1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở việt nam

101 271 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế và hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG VĂN TÂM

NHỮNG ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG VĂN TÂM

NHỮNG ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS TSKH Đào Trí Úc

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của GS.TSKH Đào Trí Úc

Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, đảm bảo tính khách quan khoa học và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng

Tác giả

Đặng Văn Tâm

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài “Những đảm bảo pháp lý về quyền

tự do tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt nam” mặc dù có nhiều khó khăn, song

bên cạnh những cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ thầy cô, gia đình, đồng nghiệp và bè bạn

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy giáo -

GS.TSKH Đào Trí Úc - người đã trực tiếp hướng dẫn, tạo điều kiện cho tôi

hoàn thành đề tài luận văn Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Ban chủ nhiệm Khoa, Bộ môn Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật, các cán bộ trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ban Tôn giáo - Sở Nội vụ tỉnh Nghệ An, cùng các bạn học viên đã đóng góp ý kiến và cung cấp một số tài liệu quan trọng cho tôi thực hiện đề tài này

Do thời gian có hạn và khả năng nhận thức của bản thân cũng như kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo cùng các bạn

để đề tài được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 9 năm 2017

Tác giả

Đặng Văn Tâm

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CNH : Công nghiệp hóa

HĐH : Hiện đại hóa

ICCPR : International Covenant on Civil and Political Rights Công ước

quốc tế về các quyền dân sự và chính trị ICESCR : International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights

Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá ILO Tổ chức lao động quốc tế

UDHR : Universal Declaration of Human Rights

Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền XHCN Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ VỀ NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO 7

1.1 Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 7

1.2 Khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 14

1.3 Khuôn khổ pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 16

1.3.1.Pháp luật quốc tế 16

1.3.2 Pháp luật Việt Nam 20

1.4 Các yếu tố tác động đến những đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 23

1.4.1 Điều kiện, kinh tế, xã hội chính trị của Việt Nam 23

1.4.2 Xu hướng tôn giáo thế giới 24

1.4.3 Về vị trí địa lý 24

1.4.4 Về Văn hóa 25

1.4.5 Về Lịch sử 25

1.4.6 Chính sách ngoại giao của các nước lớn, các tổ chức quốc tế 25

Tiểu kết Chương 1 27

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ TÍN NGƯỠNG,TÔN GIÁO VÀ NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 28

2.1 Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 28

2.1.1 Tình hình tín ngưỡng ở Việt Nam 28

Trang 7

2.1.2 Tình hình tôn giáo ở Việt Nam 292.2 Thực trạng những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt nam 342.2.1 Thực trạng nhưng đảm bảo pháp lý về quyền tự do theo hay không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nhất định; quyền không bị phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo 342.2.2.Thực trạng những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hành niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo 362.2.3 Thực trạng những đảm bảo pháp lý đối với quyền được thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo của chức sắc, chức viê ̣c, nhà tu hành 482.2.4 Thực trạng những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng đối với hoạt động tín ngưỡng 522.2.5 Thực trạng vấn đề hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo 542.3 Một số bất cập, hạn chế những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 562.3.1.Một số nội dung vẫn còn khoảng cách so với pháp luật quốc tế về nhân quyền 562.3.2 Đối với các nhóm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong tin theo và thực thực hành niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo 58

Tiểu kết chương 2 63 Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NHỮNG ĐẢM BẢO PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ

DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM 64

3.1 Quan điểm, phương hướng tăng cường hiệu quả những đảm bảo pháp lý

về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam 643.2 Nhiệm vụ, giải pháp nâng cao hiệu quả những đảm bảo pháp lý về quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo từ thực tiễn Việt Nam 653.2.1 Nhiệm vụ, giải pháp chung 653.2.2 Các giải pháp cụ thể 67

Trang 8

Tiểu kết chương 3 71

KẾT LUẬN 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 78

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế và hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới ghi nhận và đảm bảo thực hiện ở các mức độ khác nhau, đồng thời cũng

là một trong những tiêu chí đánh giá về mức độ dân chủ, văn minh, tiến bộ trên thế giới hiện nay Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người được cộng đồng quốc tế ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế, trong đó bao gồm: Hiến chương Liên Hợp Quốc (1945); Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền(1948); Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (1966) và nhiều công ước quốc tế khác về quyền con người

Việt Nam chúng ta là một đất nước đa tôn giáo, có sự xuất hiện của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Baha’i, Bà-la-môn,… Ngoài ra còn có những tôn giáo nội sinh như Cao Đài, Tịnh độ Cư sỹ Phật hội, Phật giáo Hòa Hảo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa,… bên cạnh đó đời sống tín ngưỡng của người dân Việt Nam cũng rất đa dạng, phong phú như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ cúng các vị anh hùng dân tộc, tín ngưỡng thờ các dạng thần, loại thần Mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có ở Việt Nam đều chứa đựng nội dung phong phú về lịch sử, tư tưởng, triết học, đạo đức, văn hóa,… riêng biệt, vì vậy việc tìm hiểu sâu để có cái nhìn tổng quát về những đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng phát huy các giá trị nhân bản của các tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự phát triển, hòa bình của xã hội và đất nước

Cùng với quá trình đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng và Nhà nước

về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều đổi mới,

Trang 10

đặc biệt là Nghị quyết 24 của Bộ chính trị năm 1990 và Nghị quyết 25 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa IX năm 2003, trong đó nổi lên là: việc nhìn nhận, đánh giá đúng vai trò, vị trí và bản chất của tín ngưỡng, tôn giáo

và sự tác động của nó lên đời sống chính trị xã hội của đất nước Đồng thời ghi nhận và có nhiều chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó nổi bật là những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực thi và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị ngày 16/10/1990 đã xác định: “Tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới”; Điều 24, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: "Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật"

Tuy vậy, ngày nay dưới tác động của các xu thế vận động của tôn giáo trong tình hình mới, cùng với xu thế ngày càng đề cao vấn đề quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nhất là sau khi Hiến pháp năm 2013 ra đời, đòi hỏi Nhà nước phải tiếp tục hoàn thiện các chế định pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để phù hợp với Hiến pháp 2013, các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, đồng thời đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trong tình hình mới

Trong bối cảnh trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Những đảm bảo pháp lý về Quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam” để thực hiện

luận văn thạc sỹ luật học chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, với mục đích góp phần nhìn nhận rõ thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thời gian tới

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nước ta, tiêu biểu như:

- Bùi Đức Luận (2005), Quản lý hoạt động tôn giáo: Cơ sở lý luận và

thực tiễn Nhà xuất bản Chính trị- Hành chính; Hà Nội

- GS Đặng Nghiêm Vạn (2003), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn

giáo ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội;

- GS.TS Đỗ Quang Hưng, (2013) chính sách tôn giáo và nhà nước

pháp quyền, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội

- PGS.TS Đỗ Quang Hưng (2008) Vấn đề tôn giáo trong cách mạng

Việt nam, lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội

- Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện nghiên cứu Tôn

giáo và Tín ngưỡng (2008), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt

Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội;

- Luận văn Thạc sỹ luật học (2015) Đảm bảo quyền tự do tô giáo từ

thực tiễn thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Hoa bảo vệ tại Viện Hàn lâm

khoa học xã hội Việt Nam

- PGS TS Nguyễn Đức Lữ (2009), Tôn giáo - Quan điểm, chính sách của

Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính; Hà Nội

- PGS.TS Nguyễn Đức Sự (tuyển chọn và biên soạn) (2014) Mác-

Anghen - Lê nin bàn về tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội

- Nguyễn Hữu Khiển (2001), Quản lý nhà nước về tôn giáo trong điều

kiện xây dựng nhà nước dân chủ, pháp quyền Việt Nam hiện nay, Nxb Công

an Nhân dân, Hà Nội;

- Nguyễn Thanh Xuân (2015), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt

Nam, Nxb Tôn giáo, Hà Nội;

Trang 12

- Viện Nghiên cứu chiến lược và khoa học- Bộ Công an (2003), Tôn

giáo trong thế giới hiện đại, NXB Công an Nhân dân, Hà Nội;

- Viện Khoa học Xã hội Nhân văn Quân sự thuộc Bộ Quốc phòng

(2005) Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Quân

đội Nhân dân, Hà Nội

- Luận văn Thạc sỹ luật học (2015) Đảm bảo quyền tự do tôn giáo từ

thực tiễn thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị Hoa bảo vệ tại Viện Hàn lâm

khoa học xã hội Việt Nam

- PGS.TS Vũ Công Giao, Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo luật

nhân quyền quốc tế và trong pháp luật Việt Nam (bài đăng trên trang bầu cử

Quốc hội khóa XIV và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 -2021 ngày 04/7/2016 chuyên mục Nghiên cứu - trao đổi),

Những công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo ở nước ta Đây là nguồn tài liệu trực tiếp, hữu ích cho đề tài luận văn Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu hiện có đều chưa tập trung phân tích toàn diện về những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tôn giáo trong các văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành nhất là Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016

3 Mục đích và nhiệm vụ của nghiên cứu

Mục đích:

Luận văn nghiên cứu những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành ở Việt Nam, đồng thời đánh giá việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Tác giả lựa chọn nghiên cứu nội dung này là để phục vụ cho yêu cầu học tập và công tác của bản thân

Trang 13

Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để đạt được mục đích trên, luận văn có các nhiệm vụ:

Nghiên cứu làm rõ về các vấn đề lý luận quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lí luận về đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Phân tích làm rõ thực trạng về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam và những tác động, ảnh hưởng đến chính sách, pháp luật và việc thực hiện đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo hiện nay ở Việt Nam

Xác định khuôn khổ pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, trên cơ sở đó làm rõ thực trạng các đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo qua thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đảm bảo

về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những đảm bảo pháp lý về quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người trong các chế định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành tại Việt Nam mà trọng tâm là Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 và thực tiễn thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta

Trang 14

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo và thực tiễn thực hiện chính sách pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt nam, mà trọng tâm là Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông quan ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018

Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh để giải quyết các vấn đề nghiên cứu đặt ra

6 Những điểm mới và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

Luận văn đưa ra cái nhìn tổng thể về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các vấn đề như khái niệm, bản chất của những đảm bảo pháp lý về quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo, tiêu chuẩn quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Thêm vào đó, luận văn phân tích những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam

Về ý nghĩa thực tiễn, thông qua việc làm rõ thực trạng về những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam, luận văn chỉ ra những bất cập, hạn chế trong lĩnh vực này, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở Lý luận về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và về đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Chương 2: Thực trạng tín ngưỡng, tôn giáo và thực trạng những đảm

bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Chương 3: Quan điểm, Phương hướng, và nhiệm vụ, giải pháp nâng cao

hiệu quả những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Trang 15

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO VÀ VỀ NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO

TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO

1.1 Khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Để làm rõ khái niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trước hết chúng ta cần làm rõ khái niệm về tín ngưỡng, khái niệm về tôn giáo và một số khái niệm có liên quan với hai khái niệm này và sự tương đồng và khác biệt giữa khái niệm về tín ngưỡng, khái niệm về tôn giáo

Khái niệm về tín ngưỡng: Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau khi định nghĩa về khái niệm tín ngưỡng dựa trên những góc độ, cách thức tiếp cận

khác nhau, nhưng theo Điều 2, Luật tín ngưỡng, tôn giáo thì khái niệm tín

ngưỡng được hiểu: Là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tu ̣c , tâ ̣p quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cô ̣ng đồng [6, tr 7 ]

Một số khái niệm liên quan đến khái niệm tín ngưỡng

Hiện nay, có nhiều góc độ tiếp cận các khái niệm liên quan đến tín ngưỡng nhưng trong phạm vi luận văn này tác giả tiếp cận, phân tích kiến giải các vấn đề liên quan đến khái niệm đến tín ngưỡng theo cách hiểu và tiếp cận của Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, cụ thể là:

Hoạt động tín ngưỡng: là hoạt động thờ cúng tổ tiên , các biểu tượng linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước , với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội [6, tr 7 ]

Lễ hô ̣i tín ngưỡng:là hoạt động tín ngưỡng tập thể được tổ chức theo lễ

nghi truyền thống nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của cộng đồng[6, tr 7 ]

Trang 16

Cơ sở tín ngưỡng: là nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cô ̣ng đồng như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở tương tự khác [6, tr 7 ]

- Khái niệm tôn giáo: Cũng giống như khái niệm tín ngưỡng, có nhiều

góc độ, cách thức khác nhau khi tiếp cận nghiên cứu về vấn đề tôn giáo, theo

quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lê nin thì: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã

hội, nó phản ánh tồn tại xã hội, đồng thời cũng là một thực thể xã hội được hình thành và phát triển ở những giai đoạn lịch sử nhất định Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về tôn giáo nhưng cơ bản tiến tới một quan niệm phổ quát nhất về tôn giáo đó là: Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội thể hiện trong những quan niệm của con người (hay nhóm người) dưới dạng niềm tin vào một sức mạnh siêu nhiên tự nhiên hay là những nhân vật được thần thánh hóa, thể hiện bằng những nghi thức, sinh hoạt nhất định, giống nhau của

từng thành viên trong nhóm đó; Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với

hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức

Như vậy, tôn giáo vừa là hình thái ý thức xã hội, phản ánh sự tồn tại xã hội “một cách hư ảo” vào đầu óc con người thì nó còn tồn tại với tư cách là một thực thể xã hội biểu hiện ra bên ngoài là hệ thống tổ chức, cơ sở thờ tự Vì vậy, để nhận thức tôn giáo đúng với những hoạt động, những sức mạnh của niềm tin tôn giáo chúng ta phải nhìn sâu vào các yếu tố cấu thành của nó như: thể chế bên trong các tôn giáo cụ thể

Trên cơ sở quan điểm lập trường của chủ nghĩa Mác - Lên Nin Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã định nghĩa về tôn giáo “là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức” [ 6, tr7 ]

Cũng như khái niệm liên quan đến tôn giáo trong phạm vi luận văn này tác giả tiếp cận, phân tích kiến giải các vấn đề liên quan đến tôn giáo theo

Trang 17

cách hiểu và tiếp cận của Luật tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, cụ thể là:

Tín đồ: là người tin, theo mô ̣t tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó

thừa nhận [ 6, tr7 ]

Nhà tu hành: là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp sống riêng

theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo [ 6, tr7 ]

Chức sắc: là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ phẩm vị trong tổ chức [ 6, tr7 ]

Chức việc: là người được tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuô ̣c ,

tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoa ̣t đô ̣ng tôn giáo bổ nhiệm, bầu cử hoặc suy cử để giữ chức vụ trong tổ chức [6, tr7 ]

Sinh hoạt tôn giáo: là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo (Khoản 10, Điều 2 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo)

Hoạt động tôn giáo: là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo

và quản lý tổ chức của tôn giáo [6, tr7 ]

Tổ chức tôn giáo: là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của một tôn giáo được tổ chức theo một cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhâ ̣n nhằm thực hiện các hoạt động tôn giáo [ 6, tr7 ]

Tổ chức tôn giáo trực thuộc : là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo , được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo [6, tr7 ]

Cơ sở tôn giáo: gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường,

trụ sở của tổ chức tôn giáo, cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo [ 6, tr 8 ]

Đi ̣a điểm hợp pháp là đất, nhà ở, công trình mà tổ chức hoặc cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật[6, tr 8 ]

Người đại diện là người thay mặt và chịu trách nhiệm trước pháp luật

về hoạt động tín ngưỡng, sinh hoa ̣t tôn giáo tập trung , hoạt động tôn giáo của

nhóm người hoặc tổ chức mà mình đại diện [6, tr 8 ]

Sự tương đồng và khác biệt giữa tôn giáo với, tín ngưỡng

Trang 18

Điểm chung giữa tín ngưỡng và tôn giáo về bản chất đều là niềm tin,

sự ngưỡng vọng của con người vào những cái "siêu nhiên”, hay gọi là "cái thiêng", cái đối lập với cái "trần tục", cái hiện hữu mà con người có thể cảm nhận, quan sát được Niềm tin vào "cái thiêng" thuộc về bản chất con người,

ra đời và tồn tại, phát triển cùng với con người và loài người, là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh cũng như đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm của con người Niềm tin này thể hiện ra các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể khác nhau, chẳng hạn như niềm tin vào Đức Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần của tín ngưỡng dân gian, tín ngưỡng Thành Hoàng, Đạo Mẫu, Các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo này dù rộng hẹp khác nhau, dù phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc, thì cũng đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào cái thiêng liêng của con người

Sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng thể hiện ở một số điểm như: Tôn giáo có hệ thống giáo lý, kinh điển, được truyền thụ qua giảng dạy và học tập ở các tu viện, thánh đường, học viện có hệ thống thần điện, có tổ chức giáo hội, hội đoàn chặt chẽ, có nơi thờ cúng riêng như: nhà thờ, chùa, thánh đường, nghi lễ thờ cúng chặt chẽ, có sự tách biệt giữa thế giới thần linh và con người Còn tín ngưỡng thì chưa có hệ thống giáo lý mà chỉ có các huyền thoại, thần tích, truyền thuyết Tín ngưỡng mang tính chất dân gian, gắn với sinh hoạt văn hóa dân gian, trong tín ngưỡng có sự hòa nhập giữa thế giới thần linh và con người, nơi thờ cúng và nghi lễ còn phân tán, chưa thành quy ước chặt chẽ

Tóm lại, tín ngưỡng và tôn giáo có mối quan hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên chúng cũng có những điểm khác nhau bởi tín ngưỡng là khái niệm thuần tuý thuộc lĩnh vực ý thức, tình cảm, còn tôn giáo là khái niệm rộng hơn, bao gồm cả hoạt động và tổ chức Tôn giáo bao gồm các yếu tố: giáo lý, giáo

Trang 19

luật, giáo lễ và giáo hội Về bản chất là khác biệt, tuy nhiên hiện tại, có nhiều

ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng Theo quan điểm truyền thống, người ta có ý thức phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, thường coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo Loại quan điểm thứ hai là đồng nhất giữa tôn giáo và tín ngưỡng và đều gọi chung

là tôn giáo, tuy có phân biệt tôn giáo dân tộc, tôn giáo nguyên thủy, tôn giáo địa phương, tôn giáo thế giới

Như vậy, theo quan niệm trong các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành tại Việt Nam thì hai khái niệm tôn giáo và tín ngưỡng dùng để chỉ hai cấp độ khác nhau của tôn giáo, theo đó khái niệm tôn giáo được sử dụng để chỉ những loại hình tín ngưỡng có mức độ phát triển cao hơn; có bộ máy, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hơn Việc xem xét khái niệm

về tôn giáo và tín ngưỡng như vậy có ý nghĩa trong việc tạo dựng các quan hệ pháp luật để điều chỉnh nhằm đảm bảo cho quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đảm bảo thực thi trên thực tế tốt hơn

Bên cạnh việc nhận diện tín ngưỡng, tôn giáo thì việc đảm bảo quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo cũng là một trong những vấn đề rất quan trọng khi nghiên cứu về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Xét về nguồn gốc lịch sử phát triển của xã hội loài người thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hình thành khá sớm, từ các thời kỳ cổ đại, trung đại, hầu hết các nhà nước phong kiến đều dựa trên một hay một số học thuyết tôn giáo để làm nền tảng quản lý và điều hành xã hội Trong khi đó vấn đề bạo lực, khủng bố hoặc chiến tranh tôn giáo vẫn không ngừng diễn ra Vì vậy, nhu cầu lớn đầu tiên trong quyền tự do tôn giáo của nhiều các quốc gia là nhu cầu mỗi cá nhân có thể tin tưởng và thực hành một tín ngưỡng, tôn giáo riêng, hay thay đổi tôn giáo mà không sợ bị nhà nước phạt tội hoặc bị các “tôn giáo chính thống” trả thù

Vào thời kỳ cách mạng tư sản ở các nước Châu âu vào thế kỷ XVII-

Trang 20

XVIII Quan niệm về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo bắt đầu có những bước phát triển trên cơ sở các học thuyết của các nhà tư tưởng đương thời, nhất là John Locke với quan điểm cho rằng: tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn là của

xã hội đã đặt nền móng cho quyền tự do tôn giáo Bên cạnh đó vai trò của nhà nước được xem là không phải để khuyến khích phát triển tôn giáo mà là bảo

vệ quyền của mỗi cá nhân có thể sử dụng niềm tin tôn giáo của chính mình,

và cách tốt nhất là hãy để cá nhân mỗi người tự lựa chọn tôn giáo cho mình

Theo thời gian các học thuyết, quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo từng bước được hoàn thiện hơn Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776

đã tiếp tục đề cập đến tự do song chưa nói cụ thể về tự do tín ngưỡng, tôn giáo Tuy nhiên, sau đó quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã sớm được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ và trở thành một trong 10 tu chính án đầu tiên

(còn được gọi là Bộ luật về quyền) của nước này Tuyên ngôn nhân quyền và

dân quyền của Pháp năm 1789 cũng đã nói đến tự do cá nhân, tự do tư tưởng,

tự do tôn giáo, mặc dù chưa đề cập một cách cụ thể: “Mỗi người đều được phát biểu tư tưởng tự do, về tôn giáo cũng vậy miễn là những tư tưởng phát biểu đó không làm tổn thương đến nền trật tự công cộng đã được pháp luật ấn định phân minh” Sau đó, Luật Phân ly của Pháp năm 1905 đã đề cập cụ thể hơn đến vấn đề tự do thờ cúng

Tuy vậy, phải đến ngày 10/12/1948, khi Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua thì tự do tín ngưỡng, tôn giáo mới trở thành một quyền con người mang tính quốc tế Trên phạm vi quốc tế, quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận trong các văn kiện quan trọng nhất của luật nhân quyền quốc tế, bao gồm: các văn bản mang tính chất tuyên ngôn như: Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và các văn bản mang tính chất ràng buộc pháp lý như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 Theo đó quyền tự do

Trang 21

tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn kiện này bao gồm các nội dung: tự do tin theo, tự do thay đổi tôn giáo của mỗi cá nhân; tự do thực hành các nghi lễ tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc không công khai dưới các hình thức như thờ, cúng, cầu nguyện; tự do truyền giảng các giáo lý, giáo luật tôn giáo Trong ba nhóm quyền tự do này thì nhóm quyền tự do đầu tiên là tuyệt đối không một tổ chức, cá nhân nào được phép hạn chế kể cả trong trường hợp khẩn cấp, còn hai nhóm quyền tự do còn lại có thể bị hạn chế để bảo vệ các lợi ích cao hơn, như an ninh quốc gia, trật

tự, an toàn của cộng đồng, quyền và lợi ích chính đáng của người khác

Phù hợp với pháp luật quốc tế Hiến pháp năm 2013 đã quy định:

“1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật

2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” [25, Tr6]

Cũng như pháp luật quốc tế, ở Việt Nam, quyền tự do tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối Để bảo vệ quyền tự do tôn giáo và các quyền con người, quyền công dân khác, Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quy định:

“….2 Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[25, Tr 4]

Nhìn chung, tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo luật nhân quyền quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam thì nội hàm của nó được hiểu theo các khía cạnh như sau:

Không phân biệt đối xử dựa trên tín ngưỡng, tôn giáo; Tự do theo hay không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nhất định

Tự do thể hiện, thực hành tín ngưỡng, tôn giáo

Trang 22

Quyền tự do truyền giảng giảo lý, giáo luật

Giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

1.2 Khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế như: Tuyên ngôn về nhân quyền của Liên hợp quốc năm

1948, Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 và các văn kiện pháp luật về nhân quyền quốc tế, nhưng để đảm bảm các quyền đó được thực thi trên thực tế đời sống xã hội thì pháp luật các quốc gia hay nói cách khác là các nhà nước phải có những biện pháp bảo đảm về lập pháp, hành pháp, tư pháp Có thể gọi chung các biện pháp do nhà nước tiến hành để thực hiện quyền là các đảm bảo pháp lý Tuy vây, dưới góc độ nghiên cứu hiện nay có những cách hiểu khác nhau về đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo cách hiểu thứ nhất: Đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là khái niệm bao quát toàn bộ đời sống pháp luật của nhà nước và của

xã hội, bao gồm các yếu tố quan trọng như các quy định pháp luật về quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo và nghĩa vụ của chủ thể có liên quan; thủ tục, trình tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó, hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giải thích và giáo dục pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bao gồm tất

cả các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, xóa bỏ những nguyên nhân dẫn đến

vi phạm pháp luật về quyền Như vậy, theo cách tiếp cận này, đảm bảo quyền liên quan đến hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, không chỉ dừng lại ở các cơ quan bảo vệ pháp chế Cũng theo cách hiểu này, nhân dân cũng tham gia vào việc đảm bảo thực hiện các quyền cùng với các cơ quan nhà nước

Theo cách tiếp cận khác (theo nghĩa hẹp) thì đảm bảo pháp lý được hiểu là các quy định pháp luật trực tiếp liên quan đến việc thực hiện quyền Đây là cách tiếp cận theo nghĩa hẹp mà theo đó đảm bảo pháp lý là những

Trang 23

đảm bảo được quy định bởi pháp luật, trực tiếp gắn liền với việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tùy thuộc vào góc độ, cách thức và phương pháp tiếp cận cụ thể của từng công trình nghiên cứu Trong phạm vi luận văn này tác giả tiếp cận khái niệm đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo nghĩa hẹp, theo đó nội hàm của nó bao gồm những nội dung cơ bản như sau:

Nhưng đảm bảo pháp lý về quyền tự do theo hay không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nhất định; quyền không bị phân biệt đối xử vì lý do tín

ngưỡng, tôn giáo.

Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực hành niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm: Đảm bảo pháp lý về quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo đối với cá nhân những người có tín ngưỡng, tôn giáo;

Đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đối với tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; Đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín

ngưỡng, tôn giáo qua tổ chức bộ máy nhà nước làm công tác tôn giáo; Đảm

bảo pháp lý đối với tài sản, quyền tài sản của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; Đảm bảo pháp lý đối với hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện nhân đạo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; Đảm bảo pháp lý trong đấu tranh đối với các hoạt động xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do truyền đạo, giảng đạo của các chức sắc tôn giáo, nhà tu hành, bao gồm: Đảm bảo pháp lý đối với việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành; Đảm bảo pháp lý đối với hoạt động truyền đạo, giảng đạo của chức sắc, chức việc, nhà

tu hành

Trang 24

Những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng đối với hoạt động tín ngưỡng

Vấn đề hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

1.3 Khuôn khổ pháp luật về quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo

1.3.1.Pháp luật quốc tế

Tại Điều 18, Tuyên ngôn nhân quyền (UDHR) đã ghi nhận: quyền tự

do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo (freedom of thought, conscience and

religion) Theo Điều này, mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, lương tâm

hoặc tôn giáo của mình và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành thờ cúng và tuân thủ các nghi

lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư

Công ước quốc tế về Các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hợp Quốc năm 1966 (ICCPR) đã cụ thể hóa nội dung này Nhìn chung, quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo theo pháp luật về nhân quyền quốc tế được hiểu theo các góc độ sau:

Không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo

Khoản 1 Điều 2 ICCPR quy định, các quốc gia thành viên công ước cam kết tôn trọng và đảm bảo cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các quyền đã được công nhận trong công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về chủng tộc màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo quan điểm chính trị hoặc quan điểm khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản thành phần xuất thân hoặc địa vị khác Tương tự, Điều 2 Khoản 2 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hoá (ICESCR) cũng ghi nhận rằng: Các quốc gia thành viên cam kết đảm bảo các quyền được nêu trong công ước ICESCR sẽ được thực hiện không có bất kỳ sự phân biệt đối

xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo,…

Trang 25

Bình luận chung số 22 của Uỷ ban Nhân quyền đã giải thích rằng: việc một tôn giáo được xác định là quốc giáo, là tôn giáo chính thức hay truyền thống hoặc có số lượng tín đồ chiếm đa số trong xã hội, đều không được sử dụng để làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các quyền tự do quy định ở các Điều 18 và 27 ICCPR, cũng như không được tạo ra sự phân biệt đối xử với tín

đồ của các tôn giáo khác hoặc với những người không theo tôn giáo nào Những hình thức phân biệt đối xử với tín đồ của các tôn giáo khác hay với những người không theo tôn giáo chiếm ưu thế mới được tham gia chính quyền bình đẳng nêu ở Điều 26 ICCPR [32, tr.297]

Bên cạnh đó nội dung bình đẳng còn được nêu trong nhiều điều ước quốc tế khác về nhân quyền như Điều 5 Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1965 đã bao gồm một danh sách các quyền mà các nước thành viên cam kết đảm bảo mà không có sự phân biệt đối xử, trong

đó có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tôn giáo Công ước của UNESCO

về chống phân biệt đối xử trong giáo dục (1960) cũng cấm phân biệt đối xử dựa trên cơ sở tôn giáo, chính trị hay các quan điểm khác (Điều 1, đoạn 1) Hơn nữa, Điều 5 (1) (b) Công ước này (đề cập đến giáo dục tôn giáo, đạo đức) nêu rằng, các phụ huynh có quyền tự do để đảm bảo rằng giáo dục đạo đức phải phù hợp ý nguyện riêng của họ Ngoài ra, điều này còn quy định không ai bị buộc phải tiếp thu các kiến thức về tôn giáo không phù hợp với niềm tin của họ Công ước về ngăn ngừa và trừng phạt tội diệt chủng 1948 quy định: Các quốc gia thành viên cam kết sẽ cấm và xóa bỏ sự phân biệt chủng tộc dưới mọi hình thức và đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật của tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc màu da, nguồn gốc hay sắc tộc, hay tư tưởng tín ngưỡng và tôn giáo Liên quan đến phân biệt đối xử trong lao động và nghề nghiệp, Điều 1 Khoản 1 Công ước số 111 của ILO (tổ chức lao động quốc tế) năm 1958 quy định: Cấm mọi sự phân biệt, bài trừ hoặc ưu đãi dựa trên chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, quan điểm chính

Trang 26

trị, nguồn gốc dân tộc hoặc xuất thân xã hội mà có tác động vô hiệu hóa hoặc làm phương hại đến sự bình đẳng về cơ may hoặc về đối xử trong việc làm

hoặc nghề nghiệp

Tự do theo hay không theo một tôn giáo nhất định

Bình luận chung số 22 giải thích rằng quyền tự do chính kiến, niềm tin lương tâm và tôn giáo có tính bao quát và sâu sắc Nó bao gồm quyền tự do suy nghĩ về tất cả các vấn đề, tự do tin tưởng và giữ niềm tin vào các tôn giáo hay tín ngưỡng cả trên phương diện cá nhân hay tập thể Các quyền tự do này phải được tôn trọng và không thể bị hạn chế hay tước bỏ trong mọi hoàn cảnh,

kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia [32, tr.294]

Các khái niệm “tín ngưỡng” (belief) và “tôn giáo” (religion) trong Điều 18

ICCPR cần được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả những lòng tin hữu thần và vô thần Điều này không chỉ được áp dụng với các tín ngưỡng, tôn giáo có tính thể chế mà còn với những tập tục truyền thống mang tính tôn giáo [32, tr.294]

Quyền tin hoặc theo một tôn giáo hay tín ngưỡng bao gồm quyền tự do lựa chọn một tôn giáo hay tín ngưỡng để tin hoặc theo, kể cả việc thay đổi niềm tin từ tín ngưỡng, tôn giáo này sang tôn giáo tín ngưỡng khác hay thay đổi niềm tin từ vô thần sang hữu thần hay từ hữu thần sang vô thần Khoản 2 Điều 18 cấm cưỡng ép tin, theo, bỏ hay thay đổi tín ngưỡng, tôn giáo kể cả bằng những chính sách hay tập quán nhằm gây sức ép để đạt mục đích đó như hạn chế sự tiếp cận với các dịch vụ giáo dục, y tế, việc làm hoặc hạn chế các quyền quy định trong Điều 25 và các Điều khác của ICCPR [32, tr.295]

Tự do thể hiện, thực hành tín ngưỡng, tôn giáo

Điều 18 ICCPR phân biệt giữa quyền tự do chính kiến, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng với thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng Điều này không cho phép có bất kỳ sự giới hạn nào với quyền tự do chính kiến, niềm tin lương tâm và quyền tự do tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín

Trang 27

ngưỡng Những tự do này phải được bảo vệ không điều kiện, tương tự quyền

tự do được giữ ý kiến nêu trên trong Khoản 1 Điều 19 [32, tr.294]

Quyền tự do thực hành tôn giáo có thể được thực thi với tư cách cá nhân hoặc trong cộng đồng cả ở nơi công cộng hay chỗ riêng tư, thể hiện ở các hành động như thờ cúng, tham gia những lễ hội tôn giáo, quan sát hay thực hành giảng dạy về tôn giáo Việc tuân thủ và thực hành tôn giáo không chỉ bao gồm các hoạt động nghi lễ mà còn bao gồm việc tuân thủ các nguyên tắc về ăn kiêng, trang phục sử dụng ngôn ngữ đặc biệt trong một nhóm, ngoài

ra còn bao gồm sự lựa chọn lãnh đạo tôn giáo, tăng lữ, người thầy tâm linh, thành lập các trường tôn giáo biên soạn và phát hành các tài liệu tôn giáo [32, tr.295]

Quyền tự do tín ngưỡng của trẻ em và trách nhiệm của bố mẹ trong việc giáo dục tôn giáo đạo đức cho con cái theo đạo đức riêng của họ

Theo quy định tại Điều 14 Công ước về Quyền trẻ em thì các quốc gia thành viên phải tôn trọng quyền tự do tư tưởng tự do tín ngưỡng và tôn giáo của trẻ em Quyền tự do thực hành tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể chịu những hạn chế do pháp luật quy định và là cần thiết để bảo vệ an ninh công cộng, trật tự xã hội, y tế hay đạo đức cộng đồng hoặc để bảo vệ các quyền và

tự do cơ bản của người khác

Bình luận chung số 22 đoạn 6 của Ủy ban nhân quyền đã giải thích: các trường công lập có thể giảng dạy các môn học như lịch sử đại cương của các tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là nội dung cần trung lập và khách quan Việc các trường công lập chỉ giảng dạy giáo lý của một tôn giáo hay nội dung một tín ngưỡng nhất định là trái với quy định trong Khoản 4 Điều 18, trừ khi việc giảng dạy như vậy là do ý nguyện và thuộc vào quyền quyết định của bậc cha mẹ

Giới hạn của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do thực hành và truyền giảng tôn giáo cũng có những giới hạn nhất định vì sức ảnh hưởng của tôn giáo là

Trang 28

rất lớn đến đời sống tinh thần của dân chúng Pháp luật quốc tế nghiêm cấm các hoạt động tôn giáo tự do tín ngưỡng có mục đích hoặc tính chất tuyên truyền cho chiến tranh, hay gây hận thù, chia rẽ dân tộc, tôn giáo hay kích động sự phân biệt đối xử về chủng tộc, dân tộc, giới, sự thù địch hoặc bạo lực [49, tr.296] Pháp luật quốc tế cho phép các nhà nước có thể hạn chế quyền thực hành và truyền giảng tôn giáo trong trường hợp cần thiết để bảo vệ an ninh trật tự công cộng, sự bình yên hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác,

1.3.2 Pháp luật Việt Nam

Ở Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo cũng được thể hiện qua những khẳng định về tín ngưỡng, tôn giáo và được vận dụng sáng tạo trên cơ sở những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin

Tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vấn đề này là đoàn kết tôn giáo, hòa hợp dân tộc, tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu mối quan hệ chặt chẽ giữa tôn giáo và dân tộc một cách giản dị, dễ hiểu nhưng rất độc đáo và sâu sắc: Kính Chúa gắn liền với yêu nước, phụng sự Thiên Chúa

và phụng sự Tổ quốc, nước có vinh thì đạo mới sáng, nước có độc lập thì tín ngưỡng, tôn giáo mới được tự do [36, tr.49] Năm 1958, khi trả lời các câu hỏi của cử tri Hà Nội: “Tiến lên chủ nghĩa xã hội thì tôn giáo có bị hạn chế không?” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định thái độ của những người cộng sản với tôn giáo: “Không Ở các nước xã hội chủ nghĩa, tín ngưỡng hoàn toàn tự do Ở Việt Nam ta cũng vậy” Hồ Chí Minh thường nhắc nhở đồng bào và chiến sĩ cả nước phải: “Quan tâm, chăm sóc cuộc sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các tôn giáo Mong sao sản xuất ngày càng phát triển phần xác ta được ấm no thì phần hồn cũng được yên vui” Theo quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đối với người có tôn giáo thì đức tin tôn giáo

Trang 29

và lòng yêu nước không hề mâu thuẫn Một người dân Việt Nam có thể vừa là một người dân yêu nước đồng thời vẫn là một tín đồ chân chính

Hồ Chí Minh coi tôn giáo là một cấu thành và là di sản văn hóa của nhân loại Có được sự nhìn nhận ấy phải là con người đã trải qua một quá trình trải nghiệm trong thực tiễn cách mạng và sự am hiểu các tôn giáo một cách tường tận, để khái quát chắt lọc những giá trị tinh túy của nó nhằm tiếp thu, kế thừa

Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân cũng là nội dung cơ bản của chính sách tôn giáo của nhà nước ta Tư tưởng này thể hiện nhất quán cả trong lý luận và thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và trở thành nguyên tắc nền tảng xuyên suốt trong chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay

Từ khi tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, hội nhập quốc tế (1986), Đảng và Nhà nước ta đã dần thay đổi về nhận thức, từ đó đưa ra những quyết sách phù hợp với tình hình tôn giáo ở Việt Nam Ngày 16/10/1990, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 24- NQ/TW về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới Đây được coi là bước ngoặt trong quá trình nhận thức của Đảng

ta trên lĩnh vực tôn giáo, với luận điểm quan trọng, khẳng định: “Tôn giáo là vấn đề tồn tại lâu dài Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân” Đại hội VIII tiếp tục khẳng định: “Thi hành nhất quán chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân” Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng nêu rõ: “Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo tôn giáo nào, sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng quy định của pháp luật”[12]

Trang 30

Trên phương diện pháp luật, Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946 đến 2013 đều ghi nhận và bảo vệ quyền tự do tôn giáo Kế thừa các Hiến pháp 1946,

1959, 1980, 1992, Điều 24 Hiến pháp năm 2013 đã quy định: 1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo; 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” [25, Tr 6]

Trước khi có Luật Tín ngưỡng, Nhà nước năm 2016, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo như: Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004; Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 21/3/1991 về hoạt động tôn giáo; Nghị định số 26/ NĐ-CP ngày 19/4/1999, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP ngày 01/3/2005; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012; Chỉ thị số 01/2005/CT-TTg ngày 04/02/2005 Về một số công tác đối với đạo Tin lành; Chỉ thị 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 Về nhà, đất liên quan đến tôn giáo…đã quy định cụ thể về một số hoạt động tôn giáo và về quyền hoạt động tôn giáo của tín đồ, quy định quyền hạn, phạm vi hoạt động của chức sắc, nhà tu hành, về thủ tục xin phép với hoạt động xây, sửa nơi thờ tự, thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, nhà tu hành; quy định về in, ấn, xuất bản các loại kinh, sách và các ấn phẩm tôn giáo về quan hệ quốc tế, … Những văn bản pháp luật này đã thể chế hoá chính sách cởi mở của Đảng, Nhà nước đối với các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, là tiền đề pháp lý cho sự phát triển sôi động của các tín ngưỡng, tôn giáo

ở Việt Nam kể từ Đổi mới đến nay

Phù hợp với pháp luật quốc tế, ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối Để bảo vệ quyền tự do tôn giáo và các quyền con người, quyền công dân khác, Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm

Trang 31

2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”[ 25, Tr4]

Theo pháp luật hiện hành của Việt Nam, hoạt động tôn giáo bị đình chỉ nếu vi phạm một trong những vấn đề sau: Xâm phạm quốc phòng , an ninh, chủ quyền quốc gia , trật tự, an toàn xã hội, môi trường; Xâm ha ̣i đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể , sức khỏe , tính mạng , tài sản ; xúc phạm danh dự , nhân phẩm của người khác ; Cản trở việc thực hiện quyề n và nghĩa vu ̣ công dân; Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín

ngưỡng, tôn giáo khác nhau”[6, tr 9]

1.4 Các yếu tố tác động đến những đảm bảo pháp lý đối với quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam

1.4.1 Điều kiện, kinh tế, xã hội chính trị của Việt Nam

Điều kiện, kinh tế, xã hội chính trị của Việt Nam có ảnh hưởng sâu sắc đến pháp luật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nước ta, thể hiện trên các khía cạnh sau

Qua thực tiễn công tác tôn giáo nhận thấy việc đổi mới tư duy lí luận của Đảng và Nhà nước ta trên lĩnh vực tôn giáo là khá sớm và theo mật bằng chung của tiến trình đổi mới đất nước Tuy vậy việc thực hiện tiến trình đổi mới đất nước gặp nhiều khó khăn, trở ngại từ thực tiễn đời sống trong đó cứ

sự chi phối của tư tưởng ý thức hệ đã ảnh hưởng đến việc đảm bảo quyền tự

do tín ngưỡng, tôn giáo trong đó có những đảm bảo pháp lý Trong những năm đầu triển khai thực hiện đường lối đổi mới về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo, có những vấn đề lý luận chúng ta còn chưa giải quyết thấu đáo cộng với việc xử lý các vấn đề cụ thể phát sinh từ tôn giáo hoặc có liên quan đến tôn giáo ở nhiều địa phương còn lúng túng, thiếu thống nhất đã ảnh hưởng

Trang 32

không nhỏ đến việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo Minh chứng

rõ ràng cho nhận định này là khi các cơ quan chức năng tổ chức lấy ý kiến góp ý vào dự thảo Luật tín ngưỡng, tôn giáo thì ý kiến của các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo ở Trung ương cơ bản gần với mặt bằng chung theo cách tiếp cận của các nước trong khu vực phù hợp với pháp luật quốc tế Trái ngược với quan điểm đó ý kiến của các nhà quản lý ở địa phương cấp càng sát cơ sở càng có nhu cầu thắt chặt công tác quản lý, nhất là đối với hoạt động của tổ chức tôn giáo

1.4.2 Xu hướng tôn giáo thế giới

Hiện nay, theo đánh giá của các nhà khoa học, các tổ chức quốc tế tình hình tôn giáo trên thế giới đang có nhiều xu hướng phát triển khác nhau rất phức tạp như: xu hướng toàn cầu hóa; xu hướng thế tục hóa; xu hướng dân tộc hóa cùng với một số trào lưu, hiện tượng tôn giáo cực đoan nổi lên trong thời gian qua (IS) Kết hợp với việc Việt Nam đang tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới đất nước, hội nhập ngày càng sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa, nhất là trong bối cảnh các tổ chức quốc tế, các quốc gia trên thế giới đang có nhiều hoạt thúc đẩy những yếu tố đảm bảo quyền con người, bao gồm cả quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó những đảm bảo pháp lý được xem

là nội dung then chốt, xuyên suốt trong việc đảm bảo quyền con người, nhất

là quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo

1.4.3 Về vị trí địa lý

Việt Nam là một quốc gia nằm ở Đông Nam châu Á; là nơi giao lưu của các luồng tư tưởng, văn hoá khác nhau, là địa bàn thuận lợi cho việc truyền bá các luồng tư tưởng, văn hóa khác nhau trong đó có tư tưởng tôn giáo từ các nước vào Việt Nam Với địa hình phong phú và đa dạng lại ở vùng nhiệt đới gió mùa, thiên nhiên vừa ưu đãi, vừa khắc nghiệt Do đó, thường nảy sinh tâm lý sợ hãi, nhờ cậy vào sự che chở của lực lượng tự nhiên Những

Trang 33

yếu tố đó dẫn đến tín ngưỡng, tôn giáo như là một nhu cầu tất yếu đối với đa

số người Việt Nam

1.4.4 Về Văn hóa

Việt Nam gồm 54 dân tộc cùng chung sống trên lãnh thổ, mỗi dân tộc một sắc thái riêng, cho nên văn hoá Việt Nam là một sự thống nhất trong đa dạng Ngoài văn hoá Việt - Mường mang tính tiêu biểu, còn có các nhóm văn hoá đặc sắc khác như Tày - Nùng, Thái, Chàm, Hoa - Ngái, Môn - Khơme, H’Mông - Dao, nhất là văn hoá các dân tộc Tây Nguyên giữ được những truyền thống khá phong phú và toàn diện cuả một xã hội thuần nông nghiệp gắn bó với rừng núi tự nhiên, bên cạnh đó Việt Nam sớm chịu ảnh hưởng từ hai nền văn minh lớn của loài người là Trung Hoa và Ấn Độ, đặc biệt là văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo từ hai nền văn minh này

1.4.5 Về Lịch sử

Có thể nói trong tiến trình lịch sử của Việt Nam luôn gắn liền với lịch

sử chống ngoại xâm, những người có công lớn trong việc giúp dân, cứu nước được cả cộng đồng tôn sùng và đời đời thờ phụng Trong tâm thức của người Việt luôn tiềm ẩn, chứa đựng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn” Điều đó được thể hiện khá rõ nét trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của họ

1.4.6 Chính sách ngoại giao của các nước lớn, các tổ chức quốc tế

Chính giới một số nước phương Tây, đứng đầu là Mỹ và EU đã công khai ban hành một số đạo luật về vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nhằm “quốc tế hóa” vấn đề tôn giáo ở Việt Nam, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, như: “Dự luật quyền tự do tôn giáo quốc tế-HR2431” (năm 2011), “Dự luật nhân quyền Việt Nam 2012-HR1410), “Nghị quyết H.Res 484 về nhân quyền ở Việt Nam” (năm 2012), Dự luật nhân quyền Việt Nam năm 2014 - HR4254.v.v… Tại cuộc điều trần trước Ủy ban nhân quyền Lantos ngày 23/5/2012, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế Mỹ tiếp

Trang 34

tục khuyến nghị Chính phủ Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt” (CPC) Hàng năm, Bộ Ngoại giao Mỹ đều công bố báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế, trong đó có những nhận xét thiếu khách quan về tình hình tôn giáo Việt Nam Những hoạt động đó đã có những tác động trực tiếp đến việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhất là những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta

Có thể nói có nhiều yếu tố tác động đến những đảm bảo pháp lý quyền

tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói chung Ở Việt Nam 6 yếu tố nêu trên có tác động trực tiếp và sâu sắc nhất đến tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và những đảm bảo pháp lý về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở nước ta

Trang 35

Tiểu kết Chương 1

Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền

cơ bản của con người, quyền này được Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận qua các văn bản như: UDHR, ICCPR, ICESCR, CRC, trên căn bản là tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người Đối với Việt Nam, dưới chế độ mới, các quyền cơ bản của con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cơ bản được Đảng, Nhà nước tôn trọng và đảm bảo, thể hiện qua các văn bản: Nghị quyết 24- NQ/TW năm 1990 của Bộ chính trị, Nghị quyết 25- NQ/TW năm 2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Trên phương diện pháp luật, các Hiến pháp Việt Nam từ năm 1946,

1959, 1980, 1992, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004, nhất là Hiến pháp năm 2013 và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018, đã có sự mở rộng quyền tự do tôn giáo và quy định trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho phù hợp hơn với các văn kiện quốc tế mà Việt Nam

ký kết hoặc tham gia

Trang 36

Chương 2:

THỰC TRẠNG VỀ TÍN NGƯỠNG,TÔN GIÁO

VÀ NHỮNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN TỰ DO

TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM

2.1 Tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình tín ngưỡng ở Việt Nam

Hiện nay, chưa có báo cáo chính thức đánh giá toàn diện về thực trạng đời sống hoạt động tín ngưỡng ở Việt Nam, nhưng qua tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu riêng lẻ, tác giả khái quát một số nét cơ bản về thực trạng đời sống tín ngưỡng ở Việt Nam như sau:

Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo Người dân Việt Nam có truyền thống sinh hoạt, hoạt động tín ngưỡng từ lâu đời Các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình Hiện nay, ước tính Việt Nam

có khoảng 95 % dân số có tín ngưỡng, tôn giáo trong đó: 27% là tín đồ các tôn giáo và khoảng 68% là người có tín ngưỡng ngoài tôn giáo [01] (các hình thức tín ngưỡng dân gian mang tính chất truyền thống, phong tục, tập quán) ở hầu khắp các vùng miền trong cả nước thuộc mọi tầng lớp nhân dân với đối tượng thờ rất phong phú, đa dạng, điển hình là: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; thờ Thành hoàng làng, thờ các anh hùng dân tộc, những người có công với nước, với dân tộc; Tín ngưỡng phồn thực: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ (như linga, yoni) và thờ hành vi giao phối; các tín ngưỡng sùng bái tự nhiên: thờ mẫu Tam phủ; mẫu Tứ phủ Về sau do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa nên có thêm Ngọc Hoàng, Thổ Công và Hà Bá; thờ Tứ pháp: Pháp Vân (thần mây) thờ ở chùa Bà Dâu; Pháp Vũ (thần mưa) thờ ở chùa Bà Đậu; Pháp Lôi (thần sấm) thờ ở chùa Bà Tướng; Pháp Điện (thần chớp) thờ ở chùa

Trang 37

Bà Dàn Hiện nay cả nước có hơn 7000 lễ hội [19, Tr 401] gắn với tín ngưỡng với hình thức phong phú, đa dạng

2.1.2 Tình hình tôn giáo ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có 41 tổ chức của các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận như: Phật Giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, Hồi giáo, Cụ thể về số lượng tín đồ, chức sắc, phạm vi hoạt động của từng tôn giáo như sau:

Phật giáo, được truyền vào Việt nam từ sau công nguyên, đến nay trên

dưới 2000 năm tồn tại và phát triển, hiện nay cả nước có khoảng hơn 47.000 Tăng, Ni sinh hoạt trong giáo hội và khoảng 12 triệu tín đồ đã quy y tam bảo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam công nhận 07 Hội Phật tử Việt Nam sinh sống tại nước ngoài Từ ngày thành lập đến nay giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải qua 7 kỳ đại hội, hiện nay Hội đồng chứng minh có 89 thành viên; Hội đồng trị sự có 199 ủy viên chính thức, 66 ủy viên dự khuyết; 13 Ban chuyên môn, 01 Viện nghiên cứu; cả nước có 04 học viện phật giáo, 01 trường Trung cao đẳng Phật học; 07 lớp cao đẳng Phật học; 32 trường Trung cấp và hàng trăm lớp sơ cấp hàng năm đao tạo hơn 5000 tăng, ni sinh các cấp; ở địa phương có 63 tỉnh, thành phố có tổ chức Phật giáo, có hơn 300 đơn vị có tổ chức phật giáo cấp huyện [2, tr18]

Đạo Công giáo, được truyền vào Việt Nam từ năm 1533, trải qua gần

500 năm tồn tại và phát triển trở thành tôn giáo lớn ở Việt Nam, hiện nay cả

nước có 26 giáo phận thuộc 3 tổng giáo phận là Tổng giáo phận Hà Nội, Tổng giáo phận Huế và Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh với hơn 3000 giáo xứ; có 46 vị giám mục, khoảng hơn 5.000 linh mục; gần 150 dòng tu, tu hội,

tu đoàn với khoảng hơn 23.000 tu sĩ nam, nữ; về cơ sở đào tạo có 7 đại chủng viện đào tạo các chức sắc tôn giáo, có 01 Học viện Công giáo Việt Nam;

Trang 38

khoảng 6,7 triệu tín đồ; Hội đồng Giám mục Việt Nam được thành lập từ năm

1980, đến nay đã trải qua XIII kỳ đại hội (ĐH XIII vào tháng 10 năm 2016) [2,

Tr 26]

Đạo Tin lành, có mặt ở Việt Nam từ năm 1911 do tổ chức Hội Liên hiệp

Cơ đốc và truyền giáo truyền vào Đến năm 1927 thành lập Hội thánh Tin lành Việt Nam trong phạm vi cả nước Sau năm 1954 đất nước chia cắt làm 2 miền, Hội thánh Tin thành cũng thành lập 2 giáo hội lấy tên là Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Bắc) và Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Nam)

Năm 1958 Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Bắc) được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân, đến nay đã trải qua 34 lần đại hội; hiện nay có hơn 150.000 tín đồ 15 chi hội ở 29 tỉnh, thành phố đồng bằng Bắc Bộ và hơn 100.000 tín đồ là người dân tộc Mông các tỉnh phía Bắc

Hội thánh Tin lành Việt Nam (Miền Nam) được Nhà nước công nhận

từ năm 2001, đến nay đã trải qua 46 kỳ đại hội; hiện nay có khoảng 700 ngàn tín đồ và hơn 500 mục sư, mục sư nhiệm chức, truyền đạo đang hoạt động trên địa bàn 34 tỉnh, thành từ Quảng Trị trở vào

Ngoài 2 tổ chức nói trên từ sau khi có Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo đến nay có 7 tổ chức tin lành được công nhận và hoạt động[2, Tr31]

Đạo Cao đài, ra đời vào năm 1926 bằng hình thức cơ bút tại Tây Ninh có

tên gọi là Đại đạo Tam kỳ Phổ độ Đây là tôn giáo nội sinh tại các tỉnh Nam Bộ Trải qua 90 năm phát triển lịch sử đạo Cao Đài đã hình thành các hệ phái khác nhau Từ năm 1995 đến 2010 lần lượt 10 hệ phái Cao Đài và một pháp môn tu hành có tổ chức 2 cấp được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân về tổ chức Hội thành Cao Đài Việt Nam được nhà nước công nhận từ năm 2011, hiện nay đạo Cao Đài có gần 2,5 triệu tín đồ, trên 10 000 chức sắc, 30.000 chức việc, hơn

1300 cơ sở thờ tự tại 37 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước, tập trung ở các tỉnh Nam Bộ như: Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Bến tre, Thành phố Hồ chí Minh, [2, Tr 35]

Trang 39

Phật Giáo Hòa Hảo, là tôn giáo nội sinh do giáo chủ Huỳnh Phú Sổ khai

sáng ngày 18 tháng 5 năm 1939 tại tỉnh An Giang ngày nay Phật Giáo Hòa Hảo được Nhà nước công nhận về tổ chức và tiến hành hoạt động sau khi đại hội lần thứ nhất vào năm 1999, đến nay đã trải qua 4 kỳ đại hội, Phật giáo Hòa Hảo có

tổ chức 2 cấp, cấp trung ương là Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo; cấp cơ sở Ban Trị sự Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo xã, phường, thị trấn hiện nay Giáo hội Phật Giáo Hòa Hảo có 391 Ban trị sự cấp cơ sở tại các tỉnh, thành phố có Phật giáo Hòa Hảo với khoảng 1,3 triệu tín đồ, sinh sống tập trung tại 20 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước, tập trung ở các tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang [2, tr 38]

Hồi giáo, được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ thứ X và phát triển đến

thế kỷ XVII, Hồi Giáo ở Việt Nam có 2 dòng chính là Chăm Islam và Chăm Bàni, hiện nay có khoảng 80.000 tín đồ, trong đó có khoảng 50.000 tín đồ Chăm Bàni sinh sống tập trung tại 3 tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Bình Phước là chủ yếu; Chăm Islam có khoảng 30 000 tín đồ sinh sống tại các tỉnh

An Giang, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai, Ninh Thuận, Cần Thơ, Bình Dương, [2, Tr 39]

Đạo Bà-La-Môn và Baha’i Đạo Bà-La-Môn là tôn giáo hình thành từ

Ấn Độ, với nền văn hóa sông Hằng du nhập vào cộng đồng dân tộc Chăm định cư ở dải đất Miền trung Việt Nam từ đầu công nguyên Người Chăm theo đạo Ba-La-Môn sinh sống tập trung tại 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, hiện nay có khoảng 57.000 tín đồ (Ninh Thuận 42.000; Bình Thuận 15.000 Đạo Bà-La-Môn Được Nhà nước công nhận vào năm 2012 [2, Tr 41]

Đạo Baha’i là tôn giáo được hình thành cuối thế kỷ XIX tại Iran trên cơ

sở học thuyết của Hồi giáo nhưng chủ trương thống nhất các tôn giáo Đạo Baha’i du nhập vào Việt Nam từ năm 1954, Hội đồng Tinh thần đầu tiên được thành lập vào năm 1955, hiện nay có khoảng 7 000 tín đồ sinh sông rải rác

Trang 40

trên địa bàn 46 tỉnh, thành phố trong cả nước Đạo Baha’i được Nhà Nước công nhận vào năm 2008 [2]

Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam, là tôn giáo nội sinh thành lập năm

1934, người sáng lập là ông Nguyễn Văn Bồng sinh năm 1886 tại tỉnh Sa Đéc (nay là tỉnh Đồng Tháp) Năm 2007 được Nhà nước công nhận tổ chức tôn

giáo đối với Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam Hiện nay, Tịnh độ Cư sỹ Phật

hội Việt Nam có 207 Hội quán, trong đó 204 phòng thuốc Nam phước thiện

ở 25 tỉnh, thành phố trong cả nước; có gần 600.000 tín đồ, gần 6 000 vị chức sắc, chức việc sinh sống tập trung tại 25 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong cả nước, tập trung ở các tỉnh phía Nam [2, Tr 42]

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Bửu sơn Kỳ hương

Tứ Ân Hiếu Nghĩa, là tôn giáo nội sinh ra đời vào tháng 5 năm 1867 tại

Cù Lao Ba (huyện An Phú, tỉnh An Giang ngày nay), do ông Ngô Lợi (ông còn có tên gọi khác là Ngô Viện, Cao Văn Do, Bảy Do, Năm Thiếp) sáng lập Ông sinh tại Mỏ Cày - Bến Tre, là sỹ phu Cần Vương, tham gia khởi nghĩa ở vùng Mỹ Tho - Tiền Giang, bị giặc truy nã, ông chạy vào vùng Thất Sơn - An Giang ẩn thân

Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa được Nhà nước công nhận vào năm 2010 (Quyết định số 1114/QĐ-UBND, ngày 16/6/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh

An Giang), cơ cấu tổ chức của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có hai cấp là Đạo hội (cấp toàn đạo) và Gánh (cấp cơ sở) Hiện nay đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có khoảng 62.000 tín đồ phân bố tập trung ở các tỉnh Tây Nam bộ như: An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tiền Giang, Kiên Giang,

Bà Rịa - Vũng Tàu Trong đó, An Giang là trung tâm của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa Sự phân bố tín đồ này cho thấy đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một tôn giáo bản địa, cơ bản giới hạn trong vùng đồng bằng sông Cửu Long [2, Tr44]

Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương là tôn giáo nội sinh do ông Đoàn Minh Huyên

Ngày đăng: 09/03/2018, 09:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w