những vấn đề thường gặp, tìm được việc làm, biết lập nghiệp và cải thiện đờisống một ngày tốt hơn.Trước thực tiễn đó, từ năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đãtiến hành đổi mới ch
Trang 1Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Độc lập – Tự do – Hạnh phúc -o0o -
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“MỘT SỐ KỸ THUẬT LÀM MẪU NGÂM ĐỘNG VẬT CÓ XƯƠNG SỐNG”
PHẦN II: PHẦN NỘI DUNG
A LỜI NÓI ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Do nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao, đặc biệt là khi nước ta đangchuyển mình bước vào thời kì Công nghiệp hóa – Hiện đại hoá, thì vị trí củangành giáo dục càng được nâng lên và chú trọng hơn nhằm mục đích đào tạo ranhững con người mới XHCN có đức, có tài, có năng lực để đáp ứng được nhucầu phát triển của toàn xã hội
Sự nghiệp xây dựng XHCN ở nước ta đang phát triển với tốc độ ngàycàng cao, với qui mô ngày càng lớn và đang được tiến hành trong điều kiện cáchmạng khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão nó tác động một cách toàn diệnlên mọi đối tượng, thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Một trong những trọng tâmcủa sự phát triển đất nước là đổi mới nền giáo dục, phương hướng giáo dục củaĐảng, Nhà nước và của ngành giáo dục và đào tạo trong thời gian trước mắtcũng như lâu dài là đào tạo những con người " Lao động, tự chủ, sáng tạo" cónăng lực thích ứng với nền kinh tế thị trường, có năng lực giải quyết được
Trang 2những vấn đề thường gặp, tìm được việc làm, biết lập nghiệp và cải thiện đờisống một ngày tốt hơn.
Trước thực tiễn đó, từ năm học 2002 – 2003 Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đãtiến hành đổi mới chương trình sách giáo khoa ở tất cả các môn học, nhằm nângcao hơn nữa chất lượng giáo dục để đáp ứng nhu cầu của thực tế Để bồi dưỡngcho học sinh năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, lý luận dạy học hiệnđại khẳng định: Cần phải đưa học sinh vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức,học trong hoạt động Học sinh bằng hoạt động tự lực, tích cực của mình màchiếm lĩnh kiến thức Quá trình này được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ góp phầnhình thành và phát triển cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo
Tăng cường tính tích cực phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh trongquá trình học tập là một yêu cầu rất cần thiết, đòi hỏi người học tích cực, tự lựctham gia sáng tạo trong quá trình nhận thức
Bộ môn Hoá học ở phổ thông có mục đích trang bị cho học sinh hệ thốngkiến thức cơ bản, bao gồm các kiến thức về cấu tạo chất, phân loại chất và tínhchất của chúng Với việc nắm vững các kiến thức cơ bản sẽ góp phần nâng caochất lượng đào tạo ở bậc học, trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản đểhọc sinh tham gia vào các lao động sản xuất và các hoạt động sau này
Để đạt được mục đích trên, ngoài hệ thống kiến thức về lý thuyết là cơbản thì hệ thống bài tập Hoá học giữ một vị trí và vai trò rất quan trọng trongviệc dạy và học Hoá học ở trường phổ thông nói chung, đặc biệt là lớp 8, lớp 9 ởtrường THCS nói riêng Bài tập Hoá học giúp người giáo viên kiểm tra đánh giákết quả học tập của học sinh, từ đó phân loại học sinh để có kế hoạch giảng dạysát với đối tượng Qua nhiều năm giảng dạy chương trình hóa học khối trunghọc cơ sở, bản thân tôi thấy rõ nhiệm vụ của mình cần trang bị cho học sinhnhững kiến thức cơ bản nhất để làm nền tảng cho cấp học tiếp theo Muốn thựchiện được điều đó người giáo viên dạy hoá học phải nắm vững nội dung chươngtrình, phương pháp giảng dạy và cần nắm vững hệ thống các bài tập cơ bản củatừng chương, nhất là cách giải tổng quát cho từng dạng bài tập, biết sử dụng bàitập phù hợp với từng nội dung giảng dạy như : kiểm tra bài cũ, hệ thống bài tập
Trang 3củng cố, bài tập về nhà, luyện tập, kiểm tra , nhằm đánh giá mức độ nhận thứckiến thức của học sinh Từ đó đưa ra bài tập ở các mức khác nhau cho từng đốitượng học sinh khác nhau: Giỏi, Khá , TB, Yếu.
Bài tập Hoá học rất đa dạng và phong phú song với những nhận thứctrên, là một giáo viên giảng dạy tại trường phổ thông Dân tộc nội trú Tôi thấychất lượng đối tượng học sinh ở đây chưa đồng đều, một số học sinh vận dụngkiến thức để giải bài toán Hoá học chưa được thành thạo Vì vậy muốn nâng caochất lượng bộ môn người giáo viên cần suy nghĩ tìm ra phương pháp giảng dạy.Phân loại các dạng bài tập Hoá học phù hợp với đặc điểm của học sinh, nhằmphát triển năng lực tư duy, sáng tạo và gây hứng thú học tập cho các em
Từ những vấn đề trên, với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vàoviệc tìm tòi phương pháp dạy học thích hợp với những điều kiện hiện có của đơn
vị, nhằm phát triển tư duy của học sinh, giúp các em tự lực hoạt động tìm tòichiếm lĩnh tri thức, tạo tiền đề quan trọng cho việc phát triển tư duy của các em
ở các cấp học cao hơn Nên tôi đã chọn đề tài: "Phân dạng bài toán Hoá học lớp
9 "
II Sơ lược đề tài
Phân dạng các bài toán Hoá học nhằm nâng cao chất lượng học tập mônhoá học của học sinh lớp 9 ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Hà Tiên
Việc phân dạng các bài toán Hoá học sẽ đạt được hiệu quả cao và sẽ làtiền đề cho việc phát triển năng lực trí tuệ của học sinh ở cấp học cao hơn, khigiáo viên sử dụng linh hoạt và hợp lý hệ thống các dạng bài tập hoá học theomức độ và trình độ tư duy của học sinh phù hợp với đối tượng học sinh lớp 9
Trong đề tài này tôi đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa họcnhư: Phân tích lý thuyết, điều tra cơ bản, tổng kết kinh nghiệm sư phạm và sửdụng một số phương pháp thống kê toán học trong việc phân tích kết quả thựcnghiệm sư phạm …
Tham khảo các tài liệu đã được biên soạn và phân tích hệ thống các dạngbài toán hoá học theo nội dung đã đề ra
Trang 4Trên cơ sở đó tôi đã trình bày các dạng bài toán hoá học đã sưu tầm vànghiên cứu để nâng cao khả năng, trí tuệ của học sinh.
Một số học sinh có tư duy hoá học phát triển là năng lực quan sát tốt, cótrí nhớ lô-gíc, nhạy bén, có óc tưởng tượng linh hoạt phong phú, ứng đối sắc xảovới các vấn đề của hoá học và làm việc có phương pháp
III Phạm vi của đề tài:
1 Nêu lên được cơ sở lý luận của việc phân dạng các bài toán Hoá họctrong quá trình dạy và học
2 Tiến hành điều tra tình hình nắm vững kiến thức cơ bản của học sinhlớp 9 ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú
3 Hệ thống bài toán Hoá học theo từng dạng
4 Bước đầu sử dụng việc phân loại các dạng bài toán Hoá học, nhằm giúpcho học sinh lĩnh hội các kiến thức một cách vững chắc và rèn luyện tính độc lậphành động và trí thông minh của học sinh
B THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
I Thực trạng tình hình.
Ở trường Phổ thông dân tộc nội trú Hà Tiên nói riêng và địa bàn các vùngdân tộc khmer nói chung lực học của các em học sinh ở đây chưa đồng đều vàcòn có những em học yếu, nhất là các môn thuộc khoa học tự nhiên Trongnhững môn khoa học tự nhiên, môn hóa học là môn khó học nhất, khó ở chỗ các
em chưa xác định bài toán thuộc dạng nào cần đi theo hướng nào để giải
Lý do cơ bản dẫn đến các em còn hạn chế trong việc giải các bài tập là các
em còn lười học lý thuyết, không biết áp dụng các kiến thức từ lý thuyết vàothực hành, ít chịu suy nghĩ, tìm tòi cách giải các bài tập hóa học Các em ít chịuđem những bài tập khó đi trao đổi cách giải với bạn bè, hoặc với thầy cô trựctiếp giảng dạy, mặc dù các thầy cô giảng dạy ở cùng các em trong nội trú Nênkhả năng tiếp cận với các bài tập hóa học của các em là rất ít
Ngoài ra các bài tập trong sách giáo khoa đôi khi chưa đi sát với nội dungbài, có những bài tập thì quá khó đối với những học sinh trung bình, yếu Khicác em có học lực trung bình, yếu nếu gặp phải làm không được đâm ra chán
Trang 5nản lâu dần các em thường bỏ luôn và dẫn đến các em bị hổng kiến thức Điềunày càng làm cho sức học của các em yếu khi đó việc giải một bài tập hóa họcđối với các em là vô cùng khó khăn
Một thực trạng mà hiện nay nhiều học sinh mắc phải là các em học sinh học
lý thuyết thì thuộc lòng nhưng không biết làm các bài tập, nhiều lý do dẫn đếnđiều đó trong đó có cả trường hợp một số em tuy thuộc bài nhưng không hiểuđược nội dung do vốn tiếng Việt của các em còn hạn chế Một số em bị hổng vềkiến thức về môn toán nên khi gặp các công thức các em không biết biến đổinhư thế nào hoặc là làm sai
Ví dụ: Công thức tính nồng độ phần trăm C% = m ct
m dd.100 % thì các em chỉ biếttính có nồng độ phần trăm thôi, còn khi hỏi về khối lượng dung dịch thì các emkhông biết biến đổi công thức
Nhiều em hiểu được lý thuyết nhưng không biết một bài toán phải bắt đâu từđâu Một số em thì lại giải bài toán một các máy móc như trong sách giáo khoa,còn khi gặp một bài toán khác với dạng trong sách giáo khoa là các em bị bối rốikhông biết phải giải như thế nào, giải làm sao
II Những hạn chế, khó khăn khi giải quyết vấn đề.
-Đại đa số các em đều sinh sống ở vùng sâu vùng xa, vốn Tiếng Việt cònhạn chế nên việc nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu còn gặp nhiều khó khăn dẫnđến việc chuẩn bị bài ở nhà của các em chưa đạt yêu cầu Ảnh hưởng lớn đếnviệc giải bài tập của các em
-Học sinh trong trường được tuyển từ nhiều nơi, vùng sâu, vùng xa khácnhau với nhiều hình thức đào tạo đặc biệt là các lớp phổ cập tiểu học dẫn đếntrình độ kiến thức không đồng đều, nhiều em lười nghiên cứu, ngại tư duy dẫnđến thiếu tính sáng tạo trong học tập, làm cho việc học của các em trở nên máymóc
-Tài liệu sách giáo khoa trong thư viện nhiều, đa dạng nhưng những sáchtham khảo với bài toán hóa học hay phù hợp với các em lại thiếu
Trang 6-Những học sinh ở ngoại trú ngoài giờ học về nhà phụ giúp gia đình nênthời gian tự học còn lại rất ít, và các em thường dành chút ít thời gian đó vàoviệc học lý thuyết, nên không có thời gian để giải bài tập Hơn nữa, phần lớnphụ huynh học sinh của các em không quan tâm đến vấn đề học tập, mọi hoạtđộng và học tập của các em phụ huynh thường khoán trắng toàn bộ cho nhàtrường.
-Đại đa số các em rất nhút nhát trong việc bày tỏ ý kiến của mình trướcđám đông, trước các bạn đồng trang lứa Chính điều đó làm cho các em ngại bày
tỏ ý kiến của mình trước lớp chính vì thế làm hạn chế khả năng tìm tòi học hỏilẫn nhau ở các em
-Do sự hiểu biết về ngôn ngữ Khmer của giáo viên còn hạn hẹp nên giảithích vấn đề cho học sinh hiểu là việc hết sức khó khăn
C GIẢI PHÁP VÀ KẾT QUẢ
I Giải pháp.
Để giúp các em xác định được hướng để giải quyết một bài toán hóa học, tôi
đã tiến hành phân dạng các bài toán hóa học, để khi các em học sinh sau khinghiên cứu xong đề bài là các em có thể xác định được bài toán đó phải giải từđâu, giải như thế nào? Khi đã phân dạng các em sau khi nghiên cứu đề bài thìcác em có thể tìm ra hướng giải quyết hơn
Trên đây tôi phân chia bảy dạng toán hóa học thường gặp ở chương trình hóahọc lớp 9
DẠNG 1: TÍNH THEO CÔNG THỨC HÓA HỌC
1 Tìm khối lượng nguyên tố trong a g hợp chất
Ví dụ: Tính số gam cacbon C có trong 11g khí cacbonic CO2 (C = 12; O = 16) Nghiên cứu đề bài: Dựa vào tỉ lệ số mol hoặc tỷ lệ khối lượng giữa cacbon vàkhí cacbonic trong công thức CO2
Hướng dẫn giải
Cách 1Xác định lời giải
Bước 1: Viết CTHH của chất
Lời giảiKhí cacbonic có CTHH: CO2
Trang 7Bước 2: Tính khối lượng mol của hợp
chất và khối lượng của nguyên tố
Bước 1: Qui số gam đầu bài cho ra
mol
Bước 2: Viết CTHH của chất Tính M
Bước 3: Lập quan hệ tỷ lệ mol giữa
nguyên tố và hợp chất Tìm khối lượng
2 Tìm khối lượng hợp chất để trong đó có chứa a mol nguyên tố:
Ví dụ: Cần lấy bao nhiêu gam CH3COOH để trong đó có chứa 12g nguyên tốcacbon?
Nghiên cứu đề bài: Dựa vào tỷ lệ số mol hoặc tỷ lệ khối lượng giữa nguyên tố
và hợp chất
Hướng dẫn giải
Cách 1Xác định lời giải
Bước 1: Viết CTHH của chất Tính M,
nêu ý nghĩa (có liên quan tới chất tìm)
Bước 2: Lập quan hệ với số liệu của
đầu bài
Tính x
Bước 3: Trả lời
Lời giảiCTHH : CH3COOH có : M = 60g
1 mol CH3COOH có chứa 2 mol C
60 g CH3COOH có chứa 24g C
x g CH3COOH có chứa 12 g C
x = 30 g Cần 30 gam CH3COOH
Trang 8Cách 2Xác định lời giải
Bước 1: Qui số gam đầu bài cho ra
mol
Bước 2: Viết CTHH của chất Tính M,
nêu ý nghĩa của CTHH
Bước 3: Lập quan hệ tỷ lệ mol giữa
nguyên tố và hợp chất suy ra số mol
3 Tính tỷ lệ % về khối lượng m của mỗi nguyên tố trong hợp chất:
Ví dụ : Tính tỷ lệ % về khối lượng của Hiđrô trong hợp chất H2SO4
Nghiên cứu đầu bài: Dựa vào tỷ lệ khối lượng giữa hiđro và axit để tính tỷ lệ %
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Viết CTHH của chất Tính M
của hợp chất Khối lượng hiđro có
trong M của chất
Bước 2: Tìm tỷ lệ %
Bước 3: Trả lời
Lời giảiCTHH : H2SO4
M = 98 g
MH = 2.1 = 2g
%H = 2
98.100=2,04 %
H chiếm 2,04 % về khối lượng H2SO4
4 Bài toán so sánh hàm lượng nguyên tố trong hợp chất khác nhau
Ví dụ: Có 3 loại phân bón hoá học sau: NH4NO3 ; (NH4)2SO4 ; NH4Cl trong hợpchất nào chứa nhiều hàm lượng nitơ hơn
Nghiên cứu đầu bài: Tính tỷ lệ % khối lượng của N, suy ra chất nào có nhiều Nhơn
Hướng dẫn giải
Trang 9N có trong NH4NO3 là lớn nhất
DẠNG 2 : BÀI TOÁN VỀ LẬP CÔNG THỨC HÓA HỌC
1 Bài toán lập công thức hoá học khi biết tỷ lệ % về khối lượng của các nguyên tố tạo nên chất
Dạng bài toán này liên quan đến: x : y : z = %A M
Ví dụ 2:Phân tích một hợp chất người ta thấy có thành phần khối lượng là 85,7%
C và 14,3 % H Biết tỷ khối của khí này so với H2 là 28
a, Cho biết khối lượng mol của hợp chất?
Trang 10b, Xác định CTHH
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Hướng dẫn học sinh viết
công thức tổng quát, tìm khối lượng
mol của hợp chất
Bước 2: Tìm khối lượng của từng
nguyên tố; tìm số mol của C ; H
Bước 3: Suy ra x; y
Bước 4: Trả lời
Lời giải CTHH: CxHy
d C x H y/H2= 28 => M C x H y= 2.28 =56
mC =56.85,7100 =48 g ; mH =56.14,3100 = ¿8g
nC = 4812= 4 mol; nH = 81=8 molVậy x = 4 ; y = 8
CTHH là : C4H8
2 Bài toán xác định tên chất:
Ví dụ: Cho 6,5 g một, kim loại hoá trị II vào dd H2SO4 dư người ta thu được2,24 lít H2 ở điều kiện tiêu chuẩn Xác định tên kim loại ?
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Hướng dẫn học sinh đổi ra
số mol theo số liệu đầu bài
Trang 11Nghiên cứu đầu bài: Biểu thức có liên quan m = n.M
Vậy 24 g CH4 chứa 1,5 mol CH4
2 Tính khối lượng của n mol chất
Ví dụ : Tính khối lượng của 5mol H2O
Nghiên cứu đầu bài: Biểu thức có liên quan m = n.M
Tính khối lượng mol M
Bước 2: Xác định khối lượng của 5
3 Tính số nguyên tử hoặc số phân tử có chứa trong n mol chất
Ví dụ: Tính số phân tử CH3Cl có trong 2 mol phân tử CH3Cl
Nghiên dứu đầu bài: Biểu thức có liên quan đến A = n.6.1023
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Xác định số phân tử hoặc số
nguyên tử có trong 1 mol chất
Lời giải
N = 6.1023
Trang 12Bước 2: Xác định số phân tử hoặc số
nguyên tử có trong n mol chất
Bước 3: Tính A trả lời
A = n.6.1023 = 2.6.1023 = 12.1023
Vậy : 2mol CH3Cl chứa 12.1023 phân
tử CH3Cl
4 Tìm số mol có trong A nguyên tử hoặc phân tử
Ví dụ: Tính số mol H2O có trong 1,8.1023 phân tử H2O
Nghiên cứu đề bài : Bài toán có liên quan đến biểu thức A = n.N (N= 6.1023)
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Xác định số phân tử hoặc số
nguyên tử có trong 1 mol chất
Bước 2: Xác định số mol có A phân tử
Có 0,3 mol H2O trong 1,8.1023 phân tử H2O
5 Tìm số mol có trong A nguyên tử hoặc phân tử
Ví dụ: Tính khối lượng của 9.1023 nguyên tử Cu:
Nghiên cứu đề bài : công thức có liên quan A = n.N (N= 6.1023), m =n.M
Ví dụ: Tính thể tích của 3 mol khí trong V lít khí CH4 ở đktc?
Nghiên cứu đề bài: Biểu thức có liên quan V = n.22,4
Hướng dẫn giải
Trang 13Bước 1: Xác định thể tích của 1 mol
DẠNG 4 :BÀI TOÁN TÍNH THEO PHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC
1 Tìm số mol của chất A theo số mol xác định của 1 chất bất kỳ trong PTHH
Ví dụ: Tính số mol Na2O tạo thành nếu có 0,2 mol Na bị đốt cháy
Nghiên cứu đầu bài: Tính số mol Na2O dựa vào tỷ lệ số mol giữa số mol Na và
số mol Na2O trong PTHH
Híng dÉn gi¶iXác định lời giải
Bước 1: Viết PTHH xảy ra
Bước 2: Xác định tỷ lệ số mol giữa
chất cho và chất tìm
Bước 3: Tính n chất cần tìm
Bước 4: Trả lời
Lời giải 4Na + O2 →2Na2O 4mol 2mol0,2 mol 0,1 mol
Có 0,1 mol Na2O
2 Tìm số g của chất A theo số mol xác định của 1 chất bất kỳ trong PTHH
Ví dụ: Tính số g CH4 bị đốt cháy Biết rằng cần dùng hết 0,5 mol O2 và sảnphẩm tạo thành là CO2 và H2O ?
Hướng dẫn giải
Xác định lời giải
Bước 1: Viết PTHH xảy ra
Bước 2: Xác định tỷ lệ số mol giữa
0,25 mol 0,5 mol
m CH4= 0,25.16 = 4g
3 Tìm thể tích khí tham gia hoặc tạo thành