1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội – qua thực tiễn tòa án nhân dân tỉnh nghệ an

117 236 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực hiện đề tài “Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội- Qua thực tiễnTòa án nhân dân tỉnh Nghệ An”mặc dù có

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN HUY LONG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - QUA THỰC TIỄN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRẦN HUY LONG

ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI

CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI - QUA THỰC TIỄN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THỊ PHƯƠNG NGA

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia

Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trần Huy Long

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài “Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội- Qua thực tiễnTòa

án nhân dân tỉnh Nghệ An”mặc dù có nhiều khó khăn, song bên cạnh những

cố gắng của bản thân, tôi đã nhận đƣợc sự giúp đỡ rất lớn từ thầy cô, gia đình

Do thời gian có hạn và khả năng nhận thức của bản thân cũng nhƣ kinh nghiệm nghiên cứu khoa học, luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận đƣợc sự góp ý của các thầy cô giáo cùng các bạn

để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng năm 2017

Tác giả

Trần Huy Long

Trang 5

XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 61.1.Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật 61.2.Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

hình sự 131.3 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 161.4 Vai trò của áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm 41CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ

SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI QUA

THỰC TIỄN Ở TỈNH NGHỆ AN 432.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội, cơ cấu tổ chức bộ máy Tòa án và tình hình người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh Nghệ An 432.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội có ảnh hưởng tới việc áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm người chưa thành niên phạm tội ở tỉnh Nghệ An 432.1.2 Cơ cấu cán bộ và tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 452.1.3 Tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện ở tỉnh Nghệ

An 47

Trang 6

2.2 Thực trạng lựa chọn quy phạm pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 532.3 Thực trạng tranh tụng tại phiên tòa trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội qua thực tiễn ở tỉnh Nghệ An 58 2.4 Thực trạng ban hành văn bản áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội qua thực tiễn ở tỉnh Nghệ An 612.5 Những hạn chế về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An 68CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM ĐỐI VỚI NGƯỜI

CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 773.1 Đường lối chính sách của Đảng và các giải pháp nhằm nâng cáo chất

lượng về hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người

chưa thành niên phạm tội 773.2 Các giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 813.3 Các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 823.3.1 Giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 823.3.2 Giải pháp về nhân sự nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 893.3.3 Giải pháp về kinh tế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với

người chưa thành niên phạm tội 90

Trang 7

3.3.4 Giải pháp về tuyên truyền nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 933.3.5 Giải pháp về quản lý Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 953.3.6 Giải pháp về tổ chức nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng

pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 973.3.7 Giải pháp về tăng cường hợp tác quốc tế nhằm nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội 99KẾT LUẬN 101DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1044

Trang 9

DANH MỤC BIỂU

Trang

Bảng 2.1 Thống kê tội phạm trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2012 -

2016 48Bảng 2.2 Thống kê tội phạm người chưa thành niên trên địa bàn tỉnh Nghệ

An từ năm 2012-2016 49

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thanh thiếu niên là tương lai của đất nước , có vai trò quan trọng, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, một thực tế cho thấy rằng tội phạm do NCTN gây ra đang là nỗi đau của gia đình, đồng thời là vấn đề nhức nhối của xã hội, đặc biệt là thời điểm hiện nay khi mà tình trạng NCTN phạm tội ở Việt Nam diễn biến ngày càng phức tạp Giải quyết vấn đề NCTN phạm tội là nhiệm vụ cấp bách nhằm giữ gìn ổn định chính trị và trật

tự an toàn xã hội, tuy nhiên đây cũng là một vấn đề phức tạp và tế nhị

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường như hiện nay, cùng với xu hướng hội nhập quốc tế… đời sống kinh tế, xã hội của đất nước đã có bước phát triển vượt bậc Song đi cùng những mặt tích cực là những ảnh hưởng từ mặt trái của kinh tế thị trường như: Các luồng văn hoá phẩm độc hại, lối sống buông thả, sự thiếu quan tâm của gia đình…đã và đang qua các con đường khác nhau tác động tiêu cực đến tư tưởng lối sống của không ít cá nhân, trong

đó đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất là NCTN Trong thời gian qua, cùng với việc xây dựng chủ trương đường lối chính sách phát triển trên tất cả các lĩnh vực Đảng và Nhà nước ta luôn giành sự quan tâm, chăm lo về mọi mặt cho trẻ vị thành niên Đối với vấn đề giải quyết tội phạm là NCTN, Đảng và Nhà nước cũng nêu rõ quan điểm: "Vấn đề không phải chỉ đơn giản là xử một vụ

án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra mọi cách

để làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc sai trái ấy xảy ra" [3] Trên tinh thần đó, Bộ luật TTHS và

Bộ luật hình sự đều đã dành một chương để quy định đối với NCTN phạm tội

Có thể nói, việc quy định như vậy đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để áp dụng khi xử lý đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN Tuy nhiên,

Trang 11

trong thực tiễn áp dụng các quy định này đã nảy sinh nhiều vướng mắc và bất cập

Nghệ An là một tỉnh duyên hải Bắc miền trung có diện tích đất tự nhiên lớn nhất cả nước, điều kiện địa lý có cả đồng bằng, miền núi và trung

du, là một trong những tỉnh có số lượng dân cư lớn Trong những năm vừa qua hòa chung công cuộc đổi mới hội nhập phát triển của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An đã có những bước phát triển tích cực, nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp được hình thành Khu vực kinh tế vừa và nhỏ phát triển mạnh, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, diện mạo xã hội

có nhiều thay đổi kể cả nông thôn và thành thị Tuy nhiên, đi liền với sự phát triển đó là những hệ luy tiêu cực như: Nảy sinh nhiều hành vi phạm tội mới, trong đó tội phạm do NCTN gây ra có những diễn biến hết sức phức tạp, điều này thể hiện ở sự gia tăng về số lượng, phạm vi và tính chất mức độ hành vi phạm tội Bên cạnh đó hoạt động xét xử đối với các tội phạm do người chưa thành niên gây ra còn bộc lộ những bất cập, hạn chế Từ thực trạng trên, vấn đề đặt ra đó là cần phải nghiên cứu một cách trực tiếp, có hệ thống vấn đề này nhằm đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL của TAND ở tình Nghệ An và góp phần ngăn chặn tình trạng NCTN phạm

tội một cách có hiệu quả Vì vậy, tác giả chọn vấn đề “Áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội - Qua thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An” làm đề tài nghiên cứu luận

văn thạc sĩ Luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến NCTN phạm tội và ADPL trong xét xử hình sự, xét xử NCTN phạm tội đã được một số nhà khoa học và cán bộ làm công tác thực tiễn tiến hành, công bố trong các công trình khoa

Trang 12

học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, một số giáo trình giảng dạy, bài viết trên tạp chí và một số sách chuyên khảo đã nghiên cứu về vấn đề này

Cụ thể đã có những công trình tiêu biểu sau đây:

- Một số sách chuyên khảo và một luận án, luận văn đề cập đến áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong xét

xử hình sự đối với NCTN phạm tội:

+ Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí (Đồng chủ biên), “Cải cách tư

pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước Pháp quyền” Đại học

Quốc gia Hà Nội - Khoa Luật

+ Vũ Thị Thu Quyên (2003), “Hoàn thiện pháp luật bảo đảm quyền

của người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ

luật học

+ Lê Xuân Thân (2004), “Áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử

của Tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ luật học

- Một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành:

+ Trần Văn Dũng (2000), “Quyết định hình phạt trong trường hợp

người chưa thành niên phạm nhiều tội”, Tạp chí luật học, số 5

+ Đặng Thanh Nga (2002), “Khía cạnh tâm lí của tội phạm vị thành

niên cần được chú ý trong điều tra truy tố và xét xử”, Tạp chí tâm lý học,

số 5

+ Chương Minh Mạnh (2002), “Phân loại tội phạm với việc quy định

trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên”, Tạp chí kiểm sát số 8

+ Dương Tuyết Miên (2002), “Quyết định hình phạt đối với người

chưa thành niên phạm tội” Tạp chí luật học, số 4

+ Nguyễn Tất Viễn (2000), “Tòa án người chưa thành niên”, Tạp chí

Vì trẻ thơ, số chuyên đề

Trang 13

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách trực tiếp, đầy đủ về việc áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét

xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của TAND nói chung và của TAND ở tỉnh Nghệ An nói riêng Tuy nhiên, những công trình, bài viết nói trên là nguồn tư liệu quý giá, có giá trị tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về áp dụng pháp luật đối với NCTN phạm tội Tuy nhiên, đây là một vấn đề mới, rất phức tạp, nên tác giả luận văn chỉ tập trung nghiên cứu vấn đề lý luận

và thực tiễn của việc áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội của TAND ở tỉnh Nghệ An

4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích nghiên cứu của Luận văn là đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của TAND ở tỉnh Nghệ An theo yêu cầu của cải cách tư pháp

Để đạt được mục đích nói trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:

Một là, phân tích cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong giai đoạn

xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của TAND ở tỉnh Nghệ An hiện nay

Hai là, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu

quả áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của TAND ở tỉnh Nghệ An trong thời gian tới

5 Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận khoa học, đúng đắn là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của

Trang 14

Đảng, Nhà nước ta về Nhà nước, pháp luật, pháp chế trong đấu tranh phòng chống tội phạm, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân,

vì nhân dân

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của triết học Mác - Lênin, để đảm bảo nội dung nghiên cứu cũng như tính khoa học, lôgic giữa các vấn đề, luận văn sử dụng một số phương pháp cụ thể như: Phân tích, tổng hợp, so sánh… để giải quyết vấn đề đặt ra

6 Ý nghĩa và giá trị của luận văn

Ở mức độ nhất định, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tư liệu tham khảo phục vụ yêu cầu nâng cao chất lượng ADPL trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của TAND nói chung, TAND ở tỉnh Nghệ An hiện nay Bên cạnh đó, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến hoạt động xét xử, xét xử NCTN phạm tội của TAND nói chung, TAND ở tỉnh Nghệ An nói riêng; xây dựng kỹ năng nghề nghiệp, thao tác nghiệp vụ cho cán bộ làm công tác xét xử trước yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp hiện nay

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn có kết cấu 3 chương

Chương 1:Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối

với người chưa thành niên phạm tội

Chương 2:Thực trạng áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với

người chưa thành niên phạm tội qua thực tiễn ở tỉnh Nghệ An

Chương 3:Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật

trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

Trang 15

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬTTRONG XÉT XỬ

SƠ THẨM ĐỐIVỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI

1.1 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật

1.1.1 Khái niệm

Qua nhiều nghiên cứu của các nhà chuyên môn, cho thấy, THPL bao gồm các hình thức tuân thủ PL, thi hành PL, sử dụng PL và ADPL Các hình thức THPL đều có những đặc trưng riêng về nội dung, chủ thể thực hiện, loại hành vi và loại quy phạm sử dụng tương ứng nhưng luôn có một mục đích chung, một mối quan hệ chặt chẽ và khăng khít với nhau, nhằm biến các QPPL thành các quy tắc xử sự chung và thống nhất, đưa những quy phạm mang tính lý thuyết áp dụng vào đời sống thực tế, góp phần để PL thực hiện

có hiệu quả trong thực tiễn ADPL chính là một trong những hình thức THPL

Áp dụng pháp luật là hoạt động mà Nhà nước thông qua CQNN, cá nhân có thẩm quyền hoặc tổ chức xã hội được Nhà nước trao quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của PL hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của PL để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt QHPL[39]

Khái niệm này chỉ rõ rằng ADPL là hành vi của CQNN, cán bộ, công chức có thẩm quyền hay một tổ chức được giao quyền, căn cứ vào quy định của PL tiến hành theo trình tự, thủ tục do PL quy định để giải quyết một trường hợp cụ thể Ví dụ như: Xét xử một việc phạm tội, giải quyết một vụ tranh chấp về dân sự, hành chính, kinh tế… xác định quyền hoặc nghĩa vụ của một công dân, hay quyết định phạt vi phạm đối với một đối tượng cụ thể và cũng là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước mà mỗi một cơ quan,

Trang 16

cá nhân có thẩm quyền chỉ được ADPL trong phạm vi nhất định do luật định Hoạt động này là hoạt động điều chỉnh cá biệt đối với một chủ thể trong một quan hệ nhất định và được tiến hành theo thủ tục chặt chẽ được quy định trong các QPPL

Đối tượng của ADPL được chia thành hai nhóm chính gồm nhóm cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực ban hành các văn bản QPPL và nhóm cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước, nhóm cơ quan cá nhân có thẩm quyền trong lĩnh vực tư pháp

Mỗi một nhóm đối tượng thực hiện việc ADPL trong mỗi lĩnh vực khác nhau, có đặc trưng riêng nên các QPPL quy định về quyền hạn, chức năng nhiệm vụ của mỗi nhóm cũng cơ bản khác nhau Mỗi nhóm đối tượng ADPL đều phải tuân theo trình tự, thủ tục thực hiện việc ADPL riêng biệt để điều chỉnh cho các chủ thể riêng biệt Tuy nhiên giữa các nhóm đối tượng ADPL luôn có mối quan hệ gắn bó, khăng khít và tương hỗ cho nhau để thực hiện tốt chức trách nhiệm vụ được giao, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội Góp phần xây dựng pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.2 Đặc điểm của áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là một trong những hình thức THPL có những đặc điểm đặc trưng riêng, luôn có sự tham gia của CQNN và cá nhân có thẩm quyền

ADPL là hoạt động điều chỉnh cá biệt đối với một chủ thể và trong một quan hệ nhất định ADPL không phải cho những chủ thể trừu tượng, chung chung mà cho các chủ thể cụ thể thông qua các quyết định của cơ quan có thẩm quyền; Là hoạt động thể hiện tính quyền lực Nhà nước thì mỗi một cơ quan, loại cơ quan, mỗi cán bộ có thẩm quyền chỉ được ADPL trong một phạm vi nhất định mà Nhà nước đã quy định Tuỳ theo từng loại quan hệ phát sinh để PL quy định thẩm quyền xử lý loại quan hệ đó là của CQNN nào;

Trang 17

ADPL là hoạt động đòi hỏi tính sáng tạo của người ADPL PL là những quy tắc xử sự chung, do vậy khi ADPL, các CQNN có thẩm quyền, người có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của

nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản ADPL và tổ chức thi hành; Mặt khác, ADPL là hoạt động tuân theo trình tự thủ tục chặt chẽ mà trình tự thủ tục này đã được PL quy định Các cơ quan có thẩm quyền khi ADPL đều phải tuân theo các thủ tục được PL quy định cụ thể tại các QPPL, và các quy định

xử lý khi có sai phạm nhằm đảm bảo tính khách quan trong hoạt động ADPL

Có thể thấy, ADPL là hoạt động mang tính tổ chức, thể hiện quyền lực Nhà nước, được thực hiện thông qua những CQNN có thẩm quyền, nhà chức trách, hoặc các tổ chức xã hội khi được Nhà nước trao quyền, nhằm cá biệt hoá những QPPL vào các trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể Bảo đảm cho PL được tôn trọng và thực thi một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và khi đó các quyền, nghĩa vụ của chủ thể sẽ được thực hiện, bảo

vệ trong thực tế, các hành vi vi phạm PL sẽ được xử lý nghiêm minh và kịp thời ADPL là hoạt động diễn ra hàng ngày và trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật thì hoạt động ADPL thường do cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo thủ tục hành chính như các quyết định khen thưởng, kỷ luật, quyết định giao đất, thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính Trong hoạt động tư pháp, ADPL thường được Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tiến hành theo thủ tục tố tụng nhất định

để thu thập chứng cứ, xác minh, điều tra, truy tố, xét xử nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ việc để có quyết định giải quyết vụ việc đúng luật [39]

Hình thức thể hiện chính thức của hoạt động ADPL là văn bản ADPL Văn bản ADPL do những cơ quan có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế Nhà nước có tính chất cá biệt, chỉ áp dụng

Trang 18

một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định Văn bản ADPL phải hợp pháp và phù hợp với thực tế, phải phù hợp với luật

và dựa trên những QPPL cụ thể, nếu không phù hợp thì văn bản ADPL sẽ bị đình chỉ hoặc hủy bỏ Văn bản ADPL là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp mà khi thiếu nó nhiều QPPL không thể thực hiện được Văn bản ADPL được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định như: Bản án, quyết định,…

Như vậy, văn bản ADPL là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các CQNN có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ xác định những quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm PL[39]

1.1.3 Các trường hợp và các giai đoạn áp dụng pháp luật

Việc ADPL được thực hiện đối với các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thể mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của Nhà nước

Trường hợp thứ hai: Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể đã phát sinh nhưng có sự tranh chấp mà các chủ thể không thể tự giải quyết được và yêu cầu Nhà nước can thiệp

Trường hợp thứ ba: Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước đối với các chủ thể có hành vi vi phạm PL

Trường hợp thứ tư: Khi Nhà nước thấy cần phải tham gia để kiểm tra, giám sát các bên tham gia QHPL hoặc để xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một sự kiện thực tế nào đó

Mỗi một hình thức THPL đều được thực thi trong cuộc sống qua các giai đoạn cụ thể ADPL cũng vậy, được tiến hành qua các giai đoạn [48]:

Giai đoạn: Phân tích, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ việc cần ADPL

và các đặc trưng pháp lý của chúng

Trang 19

Khi ADPL, cơ quan có thẩm quyền xem xét toàn bộ các tình tiết của sự việc, phân tích chứng minh những sự kiện có liên quan Với những trường hợp theo luật định thì phải sử dụng các biện pháp chuyên môn để xác định độ tin cậy của các sự kiện Đây là giai đoạn đầu của quá trình ADPL, đòi hỏi người có thẩm quyền ADPL phải nghiên cứu khách quan, toàn diện, đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ việc, xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc, tuân thủ các quy định mang tính thủ tục đối với mỗi loại vụ việc Đồng thời phải đánh giá được tầm quan trọng về mặt pháp lý của mỗi vụ việc

Giai đoạn: Lựa chọn QPPL cần áp dụng và làm sáng tỏ nội dung, ý nghĩa của QPPL đó

Trên cơ sở thực hiện tốt các yêu cầu trong giai đoạn phân tích, làm sáng tỏ những tình tiết của vụ việc cần ADPL và các đặc trưng pháp lý của chúng thì cần tìm kiếm lựa chọn các QPPL tương ứng để áp dụng Với giai đoạn này thì cần phải xác định được vụ việc đó do ngành luật nào điều chỉnh, lựa chọn các quy phạm cụ thể tương ứng, còn hiệu lực và không trái, không mâu thuẫn với các đạo luật, các văn bản QPPL khác để đem ra áp dụng Sau khi lựa chọn được các QPPL thì vận dụng đồng thời các phương pháp logic, phương pháp giải thích về mặt văn phạm, phương pháp giải thích về mặt lịch

sử, phương pháp giải thích về mặt hệ thống… để giải thích luật, giúp cho luật được nhận thức đầy đủ và đúng đắn

Tuy nhiên, trong quá trình làm luật, do đời sống xã hội quá phức tạp, các vụ việc xảy ra trong thực tế vô cùng đa dạng, phong phú mà khả năng nhận thức của con người chỉ có hạn nên các nhà làm luật không thể dự kiến được hết tất cả các trường hợp hoặc các quan hệ xã hội phát triển quá nhanh nên khi xây dựng và ban hành luật thì nó chưa xảy ra khiến các nhà làm luật không dự kiến việc điều chỉnh nó dẫn đến tình trạng có những vụ việc có tính chất pháp lý, liên quan đến lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng xã hội hoặc

Trang 20

của cá nhân buộc các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải giải quyết, nhưng trong HTPL lại không có QPPL nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó để

có thể lựa chọn đưa vào áp dụng giải quyết cho vụ việc

Vì vậy, các chủ thể có thẩm quyền lựa chọn thực hiện việc ADPL tương tự để bảo vệ một cách kịp thời lợi ích hợp pháp và chính đáng của Nhà nước, của xã hội, của cá nhân

- Áp dụng pháp luật tương tự là hoạt động giải quyết các vụ việc thực

tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền ADPL khi trong HTPL không có QPPL nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó

Áp dụng pháp luật tương tự vừa mang các đặc điểm của ADPL nói chung vừa có những đặc điểm riêng làm cho nó khác với các trường hợp ADPL khác Là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế, cụ thể khi trong HTPL không có QPPL nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc, tức là không có khuôn mẫu trực tiếp do Nhà nước quy định cho việc giải quyết vụ việc nên ADPL tương tự chỉ được tiến hành khi có đủ những điều kiện nhất định nhằm hạn chế đến mức tối đa sự tuỳ tiện của người áp dụng

Áp dụng pháp luật tương tự có thể chia thành hai hình thức cơ bản là áp dụng tương tự QPPL và áp dụng tương tự PL

- Áp dụng tương tự QPPL là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế

cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền ADPL dựa trên cơ sở QPPL điều chỉnh

vụ việc khác có nội dung tương tự như vậy

Việc áp dụng tương tự QPPL chỉ có thể được tiến hành khi chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc, tức là

vụ việc đó phải thuộc phạm vi điều chỉnh của PL, đó là quan hệ xã hội cần phải được điều chỉnh bằng PL và chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được một cách chắc chắn rằng trong HTPL không có QPPL nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó nhưng có quy phạm điều chỉnh vụ việc khác có nội

Trang 21

dung tương tự như vậy Đồng thời, phải xác định được một cách cụ thể quy phạm tương tự đó nằm trong điều khoản nào của văn bản QPPL nào để có thể coi đó là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết vụ việc của mình

- Áp dụng tương tự PL là hoạt động giải quyết các vụ việc thực tế cụ thể của các chủ thể có thẩm quyền ADPL dựa trên cơ sở các nguyên tắc chung của PL và ý thức PL

Việc áp dụng tương tự PL chỉ có thể được tiến hành khi chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được tính chất pháp lý của vụ việc và chủ thể có thẩm quyền áp dụng phải xác định được một cách chắc chắn rằng trong HTPL không có QPPL nào trực tiếp điều chỉnh vụ việc đó và cũng không có QPPL nào điều chỉnh vụ việc khác có nội dung tương tự

Việc ADPL tương tự được dùng nhiều trong lĩnh vực dân sự, đặc biệt phổ biến trong các vụ án tranh chấp dân sự liên quan đến lĩnh vực kinh doanh thương mại, thương mại quốc tế, hôn nhân gia đình, hoặc lao động vì mối quan hệ giao dịch dân sự được xác lập dựa trên nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận do đó tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự là đa dạng, phong phú

và phức tạp nên không thể dự đoán được hết các tình huống phát sinh trong mối quan hệ dân sự để ban hành điều luật điều chỉnh Riêng trong lĩnh vực hình sự, việc ADPL tương tự là khá ít và thường không phổ biến [14]

Giai đoạn: Ban hành văn bản ADPL

Đây là giai đoạn thể hiện kết quả của các giai đoạn trên Với giai đoạn này, các cơ quan có thẩm quyền ra văn bản quy định quyền và nghĩa vụ pháp

lý cụ thể của các chủ thể PL hoặc các biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với

vi phạm Đây là phán quyết cuối cùng mang tính pháp lý, là việc vận dụng những quy định pháp lý chung thể hiện trong các văn bản QPPL để cá biệt hóa, cụ thể hóa cho trường hợp cụ thể Quyết định ADPL được ban hành phải phù hợp với các QPPL đưa ra áp dụng Các văn bản ADPL phải được ban

Trang 22

hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục, đúng mẫu quy định, với nội dung rõ ràng, cụ thể, đúng đối tượng và chỉ được áp dụng một lần

Giai đoạn: Tổ chức thực hiện văn bản ADPL

Đây là giai đoạn cuối cùng của quá trình ADPL Với giai đoạn này cần tiến hành các hoạt động nhằm đảm bảo việc các văn bản ADPL được thực hiện đúng đắn và đầy đủ Đồng thời, tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo việc thi hành văn bản ADPL được thực hiện nghiêm túc và đưa các quyết ADPL trở thành hiện thực trong đời sống

1.2 Cơ sở lý luận về áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự

1.2.1 Khái niệm

“Xét xử” là từ Hán Việt được hiểu theo nghĩa là xem xét và phán xử Theo từ điển Luật học năm 2006, xét xử là “Hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [1, tr.428] Xét xử là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của Tòa án

và Tòa án là cơ quan duy nhất được đảm nhiệm chức năng xét xử theo quy định của PL Việt Nam hiện nay, thông qua đó Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo

vệ pháp chế XHCN và các quan hệ xã hội được PL hình sự bảo vệ

Xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng và của toàn

bộ HTPL tố tụng nói chung nhằm áp dụng các biện pháp do luật định để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ toàn bộ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ

án Hoạt động xét xử của Tòa án góp phần quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế cho các hoạt động quản lý khác của Nhà nước Thông qua hoạt động xét xử, Tòa án không chỉ xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm PL mà còn thực hiện kiểm tra giám sát các hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền Góp phần bảo vệ quyền con người,

Trang 23

quyền công dân, bảo vệ tài sản Nhà nước, tài sản tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, quyền tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân, bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Khác với hoạt động kiểm tra, giám sát và thanh tra của các cơ quan Nhà nước khác, hoạt động kiểm tra, giám sát của Tòa án không tiến hành thường xuyên và trực tiếp mà chỉ thể hiện rõ thông qua hoạt động xét xử, thông qua các phiên tòa xét xử vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại và lao động Có thể nói, xét xử là khâu trung tâm của quá trình thực thi quyền tư pháp, góp phần đảm bảo cho các hoạt động khác của cơ quan Nhà nước được thực thi đúng PL, kiểm tra, giám sát các hoạt động khác của Nhà nước và thực hiện việc trừng phạt khi có vi phạm, cùng với các cơ quan Nhà nước thực hiện quyền điều hành, xây dựng và quản lý đất nước trên mọi mặt của đời sống xã hội

Pháp luật TTHS Việt Nam hiện nay xác định nguyên tắc hai cấp xét xử: Xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm, trong đó xét xử sơ thẩm là trọng tâm và

có vai trò quan trọng trong hoạt động của Tòa án Theo từ điển Luật học thì

“Xét xử sơ thẩm là một từ Hán Việt, có nghĩa là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét

xử tại một Tòa án có thẩm quyền” [1, tr.344] Đối với vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết vụ

án hình sự, mọi tài liệu chứng cứ của vụ án do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa, quyền và nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được thực hiện một cách công khai, đầy đủ nhất

Như vậy, xét xử sơ thẩm là việc xét xử lần thứ nhất (cấp thứ nhất) do Tòa án được giao thẩm quyền thực hiện theo quy định của PL Theo Bộ luật TTHS Việt Nam thì xét xử sơ thẩm được xác định như là một giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết một vụ án hình sự

Trang 24

Mỗi một cấp xét xử, hay thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực PL của Tòa án đều trải qua các giai đoạn của việc ADPL Tuy nhiên cấp xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên, nên có ý nghĩa và vai trò hết sức đặc biệt Việc xác định đúng, ADPL đúng tại giai đoạn xét xử sơ thẩm sẽ hạn chế phát sinh ADPL trong phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm Nhưng nếu, tại cấp xét xử sơ thẩm, không giải quyết được thỏa mãn vấn đề, có kháng cáo, kháng nghị thì sẽ kéo theo hệ quả đó là việc phát sinh xét xử ở cấp phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm để xem xét lại việc ADPL của cấp sơ thẩm Tuy nhiên, tất cả các cấp xét xử, hay thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm cũng đều có một nhiệm vụ và mục đích chung chính là xử phạt nghiêm minh những người vi phạm PL, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và chế độ xã hội chủ nghĩa

Vậy, ADPL trong giai đoạn xét xử sơ thẩm là hoạt độngmà Nhà nước thông qua cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát hoặc các cá nhân như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Hội thẩm nhân dân… được Nhà nước trao quyền tổ chức cho các chủ thể là người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của PL hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của PL để ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hay chấm dứt QHPL trong lần xét xử cấp thứ nhất tại của Tòa án có thẩm quyền

1.2.2 Nội dung của áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm

Như đã phân tích, xét xử sơ thẩm hình sự là một giai đoạn độc lập trong TTHS, giai đoạn này được tính từ khi Tòa án nhận được hồ sơ kèm theo quyết định truy tố của Viện kiểm sát chuyển đến và Tòa án vào sổ thụ lý Cũng bắt đầu thời điểm này Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành ADPL

Pháp luật TTHS Việt Nam phân chia giai đoạn xét xử sơ thẩm hình

sự thành các bước cụ thể theo tiến trình hoạt động tố tụng của Tòa án:

Trang 25

Chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa Việc ADPL trong các bước này có

sự khác biệt nhau

Tại khoản 2 Điều 176 và Bộ luật TTHS năm 2003 quy định trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có thể đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật sau đây: Đưa vụ án ra xét xử; Trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án; Áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Ngoài ra đối với những vụ án phức tạp Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử Đối với vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết, Tòa án quyết định chuyển vụ án đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết [27] Trong quá trình sửa đổi Bộ luật TTHS thì những quy định này vẫn tiếp tục được duy trì tại các điều 277 và 278 của Bộ luật TTHS 2015

Hội đồng xét xử nhân danh Nhà nước tổ chức cho những người tiến hành tố tụng (trong đó có HĐXX) và người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của PL, nhằm thẩm tra đánh giá toàn bộ các chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa; xem xét các lý lẽ cơ sở buộc tội và gỡ tội của các bên đưa ra để từ

đó HĐXX đưa ra những phán quyết là văn bản ADPL Trong xét xử sơ thẩm tại phiên tòa, HĐXX quyết định về việc thay đổi thành viên của HĐXX, Kiểm sát viên, Thư ký phiên tòa, chuyển vụ án yêu cầu điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án, việc bắt giam hoặc trả tự do cho bị cáo… Đặc biệt, thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, Tòa án ra bản án là văn bản ADPL, quyết định bị cáo có phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác

1.3 Cơ sở lý luận về áp dụngpháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

1.3.1 Khái niệm, đặc điểm

Khoản 1 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2003 quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự do người có năng

Trang 26

lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp kháccủa công dân xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [26]”

Bộ luật Hình sự 2015 đã đưa ra một khái niệm “tội phạm” đã có sự thay đổi theo đó có thêm quy định đối với pháp nhân thương mại, đồng thời bổ sung trường hợp xâm phạm quyền con người được quy định cụ thể tại Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015

Với quy định trên thì có thể khái quát về phạm tội là gì Phạm tội là việc chủ thể của luật hình sự thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ luật Hình sự coi đó là tội phạm, xâm hại đến quan hệ được PL hình sự bảo

vệ Người phạm tội là một thể nhân hoặc pháp nhân đã phạm vào một hoặc một số tội cụ thể theo quy định của Bộ luật Hình sự Chủ thể phạm tội là thể nhân có thể là người đã thành niên, hoặc là NCTN theo quy định của Bộ luật Hình sự

Theo Từ điển tiếng Việt thì khái niệm NCTN được định nghĩa như sau:

"Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân" [23,tr.224] Theo quy định tại Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm

1990 thì: "Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn [18]" Bên cạnh Công ước về quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc

về việc ADPL đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1992 cũng là một văn bản PL quốc tế quan trọng

đề cập đến khái niệm "Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi" như là

Trang 27

một sự kế thừa của Công ước về Quyền trẻ em Quy tắc Riát về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN được Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 mặc dù không đưa ra khái niệm cụ thể về NCTN, song thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu NCTN là người dưới 18 tuổi Tuy nhiên, do sự phát triển của từng quốc gia khác nhau, nên khái niệm NCTN ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công ước về Quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ tuổi cho NCTN, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản PL cũng quy định không thống

nhất về vấn đề này

Theo PL Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng như tiếp thu các văn bản PL quốc tế mà các nhà làm luật đã đưa ra khái niệm

về NCTN, tuỳ theo từng lĩnh vực điều chỉnh của từng ngành luật, như sau: Khoản 1 - Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: "Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên [31]" và Bộ luật Lao động cũng quy định người lao động chưa thành niên là người dưới 18 tuổi Như vậy, có thể thống nhất một quan điểm là NCTN là người dưới 18 tuổi Quan điểm này cũng hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em ngày 20/2/1990 mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên

Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự 1999 thì người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự

về hành vi phạm tội, còn người chưa thành niên dưới 14 tuổi thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Trong đó, người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa

đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do

cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm [26] Nhận thấy bất cập ở quy định

Trang 28

này Bộ luật Hình sự 2015 đã thêm điều khoản loại trừ đối với người phạm tội

từ đủ 16 tuổi trở lên tại Khoản 1 Điều 12; Bổ sung thêm tội và quy định cụ thể các tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng mà người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự tại Khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015

Vấn đề đặt ra là tại sao PL hình sự lại quy định người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự và người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm nhất định? Quy định này của Bộ luật Hình sự về mặt lý luận có thể hiểu, người chưa đủ 14 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà

họ gây ra vì người chưa đủ 14 tuổi, trí tuệ chưa phát triển đầy đủ nên chưa nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình, chưa đủ khả năng tự chủ khi hành động nên họ không bị coi là có lỗi về hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện Một hành vi được coi là không có lỗi cũng tức là không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên họ không phải chịu trách nhiệm hình

sự (loại trừ trách nhiệm hình sự) Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ

16 tuổi được coi là người chưa có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự Do

đó, họ cũng chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm chứ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tất cả các tội phạm Quy định này cũng thể hiện chính sách nhân đạo trong PL hình sự của Đảng và Nhà nước ta

Theo Điều 50 Bộ luật TTHS 2003 (Khoản 1 Điều 61 Bộ luật TTHS 2015) quy định: “Bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử” như vậy, căn cứ vào quy định này và quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự nêu trên, thì có thể hiểu bị cáo là NCTN là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử [27]

Từ phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về NCTN phạm tội như

Trang 29

sau:NCTN phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện

hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự quy định là tội phạm và bị Tòa

án kết tội bằng một bản án có hiệu lực PL

Người ở giai đoạn tuổi chưa thành niên có các đặc điểm tâm sinh lý rất đặc trưng thể hiện qua một số mặt sau [20, tr.17-25]:

Về trạng thái cảm xúc: NCTN là người đang trong quá trình phát triển

cả về sinh lí, tâm lí và ý thức Sự phát triển cơ thể mất cân bằng nên đã dẫn đến tình trạng mất cân bằng tạm thời trong cảm xúc, nên đây được coi là giai đoạn diễn ra những biến cố rất đặc biệt của NCTN Chính vì vậy những trạng thái thần kinh, cảm xúc không cân bằng này có thể là yếu tố gây nên các hành

vi sai trái Điều này thể hiện qua nhiều các trường hợp, chỉ vì những mâu thuẫn nhỏ, và sự thiếu kiềm chế mà nhiều NCTN đã có nhũng hành động không đúng, thâm chí là hành vi phạm tội

Về nhận thức PL: Sự thiếu cân đối về mặt trí tuệ do sự phát triển nhanh phát triển nhanh về mặt sinh học Cùng với những kinh nghiệm sống ít ỏi, khả năng nhận thức về PL còn nhiều hạn chế Một bộ phận không nhỏ NCTN chỉ

vì muốn thỏa mãn nhu cầu, hứng thú của bản thân mà đã không nhìn thấy hậu quả nguy hiểm cho xã hội từ hành vi phạm tội của mình gây ra

Về nhu cầu độc lập: Đây được hiểu là việc một người tự ra quyết định

và hành động theo ý chí của mình không phụ thuộc vào người khác Nếu nhu cầu này mà phát triển ở mức độ thái quá thì nó sẽ dẫn đến những mặt tiêu cực, điều này thường thể hiện ở những hành vi như: Ở lứa tuổi chưa thành niên, nhu cầu độc lập thái quá thường biểu hiện ra bên ngoài dưới dạng các hành vi như ngang bướng, cố chấp, dễ tự ái, Đây đều là những hành vi, dễ dẫn tới các hành vi phạm tội

Về nhu cầu khám phá cái mới: Đây là nhu cầu của các em ở lứa tuổi

chưa thành niên Lúc này NCTN thường muốn thể hiện mình, chứng minh

Trang 30

mình là người lớn thông qua các hoạt động như: Giao tiếp, tiếp xúc với nhiều bạn bè, những người hơn tuổi mình Nhưng đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới hành vi phạm tội của các em, nếu các em không được sự quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội quan tâm đúng mức

Đối với NCTN phạm tội, là chủ thể của tội phạm thì phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và phải đạt một độ tuổi theo luật định Một người được coi là có năng lực trách nhiệm hình sự thì phải đạt tới một độ tuổi nhất định, có khả năng nhận thức đầy đủ về tính chất pháp lý của hành vi của mình và có đầy đủ khả năng điều khiển được hành vi phù hợp với đòi hỏi của

xã hội Mặt khác họ không mắc những bệnh làm mất hoặc hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình Đối với NCTN phạm tội, là chủ thể đặc biệt Độ tuổi từ 14 đến 16 là độ tuổi tâm sinh lý rất nhạy cảm, ngay cả khi đã đủ 18 tuổi thì cũng chưa thể nói là khả năng nhận thức của họ đầy đủ được Do đó, từ 14 đến dưới 16 tuổi, các em chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự

về tội phạm rất nghiệm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Không chỉ vậy, mặc dù quy định từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm nhưng việc xem xét áp dụng mọi biện pháp điều tra, truy tố hay xét xử đều được Nhà nước hết sức quan tâm, chỉ cho phép sử dụng những biện pháp riêng do luật định để áp dụng đối với NCTN phạm tội Ngay

cả khi Tòa án ra phán quyết cuối cùng thì cũng luôn cân nhắc về tình tiết độ tuổi, nhận thức của các em, xem đó như một tình tiết giảm nhẹ để cân nhắc khi đưa ra hình phạt Vì vậy, trong mỗi giai đoạn giảiquyết vụ án, việc xác định độ tuổi của người phạm tội luôn có ý nghĩa nhất định Trong giai đoạn xét xử cũng vậy, việc xác định tuổi của bị cáo là NCTN rất quan trọng vì đây

là căn cứ áp dụng các biện phápđể ngăn chặn, áp dụng các thủ tục đặc biệt, và đưa ra phán quyết cuối cùng hợp tình, hợp lý, đúng luật đối với bị cáo nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho NCTN

Trang 31

Pháp luật nói chung và PL hình sự nói riêng luôn luôn coi NCTN là đối tượng đặc biệt cần được bảo vệ không chỉ trong cuộc sống hàng ngày mà ngay cả khi quyền trẻ em bị xâm phạm cần được bảo vệ hoặc khi đối tượng này vi phạm PL Luật hình sự bảo vệ NCTN bị coi là người phạm tội và cũng quy định một chế tài riêng để xử lý, thủ tục tố tụng cũng phải phù hợp với lứa tuổi chưa thành niên nhằm thể hiện tính nhân đạo trong chính sách PL của Đảng và Nhà nước Việt Nam Vì vậy, Bộ luật TTHS năm 2003 đã có một chương riêng (Chương XXXII) quy định về thủ tục tố tụng đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là NCTN Tuy nhiên, trong Điều 301 (Hiện nay được quy định tại Điều 413 Bộ luật TTHS 2015) quy định về phạm vi áp dụng

"Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên", nhà làm luật Việt Nam đã không ghi nhận khái niệm pháp lý "Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên" là gì? Qua nghiên cứu các quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN trong chương này, chúng ta có thể hiểu: Các quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN có những đặc trưng riêng so với thủ tục tố tụng áp dụng đối với người thành niên Những đặc trưng này thể hiện ở các quy định về tiêu chuẩn của người tiến hành tố tụng, về đối tượng phải chứng minh, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, việc bào chữa, việc tham gia của gia đình, nhà trường và tổ chức xã hội vào tố tụng cũng như công tác xét xử và thi hành án Bộ luật TTHS cũng quy định các quyền tố tụng và bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án được khách quan, toàn diện, đúng PL đối với đối tượng này

Hoạt động xác định sự thật khách quan về tội phạm và người thực hiện tội phạm trong xét xử NCTN phạm tội cũng như việc xác định tổng hợp các yếu tố cấu thành tội phạm là: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm thì phải chú trọng đến: Tuổi, trình độ phát triển về thể chất

và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội của NCTN; điều kiện sinh hoạt và giáo dục; có hay không có người thành niên xúi giục; nguyên

Trang 32

nhân và điều kiện phạm tội Các quy định trên thể hiện quan điểm coi trọng việc xử lý NCTN phạm tội trong hoạt động xét xử của Tòa án, nó đòi hỏi phải xem xét đầy đủ các khía cạnh liên quan đến NCTN để từ đó áp dụng biện pháp xử lý đúng đắn, có hiệu quả trong giáo dục cải tạo NCTN phạm tội, đồng thời có ý nghĩa trong phòng ngừa tội phạm

ADPL trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội là một dạng của ADPL nói chung Nhà nước thông qua Tòa án bằng hoạt động xét xử quyết định về trách nhiệm hình sự và những chế tài hình sự đối với NCTN phạm tội trong phiên tòa sơ thẩm Nghiên cứu về ADPL trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói chung, xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội nói riêng chủ yếu là nghiên cứu việc ADPL thông qua hoạt động của Tòa án, HĐXX (thẩm phán, hội thẩm) bằng các quyết định, bản án kể từ khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đến khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định hình sự sơ thẩm

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của Tòa án nhân dân là một hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực Nhà nước Trong đó lần đầu tiên Tòa án nhân danh Nhà nước, căn cứ vào các quy định của PL hình sự và các quy định khác của PL để đưa

vụ án ra xét xử và ban hành một bản án, một quyết định, quyết định người đó

có tội hay không có tội, quyết định trách nhiệm hình sự nếu họ có tội và trách nhiệm dân sự nếu có

Trên cơ sở những đặc điểm của ADPL nói chung và xuất phát từ khái niệm ADPL trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội, kết hợp với thực tiễn của hoạt động xét xử có thể thấy ADPL trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội của Tòa án nhân dân có một số đặc điểm cơ bản sau

Thứ nhất, ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội là hoạt

động nhân danh quyền lực Nhà nước của Toà án có thẩm quyền lần đầu tiên

Trang 33

đưa vụ án ra xét xử với HĐXX đảm bảo sự hiểu biết cần thiết để xử lý đúng đắn NCTN phạm tội

Toà án nhân dân là chủ thể ADPL Việc xét xử đối với mọi tội phạm nói chung và NCTN phạm tội nói riêng đều được thực hiện bởi các Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm Khi xét xử NCTN phạm tội, HĐXX đòi hỏi phải

do những Thẩm phán tiến hành tố tụng "Có những hiểu biết cần thiết về tâm

lý học, khoa học giáo dục cũng như về hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của người chưa thành niên" khoản 1 Điều 302 Bộ luật TTHS “Đặc biệt

là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh" (Điều

307 Bộ luật TTHS)[27] Đối với quy định này thì Bộ luật TTHS 2015 sắp có hiệu lực cũng đã tiếp tục đưa quy định này vào Điều 415 Bộ luật TTHS 2015

Thứ hai, ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội ngoài

việc đảm bảo quy định chung còn phải tuân theo những quy định riêng chặt chẽ về trình tự thủ tục tố tụng đối với NCTN do Bộ luật TTHS quy định

Mọi hành vi của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng trong quá trình xét xử từ khi thụ lý hồ sơ đến khi bản án, quyết định có hiệu lực PL và tổ chức thi hành các quyết định của bản án, quyết định đều được Bộ luật TTHS điều chỉnh ViệcADPL về thủ tục trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội ngoài việc tuân thủ những quy định chung của Bộ luật TTHS về xét

xử sơ thẩm còn phải tuân theo những quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội Pháp luật TTHS coi đây là thủ tục đặc biệt và quy định thành một chương riêng trong Bộ luật TTHS năm 1988 cũng như Bộ luật TTHS năm 2003 và đòi hỏi mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử phải tuân theo Theo đó việc ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội về trình tự, thủ tục phải đảm bảo sự tuân thủ đầy đủ các quy định của chương này đồng thời theo quy định về thủ tục tố tụng đối với NCTN là điều kiện bắt buộc để Toà án ADPL về trình tự thủ tục trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN

Trang 34

phạm tội Bên cạnh đó, việc ADPL về thủ tục trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội còn cần phảiADPL về luật nội dung bởi lẽ trong một số QPPL hình thức đã chứa đựng luật nội dung hoặc bao hàm các khái niệm đòi hỏi cả việc

áp dụng QPPL nội dung mới có thể ra được quyết định ADPL đúng đắn Hiện nay Bộ luật TTHS 2015 vẫn tiếp tục duy trì và bổ sung những quy định về thủ tục tố tụng đặc biệt đối với “người dưới 18 tuổi” nhằm đáp ứng yêu cầu thời gian tới đây sửa đổi Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

Thứ ba, ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của Toà

án là quá trình cá biệt hoá các QPPL hình sự, đảm bảo các nguyên tắc xử lý NCTN phạm tội được Bộ luật Hình sự quy định để xác định có hay không có tội phạm, quyết định một trách nhiệm hình sự giảm nhẹ trong trường hợp họ

có tội và trách nhiệm dân sự nếu trường hợp PL có quy định

Việc đảm bảo thực hiện các nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội được Bộ luật Hình sự quy định, cũng như các QPPL nội dung quy định về trách nhiệm dân sự của NCTN trong Bộ luật Dân sự là nét đặc thù trong hoạt động ADPL của Toà án khi xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội

1.3.2 Nội dung của áp dụng pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01 tháng

7 năm 2000 có 24 chương và 344 điều luật, được sửa đổi, bổ sung ngày 19 tháng 6 năm 2009 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 có 24 chương và

342 điều luật (đã bỏ đi 2 tội quy định tại điều 199 và điều 131) Trong số 24 chương thì có 14 chương quy định các loại tội phạm cụ thể tương ứng với 265 loại tội phạm Tuy nhiên đối với NCTN thì có một số loại tội phạm không thể

bị ADPL để xét xử vì đó là các loại tội phạm chỉ xảy ra với chủ thể có tư cách đặc biệt như “Tội tham ô tài sản”, “Tội ra bản án trái PL”… Nghiên cứu hoạt

Trang 35

động ADPL đối với người chưa thành niên phạm tội cho thấy việc ADPL thường diễn ra trên các nội dung sau:

- Theo đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên và thực tiễn xét

xử thì trong số các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện thì loại tội phạm chiếm tỷ lệ cao nhất là tội trộm cắp tài sản, đây là loại tội phạm người chưa thành niên thực hiện rất phổ biến, thủ đoạn phạm tội thường ít có tính chất tinh vi xảo quyệt, thông thường người phạm tội thấy có sơ hở trong việc quản lý tài sản là tiến hành chiếm đoạt ngay, từ đó cho thấy tính chất cơ hội trong hành vi trộm cắp của người người chưa thành niên để có phương hướng

Dựa vào các loại QPPL áp dụng, chia thành: ADPL nội dung (QPPL hình sự); ADPL hình thức (QPPL TTHS)

Trên thực tế các dạng ADPL trong quá trình xét xử sơ thẩm đối với vụ

án hình sự thường đan xen giữa ADPL nội dung và ADPL hình thức; và ở bất

cứ công đoạn nào cũng là việc áp dụng cùng lúc, trong một thể thống nhất luật hình thức và luật nội dung Chính vì vậy việc phân chia các dạng ADPL như đã nêu trên đây là tương đối và chỉ có ý nghĩa trong việc nghiên cứu khoa học Việc ADPL ở mỗi lĩnh vực đều có sự khác nhau cơ bản Đặc biệt là trong trường hợp ADPL đối với người chưa thành niên phạm tội và người chưa

Trang 36

thành niên vi phạm PL Có thể nhìn thấy rõ sự khác nhau đó qua hai lĩnh vực

cụ thể là dân sự, hành chính và hình sự

Đối với PL dân sự, quy định độ tuổi hoặc việc thực hiện quyền của người chưa thành niên hoàn toàn khác trong hình sự Trong dân sự, trừ người chưa thành niên từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã tham gia lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì những người chưa thành niên khác khi tham gia tố tụng cả hình sự lẫn dân sự đều phải có người đại diện theo PL hoặc người giám hộ

Với PL hành chính thì tại khoản 3 Điều 25 Luật Tố tụng hành chính

2015 quy định: “Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, nếu họ không có người khởi kiện thì Viện kiểm sát kiến nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú cử người giám

hộ đứng ra khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người đó [30]”

Có thể thấy, trong cả lĩnh vực hình sự, hay dân sự, hành chính đều xem người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên khi họ tham gia tố tụng tài Tòa

án Những người chưa thành niên đều được phân chia theo độ tuổi khác nhau

Từ các độ tuổi này, trong luật dân sự, hành chính thì quy định quyền và xác định tư cách tham gia tố tụng của họ Còn trong luật hình sự, việc quy định độ tuổi của người chưa thành niên, giúp xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình

sự, xác định được tội danh khi người chưa thành niên phạm tội

Trình tự thủ tục giải quyết vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại, lao động, có những điểm khác nhau cơ bản Nên khi tham gia tố tụng trong lĩnh vực nào thì các cơ quan tiến hành tố tụng hay người chưa thành niên, đại diện người chưa thành niên, người giám hộ của họ phải

Trang 37

tuân theo trình tự thủ tục quy định trong lĩnh vực đó Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, hành chính có sự tham gia của người chưa thành niên, thì luật tố tụng dân sự và luật tố tụng hành chính đều có quy định rõ về chế định đại diện của đương sự Có thể là đại diện theo PL hoặc đại diện theo ủy quyền Việc giải quyết đơn khởi kiện vụ án dân sự, vụ án hành chính, thực hiện các trình tự tố tụng để có thể thụ lý đơn kiện và thực hiện việc xây dựng

hồ sơ vụ án là thẩm quyền và trách nhiệm của Thẩm phán và Thư ký Tòa án Riêng với các vụ án có người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, thì ngoài việc thu thập chứng cứ từ nguồn chứng cứ do người chưa thành niên hoặc đại diện hợp pháp của họ cung cấp, Thẩm phán cần đáp ứng các yêu cầu

về thu thập chứng cứ của họ Và trong một số trường hợp đặc biệt, người chưa thành niên không phải là người tham gia tố tụng, nhưng PL quy định Tòa án phải hỏi lấy lời khai hoặc bản tự trình bày đối với những người này

Qua đó, cho thấy chế định quy định về độ tuổi, quyền của người chưa thành niên, hay trình tự thủ tục giải quyết vụ án có người chưa thành niên trong lĩnh vực hình sự với dân sự, hành chính có nhiểu điểm cơ bản khác nhau Mỗi lĩnh vực có một hệ thống quy định áp dụng riêng cho người chưa thành niên khi tham gia tố tụng nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng PL Việt Nam mang tính nhân đạo, khoan hồng, và dựa trên các tiêu chuẩn, quy định chung trong Công ước mà Việt Nam là thành viên Vì vậy, các quy định đó được xây dựng trên tinh thần chung là bảo vệ quyền con, đặc biệt là đối tượng đó là người chưa thành niên

1.3.3 Các giai đoạn của áp dụng pháp luật trong xét xử sơ thẩm đối với người chưa thành niên phạm tội

Dựa vào lý luận về phân chia các giai đoạn của ADPL nói chung, có thể vận dụng để nghiên cứu về các giai đoạn của hoạt động ADPL trong xét

xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội Hoạt động ADPL trong xét xử sơ thẩm

Trang 38

đối với NCTN phạm tội của Tòa án là rất phức tạp, các vụ việc thực tế lại rất

đa dạng và không giống nhau Việc ADPL là quá trình đồng thời áp dụng QPPL hình thức và QPPL nội dung Tuy nhiên mục đích chính của ADPL trong xét xử sơ thẩm đối với NCTN phạm tội của Tòa án là ra văn bản ADPL, bằng bản án hình sự sơ thẩm quyết định trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Thực tế trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, Tòa án

có thể không đi đến bản án hình sự sơ thẩm mà bằng các văn bản ADPL khác giải quyết vụ án Việc phân chia các giai đoạn ADPL trong xét xử sơ thẩm NCTN phạm tội là dựa vào quy trình đầy đủ và dựa trên tiêu chí áp dụng các quy phạm nội dung Theo đó có thể phân thành các giai đoạn cụ thể sau:

- Giai đoạn thụ lý, nghiên cứu hồ sơ vụ án đánh giá về thủ tục tố tụng

và chứng cứ

Giai đoạn này được coi là giai đoạn mở đầu trong quá trình ADPL để giải quyết vụ án theo thủ tục xét xử sơ thẩm Nó không đồng nhất với các giai đoạn (hay các bước) của hoạt động xét xử kế tiếp nhau Theo lý luận chung về ADPL thì đây là giai đoạn phân tích đánh giá các tình tiết khách quan, hoàn cảnh, điều kiện của vụ việc được xem xét

Bộ luật TTHS năm 2003 không quy định cụ thể việc thụ lý hồ sơ vụ án hình sự nhưng thực tế hoạt động tố tụng bao giờ cũng diễn ra việc Tòa án tiếp nhận hồ sơ kèm theo văn bản truy tố của Viện kiểm sát chuyển đến Việc tiếp nhận hồ sơ, ghi vào sổ theo dõi (sổ thụ lý) là những bước tố tụng ban đầu có ý nghĩa quan trọng cho công tác chuẩn bị xét xử của Tòa án

Qua kiểm tra hồ sơ, đối chiếu danh mục tài liệu thống kê trong hồ sơ, nếu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án chưa đầy đủ so với bản kê tài liệu hoặc bản cáo trạng chưa được giao cho bị can, thì không nhận hồ sơ và yêu cầu bổ sung Nếu tài liệu có trong hồ sơ đầy đủ theo bản kê và bản cáo trạng đã được giao cho bị can, thì Tòa án nhận và vào ngay sổ thụ lý hồ sơ vụ án Sau khi hồ

Trang 39

sơ vụ án được thụ lý, Chánh án Tòa án phân công ngay Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa Thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa phải xem xét tài liệu, chứng cứ để có được bản án chính xác, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng PL

Trong thời gian chuẩn bị xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải nghiên cứu hồ sơ, xem xét đánh giá chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án là việc làm quan trọng trước khi mở phiên tòa của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân Đây là hoạt động tư duy pháp lý do đó đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm phải có kiến thức PL và hiểu biết thực tế sâu sắc, toàn diện, có khả năng tổng hợp và khái quát toàn bộ diễn biến của vụ án, có những kế sách và dự kiến tình huống theo diễn biến của phiên tòa Trên cơ sở đánh giá chứng cứ qua hoạt động nghiên cứu hồ sơ, Thẩm phán, Hội thẩm phát hiện những vấn đề còn mâu thuẫn hoặc còn thiếu chứng cứ để cân nhắc giữa việc đưa vụ án ra xét xử với việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung Nếu qua đánh giá chứng cứ xác định chưa đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử thì căn cứ vào điều 179 Bộ luật TTHS để quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung Nếu qua đánh giá chứng cứ xác định đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử thì Thẩm phán, Hội thẩm phải dự kiến và lập phương án thẩm vấn tại phiên tòa Việc đánh giá chứng cứ phải đáp ứng yêu cầu quy định tại điều 66 Bộ luật TTHS là: “Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực, liên quan đến vụ án hình sự” [27], nội dung này hiện nay vẫn được giữ nguyên trong Điều 108 Bộ luật TTHS 2015 Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án dùng làm căn cứ để xác định hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự Chứng cứ không chỉ được cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trong quá trình điều tra, truy

Trang 40

tố mà còn được Tòa án thu thập trong giai đoạn xét xử sơ thẩm trên cơ sở đảm bảo đúng quy định của Bộ luật TTHS Việc Tòa án có thể thu thập chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hay chính tại phiên tòa trong nhiều trường hợp bị cáo, người bị hại, người bào chữa… xuất trình nhiều tài liệu, đồ vật có giá trị chứng minh đối với vụ án đã được HĐXX lập biên bản thu giữ theo quy định, và được xem xét, đánh giá trong quá trình xét xử vụ án

Việc đánh giá chứng cứ của HĐXX không chỉ diễn ra trong quá trình nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị cho hoạt động xét xử sơ thẩm mà còn diễn ra trong hoạt động xét xử tại phiên tòa Đặc biệt theo yêu cầu của cải cách tư pháp đang đặt ra hiện nay thì việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa HĐXX muốn đánh giá chứng cứ tại phiên tòa thì thực hiện thông qua việc xét hỏi đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng (trừ người bào chữa) đồng thời thông qua quá trình phân tích, đánh giá các quan điểm, chứng cứ do các bên tham gia để có những kết luận chính xác, khách quan

Trong các bước của quá trình giải quyết vụ án, xét hỏi tại phiên tòa là bước quan trọng để HĐXX đánh giá chứng cứ một cách toàn diện, khách quan Đây được xem là cuộc điều tra công khai, trong đó HĐXX không chỉ hỏi bị cáo và những người tham gia tố tụng mà còn công bố tài liệu, lời khai, chứng cứ và những nội dung liên quan tới vụ án Thông qua đó, HĐXX kiểm tra tính khách quan, chính xác của các chứng cứ trong vụ án Đối với những phiên tòa xét xử NCTN phạm tội, trong khi xét hỏi ngoài việc tuân thủ những yêu cầu chung trên đây để làm rõ hành vi phạm tội, hậu quả do tội phạm gây

ra còn phải chú trọng xác định rõ độ tuổi, trình độ phát triển về thể chất và tinh thần, mức độ nhận thức về hành vi phạm tội, điều kiện sinh hoạt, môi trường giáo dục, nguyên nhân và điều kiện phạm tội

Ngày đăng: 09/03/2018, 09:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm