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Phan Xuân

Lĩnh - Luận văn Thạc sỹ quản lý kinh tế năm 2006- Học viện Chính trị quốc gia

Hồ Chí Minh

“Giải pháp phòng chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN ở Thanh Hóa” của tác giả Lê Văn Tuấn - Luận văn Thạc sỹ

quản lý kinh tế năm 2007- Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

“Giải pháp chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ tại Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Thị Ánh

Tuyết - Luận văn Thạc sỹ quản lý kinh tế năm 2008- Học viện Chính trị – Hành Chính quốc gia Hồ Chí Minh

“Phòng chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng từ nguồn vốn NSNN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Bùi Thị Hương - Luận văn

Thạc sỹ Quản lý kinh tế năm 2009, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia

Trang 11

5

dựng cơ bản có sử dụng NSNN, trên cơ sở thực trạng của các tỉnh Đắk Lắk, Thanh Hóa, Quảng Ninh Trong đó nhận diện các dấu hiệu của việc gây thất thoát, lãng phí và đề ra các giải pháp và định hướng phòng, chống thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB trên địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Những nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào việc xác định nguyên nhân dẫn đến thất thoát, lãng phí về kinh tế đối với các công trình đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước và xác định hiệu quả của công tác đầu tư xây dựng Nội dung của một số nghiên cứu trên được thực hiện từ trước những năm 2009, đến nay thì một số quy định về phòng chống tham nhũng và các quy định liên quan đến xây dựng cơ bản có sự thay đổi và cụ thể, rõ ràng hơn trong quy định Những nghiên cứu này sẽ là những tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả

Thực tế cho thấy, tình trạng tham nhũng, thất thoát tài sản nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản đã xảy ra ở nhiều địa phương, làm tiêu huỷ các nguồn lực, phá vỡ quy hoạch, kế hoạch phát triển quốc gia, cả quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng, lãnh thổ, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành kinh

tế kỹ thuật, tạo ra áp lực tài chính lớn cho việc thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm an sinh xã hội môi trường đầu tư Chính vì vậy, cần phải nghiên cứu một cách tổng thể về mặt lý luận và thực tiễn để đưa ra các giải pháp phòng, chống tham nhũng lãng phí trong ĐTXDCB có sử dụng ngân sách nhà nước Ở phạm vi thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB thì chưa có công trình nào đề cập một cách toàn diện cả

về góc độ lý luận và thực tiễn Vì vậy, với kiến thức đã được học tại Khoa Luật, trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội và kinh nghiệm công tác của mình, tác giả nghiên cứu đề tài này với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

Trang 12

6

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Mục đích của luận văn là nghiên cứu lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước; đồng thời đề xuất các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luâ ̣t về phòng, chống tham nhũng đối với lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Để thực hiện mục đích trên, luận văn thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:

- Phân tích làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng lãng phí trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực ĐTXDCB của các cơ quan quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Đánh giá thực trạng việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung và trong lĩnh vực ĐTXDCB nói riêng ở tỉnh Bắc Giang Cụ thể là: Công tác quản lý Nhà nước, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực ĐTXDCB

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hiện hành về phòng chống tham nhũng, lãng phí và thực thi pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB có sử dụng ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về phòng chống tham nhũng, lãng phí ở lĩnh vực ĐTXDCB trên địa

Trang 13

- Về không gian: luận văn tập trung nghiên cứu thực hiê ̣n pháp luâ ̣t về phòng chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước ở tỉnh Bắc Giang

- Về thời gian trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của triết học Mác - Lênin kết hợp với các phương pháp lịch sử - thực tiễn, phân tích tổng hợp, thống kê,

so sánh dựa trên việc nghiên cứu các tài liệu chuyên ngành, các văn bản, báo cáo, kết luận thanh tra, kiểm tra ở tỉnh Bắc Giang

6 Ý nghĩa về lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thực hiện pháp luật về đấu tranh phòng, chống tham nhũng và đề xuất một số giải pháp đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực hiện pháp luật về phòng chống tham

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục theo 3 chương:

- Chương 1 Một số vấn đề chung về pháp luật phòng, chống tham

nhũng, chống lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

- Chương 2 Thực trạng pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng

phí và thực thi pháp luật PCTN, lãng phí trong đầu tư XDCB có sử dụng NSNN trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Chương 3 Quan điểm và giải pháp thực hiện pháp luật về phòng,

chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXDCB có sử dụng NSNN qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang

Trang 15

1.1.1 Khái niệm về tham nhũng, lãng phí

1.1.1.1 Khái niệm về tham nhũng

Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của [16] Ngân hàng phát triển Châu Á đưa ra hai định nghĩa về

tham nhũng, định nghĩa thứ nhất “sự lạm dụng quyền lực công hoặc tư để thu lợi riêng”, định nghĩa thứ hai có nội dung toàn diện hơn, xác định tham nhũng là “hành động lạm dụng chức vụ để làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên ở cả khu vực công và khu vực tư hoặc để tạo cơ hội cho những

kẻ khác làm như vậy” [1, tr.33]

Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì

vụ lợi [11, Điều 2] Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống

Trang 16

10

tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của

cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu

Như vậy, tham nhũng diễn ra rất đa dạng, phong phú, đó có thể là hành vi của một cá nhân có chức quyền, của tập thể lãnh đạo cơ quan tổ chức; tham nhũng có thể diễn ra trong nội bộ một cơ quan, đơn vị, có thể có

sự cấu kết với tổ chức, đơn vị khác; hành vi tham nhũng có thể diễn ra trong

cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan lập pháp, cơ quan tư pháp; diễn ra trong các lĩnh vực quản lý nhà nước… Đặc biệt là những tác hại mà hành vi tham nhũng gây ra ảnh hưởng rất lớn đến sự minh bạch, vận hành dân chủ của các cơ quan nhà nước nói chung, các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng Nguyên nhân của các hành vi tham nhũng có thể là do sự thiếu đồng

bộ, thống nhất của hệ thống chính sách, pháp luật; thủ tục hành chính rườm rà; công tác kiểm tra, giám sát công vụ thiếu chặt chẽ, thiếu hiệu quả; việc đấu tranh, xử lý các hành vi tham nhũng chưa nghiêm…

Với cách tiếp cận nêu trên có thể thấy rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng là yêu cầu tất yếu để đảm bảo nền hành chính vận hành một cách có hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng những đòi hỏi khách quan, minh bạch, dân chủ của bộ máy nhà nước Do sự đa dạng, phong phú và tính chất phức tạp của hành vi tham nhũng nên việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp, phương pháp khác nhau Đấu tranh phòng, chống tham nhũng có thể thông qua việc hoàn thiện thể chế để phòng ngừa, xử lý và để cho người có chức vụ, quyền hạn không thể tham nhũng, không dám tham nhũng; thông qua việc tăng cường giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán bộ, công chức nhằm đảm bảo sự trong sạch, liêm chính; thống qua các biện pháp công khai, minh bạch trong thực thi công vụ; xử lý nghiêm minh, kịp thời đối với các hành vi tham nhũng

Do đó phòng, chống tham nhũng là các biện pháp mà nhà nước áp

Trang 17

đã và đang tuyên chiến chống tham nhũng, bởi đơn giản tham nhũng phá hoại

uy tín và đe dọa sự tồn vong của nhà nước Trong các quy định của pháp luật

do nhà nước ban hành, trong đó có luật về phòng, chống tham nhũng

Pháp luật về phòng chống tham nhũng đó là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm xác định các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng

1.1.2 Khái niệm pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Xuất phát từ nhận thức chung về pháp luật, và những luận giải nêu trên

về đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước, có thể hiểu: pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng NSNN là tổng thể các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều

Trang 18

12

chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình đầu tư XDCB và quản

lý nhà nước đối với các loại hình đầu tư có sử dụng NSNN và là cơ sở để xác định vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đầu tư XDCB có sử dụng NSNN

1.1.2.1 Đặc điểm của pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Mặc dù có những đặc trưng riêng nhưng pháp luật trong ĐTXDCB không phải là một hệ thống pháp luật biệt lập mà chỉ là một nội dung cụ thể của hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, có mối liên hệ chặt chẽ với các quy định về đầu tư, ngân sách, tài chính xây dựng, các quy định về tổ chức bộ máy nhà nước, về quyền hạn của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước, với các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính, hợp tác quốc tế… Khi nghiên cứu pháp luật trong ĐTXDCB có thể thấy rằng:

- Đặc điểm về hình thức: Pháp luật trong ĐTXDCB chỉ bao gồm các quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Có nhiều cách thức thể hiện khác nhau các quy định pháp luật trong ĐTXDCB nhưng phổ biến nhất hiện nay là các quy định chung, các quy định có tính nguyên tắc, quy định về chủ trương được định ra trong nội dung của văn bản quy pháp pháp luật chuyên ngành như Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Nhà

ở, Luật Qui hoạch đô thị, Luật Ngân sách…

Các quy định cụ thể như hình thức, thủ tục thực hiện, thẩm quyền được quy định cụ thể trong văn bản riêng, thường là văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật Có quy định một hoặc một nhóm vấn đề về đầu tư xây dựng cơ bản được quy định trong Nghị quyết riêng của Quốc hội [11] Do đầu tư xây dựng cơ bản là một đặc thù nên Luật Đầu tư được coi là luật gốc vì quy định về khái niệm đầu tư; tuy nhiên, do tính đa dạng của xây dựng cơ bản, các văn bản pháp luật khác lại thể hiện các quan điểm, biện pháp đầu tư, cách thức sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà

Trang 19

và các quy định về quy trình thủ tục thực hiện các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến đầu tư XDCB

Các nội dung cụ thể của pháp luật gồm: Nguyên tắc đầu tư; hình thức thực hiện; các yêu cầu, điều kiện tiêu chí xác định đầu tư xây dựng công trình

có sử dụng ngân sách nhà nước; quyền và nghĩa vụ các bên, thủ tục thực hiện; các quy định về tổ chức bộ máy, nhân sự; về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động ĐTXDCB Các nội dung của pháp luật trong ĐTXDCB

là nhằm đảm bảo cho các công trình đầu tư xây dựng được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, có hiệu quả và phát huy mục đích sử dụng của công trình xây dựng, góp phần hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật cũng như các biểu hiện tham nhũng, lãng phí, thất thoát

- Đặc điểm về phạm vi tác động, đối tượng điều chỉnh: Pháp luật trong ĐTXDCB tác động đến các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cộng đồng và cá nhân sử dụng ngân sách nhà nước để tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng

cơ bản Đối tượng tác động của pháp luật trong ĐTXDCB chia thành 3 nhóm

cơ bản; Một là, các chủ thể thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản; Hai

là, các cơ quan các tổ chức liên quan đến việc xác định các công trình đầu tư xây dựng; Ba là, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước trong lĩnh vực

ĐTXDCB Chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương như Chính phủ, các bộ, UBND các cấp, các cơ quan chuyên môn

Trang 20

Pháp luật về ĐTXDCB được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật: Luật, nghị định của Chính phủ, thông tư hướng dẫn của các

bộ, các văn bản của chính quyền địa phương Chính điều này tạo nên sự không thống nhất của pháp luật về ĐTXDCB

1.1.2.2 Trách nhiệm pháp lý trong đầu tư xây dựng có vốn ngân sách nhà nước

Trách nhiệm pháp lý trong ĐTXDCB là một loại quan hệ đặc biệt giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó

cơ quan nhà nước có thẩm quyền được quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt theo quy định của pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật, khiến chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi của mình gây ra

Trách nhiệm pháp lý gồm có:

- Trách nhiệm hành chính: Được xác định khi vi phạm thủ tục và trình

tự đầu tư xây dựng, các quy định của quy hoạch đô thị, luật đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư, bảo vệ môi trường, quy tắc đấu thầu, cấp sai hoặc gian dối tư cách hành nghề, chuyển nhượng hợp đồng kinh tế khi chưa được phép, tự ý thay đổi nội dung thiết kế chưa gây hậu quả nghiêm trọng, đưa nhận hối lộ chưa thành, vi phạm các quy tắc bảo đảm chất lượng thi công,

an toàn lao động, phòng cháy nổ chưa gây hậu quả, trốn thuế, cạnh tranh không lành mạnh

Trang 21

15

- Trách nhiệm dân sự được xác định khi vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tư vấn, khảo sát thiết kế, giao nhận thầu, cung ứng, không bồi thường thiệt hại do mình gây ra cho các đối tác trong hợp đồng, những người khác trong khu vực lân cận công trường, không tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng,

an toàn lao động, phòng cháy nổ gây hậu quả lớn,…

- Trách nhiệm hình sự: Được xác định khi các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng thực hiện các hành vi như: Tham nhũng, hối lộ, để chất lượng công trình kém, thiếu an toàn lao động và phòng cháy nổ gây hậu quả nghiêm trọng, lừa đảo, gian dối trong thanh toán, nghiệm thu, bàn giao công trình gây thiệt hại …

- Trách nhiệm công vụ được xác định khi các cơ quan công quyền và công chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính sai lầm, trái luật, gây thiệt hại cho công dân hay tổ chức như cấp phép sai, định giá đền bù sai…

- Trách nhiệm kỷ luật được xác định với công chức, viên chức vi phạm các quy tắc lao động, phân công lao động, kỷ luật công vụ… gây cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp

1.1.3 Khái niệm lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Lãng phí trong đầu tư XDCB có sử dụng NSNN là việc quản lý, sử dụng tiền vốn, tài sản, lao động, thời gian lao động và tài nguyên thiên nhiên trong ĐTXDCB nhiều hơn mức cần thiết Đối với lĩnh vực đã có định mức, tiêu chuẩn, chế độ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành thì lãng phí là việc quản lý, sử dụng NSNN, tiền, tài sản nhà nước, lao động, thời gian lao động trong khu vực nhà nước và tài nguyên thiên nhiên vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ hoặc không đạt mục đích đã định

Trong ĐTXDCB, lãng phí biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Ví dụ như công trình không được đưa vào sử dụng hoặc chậm đưa vào sử

Trang 22

1.1.4 Vai trò của công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng, chống tham ô, lãng phí là cách mạng, là dân chủ

Sự nghiệp cách mạng do toàn thể hệ thống chính trị, toàn thể quần chúng nhân dân tiến hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh Đấu tranh giành độc lập dân tộc, tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, xây dựng đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa là nội dung, mục tiêu của cách mạng Hồ Chí Minh khẳng định: "tham ô, lãng phí, quan liêu là những xấu xa của xã hội cũ" [6, tr.494, tr.495], tham ô là đặc trưng, gắn liền với thực dân, phong kiến Đấu tranh chống thực dân, phong kiến, xây dựng xã hội mới phải bao hàm cả đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu Cách mạng không thể thành công hoàn toàn nếu vẫn còn tham ô, lãng phí Vì vậy, chống tham ô, lãng phí là một nội dung, nhiệm vụ quan trọng của cách mạng

Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân Quyền lực thuộc về nhân dân Tất cả tài sản là của nhân dân Nhân dân đóng góp mồ hôi xương máu, tiền của cho công cuộc kháng chiến, xây dựng đất nước Vì vậy, bảo vệ tài sản công, chống tham ô, lãng phí là bảo vệ tài sản của nhân dân, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân Hồ Chí Minh chỉ rõ: "phong trào chống tham

ô, lãng phí, quan liêu ắt phải dựa vào lực lượng quần chúng thì mới thành công"[6, tr.494, tr.495] Dân chủ tức là nhân dân làm chủ Cán bộ là người

Trang 23

17

được giao quản lý tài sản để thực hiện các nhiệm vụ do nhân dân giao phó

Vì vậy, nhân dân có quyền và nghĩa vụ giám sát, phê bình cán bộ, đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, tham ô, lãng phí Sự tham gia của quần chúng quyết định sự thành công của công cuộc đấu tranh phòng, chống tham

ô, lãng phí Quần chúng tham gia tích cực, đông đảo thì cuộc đấu tranh càng mang lại hiệu quả cao Hồ Chí Minh khẳng định: "Quần chúng tham gia càng đông, thành công càng đầy đủ, mau chóng"[6, tr.490, tr.495]

Tham nhũng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo

và phát triển đất nước, xã hội Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài

Thời gian qua, cùng với những thành tựu quan trọng đạt được về kinh

tế - xã hội, đối ngoại, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, công tác PCTN, lãng phí có nhiều chuyển biến tích cực cả về phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng, lãng phí Nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh Tham nhũng, lãng phí bước đầu được kiềm chế, góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế -

xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước

Vai trò của pháp luật PCTN, lãng phí được thể hiện qua các nội dung như: là cơ sở pháp lý để nhận diện tham nhũng, lãng phí; tạo lập khuôn khổ pháp lý để phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí; là cơ sở pháp

lý để các cơ quan PCTN thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mình trong PCTN, lãng phí; là cơ sở pháp lý để phát huy vai trò, trách nhiệm của công dân trong PCTN, lãng phí; là những chuẩn mực để các

Trang 24

18

chủ thể lựa chọn những xử sự phù hợp trong đời sống pháp lý; để bảo vệ quyền con người, sự phát triển bền vững; xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Pháp luật

1.2 Khái quát chung công tác đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

1.2.1 Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

- Đầu tư xây dựng cơ bản

Đầu tư XDCB là một hoạt động đầu tư, do vậy theo nghĩa rộng, nói

chung là sự hy sinh các nguồn lực hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu về một kết quả lớn hơn trong tương lai thông qua việc sử dụng các nguồn lực đã bỏ ra để có kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền vốn, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và công nghệ Những kết quả thu được là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất và nguồn nhân lực có đủ điều kiện

để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm đem lại cho nền sản xuất xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó

Luật Đầu tư xác định: “Đầu tư là việc bỏ vốn vào sản xuất, kinh doanh để thành lập cơ sở sản xuất, kinh doanh; mở rộng qui mô, nâng cao năng lực sản xuất; nghiên cứu phát triển; đổi mới công nghệ” [8, Điều 3]

Đầu tư là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng Hoạt động đầu tư bao gồm đầu

tư trực tiếp và gián tiếp

Luật Đầu tư công ban hành năm 2014, xác định đầu tư công là hoạt

Trang 25

19

động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội

Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là

việc chủ kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội Xây dựng cơ bản là việc tiến hành tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định có tổ chức sản xuất và không có tổ chức sản xuất ở các ngành kinh tế thông qua việc xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa hay khôi phục các tài sản cố định [10]

Đầu tư XDCB có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển Thực tế lịch sử

đã cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có cơ

sở vật chất - kỹ thuật tương ứng Việc đảm bảo tính tương ứng đó chính là nhiệm vụ của đầu tư XDCB

1.2.2 Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách Nhà nước

Đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước vừa mang đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản nói chung, vừa mang đặc điểm của đầu

tư xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước nói riêng

Dưới góc độ chung, đầu tư xây dựng cơ bản có những đặc điểm sau:

- Đầu tư vào các dự án xây dựng đòi hỏi lượng vốn lớn, thời gian xây dựng và thu hồi vốn kéo dài, kết cấu công trình và vốn phức tạp

Đầu tư xây dựng cơ bản thường có quy mô vốn lớn, do phải đáp ứng chi phí xây dựng nhiều hạng mục công trình khác nhau trong các giai đoạn kế tiếp nhau và trải ra trong không gian, thời gian lớn, nhiều khi còn đòi hỏi vốn

đầu tư lớn (GPMB, cải tạo cơ sở hạ tầng ) Các dự án ĐTXDCB thường cần

Trang 26

20

một lượng vốn rất lớn mà bản thân các tổ chức, cá nhân chủ đầu tư không đủ điều kiện về vốn để hoàn thành nên cần sự tài trợ của các cơ quan bên ngoài như ngân hàng thương mại, công ty tài chính, thị trường chứng khoán

Thời gian để hoàn thành công trình xây dựng thường là dài xuất phát từ chính đặc điểm của sản phẩm xây dựng, đó là quy mô lớn, kết cấu phức tạp,

đa dạng về kỹ thuật và công nghệ Chính vì thế, vốn cho ĐTXDCB phải là nguồn vốn được tài trợ dài hạn và có sự cam kết chắc chắn

- ĐTXDCB có thời gian thu hồi vốn chậm, rủi ro hoàn vốn cao Việc sử dụng vốn của ĐTXDCB được trải ra từ khâu chuẩn bị dự án đến khâu kết thúc

dự án, việc thu hồi vốn thường kéo dài rất lâu, có khi đến hàng trăm năm Do tồn tại lâu như vậy nên các công trình xây dựng có thể gặp rủi ro từ điều kiện thiên nhiên như bão lụt, động đất Việc thu hồi vốn cũng gặp rủi ro do những biến động kinh tế, xã hội, chính trị dễ xảy ra trong giai đoạn dài

- Khó xác định chất lượng công trình trong thời gian thi công Sản phẩm xây dựng được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, có cấu tạo phức tạp được liên kết định vị

với đất nên có nhiều phần “âm”, phần khuất Do vậy rất khó xác định chất

lượng công trình trong thời gian thi công Chính điều này đòi hỏi phải có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong suốt thời gian thi công, nếu không thì rất dễ

bị lợi dụng “rút ruột” công trình bằng cách tráo đổi vật tư, kê khai khống

khối lượng công việc

- ĐTXDCB là quá trình rất phức tạp, đòi hỏi chuyên môn hóa cao, khó kiểm tra giám sát Công trình xây dựng là sản phẩm có chất lượng cao về nhiều mặt như độ an toàn, sự đáp ứng yêu cầu công năng kinh tế và kỹ thuật, yêu cầu về kiến trúc, thẩm mỹ, quy hoạch không gian Vì thế, để xây dựng thành công một công trình như mong muốn cần chi phí cho nhiều khâu công việc mang tính kỹ thuật chuyên sâu, chi phí lớn như điều tra, thiết kế, lập dự

Trang 27

21

án, thi công xây dựng, giám sát, khai thác, vận hành, bảo dưỡng Hơn nữa, các công trình xây dựng phải thích ứng với mục đích sử dụng để vốn đầu tư được sử dụng có hiệu quả Do đó các công việc tính toán, thiết kế, thi công, khai thác, sử dụng phải dựa trên tiêu chuẩn tối ưu Tất cả các công việc đó đòi hỏi không chỉ vốn lớn, sẵn sàng, mà còn đòi hỏi đội ngũ nhân lực có trình độ cao, có khả năng tổ chức, quản lý tốt, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng thị trường đầu vào, đầu ra, khí hậu, địa hình

- ĐTXDCB là hoạt động kinh tế chịu ảnh hưởng của nhiều tác nhân phi

kinh tế như văn hóa (quan niệm về vẻ đẹp kiến trúc, quy hoạch không gian văn hóa, bảo tồn di sản ), môi trường (bảo tồn các nguồn lợi từ môi trường như nước, đất, không khí), xã hội (phù hợp với phong tục, tập quán, nếp sống con người ) Chính vì vậy, dự án ĐTXDCB chịu sự giám sát của rất nhiều tổ

chức quản lý mà đôi khi để đáp ứng được yêu cầu của các tổ chức này chủ đầu tư phải chịu các chi phí rất lớn Hơn nữa, việc triển khai ĐTXDCB sẽ gặp khó khăn nếu sự phối hợp giữa các tổ chức quản lý thiếu nhất quán

- Chịu ảnh hưởng từ nhiều phía, như: tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội, chính sách của Nhà nước Hoạt động ĐTXDCB cũng chịu tác động mạnh mẽ từ chính sách của Nhà nước, như chính sách thuế, chính sách quản lý khung giá, tiêu chuẩn công trình xây dựng Đồng thời các dự án ĐTXDCB phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ, các quy hoạch đã được phê duyệt

* Dưới góc độ ĐTXDCB có sử dụng nguồn NSNN có thêm các đặc điểm sau:

- Quá trình quyết định đầu tư, chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và khai thác kết quả đầu tư phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của quản lý tài chính công và quản lý dự án đầu tư công

Trang 28

22

Quản lý tài chính công đòi hỏi dự án ĐTXDCB từ nguồn vốn NSNN phải được phê duyệt trong kế hoạch, quy hoạch đầu tư công, phải tuân thủ chặt chẽ quy chế dự toán, báo cáo, định mức, quyết toán theo chế độ của Nhà nước, phải được các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước phê duyệt, kiểm tra, giám sát, đánh giá và cấp ngân sách Do chế độ, chính sách, quy chế, quy trình quản lý tài chính công thường cứng nhắc, khó thay đổi, nhiều cơ quan phối hợp kiểm tra, giám sát nên quá trình chuẩn bị đầu tư thường kéo dài, chi phí hành chính lớn, quá trình thi công chịu sự giám sát của công chức nên dễ quan liêu, quá trình khai thác được quản lý kém hiệu quả Nói cách khác, ĐTXDCB từ nguồn NSNN đòi hỏi nhiều khâu công việc hơn, quản lý quan liêu hơn, phức tạp hơn, nên tiềm ẩn những yếu tố làm suy giảm hiệu quả và tham nhũng, thất thoát, lãng phí hơn ĐTXDCB từ nguồn vốn tư nhân

- Các dự án ĐTXDCB từ nguồn NSNN thường tập trung vào các lĩnh

vực khó khăn do thu hồi vốn chậm (thậm chí không thu hồi được vốn như nhà văn hóa, trường học, đường xá, công trình thủy lợi ), tỷ lệ sinh lợi thấp (doanh nghiệp Nhà nước, nông, lâm trường), khó triển khai đầu tư (miền núi, vùng sâu, vùng xa) Đặc điểm này làm cho quá trình ĐTXDCB không chỉ

gặp khó khăn mà còn khó đánh giá hiệu quả của các dự án, tạo cơ hội cho hành vi vụ lợi, lợi dụng thực hiện dự án cho mục tiêu không chính đáng mà khó phát hiện và trừng phạt họ

- Các dự án ĐTXDCB có sử dụng NSNN chịu ảnh hưởng trực tiếp của năng lực Nhà nước trên các mặt: cân đối tài chính để cung ứng vốn theo tiến độ; đạo đức, năng lực của cán bộ, công chức tham gia vào quá trình chuẩn bị và thực hiện đầu tư; bộ máy quản lý các dự án công; quy định của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư công và xây dựng Đôi khi, các

dự án ĐTXDCB còn chịu ảnh hưởng bởi động lực không hợp lý của những người có thẩm quyền quyết định đầu tư khiến các dự án này không hợp lý ngay từ khi bắt đầu

Trang 29

23

* Ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản

Ngân sách nhà nước cho đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết

kế và xây dựng mua sắm, lắp đặt máy móc, thiết bị khác được ghi trong tổng dự toán NSNN cho đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương NSNN có được từ sự tích luỹ của nền kinh tế và một số nguồn khác giành cho đầu tư xây dựng

cơ bản NSNN giành cho đầu tư xây dựng cơ bản có đặc điểm:

- Ngân sách nhà nước đầu tư xây dựng thuộc sở hữu nhà nước, nên không có chủ đầu tư đích thực, việc quyết định sử dụng vốn nhà nước (quyết định đầu tư) được giao cho các cá nhân quyết định, do vậy từ chủ trương đầu tư, vốn đầu tư, lĩnh vực đầu tư, chủ đầu tư đều do các cá nhân quyết định Tuy nhiên, tính hiệu quả của đầu tư, sự thất thoát lãng phí trong quá trình đầu tư thì không có cá nhân nào phải chịu trách nhiệm do đó việc xảy ra tiêu cực tham nhũng, thất thoát lãng phí tài sản của Nhà nước trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước là điều tất yếu

- Ngân sách nhà nước cho đầu tư cho xây dựng cơ bản rất lớn Hầu hết các công trình xây dựng đều đòi hỏi phải đầu tư với số lượng ngân sách lớn, đặc biệt là các công trình trọng điểm của Nhà nước về giao thông vận tải như xây dựng cầu đường, thủy điện, thủy lợi, xây dựng nhà máy, xí nghiệp, trường học, khu đô thị Tình trạng vi phạm pháp luật, tham nhũng thường xảy ra đối với các nguồn ngân sách thuộc sở hữu nhà nước

- Ngân sách dành cho đầu tư nhà nước hiện được cấp và sử dụng theo quy trình, thủ tục luật định Tuy nhiên trong thực tế để nhận được tiền, chủ đầu tư, đơn vị thi công thường phải xin (xin cấp phát, hỗ trợ vốn hoặc xin vay thông qua tín dụng ưu đãi) Có xin thì có cho Mà thông thường, để xin được tiền thì phải chi tiền Hối lộ nhiều được cấp phát nhiều, hối lộ ít được

Trang 30

1.3 Quá trình hình thành phát triển pháp luật phòng, chống tham nhũng và luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

1.3.1 Quá trình hình thành phát triển của pháp luật phòng chống tham nhũng

Ngay sau khi mới giành được chính quyền, ngày 23/11/1945, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh thành lập Ban thanh tra đặc biệt, quy định

rõ quyền đình chỉ, bắt giam bất cứ nhân viên nào trong UBND hay Chính phủ

đã phạm lỗi Đến ngày 18/01/1949, Người ký Sắc lệnh thành lập Ban Thanh tra Chính phủ (thay thế Ban thanh tra đặc biệt), quy định rõ “Thanh tra Ủy ban kháng chiến hành chính và viên chức về phương diện liêm khiết” Qua quá trình đổi mới, song song với những thành tựu quan trọng đạt được về kinh

tế - xã hội, đất nước đồng thời đứng trước những nguy cơ và thách thức lớn, trong đó có tệ tham nhũng Trong tình hình đó, Pháp lệnh Chống tham nhũng được Ủy Ban thường vụ Quốc hội ban hành năm 1998 và được sửa đổi bổ sung một số điều năm 2000, là có sở pháp lý quan trọng cho công tác đấu tranh chống tham nhũng Nội dung chủ yếu tập trung vào “chống” tham nhũng trên cơ sở các quy định về trừng trị, xử lý tội phạm và tài sản tham nhũng Dựa trên các quy định về phòng, chống tham nhũng thu được một số kết quả nhất định, tuy nhiên cũng bộ lộ một số hạn chế như: hệ thống pháp luật tại thời điểm đó chủ yếu thiên về chống tham nhũng mà chưa quan tâm đến công tác phòng ngừa, ngăn chặn những nguyên nhân nảy sinh ra tham

Trang 31

25

nhũng, do đó tình hình tham nhũng vẫn diễn ra rất phức tạp, ở nhiều lĩnh vực,

có xu hướng tăng về quy mô và tính chất ngày càng nghiêm trọng

Để khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh Chống tham nhũng năm

1998, Luật Phòng, chống tham nhũng đã được Quốc hội khóa XI thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, bao gồm 8 chương, 92 điều [11]

Kể từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng có hiệu lực đến nay, trong quá trình phát triển tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Song song với việc ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng được điều chỉnh, hoàn thiện, Chính phủ ban hành nghị định và nghị quyết, gồm có: Nghị định 107/2006/NĐ-CP quy định xử lý trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra tham nhũng trong đơn vị quản lý; Nghị định số 53/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012; Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/03/2017 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập

Bộ Luật hình sự năm 2015 đã quy định tại Mục 1, Chương XXIII các tội phạm về tham nhũng với các nhóm hành vi tham nhũng bị hình sự hóa; nêu rõ các yếu tố cấu thành tội phạm và chính sách xử lý đối với tội phạm này Theo đó, các tội phạm về tham nhũng thuộc nhóm các tội phạm về chức

vụ, được xác định là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức do người có chức vụ thực hiện trong khi thi hành công vụ Chế tài đối với tội phạm tham nhũng được quy định trong Bộ Luật Hình sự hiện hành để thể hiện sự nghiêm khắc của nhà nước trong việc trừng phạt và răn đe các hành vi tham nhũng

Trang 32

Nhằm đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá - hiện đại hoá, ngày 26/02/1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Ngay sau khi có hiệu lực thi hành (01/5/1998), Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được tổ chức, triển khai thực hiện kịp thời trên diện rộng, một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và nhiều biện pháp đã được xây dựng, ban hành và thực hiện trong các lĩnh vực, từ đó tạo cơ sở pháp lý, điều kiện thuận lợi cho việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Qua 6 năm thực hiện Pháp lệnh thu được nhiều kết quả tích cực trong các lĩnh vực, như: sử dụng kinh phí NSNN, đầu tư XDCB, quản lý sử dụng đất đai, trụ sở làm việc tuy nhiên, Pháp lệnh cũng bộc lộ những điểm hạn chế, như: nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức thực hiện không đúng định mức, tiêu chuẩn, chế độ quy định gây lãng phí NSNN; tình trạng lãng phí trong ĐTXD ở các bộ, ngành và địa phương vẫn là một vấn đề bức xúc, được dư luận xã hội hết sức quan tâm; công tác quy hoạch đất đai vẫn còn là vấn đề bức xúc, chưa khắc phục được tình trạng quy hoạch “treo”

Để khắc phục những hạn chế nêu trên, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí được Quốc hội khoá XI ban hành, thay thế Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998 Luật này bao gồm 86 Điều chia thành 11 Chương quy định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong 7 lĩnh

Trang 33

27

vực Bên cạnh đó, việc có sự chuyển biến rõ rệt trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí ngay trong ngày đầu thi hành Luật cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng, tạo đà cho các năm sau Từ mục đích, yêu cầu và ý nghĩa nói trên, ngày 26/01/2006 Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 25/2006/QĐ-TTg ban hành Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, từ đó Chính phủ đã cụ thể hóa thành các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Nghị định số 68/2006/NĐ-CP, ngày 18/7/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết

và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Nghị định số 84/2006/NĐ-CP, ngày 18/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ quy định về bồi thường thiệt hại, xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính trong thực hành tiết kiệm, chống lãng phí Quốc hội khóa XIII, ban hành Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thông qua, thay thế Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005, kết cấu Luật bao gồm 5 chương, 80 điều [9]

1.4 Thực hiện Pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

1.4.1 Khái niệm, vai trò của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

1.4.1.1 Khái niệm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Dưới góc độ khoa học pháp lý, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, đồng thời là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra một xã hội trật tự, ổn định

và phát triển Trong xã hội có giai cấp, mặc dù tồn tại nhiều loại quy phạm khác nhau, nhưng chỉ có một hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất

Trang 34

28

chung cho toàn xã hội, đó là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị và bảo đảm thực hiện thông qua hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước

Trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước nói riêng có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự minh bạch, công khai trong việc thực thi công vụ và đầu tư công Nhìn lại quá trình hình thành và phát triển của pháp luật phòng chống tham nhũng, lãng phí đã không ngừng được hoàn thiện phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo cơ sở pháp lý cho quá trình thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước Quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản cũng như các quy phạm pháp luật khác đều có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu để mọi chủ thể tuân thủ và là tiêu chí để đánh giá hành

vi của chủ thể tham gia, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống đến khi bị thay đổi hoặc huỷ bỏ

Từ đó có thể hiểu: Pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng, sự tuân thủ của các chủ thể đối với các văn bản quy phạm pháp luật về đầu tư công; phòng, chống tham nhũng, lãng phí để phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí

1.4.1.2 Vai trò của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Pháp luật là hệ thống các quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội và là công cụ quan trọng nhất trong quản lý nhà nước, do đó pháp luật có vai trò

Trang 35

29

hết sức to lớn trong việc duy trì và đảm bảo sự phát triển ổn định của xã hội Vai trò của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước cũng chính là những biểu hiện

cụ thể vai trò của pháp luật đối với các chủ thể tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư XDCB nói chung và trong công tác phòng, chống tham nhũng đối với lĩnh vực này nói riêng

Thứ nhất, thể chế hóa chủ trương của Đảng về phòng, chống tham

nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản

Chủ trương đường lối của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí muốn đi vào cuộc sống thực tế bằng nhiều công cụ, phương tiện khác nhau, một trong những công cụ quan trọng nhất có tính bắt buộc chung đối với toàn xã hội là phải thông qua hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước Nhà nước bằng công cụ riêng có của mình là pháp luật thể chế hóa những chủ trương đó thành hệ thống quy phạm pháp luật Hệ thống quy phạm này điều chỉnh, hiện thực hóa các chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đó có nội dung của phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở lĩnh vực ĐTXDCB có sử dụng ngân sách nhà nước; đảm bảo và buộc mọi chủ thể có liên quan phải chấp hành nghiêm chỉnh Đồng thời hệ thống quy phạm đó cũng là phương tiện, công cụ hữu hiệu để xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Thứ hai, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư

xây dựng cơ bản xác định cơ sở pháp lý về quyền, nghĩa vụ của chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực này trong việc ban hành, tuân thủ thực hiện và phòng ngừa, phát hiện xử lý hành vi tham nhũng nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động đầu tư công nói chung và đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng, góp phần bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, cá nhân

và tổ chức được pháp luật quy định Điều này còn có ý nghĩa trong việc xác

Trang 36

Thứ ba, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí có vai trò

đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Đó là sự tuân thủ nghiêm chỉnh, chính xác và tự giác các quy định pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo đó cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động trong ĐTXDCB phải nghiêm chỉnh chấp hành quy định của pháp luật về ĐTXD và việc phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong tổ chức thực hiện pháp luật; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật trong ĐTXD đối với các chủ thể khi tiến hành tổ chức, thực hiện hoạt động ĐTXDCB trong việc phòng ngừa, phát hiện hành vi tham nhũng, lãng phí, xử lý người có hành vi tham nhũng, lãng phí; các hành vi vi phạm pháp luật về ĐTXD phải được phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh

1.4.2 Khái niệm, đặc điểm, các hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

1.4.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng lãng phí trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Trong đời sống xã hội, pháp luật được coi là một công cụ quản lý xã hội quan trọng nhất, nhưng pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống Trong Nhà nước

Trang 37

trở thành hiện thực trong cuộc sống Từ đó có thể khái niệm: Thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật được thực hiện trong thực tế cuộc sống và trở thành những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Từ quan niệm nêu trên, có thể thấy rằng thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí là thực hiện pháp luật liên quan đến việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí Đấu tranh phòng, chống tham nhũng có ý nghĩa quan trọng cho việc bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của các công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật Thông qua đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quyền và lợi ích hợp

Trang 38

32

pháp của các cá nhân, tổ chức trong xã hội được đảm bảo một cách bình đẳng, minh bạch, đồng thời, còn là cơ chế đảm bảo sự công khai, minh bạch trong việc thực thi công vụ, phục vụ các yêu cầu chính đáng của người dân, doanh nghiệp Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là hoạt động trong phạm vi một lĩnh vực cụ thể của công tác quản lý nhà nước, do đó, thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản

có sử dụng ngân sách nhà nước cũng có đủ các nội dung của thực hiện pháp luật nói chung, đồng thời cũng có những yêu cầu, nguyên tắc, nội dung có

tính đặc thù Vì vậy, có thể khái niệm: Thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

là quá trình hoạt động có mục đích nhằm làm cho các quy phạm pháp luật

về đầu tư xây dựng trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí được thực hiện trong thực tế cuộc sống, những hoạt động hợp pháp của các chủ thể trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí

1.4.2.2 Đặc điểm thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Từ các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua, có thể thấy rằng thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất, thực hiện pháp luật phòng, chống tham nhũng, lãng phí

trong đầu tư xây dựng cơ bản thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động đầu tư công và đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, cá nhân, tổ chức Do đó, việc minh bạch thông tin trong hoạt động ĐTXD của nhà nước cũng như việc xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí sẽ góp phần nâng cao hiệu quả công tác này, đáp ứng niềm tin của các chủ thể trong xã hội Chính vì vậy, Luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã quy định cơ sở pháp lý

để đảm bảo cho hoạt động phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong ĐTXD

Trang 39

Thứ hai, thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

trong đầu tư xây dựng cơ bản bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước và cá nhân, tổ chức khi thực hiện đầu tư xây dựng

Về nguyên tắc, các quy định về phòng, chống tham nhũng là cơ sở cho

cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia đầu tư xây dựng được pháp luật bảo vệ Chính vì vậy, trong quá trình tổ chức thực hiện các quy định về quản lý đầu tư xây dựng nếu chủ thể nào có hành vi vi phạm hoặc hành vi tham nhũng, lãng phí thì pháp luật chính

là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng, lãng phí thực hiện quyền kiểm tra, điều tra, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm theo thẩm quyền khi các chủ thể tham gia hoạt động đầu tư xây dựng không thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật

Thứ ba, thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

trong đầu tư xây dựng cơ bản phải trên cơ sở các trình tự, thủ tục pháp luật quy định

Bản chất của thực hiện phòng, chống tham nhũng, lãng phí nói chung

và phòng chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản nói riêng là nhằm ban hành, tổ chức thực hiện và kiểm soát, ngăn ngừa, xử lý hành vi tham nhũng, lãng phí nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp của việc xử lý liên quan đến trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động xây dựng có sử dụng ngân sách nhà nước thì việc xử lý cũng phải

Trang 40

34

tuân thủ và trên cơ sở trình tự, thủ tục pháp luật quy định Việc tuân thủ các trình tự, thủ tục thực hiện là trách nhiệm của các chủ thể trong đầu tư xây dựng tạo cơ sở cho việc xác lập giá trị pháp lý, hiệu lực, hiệu quả của công tác đầu tư và công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí

1.4.2.3 Các hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước

Dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, hình thức thực hiện pháp luật là cách thức mà các chủ thể tiến hành các hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật đi vào cuộc sống Các quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí liên quan đến ĐTXD nên hình thức thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong lĩnh vực này cũng có những đặc điểm, tính chất chung trong hoạt động thực hiện pháp luật, tuy nhiên thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư XDCB cũng mang tính chuyên biệt riêng Hoạt động thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư XDCB có sử dụng ngân sách nhà nước cũng bao gồm các hình thức giống như các hình thức thực hiện pháp luật nhằm chuyển tải các quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí vào cuộc sống thực tiễn

- Tuân thủ pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Tuân thủ pháp luật về đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước trong là một hình thức thực hiện pháp luật, theo đó các chủ thể tham gia vào lĩnh vực đầu tư xây dựng kiềm chế không thực hiện những hành vi pháp luật cấm Trong lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, lãng phí yêu cầu về tuân thủ pháp luật được coi là một vấn đề quan trọng, đòi hỏi các

cơ quan quản lý nhà nước, cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện đầu tư phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định trong việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí

Ngày đăng: 09/03/2018, 09:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w