Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TSKH LÊ VĂN CẢM
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong khóa luận tốt nghiệp đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học
và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật- Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hà Văn Hƣng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO TRONG LUẬT HÌNH SỰ 7
1.1 Khái quát về án treo 7
1.1.1 Khái niệm và mục đích của án treo 7
1.1.2 Các đặc điểm của án treo 10
1.1.3 Bản chất pháp lý của chế định án treo 11
1.1.4 Ý nghĩa, vai trò của án treo trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm 14
1.2 So sánh án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ 16
1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về án treo và các biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù 18
1.3.1 Án treo trong pháp luật hình sự của CHLB Đức 18
1.3.2 Án treo trong PLHS của Trung Quốc 28
Kết luận chương 1 30
CHƯƠNG 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ ÁN TREO 31
2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về án treo 31
2.1.1 Quy định về án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam trước pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985 31
Trang 52.1.2 Quy định về án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn
từ 1985 đến năm 1999 35
2.1.3 Quy định về án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam từ năm 1999 đến trước năm 2015 44
2.2 Quy định về án treo trong Bộ luật hình sự Việt Nam 2015 52
2.2.1 Căn cứ để người bị phạt tù hưởng án treo quy định tại bộ luật hình sự năm 2015 55
2.2.2 Thời gian, điều kiện thử thách của án treo, hậu quả và trách nhiệm pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách 55
Kết luận chương 2 57
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, NHỮNG GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH S Ự VIỆT NAM VÀ BẢO ĐẢM ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ÁN TREO 58
3.1 Thực tiễn áp dụng các quy định về án treo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa 58
3.1.1 Những kết quả đạt được 58
3.1.2 Những khó khăn, bất cập khi áp dụng án treo trên thực tiễn 60
3.1.3 Nguyên nhân của những bất cập 63
3.2 Định hướng và giải pháp tiếp tục hoàn thiện quy định về án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam 65
3.2.1 Sự cần thiết tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng án treo 65
3.2.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự Việt Nam về án treo 66
3.2.3 Những giải pháp bảo đảm áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam về án treo 73
Kết luận chương 3 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1
Tình hình áp dụng án treo của Tòa án nhân dân cấp
huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2011 đến năm
Bảng 3.2 Tình hình áp dụng án treo của Tòa án nhân dân tỉnh
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cùng với việc quy định các hình phạt nhằm trừng trị các hành vi phạm tội, thì luật hình sự còn có các chế định đặc thù thể hiện tính nhân đạo nhằm cải tạo những người trót lầm lỡ mà nhất thời phạm tội Án treo là một trong những chế định quan trọng của luật hình sự thể hiện rõ nét tính nhân đạo này,
là một chế định pháp luật ra đời rất sớm, với tính tích cực của mình nên án treo hiện nay được quy định rất rộng rãi trong luật hình sự của nhiều nước
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong pháp luật hình sự thì chế định án treo đã được ghi nhận tuy còn sơ khai nhưng đã đem lại những kết quả tích cực - tạo điều kiện cho những người trót lầm lỡ mà phạm tội, có bản chất tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt…, đồng thời nó phân hóa hàng ngũ bọn phạm tội phản cách mạng, đem lại điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh chống những âm mưu phá hoại Nhà nước Tuy nhiên, cũng do những khó khăn của thời kỳ này mà chúng ta chưa có một Bộ luật Hình sự, Bộ luật tố tụng Hình sự hoàn chỉnh Chính vì vậy mà chế định án treo được quy định ở nhiều văn bản khác nhau qua các giai đoạn của thời kỳ này Cùng với sự đổi mới của đất nước, sự hòa nhập với khu vực và thế giới, nền kinh tế phát triển nhanh, hệ thống pháp luật của nước ta nói chung và luật hình sự nói riêng đã bộc lộ những khuyết điểm cần phải sửa đổi Đó cũng chính là lý do các Bộ luật hình sự lần lượt ra đời và sửa đổi từ Bộ luật Hình sự năm 1985 rồi Bộ
luật hình sự 1999 và gần đây nhất là Bộ luật hình sự mới năm 2015
Phạt tù cho hưởng án treo là một chế định pháp lý độc lập thể hiện quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc áp dụng pháp luật hình sự là nghiêm minh nhưng nhân đạo, nghiêm trị nhưng khoan hồng, tính ưu việt của chế định án treo chính là ở sự kết hợp đó Tuy nhiên thực tiễn vận dụng
Trang 9án treo tại Thanh Hóa trong thời gian qua bên cạnh những mặt tích cực vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định trong cả pháp luật thực định và trong quá trình áp dụng các quy định đó Chẳng hạn như việc vận dụng các quy định về điều kiện cho hưởng án treo hiện nay ở một số địa phương còn không chuẩn xác đó là cho hưởng án treo cả những đối tượng đã có tiền án, tiền sự hoặc ngược lại những người có nhân thân tốt nhất thời phạm tội đáng được xử treo nhưng lại xử giam, có nơi có lúc còn xử quá nhẹ dưới mức 3 năm tù để bị cáo được hưởng án treo đã tạo nên một tiền lệ xấu Bên cạnh đó việc thi hành, giám sát, giáo dục đối với người được hưởng án treo trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ở nhiều xã, phường, thị trấn còn chưa chặt chẽ, thậm chí có nơi không thực hiện việc quản lý, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo Việc phối hợp giữa Tòa án với cơ quan thực hiện việc giám sát, giáo dục và gia đình người được hưởng án treo còn lỏng lẻo, mang tính hình thức dẫn tới việc quản lý, giám sát, giáo dục chưa hiệu quả do vậy vẫn còn trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách
Từ những phân tích trên đây thì việc nghiên cứu một cách sâu rộng
và toàn diện về án treo cũng như thực tiễn tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa là cần thiết góp phần hoàn thiện hơn các quy định về án treo Với ý nghĩa đó, tác giả
đã lựa chọn và nghiên cứu “Chế định án treo trong Luật hình sự Việt Nam
(trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Thanh Hóa)” làm đề tài cho luận văn thạc sỹ
của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Án treo là một chế định đặc biệt của pháp luật hình sự và việc áp dụng chế định này có ý nghĩa to lớn đối với việc thực hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước đối với người phạm tội Vì vậy đề tài cũng đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu ở các cấp độ và mức độ khác nhau:
Ở cấp độ giáo trình: 1) Giáo trình Luật hình sự của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Đại học quốc gia Hà Nội 2009; 2) Giáo trình Luật
Trang 10hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân 2011 Trong các giáo trình Luật hình sự này chế định án treo mới chỉ cập nhật ở mức độ cơ bản Một số cuốn sách chuyên khảo như: 1) Phạm Thị Học,
"Án treo trong luật hình sự Việt Nam", NXB Trường Đại học Luật Hà Nội năm 1996, 2) Lê Văn Luật ,"Chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam",
NXB Tư pháp , Hà Nội, năm 2007 Trong các cuốn bình luận khoa học Bộ luật hình sự và cuốn sách chuyên khảo nêu trên, các tác giả mới chỉ dừng lại ở
đề cập đến một vài khía cạnh của án treo
Ở cấp độ bình luận khoa học, phân tích chuyên sâu: 1) Vũ Thế Đoàn,
Nhân thân người phạm tội và việc áp dụng biện pháp án treo theo Điều 44 BLHS, Tạp chí TAND số 6/1989; 2) Nguyễn Khắc Công, Một số suy nghĩ về chế định án treo - Tạp chí TAND số 1/1991; 3) Lê Văn Hưng, Về vấn đề hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, Tạp chí TAND số 4/1994; 4) Lê Văn Dũng,
Sự cần thiết của việc áp dụng án treo đối với người phạm tội, Tạp chí TAND
số 6/1994; 5) Nguyễn Văn Tùng, Áp dụng hình phạt bổ sung đối với người
được hưởng án treo, Tạp chí TAND số 5/1995; 6) Đoàn Đức Lương, Án treo
và thực tiễn áp dụng, Tạp chí TAND số 5/1996,… 7) Lê Văn Cảm, "Chế định
án tích và mô hình lý luận của nó" ,Tạp chí Nhà nước pháp luật, số 2/2005 ;
8) Phạm Bá Thát, "Một số suy nghĩ về Nghị định 61/2000/NĐ-CP về thi hành
hình phạt tù cho hưởng án treo" Tạp chí Toà án nhân dân, số 3/2001; 9) Trịnh
Quốc Toản "Bàn về án treo từ góc nhìn so sánh " Tạp chí khoa học và Tổ Quốc số 22/2004 ngày 20/11/2004; 10) Lê Văn Luật, Việc áp dụng các quy
định về án treo và thời gian thử thách của án treo - lý luận và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Kiểm sát số 6/2004; 11) Lê Văn Luật, Một số vấn đề tổng hợp hình phạt trong trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách, Tạp chí Kiểm sát số 03/2005; 12) Đỗ Văn Chỉnh, Án treo
và thực tiễn áp dụng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 7/2007 và các số 12, 13,
14/2013…Các bài viết này chỉ đề cập đến một số khía cạnh của chế định án
Trang 11treo, chưa có công trình nghiên cứu nào phản ánh một cách đầy đủ và chi tiết
về chế định án treo, chưa có công trình nghiên cứu nào phản ánh một cách đầy đủ và chi tiết về chế định án treo quy định trong BLHS hiện hành, đặc biệt là từ khi BLHS năm 1999 ra đời
Ở cấp độ luận văn: 1) Trương Đức Thuận (2003), Án treo và nâng cao
hiệu quả áp dụng án treo trong xét xử của các Tòa án quân sự, Luận văn
Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội ; 2) Nguyễn Hữu Nhuận
(2008) "Án treo trong luật hình sự Việt Nam", Luận văn thạc sĩ Luật học trường ĐH Luật Hà Nội; 3) Nguyễn Hữu Xương , Án treo và thực tiễn áp
dụng ở Bắc Ninh , Luận văn thạc sĩ luật học , Trường ĐH Luật Hà Nội,…
Các công trình nghiên cứu nêu trên đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về án treo trong luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên ở góc độ nghiên cứu những lý luận cao của án treo trong luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại Thanh Hóa thì chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu Trên cơ sở các công trình nghiên cứu, bài viết đã có, tác giả mong muốn nghiên cứu và hoàn thiện một công trình mới nhằm giải quyết được toàn diện
về cả mặt lý luận và thực tiễn áp dụng chế định án treo trong luật Hình sự nói chung và tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng
3 Mục đích và đối tƣợng nghiên cứu
Mục đích tổng quát của luận văn là làm sáng tỏ hơn về mặt lý luận của
án treo trong luật hình sự Việt Nam từ đó xây dựng và đề xuất một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện chế định án treo trong Bộ luật hình sự cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là những quy định pháp luật về
án treo trong Bộ luật hình sự Việt Nam và các văn bản có liên quan đến án treo
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ giới hạn nghiên cứu những nội dung pháp luật liên quan trực tiếp đến chế định án treo Cụ thể là
Trang 12các quy định pháp luật về án treo cũng như pháp luật liên quan đến chế định
án treo Thực tiễn áp dụng của các quy định pháp luật hình sự về án treo tại Thanh Hóa giai đoạn 2011-2016 để đề ra hướng hoàn thiện về pháp luật
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích mà đề tài đề ra, trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Phương pháp tổng hợp, phương pháp lịch sử được sử dụng trong Chương 1 khi nghiên cứu tài liệu liên quan đến những vấn đề lý luận về chế định án treo trong pháp luật hình sự và so sánh chế định án treo trong luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới
Phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh được sử dụng khi phân tích thực trạng các quy định của pháp luật về án treo trong luật hình sự Việt Nam
Phương pháp phân tích, phương pháp đánh giá dựa trên số liệu thực tiễn thu thập được tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2011 - 2016 Từ đó sử dụng phương pháp tổng hợp để đề ra hướng hoàn thiện của pháp luật
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn
Đây là một công trình khoa học dưới hình thức là một luận văn thạc
sĩ luật học về án treo trong luật hình sự Việt Nam Đề tài được nghiên cứu một cách tương đối sâu sắc và toàn diện nội dung chế định án treo trong luật hình sự Việt Nam cùng những vấn đề liên quan, từ đó nâng cao nhận thức về
án treo, tạo tiền đề cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Đồng thời định hướng cho thực hiện chế định án treo nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng, từ đó góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm
Luận văn bảo vệ thành công sẽ có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, có thể làm tư liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng pháp luật hình sự góp phần khắc phục những khiếm khuyết trong thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo nhằm nâng cao hiệu quả của chế định này
Trang 137 Bố cục luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chế định án treo trong Luật Hình sự
Chương 2: Các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về án treo
Chương 3: Thực tiễn áp dụng, những giải pháp hoàn thiện pháp luật
hình sự Việt Nam và bảo đảm áp dụng quy định về án treo
Trang 14CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH ÁN TREO
TRONG LUẬT HÌNH SỰ
1.1 Khái quát về án treo
1.1.1 Khái niệm và mục đích của án treo
- Khái niệm án treo
Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: "Án treo là án tù không phải thi
hành ngay, nhưng sẽ thi hành nếu trong thời gian quy định người bị kết án lại phạm tội và bị xử án lần nữa" [17, tr.56] Quan điểm này chưa nêu rõ được
bản chất pháp lý của án treo
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Án treo là biện pháp miễn chấp hành
hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt không quá ba năm tù, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù” [45, tr.372]
Theo GS.TSKH Lê Cảm quan niệm ngắn gọn và đầy đủ "Án treo là
một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù kèm theo một thời gian thử thách nhất định đối với người bị coi là có lỗi trong việc thực hiện tội phạm khi có
đủ căn cứ và những điều kiện do pháp luật hình sự quy định" [15, tr 230]
Theo Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường đại học Luật Hà
Nội thì “…Theo BLHS hiện nay, án treo được hiểu là biện pháp miễn chấp
hành hình phạt tù có điều kiện…án treo thể hiện tính nhân đạo của luật hình
sự Việt Nam, có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ tích cực của xã hội cũng như gia đình đồng thời cảnh báo họ nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách thì buộc phải chấp hành hình phạt tù đã tuyên” [21, tr.117]
Từ các quan điểm đã phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm khái
quát nhất về án treo như sau: Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình
Trang 15phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, nếu người phạm tội có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội, Toà án sẽ miễn chấp hành hình phạt tù và ấn định một thời gian thử thách nhất định từ một năm đến năm năm; nếu trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới thì họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo đó
Án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự lao động cải tạo để hoàn lương, với sự giúp đỡ tích cực của chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc cơ quan công tác, gia đình, người thân, bạn bè và xã hội Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục” và thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo sẽ có tác dụng tốt là không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, hoà nhập với cộng đồng, giác ngộ được ý thức chấp hành chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nuớc, tuân thủ quy tắc cuộc sống XHCN
- Mục đích của án treo
Việc áp dụng án treo là cần thiết, nó không những thể hiện được những nguyên tắc công bằng, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, cá thể hóa hình phạt mà còn thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, thể hiện rõ phương châm trừng trị kết hợp với cải tạo giáo dục, thể hiện sự khoan hồng và nhân đạo trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Người phạm tội được hưởng án treo không phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam, không
bị mất tự do, họ vẫn được làm ăn sinh sốn trong cộng đồng xã hội
Tuy nhiên, trong thời gian thử thách người phạm tội bị hạn chế một phần quyền tự do của mình so với những người bình thường khác, đó là phải chịu sự quản lý, giám sát, giáo dục của gia đình và cơ quan, tổ chức nơi người
Trang 16đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú và họ luôn
bị răn đe là nếu phạm tội mới thì họ sẽ không được hưởng án treo nữa mà phải chấp hành hình phạt tù của bản án trước tổng hợp với hình phạt của bản
án mới Án treo vẫn đảm bảo tính răn đe nhưng lại có tác dụng khuyến khích người phạm tội vì nếu họ cải tạo tốt, không vi phạm điều kiện thử thách thì sẽ không phải chấp hành hình phạt tù Vì người được hưởng án treo được tự giáo dục, cải tạo ngay trong môi trường xã hội nơi họ vẫn sinh sống và lao động nên nó thu hút đông đảo thành viên trong xã hội tham gia theo dõi, giúp đỡ, giáo dục và cải tạo người phạm tội, góp phần xã hội hóa quá trình cải tạo người phạm tội Điều này có hiệu quả rất cao, giúp người bị kết án thêm tin yêu vào cuộc sống, khơi dậy những phẩm chất tốt đẹp vốn có của chính mình Việc xã hội hóa quá trình cải tạo người phạm tội cũng chính là góp phần nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm của quần chúng nhân dân Trong luật hình sự, hình phạt tù có tính nghiêm khắc, răn đe cao và mang tính giáo dục, cải biến quan niệm, lối sống của phạm nhân một cách sâu sắc Tuy nhiên, việc
áp dụng nó không phải là tối ưu trong mọi trường hợp, nhất là trong điều kiện
cơ sở vật chất trại giam còn hạn chế, chật hẹp và điều kiện cải tạo, giáo dục người phạm tội trong trại giam nhiều nơi chưa được thực hiện tốt Qua thực tiễn cho thấy thì tỷ lệ người bị phạt tù chiếm một tỷ lệ rất lớn trong số các loại hình phạt mà Tòa án đã tuyên đối với các bị cáo bởi lẽ đây cũng là một trong những loại hình phạt rất nghiêm khắc mà Tòa án vận dụng Nếu tất cả các án phạt tù này đều được đưa đi thi hành tại các trại cải tạo thì sẽ là một gánh nặng rất lớn đối với nhà nước về vấn đề con người quản lý giáo dục, về cơ sở vật chất là rất tốn kém Hơn nữa, theo kết quả điều tra xã hội học và phạm tội học thì trong một số trường hợp người phạm tội vào chấp hành hình phạt tù trong trại giam đã chịu ảnh hưởng xấu của những phạm nhân khác nên hình thành những nhân cách xấu hơn trước khi vào tù và khi ra tù họ trở thành những người còn hung tợn và dễ dàng phạm tội hơn
Trang 171.1.2 Các đặc điểm của án treo
Án treo có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, án treo là biện pháp giáo dục trong trường hợp không cần cách ly người phạm tội khỏi cộng đồng khi bị xử phạt tù tương đối nhẹ đồng thời là một chế định pháp lý độc lập thể hiện nguyên tắc nhân đạo và phương châm xử lý trong chính sách hình sự của Nhà nước ta "nghiêm trị kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, thuyết phục"
Thứ hai, án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Người chịu hình phạt tù có thời hạn có thể được hưởng án treo khi đáp ứng được một số điều kiện do pháp luật hình sự quy định Cũng có ý kiến cho rằng án treo là một loại hình phạt do có mối quan hệ mật thiết với hình phạt tù
có thời hạn Tuy nhiên án treo không phải là hình phạt mà chỉ là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Điều đó có nghĩa là người được hưởng án treo là người phạm tội phải chịu hình phạt tù có thời hạn nhưng được miễn việc chấp hành hình phạt tù tại trại giam Việc cho người phạm tội hưởng án treo là cho phép họ tự cải tạo mà không phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội dưới sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương để họ tích cực cải tạo và tránh được những hình vi sai trái
Thứ ba, người được hưởng án treo phải tự cải tạo, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương trong một thời gian thử thách nhất định do Tòa án ấn định Thời gian thử thách là khoảng thời gian nhất định do Tòa án ấn định để kiểm tra, đánh giá việc tự cải tạo của người phạm tội Pháp luật quy định về thời gian thử thách đối với người phạm tội từ một năm đến năm năm Thời gian thử thách được Tòa án xác định dựa trên cơ sở mức hình phạt mà người phạm tội phải gánh chịu Trong trường hợp người phạm tội không phạm tội mới trong thời gian thử thách và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình thì không phải chấp hành hình phạt đã tuyên Ngược lại, đối với người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử
Trang 18thách thì Tòa án quyết định buộc chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật
1.1.3 Bản chất pháp lý của chế định án treo
Chế định án treo được ra đời từ rất sớm trên thế giới, ở các nước khác nhau thì chế định án treo được quy định mỗi cách khác nhau Luật hình sự của Anh và Mỹ coi án treo là trường hợp hoãn tuyên án kèm theo biện pháp bảo lĩnh hoặc biện pháp bảo đảm bằng tiền Luật hình sự của Pháp và Bỉ và một
số nước khác coi án treo là việc hoãn hoặc miễn chấp hành hình phạt Các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, đa số coi án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện; nhưng cũng có nước coi án treo là hình phạt chính, như Nước Cộng hoà dân chủ Đức [5, tr.8]
Tại Điều 10 sắc lệnh số 21/SL ngày 14/2/1946 của Chủ tịch nước Việt
Nam dân chủ Cộng hòa quy định: “Khi phạt tù, Toà án có thể cho tội nhân
được hưởng án treo nếu có những lý do đáng khoan hồng Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành án Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, Tội nhân không bị Toà án làm tội một lần nữa về một tội mới thì bản án đã tuyên
19 năm sẽ bị huỷ đi, coi như không có Nếu trong năm năm ấy, tội nhân lại bị kết án một lần nữa trước một Toà án thì bản án treo sẽ đem thi hành” [10,
tr.9] Mặc dù Sắc lệnh quy định là “…Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ thi hành án…”, nhưng trong thực tế, nó được áp dụng như là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện Nghĩa là trong 5 năm kể từ ngày tuyên án, nếu người được hưởng án treo không bị kết án một lần nữa thì bản án đã tuyên cho hưởng án treo sẽ bị huỷ đi coi như không có, và dĩ nhiên là họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt tù trong bản án cho hưởng án treo đó Mười năm sau, tại Điều 12 Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 thì chế định
án treo được bổ sung thêm, cụ thể là: “Đối với những kẻ phạm tội…bị phạt không quá 2 năm tù thì trong những trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quy định, Toà án có thể cho bị cáo hưởng án treo” [12, tr.8]
Trang 19Thông tư số 2308/NCPL ngày 1/12/1961 của TANDTC về việc áp dụng chế độ án treo thì khái niệm “án treo là một biện pháp hoãn hình có điều kiện, áp dụng chủ yếu đối với những kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không thực cần thiết phải bắt thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của
xã hội, đồng thời cảnh cáo họ nếu còn tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách, thì tuỳ trường hợp, sẽ buộc phải chấp hành án cũ trong mức độ cần thiết Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách, họ không phạm tội gì mới, án trước sẽ được xoá bỏ” [78, tr.121]
Có thời kỳ án treo được coi là hình thức xử lý nhẹ hơn hình phạt tù giam (Thông tư liên ngành số 19/TATC ngày 2-10-1974) Cụ thể Thông tư số 19/TATC ngày 2/10/1974 của TANDTC hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc
thẩm hình sự, trong đó có hướng dẫn về án treo Thông tư quy định: “…So
sánh hậu quả phổ biến về mặt pháp lý cũng như hậu quả về mọi mặt khác của
án tù giam và án tù treo (người bị án treo không bị cách ly khỏi xã hội, vẫn sống trong môi trường bình thường hàng ngày của họ mà cũng không bị một
sự hạn chế gì, tất cả các quyền lợi của người công dân, người bị án treo đều được hưởng, nếu họ là công nhân viên chức, họ không bị buộc phải thôi việc,
họ cũng chỉ bị án tích trong thời gian thử thách dài nhất là 5 năm) thì án treo phải được xem là hình thức xử lý nhẹ hơn tù giam Như vậy chuyển án tù treo sang án tù giam dù thời gian ngắn hơn cũng 20 tháng là tăng nặng hình phạt Ngược lại, chuyển án tù giam sang án tù treo, dù thời gian dài hơn cũng là giảm nhẹ hình phạt” [79, tr.123]
Theo sự hướng dẫn này, thì án treo không đồng nghĩa là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù có thời hạn trong hệ thống hình phạt của Pháp luật hình sự, mà theo chúng tôi án treo chỉ được coi là một hình thức xử lý nhẹ hơn tù giam Tuy nhiên, sự hướng dẫn này chưa thật chính xác vì như vậy sẽ dẫn đến trường hợp vì có ý định trước cho hưởng án treo nên đáng xử phạt bị
Trang 20cáo 2 năm tù thì nâng lên 3 năm tù để cho hưởng án treo hoặc đáng xử phạt bị cáo 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo nhưng vì có ý định trước không cho hưởng án treo nên hạ xuống 2 năm tù giam Từ các quy định về án treo của các nước khác nhau, hoặc của Việt Nam trong các thời kỳ khác nhau thì đã có những quan niệm khác nhau về án treo
Như vậy, bản chất pháp lý của án treo trong luật hình sự Việt Nam hiện hành thể hiện ở một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có
điều kiện
Thứ hai, trong bản án treo đó, Toà án đã tuyên cho bị cáo một mức án
(chỉ duy nhất là loại hình phạt tù) tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như nhân thân của bị cáo Sau đó, xét thấy bị cáo là người có thể tự lao động cải tạo tại cộng đồng xã hội, nơi bị cáo đang công tác hoặc sinh sống để hoàn lương mà không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cũng có thể tin tưởng là bị cáo sẽ không tiếp tục gây nguy hiểm cho xã hội (không phạm tội mới); cơ sở của niềm tin này là căn cứ vào mức hình phạt mà bị cáo phải chịu đối với tội phạm mà bị cáo gây ra, nhân thân của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng các điều kiện này
đã thể hiện bản chất của bị cáo, khả năng tự lao động cải tạo của bị cáo và làm niềm tin cho Hội đồng xét xử để cân nhắc cho hưởng án treo (miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện)
Thứ ba, Người bị án treo sẽ phải chịu một thời gian thử thách nhất định
từ một năm đến năm năm và bao giờ thời gian thử thách cũng phải lớn hơn mức hình phạt tù.Trong thời gian thử thách, người bị án treo phải chịu sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức được Toà án giao trách nhiệm giám sát, giáo dục
Thứ tư, trong thời gian thử thách, nếu người bị án treo phạm tội mới thì
biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù bị xoá bỏ, người bị án treo sẽ bị buộc
Trang 21phải chấp hành hình phạt tù trong bản án cho hưởng án treo trước đó, cộng với hình phạt của bản án về tội phạm mới thực hiện
Thứ năm, bản chất của án treo không phải là một hình phạt trong hệ
thống các hình phạt quy định tại Điều 28, Chương V BLHS năm 1999, nó không nhẹ hơn hình phạt tù mà hình phạt tù Toà án đã tuyên trong bản án treo
đó đang “treo lơ lửng” từ khi tuyên bản án treo cho đến khi hết thời gian thử thách Nếu trong thời gian thử thách mà bị cáo không chịu lao động cải tạo để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội mà có hành vi phạm tội mới thì bị cáo bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án treo đó Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách của án treo, họ không phạm tội mới thì hình phạt trong bản án treo đó được vĩnh viễn không chấp hành (xoá bỏ)
Tóm lại, bản chất pháp lý của án treo trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành là “Là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Toà án áp dụng đối với người phạm tội bị xử phạt tù có thời hạn không quá ba năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và Toà án xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù Toà án ấn định thời gian thử thách đối với họ từ 1 đến 5 năm
1.1.4 Ý nghĩa, vai trò của án treo trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được áp dụng đối với người bị phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải cách ly họ ra khỏi đời sống xã hội, Toà án sẽ miễn chấp hành hình phạt
tù và ấn định một thời gian thử thách nhất định, nếu trong thời gian thử thách người bị kết án không phạm tội mới thì họ sẽ vĩnh viễn không phải chấp hành hình phạt của bản án cho hưởng án treo đó Án treo có tác dụng khuyến khích người bị kết án tự lao động cải tạo để hoàn lương ngay tại môi trường sống bình thường của họ, nơi cơ quan công tác hoặc nơi mà người bị kết án cư trú,
Trang 22học tập, làm ăn, sinh sống với sự giúp đỡ tích cực của chính quyền địa phương nơi cư trú hoặc cơ quan công tác, gia đình, người thân, bạn bè và xã hội Án treo là một trong những biểu hiện cụ thể của phương châm “trừng trị kết hợp với giáo dục” và thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong chính sách hình sự của Nhà nước ta Áp dụng biện pháp án treo sẽ có tác dụng tốt là không buộc người bị kết án phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người công dân bình thường, có ích cho xã hội Điều này sẽ có ảnh hưởng tích cực đến cuộc đời của họ cũng như gia đình và xã hội nơi họ sinh sống và làm việc.Việc thi hành hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo nhằm tạo điều kiện cho người được hưởng án treo làm ăn, sinh sống và chứng tỏ sự hối cải, hoàn lương của mình ngay trong môi trường xã hội bình thường, dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức, đơn vị quân đội, cơ sở giáo dục, đào tạo hoặc uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người được hưởng án treo làm việc, công tác, học tập hoặc cư trú và gia đình của họ Người được hưởng án treo phải chịu thử thách dưới sự giám sát, giáo dục của cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục và gia đình của người đó [18, tr.17]
Áp dụng đúng đắn các quy định về án treo thì sẽ có lợi ích đáng kể về kinh tế, cụ thể là Nhà nước ta sẽ tiết kiệm được một khoản chi phí tương đối lớn nếu không bắt người bị kết án chấp hành hình phạt tù mà cho họ hưởng án treo, chịu sự giám sát, giáo dục tại địa phương nơi cư trú Đó là các khoản chi phí cho việc cải tạo họ trong các trại giam ; Ngoài ra, nó tạo điều kiện cho người được hưởng án treo và gia đình của họ ổn định được cuộc sống gia đình về mọi mặt vì họ không bị cách ly khỏi đời sống xã hội, cách ly khỏi gia đình nên họ sẽ có cơ hội lao động cải tạo và làm lại cuộc đời, để chuộc lại những lỗi lầm mà họ mắc phải Người phạm tội khi được Toà án cho hưởng án treo thì dĩ nhiên họ rất phấn khởi và hạnh phúc, họ được quay lại môi trường sống của mình để làm lại cuộc đời, giảm bớt được mặc cảm tội
Trang 23lỗi của mình và đặc biệt là họ thấy được chính sách nhân đạo và khoan hồng của Nhà nước ta đối với những người có nhân thân tốt nhưng bị lầm lỡ, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình Án treo còn có tác dụng giáo dục, răn đe những người xung quanh nơi người được hưởng án treo làm việc hoặc cư trú, bản án mà Toà án dành cho người được hưởng án treo cũng như những bất lợi khác do hành vi phạm tội của họ mang lại đối với bản thân
họ là một bài học cảnh tỉnh, nhắc nhở và cảnh giác đối với những người xung quanh, họ lấy đó làm bài học để cố gắng kìm chế những bản năng xấu trong con người họ khi có điều kiện phạm tội đến với họ, khí đó ý thức tuân thủ pháp luật của họ được nâng lên Đây cũng là một ý nghĩa giáo dục của biện pháp án treo đối với xã hội.Ngoài ra, án treo còn thu hút một bộ phận nhân dân tham gia trong việc giúp đỡ, giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách, không phân biệt, xa lấn người phạm tội mà tìm cách gần gũi giúp đỡ họ để họ có điều kiện lao động cải tạo để hoàn lương và sớm hoà nhập với cộng đồng, trở lại làm một công dân bình thường với đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người công dân
Như vậy, án treo có một vai trò, ý nghĩa hết sức quan trọng, nó vừa thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của Nhà nước ta, đồng thời là một biện pháp hữu hiệu không thể thiếu trong chính sách hình sự của nhà nuớc, nó vừa mang tính nhân đạo, nhân văn sâu sắc, vừa đem lại những hiệu quả cao trong công tác đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo được sự ổn định của đời sống chính trị, văn hoá, kinh tế - xã hội của đất nước
1.2 So sánh án treo với hình phạt cải tạo không giam giữ
Cải tạo không giam giữ là hình phạt không buộc người bị kết án phải cách li khỏi xã hội, mà được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội giám sát, giáo dục nhằm phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia vào việc cải tạo, giáo dục người phạm tội
Trang 24Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật với điều kiện phải qua một thời gian thử thách
Căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự thì thấy chế định án treo
và hình phạt cải tạo không giam giữ có một số điểm giống nhau là:
- Không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi xã hội
- Người bị kết án đều được giao cho cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát giáo dục
- Người bị kết án đều có thể phải chịu thêm một số hình phạt bổ sung
- Người bị kết án đều được đương nhiên xóa án trong thời hạn nhất định kể từ ngày chấp hành xong bản án
Tuy nhiên, án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ cũng có những điểm khác nhau căn bản như:
- Cải tạo không giam giữ là một loại hình phạt chính được quy định cụ thể Bộ luật hình sự còn "án treo" là miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện trong quy định của Bộ luật hình sự
- Phạm vi và điều kiện áp dụng án treo và hình phạt cải tạo không giam giữ có khác nhau như:
+ Cải tạo không giam giữ chỉ áp dụng cho trường hợp là phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng tức là tội có khung hình phạt cao nhất đến ba năm tù và đến bảy năm tù (theo Điều 8 Bộ luật hình sự), còn đối với án treo không quy định cụ thể được áp dụng đối với loại tội phạm nào (ít nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) Điều này cho thấy phạm vi áp dụng cho người được hưởng án treo rộng hơn nhiều so với hình phạt cải tạo không giam giữ
+ Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng cho người phạm tội bị xử phạt từ sáu tháng đến ba năm (Điều 31 Bộ luật hình sự), nhưng đối với người được hưởng án treo thì phạm vi áp dụng đến ba năm tù mà hình
Trang 25phạt tù quy định từ ba tháng trở lên do đó hình phạt đối với người được hưởng án treo là từ ba tháng đến ba năm như vậy có thể nói là ngắn hơn nhưng họ lại phải chịu thời gian thử thách mà thời gian này tối thiểu là một năm và tối đa là 5 năm
+ Điều kiện để người được hưởng án treo tuy có nhiều điểm giống với loại hình phạt cải tạo không giam giữ nhưng điều kiện cho việc áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ rõ ràng đòi hỏi phải cao hơn so với điều kiện của người được hưởng án treo bởi lẽ hình phạt cải tạo không giam giữ nhẹ hơn so với hình phạt tù khi áp dụng
- Xét về hậu quả pháp lý người bị phạt tù cho hưởng án treo nếu trong thời gian thử thách mà phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của pháp luật vì vậy đối với người bị kết án coi như chưa chấp hành hình phạt của bản án trước Nhưng đối với hình phạt cải tạo không giam giữ vì không có thời gian thử thách nếu trong thời gian chấp hành hình phạt này nếu họ phạm tội mới thì họ chỉ phải chuyển phần hình phạt cải tạo không giam giữ chưa chấp hành tính từ thời điểm họ phạm tội mới thành hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc hình phạt tù để quyết định hình phạt chung theo nguyên tắc cứ ba ngày cải tạo không giam giữ bằng một ngày tù (Điều 50 Bộ luật hình sự)
- Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải chịu một số nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20%
để sung quỹ nhà nước Trong một số trường hợp đặc biệt Tòa án có thể cho miễn việc khấu trừ thu nhập, còn đối với người được hưởng án treo không bị ràng buộc bởi quy định này vì vậy họ không bị khấu trừ thu nhập
1.3 Kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới về án treo và các biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù
1.3.1 Án treo trong pháp luật hình sự của CHLB Đức
Tùy thuộc vào hoàn cảnh địa lý, sự phát triển về kinh tế xã hội, ý thức
Trang 26chấp hành pháp luật của người dân trong việc thực thi pháp luật mà mỗi quốc gia lựa chọn cho mình một giải pháp cụ thể Tuy nhiên luật hình sự hầu hết các quốc gia quy định về án treo có một điểm chung, giống nhau đó là thể hiện chính sách nhân đạo trong pháp luật hình sự về vấn đề cưỡng chế của nhà nước với sự tham gia của xã hội trong quá trình giáo dục cải tạo người phạm tội mà không bắt cách ly khỏi cộng đồng, tạo điều kiện cho họ có một môi trường cải tạo tốt hơn Mặt khác các bị cáo đều phải chịu bởi hậu quả pháp lý xấu nếu điều kiện thử thách cụ thể của án treo bị vi phạm Điều này đảm bảo tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh những điều kiện thử thách của
án treo từ phía người phạm tội [44, tr12]
Trong số các quốc gia có quy định luật thực định về án treo thì Bộ luật hình sự của Cộng hòa liên bang Đức có quy định tương đối rõ ràng, cụ thể và
để thấy rõ hơn quy định giống và khác nhau của quy định án treo giữa hai quốc gia CHLB Đức và Việt Nam:
Giống nhau:
Cả hai BLHS Đức và Việt Nam đều có quy định về án treo trong Bộ luật Hình sự Trong đó, quy định rất rõ về căn cứ, điều kiện cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách… Tuy nhiên, bên cạnh những điểm giống nhau thì quy định về án treo của Việt Nam và Cộng hoà Liên bang Đức vẫn
có nhiều điểm khác biệt
Khác nhau:
Căn cứ cho hưởng án treo: Theo quy định tại Điều 60 BLHS Việt Nam năm 1999 có bốn căn cứ là: Mức phạt tù không quá ba năm; nhân thân người phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ và nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù Nhưng Điều 56 BLHS Đức quy định nhiều căn cứ: Hình phạt tù không quá một năm; nếu thấy người bị kết án đã bị cảnh cáo và tương lai không phạm tội mới dù không bị tù; khi áp dụng án treo cần chú ý nhân thân người phạm tội, cuộc sống trước đây của họ, hoàn cảnh phạm tội, thái độ sau
Trang 27khi phạm tội, quan hệ xã hội và tác dụng chờ đợi ở người được hưởng án treo[5, tr51] Đối chiếu quy định trong Bộ luật Hình sự của hai quốc gia ta thấy: Căn cứ để được hưởng án treo của BLHS Đức quy định chặt chẽ hơn Việt Nam Cụ thể:
Về mức phạt tù, BLHS Việt Nam năm 1999 quy định là không quá 3
năm (36 tháng) nhưng BLHS Đức quy định là không quá 1 năm (12 tháng), trường hợp đặc biệt có thể hình phạt tù không quá 2 năm Theo đó, chỉ người phạm tội ở Đức có mức phạt tù không quá một năm, cộng với các điều kiện khác mới có thể được xem xét cho hưởng án treo [5, tr51] Quy định này là chặt chẽ, khắt khe, đã thu hẹp đối tượng được hưởng án treo hơn quy định của
BLHS Việt Nam năm 1999
Về nhân thân người phạm tội, cả hai bộ luật quy định là giống nhau,
đều quy định phải xem xét đến nhân thân người phạm khi quyết định cho người phạm tội được hưởng án treo hay không được hưởng án treo
Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 quy định có căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ nhưng BLHS Đức lại không quy định [5, tr51] Theo ý kiến của tác giả, các tình tiết giảm nhẹ đã được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự khi quyết định hình phạt thì không nên xem xét tiếp để cho hưởng án treo Nếu xem xét hai lần một tình tiết giảm nhẹ dễ dẫn đến việc lạm dụng của Thẩm phán
Về căn cứ nếu thấy người bị kết án đã bị cảnh cáo và (cơ sở để tin) tương lai không phạm tội mới dù không bị tù Đây là căn cứ không được quy định trong BLHS Việt Nam năm 1999 Có thể nói, đây là quy định rất chặt chẽ, hạn chế Thẩm phán tuỳ nghi áp dụng án treo mặc dù có đã có đủ điều kiện để bị cáo được hưởng án treo Quy định này đòi hỏi Thẩm phán phải cân nhắc các tình tiết của vụ án, người phạm tội để đưa ra dự báo trong tương lai người phạm tội không phạm tội mới thì mới có thể cho hưởng án treo Thẩm phán cân nhắc tình tiết này phải có thái độ công tâm, khách quan, toàn diện để
Trang 28đưa ra quyết định chính xác Theo ý kiến của tác giả, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay nên tiếp thu các quy định của BLHS Đức, để tăng cường trách nhiệm cho Thẩm phán khi áp dụng án treo Để làm được điều đó cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, nhưng quan nhất là nhanh chóng đào tạo đội ngũ Thẩm phán có phẩm chất đạo đức, chính trị tốt, vững vàng chuyên môn, nghiệp vụ
Ngoài ra, theo quy định của BLHS Đức thì Thẩm phán phải cân nhắc rất nhiều tình tiết để cho bị cáo được hưởng án treo như: Cuộc sống trước đây của họ, hoàn cảnh phạm tội, thái độ sau khi phạm tội, quan hệ xã hội và tác dụng chờ đợi ở người được hưởng án treo Đây là những quy định không được quy định trong BLHS Việt Nam năm 1999 Cuộc sống trước đây của họ
là cuộc sống của bị cáo trước khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, giúp cho Thẩm phán tìm hiểu thêm về nguyên nhân đưa bị cáo đến việc thực hiện tội phạm và các tình tiết có liên quan khác Hoàn cảnh phạm tội là trường hợp dẫn, đưa đẩy bị cáo đến việc thực hiện tội phạm Nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do hoàn cảnh khó khăn khách quan hay do người thứ ba mang đến thì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội là không đáng kể và ngược lại Thái độ sau khi phạm tội có thể bồi thường thiệt hại, có thể là ăn năn, hối lỗi hay thái độ hống hách, chống đối, bất hợp tác gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án đối với cơ quan pháp luật Quan hệ xã hội và tác dụng chờ đợi ở người được hưởng án treo là các mối quan hệ của bị cáo đối với gia đình, đồng nghiệp, hàng xóm, cơ quan nhà nước… được thể hiện tốt hay xấu Toàn bộ những căn cứ trên giúp cho Thẩm phán (Hội đồng xét xử) ban hành quyết định áp dụng hay không áp dụng án treo một cách chính xác
Tại Điều 65 BLHS Việt Nam năm 2015 quy định nếu xét thấy… là quy phạm còn rất tuỳ nghi Căn cứ vào tiêu chí nào? Đánh giá tính chất mức độ thế nào là cần thiết? Đó là những điều rất cần được quy định lại hoặc cần được huỷ bỏ trong BLHS Việt Nam
Trang 29Thời gian thử thách của án treo: Về thời gian thử thách của án treo giữa BLHS Đức và BLHS Việt Nam năm 1999 quy định khác nhau Nếu như khoản 1, Điều 60 BLHS Việt Nam quy định “… thời gian thử thách từ một đến năm năm” thì Điều 56a Bộ luật Hình sự Đức quy định “Toà án quyết định thời gian thử thách của án treo là không quá năm năm và không dưới hai năm” Như vậy, thời gian thử thách của án treo trong BLHS Đức quy định chặt chẽ hơn trong BLHS Việt Nam năm 1999 Thể hiện ở mức tối thiểu của thời gian thử thách là hai năm so với một năm của Việt Nam Điểm tiến bộ của BLHS Đức trong quy định thời gian thử thách của án treo là thời gian bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo được quy định ngay trong BLHS
“Thời gian thử thách bắt đầu từ khi bản án cho hưởng án treo có hiệu lực” Trái lại, BLHS Việt Nam năm 1999 không quy định thời gian bắt đầu tính thời gian thử thách của án treo, thời gian bắt đầu thời gian thử thách của án treo được hướng dẫn bằng các văn bản dưới luật, nhưng sự hướng dẫn cũng không thống nhất với nhau Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 quy định về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo “Thời gian thử thách của
án treo được tính từ ngày cơ quan, tổ chức giám sát giáo dục người đó nhận được quyết định thi hành án và trích lục bản án” và Nghị quyết 01/HĐTP ngày 18/10/1990 lại hướng dẫn “Thời gian thử thách của án treo được tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo” Hai hướng dẫn này đã gây khó khăn cho việc thi hành án treo trên thực tế Do đó, Nghị quyết số 01/2007/HĐTP đã hướng dẫn là thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo, trên thực tế hiện nay đều thống nhất thực hiện theo hướng dẫn này Theo ý kiến của tác giả thì nên quy định ngay trong BLHS như của Cộng hoà Liên bang Đức là về thời gian thử thách của án treo chặt chẽ với quy định của BLHS Việt Nam
Về nghĩa vụ mà người được hưởng án treo phải thực hiện Theo quy định của BLHS Đức, việc giao nghĩa vụ cho người được hưởng án treo là rất
Trang 30cần thiết để quản lý, thấy được sự tiến bộ của người được hưởng án treo Là nghĩa vụ bằng khả năng của mình khắc phục hậu quả đã gây ra; nộp tiền vào công quỹ hoặc cho cơ sở phục vụ hoạt động công cộng; các đóng góp công ích khác Trong BLHS Việt Nam không quy định nghĩa vụ của người được hưởng án treo, mà những nghĩa vụ này được quy định bằng văn bản dưới luật tại Điều 4 Nghị định số 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 hướng dẫn thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo
Các quyết định áp đặt cho người được hưởng án treo: BLHS Việt Nam năm 1999 không quy định các quyết định áp đặt cho người được hưởng án treo Trong khi đó, Điều 56c BLHS Đức quy định rất nhiều quyết định để Thẩm phán có thể lựa chọn áp dụng áp đặt cho người được hưởng án treo Mục đích của quy định này là nhằm làm cho người được hưởng án treo thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ trong thời gian được hưởng án treo Đó là, Toà án
có thể chỉ thị: Về chỗ ở, học tập, việc làm nghỉ ngơi hoặc kinh doanh; trình diện tại Toà án hoặc nơi khác; không giao thiệp với một số người hoặc một nhóm người nhất định có thể dẫn dắt vào việc phạm tội; không sở hữu, tàng trữ công cụ phương tiện nhất định có thể gây án; thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng Chỉ thị sau khi có sự đồng ý của người bị kết án là: Chữa bệnh bắt buộc hoặc vào một cơ sở giáo dục; vào sống trong một ký túc xá
Vấn đề giám sát, giáo dục người được hưởng án treo trong thời gian thử thách: Điều 56d BLHS Đức quy định rất rõ ràng: Nếu người được hưởng án treo chưa đủ 27 tuổi và hình phạt tự do của họ là trên 9 tháng thì Toà án có thể cử người trợ giúp trong thời gian thử thách Trong khi đó, khoản 2 Điều
60 BLHS Việt Nam năm 1999 quy định rất chung chung không quy định trách nhiệm cụ thể: Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng
án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương
Trang 31trong việc giám sát, giáo dục đó Thực hiện quy định này người áp dụng tiếp tục phải nghiên cứu Nghị định số 61/2000/NĐ-CP Như vậy, quy định của BLHS Đức chặt chẽ, toàn diện và cụ thể hơn BLHS Việt Nam năm 1999
Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo: Về vấn đề này, tại khoản 3 Điều 60 BLHS Việt Nam năm 1999 quy định: “Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ quyền hạn, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định của Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này” Hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo trong BLHS Việt Nam quy định rất chung chung
Là có thể phải chịu hình phạt bổ sung, nhưng hình phạt bổ sung cũng chỉ là hình phạt tiền; cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định Đối chiếu với Điều 56b BLHS Đức thấy quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 rất hẹp Bởi theo quy định tại Điều 56b BLHS Đức, Thẩm phán có thể ban hành 4 loại quyết định: 1- Bồi thường thiệt hại; 2- Trả một khoản tiền cho cơ sở dịch vụ công; 3- Lao động công ích và 4- Nộp một khoản tiền cho Nhà nước Việc quy định mở rộng như vậy đã cho phép Thẩm phán có nhiều lựa chọn khi áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo Theo ý kiến của tác giả, khi sửa đổi, bổ sung BLHS Việt Nam cần tiếp thu để bổ sung quy định này
Điều kiện thử thách và hậu quả pháp lý của việc vi phạm điều kiện thử thách của án treo: Tại khoản 5 Điều 60 BLHS Việt Nam năm 1999 quy định
“Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước
và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định Điều 51 của Bộ luật này” Ngày 30/10/2000 Chính phủ ban hành Nghị định số 61/2000/NĐ-CP, về việc hướng dẫn thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo Nhưng cả BLHS và Nghị định số 61/2000/NĐ-CP chỉ có duy nhất một quy định là bị cáo được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì bị cáo sẽ không
Trang 32được hưởng án treo Tức là rơi vào trường hợp bị tước án treo chỉ có một căn
cứ duy nhất là phạm tội mới trong thời gian thử thách Nhưng Điều 56f BLHS Đức quy định rất rộng các căn cứ khi vi phạm nghĩa vụ thực hiện trong thời gian được hưởng án treo sẽ bị tước bỏ án treo là: 1- Trong thời gian thử thách phạm tội mới; 2- Không nghe lời người giúp đỡ, không tuân thủ các chỉ thị và
có nguy cơ phạm tội mới; 3- Không thanh toán các khoản phạt Như vậy, BLHS Đức quy định rộng hơn BLHS Việt Nam về căn cứ 2, 3 Đặc biệt là căn cứ có nguy cơ phạm tội mới, không nghe lời của người giúp đỡ là những căn cứ rất linh hoạt; các căn cứ này đe doạ người phạm tội bất cứ lúc nào cũng có thể bị tước bỏ án treo Về hậu quả pháp lý của việc vi phạm thời gian thử thách của án treo trong BLHS Việt Nam năm 1999 quy định nặng hơn BLHS Đức Bộ luật Hình sự Đức không quy định tổng hợp hình phạt đối với
bị cáo được hưởng án treo lại phạm tội mới trong thời gian thử thách còn BLHS Việt Nam lại quy định vấn đề này
Huỷ bỏ hình phạt: Vấn đề này BLHS Việt Nam năm 1999 không có quy định, thực tế thực hiện là hết thời gian thử thách mà bị cáo không phạm tội mới trong thời gian thử thách thì họ được miễn chấp hành hình phạt tù mà Toà án đã tuyên trước đây BLHS Đức quy định về vấn đề trên tại Điều 56g Theo đó, khi hết thời gian thử thách mà Toà án không phải ra quyết định huỷ
bỏ án treo thì Toà án ban hành quyết định huỷ hình phạt tù đã tuyên Như vậy, BLHS Đức quy định chặt chẽ, hoàn thiện hơn BLHS Việt Nam năm 1999
Xét giảm thời gian thử thách BLHS Đức không quy định xét giảm thời gian thử thách đối với án treo, trong khi đó BLHS Việt Nam năm 1999 quy định xét giảm thời gian thử thách đối với án treo tại khoản 4 Điều 60 Khi người bị kết án đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách, có nhiều tiến bộ thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục làm đề nghị
để Toà án ban hành quyết định rút ngắn thời gian thử thách Như vậy, BLHS Việt Nam thể hiện tính nhân đạo hơn BLHS Đức
Trang 33Án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt: Án treo áp dụng cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn và trường hợp đang chấp hành hình phạt tù chung thân Vấn đề này được quy định rất chặt chẽ trong BLHS Đức Tuy nhiên, BLHS Việt Nam năm 1999 lại không quy định vấn đề này
Án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn: Đây
là quy định rất khác so với BLHS Việt Nam năm 1999 Quy định này cho phép Toà án có thể chuyển từ tù có thời hạn sang án treo khi bị cáo đã chấp hành hình phạt tù được một thời gian nhất định Tại Điều 57 BLHS Đức quy định: Toà án cho người đang chấp hành án tù hưởng án treo khi: Bị cáo đã chấp hành được 2/3 án tù (ít nhất là 2 tháng); bị cáo sẽ không phạm tội mới dù được tự do thì Toà án có thể cho hưởng án treo phần hình phạt còn lại khi bị cáo chấp nhận việc thay thế này Khi quyết định cho hưởng án treo, Toà án phải xem xét nhân thân người phạm tội, quá khứ của họ, các tình tiết của tội phạm, thái độ người phạm tội trong trại giam, hoàn cảnh sống cũng như tác động đến tương lai của họ nếu áp dụng án treo Thiết nghĩ, đây là quy định mà các nhà lập pháp Việt Nam nên nghiên cứu để có sự vận dụng phù hợp vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam; bởi hệ thống nhà trại giam ở Việt Nam đang quá tải “số người bị bắt giữ ngày càng tăng, trong khi cơ sở vật chất của các nhà tạm giam, trại giam vẫn vậy” [44, tr.15] Bên cạnh đó, hàng năm chúng ta vẫn tiến hành xét đặc xá cho phạm nhân cải tạo tốt Sau khi phạm nhân được hưởng đặc xá về với cộng đồng xã hội lại không có cơ chế nào quản lý đối với những phạm nhân như quản lý và giáo dục người được hưởng
án treo Nguy cơ tái phạm của những người này rất cao Nên chăng, chúng ta thay dần đặc xá bằng chuyển đổi hình phạt tù thành án treo, sau khi bị cáo đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định
Án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù chung thân: Đây cũng là quy định rất mới của BLHS Đức so với BLHS Việt Nam năm 1999
Trang 34Theo quy định tại Điều 57a BLHS Đức thì điều kiện để bị cáo chịu hình phạt
tù chung thân được chuyển đổi sang án treo là: Đã chấp hành hình phạt tù được 15 năm; đã có kết quả cải tạo tốt; thoả mãn điều kiện của khoản 1, khoản 5 của Điều 57 (điều kiện cho hưởng án treo) Thời gian thử thách của trường hợp này là 5 năm Ý kiến của tác giả về quy định này của BLHS Đức
là rất nhân văn, thể hiện tính nhân đạo sâu sắc Nhưng trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam hiện nay, chúng ta chưa có điều kiện để thực hiện quy định này nên không sửa đổi trong quy định của Bộ luật Hình sự về việc áp dụng án treo cho trường hợp đang chấp hành hình phạt tù chung thân.[44, tr.8]
Từ việc so sánh trên có thể thấy sự tiến bộ và nhân đạo của Việt Nam trong quy định về án treo nói riêng cũng như các hình phạt cải tạo không giam giữ khác so với các quốc gia trên thế giới Điều đó thể hiện đường lối nhân đạo với người phạm tội của Chính phủ Việt Nam hướng tới việc cải tạo họ hơn là quy kết và xét tội họ
Án treo là chế định thể hiện sự nhân đạo và quyền con người của pháp luật hình sự, nó có tính quyết định xã hội - pháp lý từ các nội dung bảo vệ các quyền con người bằng các quy phạm về án treo
Lịch sử hình thành và phát triển của án treo trong Luật hình sự Việt Nam cho thấy chế định án treo đã ngày càng được hoàn thiện và phát triển theo kịp với đường lối của Đảng cũng như các giai đoạn pháp điển hóa đó
là Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng tám năm 1945 đến pháp điển hóa lần thứ nhất - Bộ luật hình sự 1985 và giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình
sự 1999 đến nay
Qua tìm hiểu một số nét cơ bản về án treo trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới không chỉ cho thấy: Mặc dù quy định án treo trong luật hình sự của mỗi nước có sự khác nhau, ở mức độ khác nhau nhưng điểm chung là hầu hết đều chứ đựng những nội dung nhân văn và tiến bộ Điều này cho thấy luật hình sự Việt Nam đã ngày càng đáp ứng với yêu cầu của công
Trang 35cuộc xây dựng và phát triển đất nước đồng thời phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới, cũng như có ý nghĩa góp phần vào sự tiến bộ của nền văn minh pháp lý nhân loại
1.3.2 Án treo trong PLHS của Trung Quốc
Nghiên cứu luật hình sự Trung Quốc cho thấy, chế định án treo được quy định như sau: “Khi xử phạt cải tạo lao động hoặc tù dưới ba năm, căn cứ vào những tình tiết phạm tội và biểu hiện ăn năn hối lỗi của người phạm tội,
có thể cho người phạm tội hưởng án treo, nếu xác định được rằng áp dụng án treo sẽ không gây nguy hại cho xã hội
Người bị án treo có thể chịu thêm hình phạt bổ sung [7, tr.63] Như vậy, có thể hiểu án treo theo luật hình sự Trung Quốc không phải là hình phạt
mà là biện pháp miễn chấp hành hình phạt có điều kiện - đây chính là bản chất của án treo Tuy nhiên, điều kiện để cho hưởng án treo là mang tính đặc thù của pháp luật hình sự Trung Quốc
Nghiên cứu BLHS của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa có quy định thời gian thử thách của án treo ngay trong các điều luật quy định về án treo, ví dụ:
“Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên bản án cho hưởng án treo”
BLHS Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1997 quy định người được tuyên hưởng án treo: “phải tuân thủ pháp luật, pháp quy hành chính, phục tùng tạm giam, báo cáo định kỳ sinh hoạt của bản thân với cơ quan theo dõi, tuân thủ nội quy tiếp khách của cơ quan theo dõi, thay đổi chỗ ở phải báo cáo
và được cơ quan theo dõi đồng ý, không phạm tội mới…”
Luật hình sự Trung Quốc quy định hai loại hậu quả pháp lí cho hai tình trạng vi phạm điều kiện thử thách của án treo là: Nếu người được hưởng án treo trong thời gian thử thách vi phạm pháp luật, pháp quy hành chính hoặc quy định của ngành công an có liên quan đến án treo, có tình tiết nghiêm trọng thì hủy bỏ án treo, chấp hành hình phạt cũ; nếu người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì phải hủy bỏ án treo và người
Trang 36bị kết án phải chấp hành hình phạt chung tổng hợp của cả tội cũ và mới
Từ những quy định trên đây cho chúng ta thấy có điểm tương đồng là luật hình sự của Trung Hoa và Việt Nam Luật hình sự Trung Hoa không chỉ quy định một loại hậu quả pháp lí duy nhất cho một vi phạm điều kiện duy nhất là phạm tội mới trong thời gian thử thách như khoản 5 Điều 60 BLHS nước ta Từ những hạn chế đã phân tích trong quy định về án treo của luật hình sự nước ta, để án treo thực sự là sự kết hợp của phương châm trừng trị và giáo dục, vừa khuyến khích người bị kết án cải tạo tốt vừa răn đe, cảnh cáo họ không được vi phạm các điều kiện của án treo trong Luật hình sự Việt Nam
Trang 37có tác dụng tốt là không buộc người bị kết án phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà cũng đạt được mục đích giáo dục, cải tạo họ trở thành người có ích cho xã hội, hoà nhập với cộng đồng, giác ngộ được ý thức chấp hành chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nuớc, tuân thủ quy tắc cuộc sống XHCN
Tóm lại, bản chất pháp lý của án treo trong Luật hình sự Việt Nam hiện hành là “Là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Toà án áp dụng đối với người phạm tội bị xử phạt tù có thời hạn không quá ba năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và Toà án xét thấy không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù Toà án ấn định thời gian thử thách đối với họ từ 1 đến 5 năm
Trang 38CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
VỀ ÁN TREO
2.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình
sự Việt Nam về án treo
2.1.1 Quy định về án treo trong pháp luật hình sự Việt Nam trước pháp điển hóa lần thứ nhất năm 1985
Ở nước ta, chế định án treo được quy định từ rất sớm, nó ra đời và gắn liền với sự ra đời của pháp luật hình sự Việt Nam Ngày 13/9/1945 Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh số 33/C/SL, tại Điều IV (án tù có thể tuyên) quy định: “…Nếu có những lý do đáng khoan hồng vì ít tuổi, vì biết hối cải, vì lầm lẫn.v.v…thì Toà án có thể cho tội nhân được hưởng án treo Nghĩa là bản án làm tội tuyên lên, nhưng không thi hành; Nếu trong 5 năm bắt đầu từ ngày tuyên án, tội nhân không bị Toà án Quân sự làm tội một lần nữa về việc mới thì bản án đã tuyên sẽ huỷ đi, coi như là không có; nếu trong hạn 5 năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước Toà án Quân sự thì bản án treo
sẽ đem thi hành”
Xuất phát từ đường lối và chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta
là “trừng trị kết hợp với khoan hồng”, cùng với nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, chế định án treo đã được ghi nhận trong pháp luật hình sự nước ta ngay từ những ngày đầu đất nước giành được độc lập Tuy nhiên, trong một thời kỳ dài với những khó khăn cả về mặt khách quan lẫn chủ quan chúng ta chưa có một Bộ luật Hình sự hoàn chỉnh Án treo cũng như các chế định khác của luật hình sự được quy định chủ yếu trong các văn bản pháp luật hình sự riêng lẻ, không có giá trị pháp lý cao, chủ yếu là các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao và vì lẽ đó mà án treo được hiểu khác nhau về bản chất của mình Đến khi Bộ luật Hình sự ra đời thì án treo lại được hiểu theo một nghĩa khác về mặt bản chất so với trước đây
Trang 39Tìm hiểu quá trình hình thành và hoàn thiện chế định này là một việc làm quan trọng để từ đó hoàn thiện hơn nữa và trở thành chế định pháp luật thực sự khoa học và đúng đắn
Theo Sắc lệnh số 21 ngày 14/12/1946 về tổ chức Tòa án quân sự, tại
Điều 10 của Sắc lệnh quy định về án treo như sau: “Khi phạt tù tòa án có thể
cho tội nhân được hưởng án treo nếu có những lý do chính đáng khoan hồng Bản án xử treo sẽ tạm đình chỉ việc thi hành nếu có những lý do đáng khoan hồng Nếu trong năm năm kể từ ngày tuyên án, tội nhân không bị tòa án quân
sự làm tội một lần nữa về một việc mới, thì bản án đã tuyên sẽ hủy đi, coi như không có Nếu trong năm năm ấy, tội nhân bị kết án một lần nữa trước một tòa án quân sự thì bản án treo sẽ đem thi hành”[10, tr.11]
Theo điều luật này, việc tội nhân không bị tòa án quân sự xét xử về một tội khác phạm phải trong thời gian thử thách thì bản án đã tuyên hủy đi, coi như không có – có thể hiểu đây chính là việc đương nhiên xóa án Tuy nhiên, việc điều luật ấn định một mức thời gian thử thách cố định là 5 năm, đôi khi
đã không khuyến khích một người bị kết án tích cực cải tạo
Tiếp theo vào năm 1956, chúng ta có Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 có nói về án treo Tại Điều 12 của Sắc lệnh quy định như sau:
“Đối với kẻ phạm tội… bị phạt không quá 02 năm tù, thì trong những trường hợp rất đặc biệt, do Thủ tướng Chính phủ quy định, tòa án có thể cho bị cáo hưởng án treo”
Qua thực tế việc áp dụng những quy định này đã gặp không ít khó khăn Theo Sắc lệnh số 21 ngày 14/12/1946 và Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 thì người được hưởng án treo phải là người có lý do đáng được khoan hồng hoặc là những trường hợp đặc biệt Vậy thì để hiểu được những
lý do nào là lý do đáng được khoan hồng, trường hợp nào là trường hợp đặc biệt thì lại không có một văn bản nào đề cấp tới mà phụ thuộc vào hoàn toàn vào ý chí chủ quan của người thẩm phán Điều này sẽ dẫn tới những sai lầm
Trang 40trong nhận thức của cán bộ xét xử và thực tế đã chứng tỏ có những trường hợp đáng xử phạt tù giam thì lại cho hưởng án treo và đáng được xử án treo thì lại xử tù giam…
Theo đánh giá sơ bộ về tình hình áp dụng án treo trong giai đoạn này, Thông tư 2308/NCPL ngày 01/12/1961 của Tòa án nhân dân tối cáo đã nêu rõ bên cạnh những kết quả tích cực của việc vận dụng chế định án treo trong thực tiễn, thì còn tồn tại những vụ án đã cho hưởng án treo không đúng; cụ thể như vụ T.C.H giáo viên vỡ lòng, hiếp dâm em bé 7 tuổi, vì tòa án coi đây
là hành động nhất thời trong lúc vợ can phạm sinh đẻ, nên phạt 1 năm tù treo Việc tòa án coi tình tiết “hành động nhất thời trong lúc vợ can phạm sinh đẻ”
là lý do “đáng được khoan hồng” là hoàn toàn toàn không có căn cứ cả về mặt pháp luật cũng như đạo đức xã hội Tòa án đã không thấy được tính chất nghiêm trọng của vụ việc – tư cách của một người giáo viên, lại thực hiện hành vi đồi bại gây ra dư luận xấu trong nhân dân và đã xâm hại nghiêm trọng đến phẩm chất cũng như sức khỏe của một em bé Một ví dụ khác: L.V.L đánh vợ thành thương, can phạm chưa gây tác hại nghiêm trọng, bản chất can phạm tốt, phạm pháp lần đầu, thái độ biết ăn năn hối cải, người vợ có đơn xin khoan hồng nhưng tòa sơ thẩm vẫn xử 6 tháng tù giam, sau phúc thẩm lại sửa
là 6 tháng tù treo
Trong Thông tư 2308/NCPL ngày 01/12/1961 cũng đề ra phương hướng cụ thể trong việc áp dụng án treo “án treo là một biện pháp hoãn thụ hình có điều kiện, áp dụng chủ yếu đối với những kẻ phạm tội nhẹ, bản chất không nguy hiểm, xét không thực cần thiết phải bắt thi hành ngay án phạt tù, nhằm mục đích khuyến khích họ tự nguyện lao động cải tạo với sự giúp đỡ tích cực của xã hội, đồng thời cảnh cáo họ nếu còn tiếp tục phạm tội trong thời gian thử thách, thì tùy trường hợp sẽ buộc phải chấp hành án cũ trong mức độ cần thiết Ngược lại, nếu trong thời gian thử thách, họ không phạm tội
gì mới, án trước sẽ được xóa bỏ”[57, tr.12]