1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phân loại và xử lý chất thải y tế tại nguồn của nhân viên y tế Thành phố Biên Hòa

84 2,8K 44

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,08 MB
File đính kèm kien thuc nhan vien y te.rar (416 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một đề tài khảo sát kiến thức kiến thức, thái độ, thực hành phân loại và xử lý chất thải y tế tại nguồn của nhân viên y tế Thành phố Biên Hòa. Kết quả cho thấy Bác sĩ biết qui chế quản lý chất thải TTYT là 03 người chiếm tỉ lệ 17,64%, BVĐK có 3 người chiếm tỉ lệ 39%. Các Điều dưỡng biết qui chế qui lý chất thải TTYT là 42 người chiếm tỉ lệ 41,18%, BVĐK là 22 người chiếm tỉ lệ 39%. Bác sĩ hiểu biết về phân loại chất thải theo nhóm biết đúng 5 nhóm ở TTYT là 02 người chiếm tỉ lệ 11,76%, BVĐK có 08 người chiếm tỉ lệ 72,73%.Các Điều dưỡng sự hiểu biết về phân loại chất thải theo nhóm biết đúng 5 nhóm TTYT là 28 người chiếm tỉ lệ 27,45%, BVĐK là 55 người chiếm tỉ lệ 98,21%.Đề tài có trích dẫn tài liệu tham khảo rõ ràng, thích hợp làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học y, y tế công cộng

Trang 1

BỆNH VIỆN ĐA KHOA BIÊN HÒA

KHOA NGOẠI

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

“ Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành phân loại

và xử lý chất thải y tế tại nguồn của nhân viên

y tế Thành phố Biên Hòa ”

từ tháng 7/2013- 9/2013

Người thực hiện: Phạm Thị Kim Hoa

Trang 2

MỤC LỤC

1.ĐẶT VẤN ĐỀ :………3

2 TỔNG QUAN Y VĂN :……… 7

3 ĐỐI TƯỢNG & PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU :………47

4 KẾT QUẢ :………49

5 BÀN LUẬN & KIẾN NGHỊ :……… 59

6 TÀI LIỆU THAM KHẢO :……… 63

Trang 3

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ

Một trong những khu vực chính của mối quan tâm hiện nay là quản lý chất thải, cụ thể hơn là "quản lý chất thải bệnh viện", đã có rất nhiều mối nguy hiểm sức khỏe cho người dân về bệnh tật và tử vong Chất thải bệnh viện trực tiếp dẫnđến từ chẩn đoán của bệnh nhân, phòng ngừa, nghiên cứu, giảm mục đích

thương tật và điều trị, cũng như chất thải tạo ra từ tất cả các bộ phận khác của việc điều trị & chăm sóc sức khỏe, chất thải Bệnh viện là lây nhiễm rất cao và nguy hiểm, chúng có thể mang mầm bệnh đáng sợ như viêm gan B và C (vàng

da ), và HIV / AIDS

Báo cáo trường hợp nhiễm do tiếp xúc với chất thải y tế Một quản lý bệnh viện ở Mỹ bị nhiễm khuẩn tụ cầu và viêm nội tâm mạc sau chấn thương kim chích Tác động đến sức khỏe của chất thải y tế Năm 1992, tám trường hợp nhiễm HIV được công nhận là bệnh nhiễm trùng nghề nghiệp Hai trong số những trường hợp này , liên quan đến bị kim đâm qua da gây vết thương, xảy ra trong khi xử lý chất thải y tế Tại Hoa Kỳ Trong tháng 6 năm 1994, 39 trường hợp nhiễm HIV đã được công nhận bởi Trung Tâm Phòng chống dịch bệnh như nhiễm trùng nghề nghiệp , với những con số dẫn chứng sau :

• 32 vết thương do kim tiêm dưới da

• 1 chấn thương lưỡi

• 1 chấn thương kính (kính vỡ ra khỏi một ống chứa máu nhiễm)

• 4 từ tiếp xúc của da hoặc niêm mạc với máu bị nhiễm bệnh

Vào tháng Sáu năm 1996, các trường hợp bị thương tích được công nhận nhiễmHIV nghề nghiệp có tăng lên Tất cả các trường hợp này là y tá , bác sĩ, và nhânviên phòng xét nghiệm (World Health Organization Geneva 1999)

Trang 4

Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính trong năm 2002 có 21 triệu bệnh nhânnhiễm HBV, 260.000 người nhiễm HIV từ các ống tiêm bị ô nhiễm

Nếu chất thải y tế không được quản lí, tái sử dụng trực tiếp sẽ gây nguy hiểmcho nhân viên y tế, nhân viên thu gom và cộng đồng

Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, một người được tiêm từ kim tiêm của bệnhnhân có nguy cơ cao lây nhiễm HBV, HCV, HIV, có nguy cơ tương ứng là30% ; 1,8% ; 1,3%

Cũng theo tổ chức y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện cókhoảng 10% là chất thải nhiễm khuẩn, khoảng 5% là chất thải gây độc hại nhưchất phóng xạ, chất gây độc tế bào, các hóa chất độc hại phát sinh trong quátrình chẩn đoán và điều trị Đó là những yếu tố nguy cơ làm ô nhiễm môitrường, lan truyền mầm bệnh từ bệnh viện tới các vùng xung quanh, dẫn tới tăngnguy cơ nhiểm trùng bệnh viện và tăng tỉ lệ bệnh tật của cộng dân cư sốngquanh vùng tiếp giáp

Tại Việt Nam , chất thải y tế hiện đang là một trong những nguồn lớn gây ra

ô nhiễm môi trường, quản lí chất thải y tế là một trong những ưu tiên hàng đầutrong kế hoạch bảo vệ môi trường , theo Cục Quản Lí Môi Trường về y tế ViệtNam cho biết: cả nước có 13 511 cơ sở y tế, tổng lượng chất thải rắn phát sinh

từ các cơ sở y tế khoảng 450 tấn/ngày, trong đó 47 tấn/ngày là chấtb thải rắn y tếnguy hại phải được xử lí bằng những biện pháp phù hơp Tỉ lệ bệnh viện có thựchiện phân loại chất thải rắn y tế là 95,6% Thu gom chất thải rắn y tế hằng ngày

là 90,9%; phương tiện thu gom chất thải rắn y tế như: thùng đựng chất thải, xeđẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩntheo yêu cầu qui chế quản lí chất thải Để tăng cường hiệu quả xử lí chất thải y

tế, ngoài ưu tiên ngân sách cho công tác xử lí môi trường, các bệnh viện cấn đặcbiệt quan tâm đến thực hành phân loại rác thải tại nguồn, để có thể chủ động

Trang 5

giảm bớt lượng rác thải y tế, từ đó kéo giảm bớt cho phí hoạt động thu gom xửlí.

Tại Đồng Nai, trong năm 2012 tổng lượng rác y tế toàn tỉnh là 3.595 tấn, trong

đó rác y tế nguy hại là 2 tấn một ngày đêm Ngành y tế thành phố Biên Hòa Hệthống y tế dự phòng, điều trị và chăm sóc ban đầu, gồm 1 bệnh viện đa khoa và

32 trạm y tế xã phường Trong quá trình hoạt động, các cơ sở y tế đã thải ra môitrường một lượng lớn các chất thải bỏ gồm chất thải thông thường và chất thảinguy hại Trong 6 tháng đầu năm 2013, tổng lượng Chất thải lây nhiễm củabệnh viên ĐKBH là 1359 kg

Theo dự đoán, lượng chất thải rắn y tế sẽ tăng nhanh trong thời gian tới Vìvậy, công tác quản lí phân loại, thu gom, xử lí, tái sử dụng chất thải y tế tạinguồn là một trong những chương trình hành động được đặc biệt quan tâm, đểgóp phần giảm thiểu ảnh hưởng của chất thải y tế đến môi trường, nhằm bảo vệmôi trường sống an toàn lành mạnh

Bộ y tế đã ban hành y tế quản lí chất thải y tế Việt Nam theo hướng dẫn của

Trang 6

lượng rác thải y tế, kéo giảm kinh phí cho hoạt động thu gom và xử lí, an toàncho nhân viên y tế, nhân viên thu gom, thân thiện với môi trường , và mang lạihiệu quả kinh tế cao

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Khảo sát kiến thức- thái thực hành phân loại và xử lí chất thải y tế tại nguồn của nhân viên y tế Thànhphố Biên Hòa” từ tháng 7/2013 – 9/2013 với mục tiêu :

1/ Khảo sát kiến thức phân loại và xử lí rác thải y tế của nhân viên y tếThành Phố Biên Hòa

2/ Khảo sát thái độ và thực hành phân loại rác tại nguồn của nhân viên y tếThành Phố Biên Hòa

3/ Xác định mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với thực hành phân loạirác thải tại nguồn của nhân viên y tế Thành Phố Biên Hòa

Trang 7

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN Y VĂN

1 : Quản lý chất thải y tế trên thế giới :

1.1 Định nghĩa và đặc tính chất thải y tế

Chất thải y tế bao gồm tất cả các chất thải phát sinh do các cơ sở chăm sócsức khỏe ,cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm Giữa 75% và 90 % chất thải sảnxuất bởi các nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe là không có nguy cơ Nó chủ yếu

là từ các chức năng hành chính và dịch vụ dọn của các cơ sở chăm sóc sức khỏe

và cũng có thể bao gồm các chất thải phát sinh trong quá trình duy trì các cơ sởchăm sóc sức khỏe Còn lại 10-25 % của chất thải chăm sóc sức khỏe được coi

là nguy hiểm và có thể tạo ra nhiều rủi ro sức khỏe Tỷ lệ hàng năm của thươngtích do vật sắc nhọn trong chất thải y tế cho y tế và nhân viên dịch vụ vệ sinh,bên trong và bên ngoài bệnh viện, báo cáo Cơ quan Quốc hội đối với các chấtđộc hại và các dấu hiệu bệnh (ATSDR) của về chất thải y nhiều thương tích dođậy kim lại của kim tiêm dưới da trước khi bỏ vào thùng cứng, và việc sử dụngcác vật liệu mà không phải là thùng kháng thủng Tóm tắt trên dữ liệu truyềnbệnh của HIV, và cho thấy nguy cơ ước tính nhiễm HIV hoặc viêm gan siêu visau khi soi kim đâm thủng dựa trên dữ liệu từ Pháp, Nhật Bản, và Hoa Kỳ Cơ

sở y tế chăm sóc bên ngoài, rủi ro đối với chung công nhiễm HIV theo điều này

có nghĩa là không đáng kể: nó đã được ước tính nhiễm HIV gây ra hàng nămtrong rác thải y tế ở Mỹ, so với tổng số tổng thể của khoảng 68.000 bệnh nhiễmtrùng cho cả nước trong năm 1995 Nguy cơ của virus viêm gan B và C nhiễmkhi tiếp xúc với chất thải y tế có thể đáng kể hơn, như virus này là tồn tại trongthời gian dài hơn HIV Một báo cáo của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ lênQuốc hội về chất thải y tế ước tính hàng năm của nhiễm virus viêm gan B(HBV) nhiễm trùng do chấn thương do vật sắc nhọn trong nhân viên y tế và

Trang 8

người lao động quản lý chất thải Số lượng hàng năm các bệnh nhiễm trùngviêm gan B ở Mỹ do tiếp xúc với chất thải y tế, trong một năm tổng số tổng thểcủa 300.000 trường hợp nhiễm virus viêm gan B gây ra bởi tai nạn lao động từvật sắc nhọn (Hoa Kỳ), nguy cơ nhiễm trùng sau khi đâm kim tiêm dưới da.Nguy cơ lây nhiễm bệnh :

HIV 0,3%

Virus viêm gan B 3 %

Virus viêm gan C là 3-5% (ADATA từ Nhật Bản)

Có đủ dữ liệu trên các nhiễm trùng khác liên quan đến chất thải y tế để cho phépbất kỳ kết luận để có được Trên cơ sở các số liệu HBV, tuy nhiên, nó đượckhuyến cáo rằng tất cả các nhân viên xử lý chất thải y tế nên được chủng ngừachống lại bệnh tật Thật không may, chưa có vắc-xin chống lại virus viêm gan

C, cần lưu ý rằng giám sát và đào tạo nhân viên tiếp xúc với chất thải trong cácquốc gia có thể ít nghiêm ngặt, với kết quả là nhiều người có khả năng được tiếpxúc với chất thải y tế, cả trong và bên ngoài các cơ sở chăm sóc sức khỏe

Trong bất kỳ cơ sở y tế, y tá và nhân viên vệ sinh là các nhóm chính có nguy

cơ chấn thương, tỉ lệ thương tật hàng năm là 10-20 mỗi 1000 công nhân, tỷ lệcao nhất của tai nạn lao động trong tất cả các công nhân, những người có thểđược tiếp xúc với chất thải y tế được báo cáo của nhân viên vệ sinh và xử lý chấtthải, tỷ lệ hàng năm ở Mỹ là 180 / 1000

Mặc dù hầu hết các chấn thương liên quan đến công việc giữa các nhân viên

y tế chăm sóc và nhân viên vệ sinh do cố gắng qá sức Tác động sức khỏe củachất thải y tế, chất thải từ các bệnh viện, nhiều ví dụ có thể được tìm thấy nhiễmđộc rộng do chất thải hóa chất công nghiệp Hơn nữa, nhiều trường hợp chấnthương hoặc nhiễm độc, kết quả từ việc xử lý không đúng của hóa chất, dượcphẩm, trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe Dược sĩ, bác sĩ gây mê, và điều

Trang 9

dưỡng, phụ giúp, và nhân viên bảo trì có thể có nguy cơ bệnh đường hô hấphoặc da do tiếp xúc với các chất như hơi, bình xịt, và các chất lỏng.

Để giảm thiểu loại rủi ro nghề nghiệp, hóa chất ít độc hại cần phải được thay thế bất cứ khi nào có thể, và thiết bị bảo vệ cần được cung cấp cho tất cả các nhân viên có khả năng được tiếp xúc Cơ sở nơi hóa chất độc hại được sử dụng nên được dùng thông gió, và nhân viên có nguy cơ cần được đào tạo phòng ngừa các biện pháp và cấp cứu trong trường hợp xảy ra tai nạn

1.2.Tác động của chất thải genotoxic(độc tế bào)

Cho đến nay có rất ít dữ liệu về tác động sức khỏe lâu dài của chất thải y tếgenotoxic Điều này một phần là do khó đánh giá tiếp xúc con người với loạihợp chất Một nghiên cứu được thực hiện ở Phần Lan, ví dụ, tìm thấy một mốitương quan đáng kể giữa sẩy thai và tiếp xúc với các loại thuốc chống ung thưtrong ba tháng đầu của thai kỳ, nhưng các nghiên cứu tương tự ở Pháp và Mỹ đãkhông xác nhận kết quả này Nhiều nghiên cứu được công bố đã điều tra sứckhỏe tiềm năng mối nguy hiểm liên quan đến việc xử lý các loại thuốc chốngung thư, thể hiện bằng cách tăng nồng độ trong nước tiểu của các hợp chất gâyđột biến trong công nhân tiếp xúc và tăng nguy cơ sẩy thai

Một nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng tiếp xúc của các nhân viên làmsạch bồn tiểu bệnh viện, vượt quá quá nồng độ trong nước tiểu các hợp chất gâyđột biến của y tá và dược sĩ, những người này ít nhận thức được sự nguy hiểm

và biện pháp phòng ngừa ít hơn Nồng độ của thuốc gây độc tế bào trong khôngkhí bên trong bệnh viện đã được kiểm tra trong một số nghiên cứu được thiết kế

để đánh giá nguy cơ sức khỏe liên quan đến tiếp xúc đó (PYY, 1988; Sessink,1988) Vẫn chưa có bài báo khoa học báo cáo tác động xấu đến sức khỏe doquản lý yếu kém của chất thải genotoxic

1.3.Tác động của chất thải phóng xạ

Trang 10

Tai nạn do không xử lý đúng cách vật liệu hạt nhân đã được báo cáo, vớimột số lượng lớn người bị từ kết quả của phơi nhiễm

Tại Brazil, một trong những trường hợp tác động gây ung thư trên dân số chungliên quan đến tiếp xúc với chất thải bệnh viện phóng xạ đã được phân tích và ghi chép đầy đủ Trong khi di chuyển một viện xạ trị, để lại kín nguồn xạ trị tại

cơ sở cũ của nó, một cá nhân được tiếp cận cơ sở, loại bỏ các mã nguồn và đem

về nhà nhà Kết quả là 249 người đã bị phơi nhiễm, trong đó có một số chết hoặc

bị vấn đề sức khỏe nghiêm trọng (IAEA , 1988)

Ngoài các sự cố Brazil, không có dữ liệu khoa học đáng tin cậy có sẵn về tácđộng của chất thải phóng xạ bệnh viện Nó có thể là nhiều trường hợp tiếp xúcvới chất thải phóng xạ, và các vấn đề sức khỏe liên quan, không được báo cáo.Các vụ tai nạn chỉ được ghi nhận có tiếp xúc với bức xạ ion hoá trong cơ sở y tế

có kết quả từ an toàn hoạt động của bộ máy X-quang, xử lý không đúng các giảipháp xạ trị, hoặc kiểm soát trung bình xạ trị

1.4 Tỷ lệ sống của vi sinh vật gây bệnh trong môi trường:Vi sinh vật gây

bệnh có khả năng giới hạn để tồn tại trong môi trường Khả năng này là riêngcho mỗi vi sinh vật và là một chức năng của khả năng chống chịu với điều kiệnmôi trường như nhiệt độ, độ ẩm, bức xạ tia cực tím, sẵn có của vật liệu chất nềnhữu cơ, sự hiện diện của động vật ăn thịt, vv

Virus viêm gan B là rất kiên trì trong không khí khô và có thể tồn tại vàituần trên một bề mặt, nó cũng là khả năng chống tiếp xúc ngắn với nước để sôi

Nó có thể tồn tại tiếp xúc với một số chất khử trùng và 70% ethanol và vẫn tồntại cho đến 10 giờ ở nhiệt độ 600C Các Hiệp hội Nhật Bản cho nghiên cứu vềchất thải y tế phát hiện ra rằng một liều lây nhiễm virus viêm gan B hoặc C cóthể tồn tại cho đến một tuần trong một giọt máu bị mắc kẹt bên trong một kimtiêm dưới da

Trang 11

Ngược lại, HIV là kháng ít hơn nhiều Nó tồn tại không quá 15 phút khi tiếp xúcvới 70% ethanol và chỉ 3-7 ngày ở môi trường xung quanh nhiệt độ Nó bị bấthoạt ở 560C Vi khuẩn ít có khả năng chịu hơn virus, nhưng ít hơn nhiều đượcbiết về sự tồn tại của prion và các tác nhân của các bệnh thần kinh thoái hóa(Bệnh CreutzfeldtÐJakob, kuru, vv), mà dường như là rất kháng Ngoại trừ cácchất thải có chứa các tác nhân gây bệnh hoặc phân của bệnh nhân bị nhiễm, tảitrọng vi khuẩn các chất thải y tế nói chung là rất cao Hơn nữa, chất thải y tếdường như không cung cấp phương tiện vận chuyển thuận lợi cho sự tồn tại củatác nhân gây bệnh, có lẽ bởi vì chúng thường chứa một chất khử trùng Kết quảcủa một số nghiên cứu có chỉ ra rằng nồng độ của vi sinh vật chỉ thị trong chămsóc sức khỏe chất thải nói chung là không cao hơn so với rác thải sinh hoạt, và

có sự tham gia thấp

Trong việc đánh giá sự tồn tại hay lan truyền của vi sinh vật gây bệnh trong môi trường, vai trò của các vector như động vật gặm nhấm và côn trùng nên được xem xét Điều này áp dụng cho quản lý chất thải y tế cả trong và bên ngoài cơ sở

y tế chăm sóc Vector như chuột, ruồi, và gián, mà thức ăn hoặc giống trên chất thải hữu cơ, được nổi tiếng truyền bệnh là tác nhân gây bệnh của vi sinh vật; dân

số của chúng có thể làm tăng đáng kể khi có sự quản lý yếu kém của chất thải y tế

1.5 Nhu cầu tiếp tục nghiên cứu và điều tra dịch tễ học:

Rất ít dữ liệu có sẵn trên các tác động sức khỏe khi tiếp xúc với chăm sócsức khỏe lãng phí, đặc biệt là trong trường hợp của các nước đang phát triển.Hơn cả đánh giá rủi ro và tác động của tiếp xúc sẽ cho phép cải tiến trong việcquản lý thải y tế và trong lập kế hoạch các biện pháp bảo vệ thích hợp

Trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe, sự giám sát của nhiễm trùng và lưu giữ

hồ sơ là những công cụ quan trọng để có thể cung cấp dấu hiệu cho thấy không

đủ thực hành vệ sinh hoặc gây ô nhiễm môi trường ngay lập tức (bao gồm cả do

Trang 12

chất thải y tế) Giám sát cho phép một đợt bùng phát nhiễm trùng để được côngnhận điều tra và cung cấp một cơ sở để đưa ra các biện pháp kiểm soát, đánh giácác hiệu quả của những các biện pháp và các biện pháp phòng ngừa thôngthường được thực hiện bởi thành lập, và làm giảm mức độ nhiễm trùng tránhđược Nó cũng sẽ đảm bảo rằng các biện pháp kiểm soát có hiệu quả tối đa và lànhư hiệu quả chi phí càng tốt.

Tóm lại, nghiên cứu thêm là cần thiết để nâng cao kiến thức: mức độ màcác chất thải y tế ô nhiễm; mức độ rủi ro ô nhiễm của người dân tiếp xúc bằngtiêu hóa, hô hấp, qua da và các đường truyền khác Tăng trưởng và sự sống còncủa các mầm bệnh trong chất thải trong quá trình lưu trữ

1.6.quy định pháp luật :

Luật pháp quốc gia là cơ sở để cải thiện thực hành chất thải y tế trong bất

cứ nước nào Nó thiết lập kiểm soát pháp lý và cho phép quốc gia cơ quan chịutrách nhiệm về xử lý chất thải y tế, thường là Bộ y tế, để tạo áp lực để thực hiện.Các Bộ môi trường hoặc cơ quan quốc gia bảo vệ môi trường cũng có thể thamgia, cần có một định nghĩa rõ ràng về trách nhiệm trước pháp luật được banhành

Luật pháp cần được bổ sung bởi một văn bản chính sách, và hướng dẫn kỹthuật phát triển để thực hiện pháp luật Nên xác định quy định về xử lý đối vớicác loại chất thải khác nhau, phân loại, thu gom, lưu trữ, xử lý và vận chuyểnchất thải, trách nhiệm và yêu cầu đào tạo, nó phải tính đến các nguồn lực và cơ

sở vật chất có sẵn trong nước có liên quan và các khía cạnh văn hóa của xử lýchất thải

Một luật quốc gia về quản lý chất thải y tế có thể đứng một mình hoặc có

thể là một phần của pháp luật toàn diện hơn như sau :

Trang 13

- Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại: ứng dụng để chăm sóc sức khỏe chất

thải phải được quy định rõ ràng

- Pháp luật về vệ sinh bệnh viện và kiểm soát lây nhiễm: một chương riêng hoặcbài viết nên được dành cho chất thải y tế Pháp luật phải bao gồm:

- Một định nghĩa rõ ràng về chất thải y tế nguy hại và khác nhau của nó

- Là một dấu hiệu chính xác của các nghĩa vụ pháp lý của các chất thải y tế

về việc xử lý an toàn

- Thông số kỹ thuật cho lưu trữ hồ sơ và báo cáo ;

- Thông số kỹ thuật cho một hệ thống kiểm tra để đảm bảo thi hành phápluật, và hình phạt đối với thực hiện không đúng

- Qui định của Toà án có trách nhiệm xử lý các tranh chấp phát sinh từthực thi hay không tuân theo pháp luật

Ngoài ra, các bệnh viện nên hoạt động, và chất thải y tế được xử lý, phù hợp với tất cả các luật pháp quốc gia khác có liên quan, chẳng hạn như quy định liên quan đến: Chất thải nói chung, ảnh hưởng trên sức khỏe cộng đồng và môi trường, chất lượng không khí, phòng, chống bệnh truyền nhiễm, quản lý vật liệu phóng xạ Chính sách và tài liệu hướng dẫn kỹ thuật

Văn bản chính sách nên vạch ra những lý do cho pháp luật, cộng với mục tiêu quốc gia và các bước chính cần thiết để đạt được các mục tiêu Nó có thể chứa những điều sau đây :

- Mô tả về những rủi ro sức khỏe và an toàn do quản lý yếu kém

chất thải y tế ;

- Lý do cho việc chăm sóc sức khỏe thực hành quản lý chất thải lây nhiễm và antoàn trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe ;

Trang 14

- Danh sách các phương pháp được chấp thuận phân loại và xử lý đối với từngthể loại chất thải

- Cảnh báo chống lại thực tế không an toàn, chẳng hạn như xử lý nguy hiểm chấtthải y tế trong các bãi chôn lấp thành phố

- Trách nhiệm quản lý trong và ngoài cơ sở chăm sóc sức khỏe

- Đánh giá chi phí của quản lý chất thải y tế

- Bước quan trọng trong quản lý chất thải y tế: giảm thiểu, phân loại, xử lý, điềutrị, và xử lý chất thải cuối cùng, thông số kỹ thuật để thực hiện từng bước được

mô tả trong hướng dẫn kỹ thuật riêng biệt

- Lưu giữ hồ sơ và tài liệu hướng dẫn

1.7 yêu cầu đào tạo:

Quy tắc quản lý việc bảo vệ sức khỏe và an toàn cho công nhân vệ sinh.Hướng dẫn kỹ thuật liên quan đến pháp luật nên thực tế và áp dụng trực tiếp Họnên bao gồm các thông số kỹ thuật sau đây, với các chi tiết đủ để đảm bảo rằngcác hoạt động an toàn được quan sát và đạt được tiêu chuẩn phù hợp

- Khuôn khổ pháp lý bao gồm quản lý an toàn chất thải y tế, vệ sinh bệnh viện

và an toàn sức khỏe nghề nghiệp (giới hạn phát thải chất gây ô nhiễm không khí

và các biện pháp bảo vệ tài nguyên nước có thể được giải quyết ở đây hoặc trong hướng dẫn quốc gia khác)

- Trách nhiệm của các cơ quan y tế công cộng, của môi trường quốc gia bảo vệ

cơ thể, của người đứng đầu các cơ sở chăm sóc sức khỏe, của các nhà sản xuấtphân tán và nhỏ hơn chất thải y tế và của Thủ trưởng cơ quan bất kỳ chất thải xử

lý nước hoặc tư nhân có liên quan

- Thực hành an toàn cho giảm thiểu chất thải ;

- Phân loại, xử lý, lưu trữ và vận chuyển chất thải y tế ;

Trang 15

- Điều trị và xử lý các phương pháp

- Khuyến khích cho mỗi loại chất thải y tế và đối với nước thải

Để dễ dàng ứng dụng, định nghĩa của loại chất thải chăm sóc sức khỏe bao gồmtrong luật pháp nên được lặp đi lặp lại trong các hướng dẫn kỹ thuật

Từng bước thực hiện luật pháp được khuyến khích trong ưu tiên cho bất kỳ cốgắng để giới thiệu tất cả các biện pháp cùng một lúc, đặc biệt khi thực hành hiện

có là không đủ

1.8 lập kế hoạch quản lý chất thải y tế:

- Sự cần thiết phải lập kế hoạch:

Xây dựng mục tiêu và lập kế hoạch cho thành tích của họ là quan trọngtăng cường quản lý chất thải y tế tại các quốc gia, khu vực và địa phương Lập

kế hoạch yêu cầu các định nghĩa của một chiến lược sẽ tạo điều kiện thực hiệncẩn thận các biện pháp cần thiết và phân bổ hợp lý các nguồn tài nguyên theoxác định ưu tiên Điều này là quan trọng đối với động lực của các cơ quan,chăm sóc sức khỏe người lao động, và công chúng, và cho xác định hành độngnào khác có thể cần thiết

Khảo sát về phát sinh chất thải sẽ là cơ sở để xác định cơ hội và thiết lập chỉtiêu giảm thiểu rác thải, tái sử dụng và tái chế, và giảm chi phí Một chươngtrình quốc gia về quản lý chất thải y tế có thể đạt được thông qua một kế hoạchhành động :

Ngăn ngừa và giảm thiểu sản xuất chất thải

Tái sử dụng hoặc tái chế chất thải đến mức có thể

Xử lý chất thải bằng phương pháp an toàn và thân thiện môi trường

- Lập kế hoạch quản lý chất thải y tế :

Bước 1 Thiết lập chính sách cam kết và trách nhiệm

Trang 16

Bước 2 Tiến hành một cuộc khảo sát quốc gia về thực hành chất thải y tế

Bước 3 Phát triển hướng dẫn quốc gia

Bước 4 Xây dựng chính sách về phương pháp khu vực và hợp tác của xử lý chấtthải y tế

Bước 5 Pháp luật: quy định và tiêu chuẩn về quản lý chất thải y tế

Bước 6 xây dựng một chương trình đào tạo quốc gia

Bước 7 Xem xét lại việc quản lý chất thải y tế quốc gia

Chương trình quốc gia về quản lý chất thải y tế nên được xem như là một quátrình liên tục với giám sát và đánh giá định kỳ của cơ quan chính phủ chịu tráchnhiệm Ngoài ra, các khuyến nghị về phương pháp xử lý cần được cập nhậtthường xuyên để giữ tốc độ với sự phát triển mới Các cơ quan quốc gia sẽ căn

cứ đánh giá của nó chủ yếu vào báo cáo từ các cơ sở y tế trên thành công của họtrong việc thực hiện kế hoạch quản lý chất thải

Cần xem xét các báo cáo hàng năm do Thủ trưởng các cơ sở và thực hiệnchuyến thăm ngẫu nhiên để thực hiện kiểm toán các hệ thống quản lý chất thải.Bất kỳ thiếu hụt trong hệ thống quản lý chất thải phải được chỉ ra cho ngườiđứng đầu thành lập bằng văn bản, cùng với các khuyến nghị cho các biện phápkhắc phục hậu quả Các thời hạn thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nênđược quy định và đứng đầu cơ sở phải được thông báo về việc theo dõi hàngngày, rà soát định kỳ của hoạt động quản lý chất thải của cả quốc gia Cơ quanchính phủ và các cơ sở chăm sóc sức khoẻ nên kết quả cả hai được cải thiện bảo

vệ sức khoẻ nghề nghiệp và công cộng và trong nâng cao hiệu quả chi phí xử lýchất thải

Kế hoạch quản lý chất thải cho cơ sở chăm sóc sức khỏe :

 Phân công trách nhiệm

Trang 17

Quản lý thích hợp chất thải y tế phụ thuộc phần lớn vào tốt quản lý và tổ chức nhưng cũng đòi hỏi pháp luật đầy đủ và tài chính, cũng như tham gia tích cực của đào tạo và thông tin nhân viên Người đứng đầu của bệnh viện sẽ tạo thành một đội ngũ quản lý chất thải xây dựng kế hoạch quản lý chất thải

 Cấu trúc quản lý chất thải Bệnh viện

- Ngay lập tức bổ nhiệm một người kế nhiệm trong trường hợp nhân viên để lại

vị trí quan trọng trong đội ngũ quản lý chất thải (hoặc tạm giao trách nhiệm đểmột nhân viên khác cho đến khi một người kế nhiệm có thể bổ nhiệm)

- Đảm bảo đào tạo đầy đủ cho các thành viên cán bộ chủ chốt và chỉ định nhânviên chịu trách nhiệm điều phối và thực hiện các khóa đào tạo Cán bộ quản lýchất thải (WMO) Waste Management Officer WMO chịu trách nhiệm về hoạtđộng hàng ngày và giám sát hệ thống quản lý chất thải Do đó điều quan trọng làngười đó có quyền truy cập trực tiếp đến tất cả các thành viên của nhân viênbệnh viện, các WMO chịu trách nhiệm trực tiếp cho lãnh đạo bệnh viện Người

đó nên lạc với cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn, các dược sĩ trưởng, và cán bộ Bức

xạ để làm quen với các thủ tục chính xác để xử lý và xử lý bệnh, dược phẩm,hóa chất, và chất thải phóng xạ

Trong lĩnh vực thu gom chất thải , các WMO nên:

- Kiểm soát nội bộ của bộ sưu tập thu gom chất thải và vận chuyển của họ đến

cơ sở lưu trữ chất thải trung tâm của bệnh viện hàng ngày

- Liên lạc với Bộ Vật tư để đảm bảo sự phù hợp loạt các túi và thùng chứa chấtthải y tế, quần áo bảo hộ, và bộ sưu tập xe đẩy có sẵn tại tất cả các thời gian ;

- Đảm bảo rằng viên bệnh viện và nhân viên phụ trợ ngay lập tức thay thế túi sửdụng và thùng các túi mới đúng hoặc thùng kháng thủng

- Trực tiếp giám sát nhân viên bệnh viện và người lao động phụ trợ, thu gom vàvận chuyển chất thải y tế

Trang 18

Liên quan đến lưu trữ chất thải, WMO nên:

- Đảm bảo sử dụng đúng các thiết bị lưu trữ trung tâm để chăm sóc sức khỏechất thải, cần được lưu giữ khóa nhưng phải luôn luôn không cho phép nhânviên bệnh viện tiếp cận ngăn chặn tất cả các không giám sát bán phá giá củathùng chứa chất thải vào bệnh viện Giám sát việc thu thập và xử lý chất thải,các WMO nên:

- Phối hợp và giám sát tất cả các hoạt động xử lý chất thải ;

- Giám sát quá trình vận chuyển chất thải và đảm bảo rằng chất thải đượcthu thập từ bệnh viện được vận chuyển bởi một phương tiện thích hợp được chỉđịnh

- Đảm bảo rằng chất thải không được lưu trữ lâu hơn quy định trong cáchướng dẫn và tổ chức khác (có thể là các địa phương thẩm quyền hoặc một nhàthầu tư nhân), thu thập các chất thải với các yêu cầu

 Đào tạo nhân viên và thông tin, WMO nên:

- Liên lạc với Điều dưỡng trưởng bệnh viện và Quản lý bệnh viện, để đảm bảorằng các nhân viên điều dưỡng và phụ tá y tế nhận thức được trách nhiệm củamình đối với sự phân loại và lưu trữ chất thải, và trách nhiệm của các nhân viênbệnh viện và phụ trợ nhân viên được giới hạn trong niêm phong túi xách vàthùng cứng

- Giữ liên lạc với Thủ trưởng để đảm bảo rằng tất cả các bác sĩ và nhân viênlâm sàng khác nhận thức được trách nhiệm của mình liên quan đến phân biệtloại rác và lưu trữ chất thải, và trách nhiệm của nhân viên bệnh viện và nhânviên phụ trợ được giới hạn cho việc xử lý và vận chuyển túi niêm phong, thùngcứng

Trang 19

- Đảm bảo rằng nhân viên bệnh viện và nhân viên phụ trợ không tham gia vàochất thải đã được đựng vào túi và thùng cứng đã được niêm phong một cáchchính xác

Đối với quản lý sự cố và kiểm soát các WMO nên:

- Đảm bảo rằng các thủ tục khẩn cấp bằng văn bản có sẵn, rằng họ là trong nơimọi lúc, và các cá nhân nhận thức được hành động được thực hiện trong nhữngtrường hợp khẩn cấp

- Điều tra và xem xét bất kỳ sự cố báo cáo liên quan đến việc xử lý chất thải y tếNgoài ra, WMO liên tục nên theo dõi các thông số nhất định

Trưởng khoa chịu trách nhiệm về sự phân loại, lưu trữ, và xử lý chất thải được tạo ra trong phòng ban của họ Họ nên

- Đảm bảo rằng tất cả các bác sĩ, y tá, và lâm sàng và phi lâm sàng chuyên

nghiệp nhân viên trong phòng ban của họ nhận thức được sự phân biệt và thủ tụclưu trữ và tất cả các nhân viên tuân thủ tiêu chuẩn cao nhất

- Liên tục liên lạc với WMO theo dõi phương thức hoạt động đưa đến thất bạihoặc sai lầm

- Đảm bảo rằng nhân viên quan trọng trong phòng ban của họ được huấn luyệnphân loại nvà xử lý chất thải

- Khuyến khích các nhân viên y tế và điều dưỡng phải thận trọng để đảm bảo

rằng viên bệnh viện và nhân viên phụ trợ theo đúng quy trình ở tất cả lần.

Điều dưỡng Trưởng và Giám đốc Bệnh viện là chịu trách nhiệm về đào tạo cán

bộ điều dưỡng, phụ tá y tá, nhân viên bệnh viện, và nhân viên phụ trợ trong cácthủ tục chính xác cho sự phân loại, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải Họnên theo dõi Các thông số được theo dõi bởi các cán bộ quản lý, Chất thải tạo ramỗi tháng, theo thể loại chất thải :

Trang 20

• Trong từng bộ phận ;

• Các phương pháp xử lý

Các khía cạnh tài chính của quản lý chất thải y tế: chi phí trực tiếp vật tư, vậtliệu sử dụng để thu thập, vận chuyển, lưu trữ, Xử lý, tiêu hủy, khử trùng và làmsạch; chi phí đào tạo ( lao động và vật chất), Chi phí vận hành bảo dưỡng cáccông trình xử tại chỗ, Chi phí cho các dịch vụ nhà thầu

 Khía cạnh sức khỏe cộng đồng: Sự cố dẫn đến bị thương, hoặc thất bạitrong việc xử lý, phân loại lưu trữ, vận chuyển, hoặc hệ thống xử lý, mà cũngnên được báo cáo cho Nhân viên kiểm soát nhiễm khuẩn, điều này sẽ là cơ sở đểcác biện pháp phòng ngừa để ngăn chặn tái phát Liên lạc với WMO và các cốvấn (Nhân viên kiểm Soát Nhiễm Khuẩn Dược sĩ trưởng, và Nhân viên bức xạ),

để duy trì các tiêu chuẩn cao nhất, tham gia giới thiệu nhân viên, và tiếp tục đàotạo vào, xử lý và xử lý chất thải y tế; giữ liên lạc với Thủ trưởng để đảm bảophối hợp hoạt động đào tạo, vấn đề quản lý chất thải khác cho các cơ quan đặcbiệt

1.9 Kiểm soát nhiễm khuẩn :

Các cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn nên liên hệ với các WMO trên cơ sởliên tục và cung cấp tư vấn liên quan đến việc kiểm soát nhiễm trùng và các cáctiêu chuẩn của hệ thống xử lý chất thải Nhiệm vụ của mình là: xác định nhu cầuđào tạo theo học lớp nhân viên và nghề nghiệp; tổ chức và giám sát các khóađào tạo nhân viên về quản lý an toàn chất thải Các nhân viên kiểm soát cũng cótrách nhiệm chung về hóa học khử khuẩn, giảm thiểu hóa chất thải

Các dược sĩ trưởng chịu trách nhiệm quản lý chất thải của dược phẩm lưu trữ

và giảm thiểu các chất thải y tế Nhiệm vụ là: giữ liên lạc với Giám đốc, WMO,các điều dưỡng, và Quản lý bệnh viện, đưa ra lời khuyên, phù hợp với các chínhsách quốc gia và hướng dẫn, về thủ tục phù hợp xử lý; với chất thải y tế Phối

Trang 21

hợp giám sát liên tục các thủ tục cho việc xử lý, đảm bảo rằng nhân viên có liênquan trong việc xử lý chất thải y tế và xử lý được đào tạo đầy đủ Các dược sĩtrưởng cũng có trách nhiệm đặc biệt đảm bảo tận dụng an toàn của thuốc gâyđộc tế bào và quản lý an toàn.

- Kỹ sư bệnh viện: Kỹ sư Bệnh viện chịu trách nhiệm cho việc cài đặt và duy trì

cơ sở lưu trữ và thiết bị xử lý Chất thải theo đúng quy định của speciÞcationscủa các hướng dẫn quốc gia Các anh chị có trách nhiệm hoạt động đầy đủ vàduy trì bất kỳ xử lý chất thải tại chỗ thiết bị và chịu trách nhiệm cho cán bộ thamgia xử lý chất thải, đảm bảo rằng: nhân viên được đào tạo các nguyên tắc xử lýchất thải và nhận thức trách nhiệm của mình theo kế hoạch quản lý chất thảibệnh viện Xử lý chất thải tại chỗ, nhân viên điều hành được đào tạo vận hành

và bảo trì

1.10 Đánh giá phát sinh chất thải :

Để phát triển một kế hoạch quản lý chất thải, đội quản lý chất thải cần phảithực hiện một đánh giá của tất cả các chất thải phát sinh trong bệnh viện WMOphải có trách nhiệm phối hợp điều tra như vậy và phân tích cho kết quả Mộtbảng mẫu để đánh giá hàng ngày của chất thải, theo thể loại chất thải, cho mỗiđiểm thu gom chất thải Số liệu điều tra sản xuất chất thải nên tạo ra nền tảng màtrên đó một kế hoạch quản lý rác thải thích hợp có thể được phát triển một kếhoạch quản lý chất thải Trong quá trình xây dựng kế hoạch quản lý chất thải, tất

cả các thành viên của đội ngũ quản lý chất thải (WMT Waste ManagementTeam) nên thực hiện một đánh giá chất thải hiện có trong tổ chức quản lý củamình hoặc lĩnh vực mà họ chịu trách nhiệm Nó phải được chia thành các phầngiải quyết các vấn đề sau :

- Tình hình hiện nay (thực hành quản lý chất thải, nhân sự và trang thiết bị thamgia)

Trang 22

- Lượng chất thải phát sinh

- Khả năng giảm thiểu rác thải, tái sử dụng và tái chế

- Phân loại chất thải

- Xử lý tại chỗ, vận chuyển, lưu trữ và thực tiễn

- Xác định và đánh giá xử lý chất thải và các tùy chọn xử lý

- Xác định và đánh giá các lựa chọn, và chi phí liên quan

- Ghi lưu giữ

- Đào tạo

- Dự toán chi phí liên quan đến quản lý chất thải (tình hình thực tế và các tùychọn được đề xuất)

- Chiến lược để thực hiện kế hoạch

1.11 Giảm thiểu rác thải, tái chế, và tái sử dụng :

Giảm thiểu chất thải Giảm của chất thải phát sinh trong các cơ sở chăm sócsức khỏe và cơ sở nghiên cứu có thể được khuyến khích bằng việc thực hiện cácchính sách và thực tiễn nhất định, bao gồm:

- Giảm Nguồn: các biện pháp như hạn chế mua để đảm bảo việc lựa chọn cácphương pháp, vật tư mà ít lãng phí hoặc tạo ra ít chất thải độc hại

- Sản phẩm tái chế: sử dụng các vật liệu có thể được tái chế

- Quản lý và kiểm soát hoạt động tốt: áp dụng đặc biệt để việc mua và sử dụnghóa chất và dược phẩm

- Xử lý phân loại chất thải: phân biệt cẩn thận (tách) các chất thải thành các loạikhác nhau sẽ giúp giảm thiểu số lượng chất thải nguy hại

Quản lý cẩn thận của các kho thuốc sẽ ngăn chặn sự tích tụ lớn số lượnghoá chất đã lỗi thời hoặc dược phẩm và hạn chế chất thải để đóng gói (hộp, chai,

Trang 23

vv ) cộng với dư lượng của các sản phẩm còn lại trong các thùng Những lượngnhỏ hóa chất, dược phẩm chất thải có thể được xử lý dễ dàng và tương đối rẻtiền, trong khi xử lý số lượng lớn hơn cần phải điều trị tốn kém và chuyênngành, trong đó nhấn mạnh tầm quan trọng của giảm thiểu chất thải.

Giảm thiểu chất thải thường nhà sản xuất chất thải: chi phí cho cả hai muahàng hóa và xử lý chất thải và xử lý được giảm và các khoản nợ liên quan đếnviệc xử lý chất thải nguy hại là giảm đi Tất cả các nhân viên y tế có một vai tròtrong quá trình này và do đó cần được đào tạo về giảm thiểu chất thải và quản lýcác chất độc hại Điều này đặc biệt quan trọng đối với các nhân viên của bộphận tạo ra một lượng lớn chất thải nguy hại

Các nhà cung cấp hóa chất và dược phẩm cũng có thể trở thành các đối tác

có trách nhiệm trong các chương trình giảm thiểu chất thải Các dịch vụ y tế cóthể khuyến khích điều này bằng cách đặt hàng chỉ từ các nhà cung cấp cung cấpgiao hàng nhanh chóng đơn đặt hàng nhỏ, và người cung cấp các cơ sở quản lýchất thải hệ thống đối với chất thải nguy hại Giảm thiểu rác thải, tái chế, tái sửdụng, nhựa có thể được tái chế hoặc hàng hóa được cung cấp mà không cần thiếtbao bì

 Tái sử dụng an toàn và tái chế

Thiết bị y tế và khác được sử dụng trong một cơ sở chăm sóc sức khỏe có thểđược tái sử dụng với điều kiện là nó được thiết kế cho mục đích này và sẽ chịuđược quá trình khử trùng Các mặt hàng tái sử dụng có thể bao gồm một số cái,chẳng hạn như dao mổ và kim tiêm dưới da, tiêm, chai thủy tinh và thùng chứa,

vv

Sau khi sử dụng, những phải được thu thập một cách riêng biệt từ mặt hàngkhông thể tái sử dụng, rửa sạch cẩn thận (đặc biệt là trong trường hợp tiêm dưới

Trang 24

da kim tiêm, trong đó những giọt truyền nhiễm có thể bị mắc kẹt), và sau đó cóthể là khử trùng

1.12 Xử lý, lưu trữ và vận chuyển chất thải y tế

 Phân biệt chất thải và bao bì: Chìa khóa để giảm thiểu và hiệu quả quản

lý chất thải y tế là phân loại (tách) và nhận biết chất thải xử lý thích hợp, điều trị

và xử lý chất thải theo loại giảm chi phí và không nhiều để bảo vệ sức khỏe cộng đồng phân loại (tách) và nhân biết chất thải luôn luôn nên là trách nhiệm của người làm phát sinh ra chất thải, nên diễn ra càng gần càng tốt nơi chất thải được tạo ra, và nên được duy trì trong khu vực lưu trữ và quá trình vận chuyển Cùng phân loại (tách) và nhân biết chất thải nên có hiệu lực trên toàn quốc Cách thích hợp nhất để xác định các loại chăm sóc sức khỏe chất thải bằng cách phân loại chất thải vào túi nhựa có màu hoặc thùng Ngoài các mã màu của thùng chứa chất thải, các hành vi sau đây được khuyến cáo: vật sắc nhọn tất cả phải được thu thập với nhau, bất kể có hay không đang bị ô nhiễm thùng kháng thủng (thường làm bằng kim loại hoặc nhựa mật độ cao) và trang bị với vỏ chúng nên cứng và không thấm nước để nó giữ lại một cách an toàn không chỉ các vật sắc nhọn nhưng cũng bất kỳ chất lỏng còn sót lại từ ống tiêm Để ngăn cản lạm dụng, hộp đựng nên được chống trộm (khó để mở hoặc phá vỡ) và bơm kim tiêm nên được trả lại không sử dụng được Nơi nhựa hay thùng chứa kim loại không có hoặc quá tốn kém, bình làm bằng tông dày đặc được khuyến cáo

Trang 25

(WHO, 1997), những lần cho dễ vận chuyển và có thể được cung cấp một lớp

 Chất thải độc tế bào, hầu hết trong số đó được sản xuất ở bệnh viện lớnhoặc nghiên cứu cơ sở vật chất, phải được thu thập trong cac thùng chứa chống rò

rỉ mạnh, dán nhãn rõ ràng wastesCytotoxic

 Lượng nhỏ chất thải hóa chất, dược phẩm có thể được thu thập cùngvới chất thải lây nhiễm

Trang 26

 Lượng lớn dược phẩm lỗi thời hoặc hết hạn sử dụng được lưu trữ trongbệnh viện, Trạm Y tế phường, các ngành cần được trả lại cho các hiệu thuốc cho

xử lý Chất thải y tế khác được tạo ra ở cấp độ này, chẳng hạn như đổ hoặc bị ônhiễm thuốc hoặc bao bì có chứa dư lượng thuốc không nên được trả lại vì nguy

cơ ô nhiễm

Chất thải truyền nhiễm chất thải ion hóa

Đặc điểm của lò đốt nhiệt phân: ứng dụng công nghệ đốt nhiệt phân

để xử lí chất thải nguy hại, Đây là một trong những công nghệ tiên tiến nhằm bảo vệ môi trường, với khả năng xử lí, làm giảm từ 90% đến 95% trọng lượng thành phần hữu cơ của chất thải chỉ trong thời gian ngắn

 Các chất ô nhiễm trong khí thải sinh ra từ quá trình đốt được xử lí tới mứccần thiết để hạn chế tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường.Thích hợp chocác loại chất thải như sau: Các chất thải rắn thông thường được phân loại để tái

sử dụng, tái chế hoặc chôn lấp Song ở nhiều nơi, không thể có nhiều đất đểchôn lấp hoặc có nhiều loại chất thải nguy hại không thể chôn lấp được vì khóphân hủy Do vậy, xử lí chất thải nguy hại bằng phương pháp đốt tạo được hiệuquả và sử dụng phổ biến hiện nay Công nghệ đốt chất thải theo nguyên lí nhiệtphân có ưu điểm là các quá trình hấp sấy, hóa khí, cháy, đốt (hắc-ín) xảy ratrong buồng sơ cấp, quá trình xáo trộn, đốt cháy khí gas xảy ra trong buồng thứcấp, nên đốt cháy triệt để, nhiệt độ cháy cao, giảm được bụi phát sinh rất đáng

kể trong quá trình đốt Quá trình nhiệt phân diễn ra ở nhiệt độ thấp, nên tăng tuổi

Trang 27

thọ của vật liệu chịu lửa, giảm chi phí bảo trì Hiệu quả xử lí chất ô nhiễm của lòđốt nhiệt phân cao nhờ kiểm soát được chế độ nhiệt phân để sinh khí gas tạibuồng nhiệt phân Thích hợp cho các loại chất thải như sau:

-Chất thải truyền nhiễm (bao gồm cả vật sắc nhọn) và chất thải bệnh lý

- Điều trị hiệu quả; loại bỏ tất cả các tác nhân gây bệnh, dư lượng dượcphẩm và hóa học

- Chất thải y tế không có nguy cơ tương tự như chất thải đô thị: Đốt nhiệtphân sẽ lãng phí nguồn lực

- Chất thải genotoxic :Điều trị có thể không hiệu quả

- Chất thải phóng xạ: Điều trị không ảnh hưởng đến tính chất phóng xạ và

có thể phân tán bức xạ

Chất thải mà không cần phải tiêu huỷ :

- Dụng cụ chứa điều áp: Có thể phát nổ trong quá trình đốt và gây thiệt hạicho thiết bị

- Nhựa halogen như PVC: Khí thải có thể chứa axit hydrochloric và dioxin

- Chất thải có hàm lượng kim loại nặng cao: Đốt sẽ gây ra khí thải của kimloại độc hại (ví dụ như chì, cadmium, thủy ngân ) vào khí quyển, Nhiệt độ đốt:800-9000 C

- Chất thải có hàm lượng kim loại nặng (ví dụ như nhiệt kế, pin ), đốt ra tro sẽgây ra khí thải của kim loại độc hại (ví dụ như chì, cadmium, thủy ngân) vào bầukhông khí Nhiệt độ đốt : 300-4000 C

1.13 Hóa chất khử trùng

Hoá chất khử trùng, được sử dụng thường xuyên trong chăm sóc sức khỏe

để giết chết các vi sinh vật, trên thiết bị y tế và trên sàn, tường, bây giờ đangđược mở rộng để xử lý chất thải y tế Hóa chất được thêm vào chất thải để diệt

Trang 28

hoặc vô hiệu hóa có chứa các tác nhân gây bệnh, xử lý này thường kết quả trongkhử trùng chứ không phải là khử trùng Hoá chất khử trùng là thích hợp nhất cho

xử lý chất thải lỏng như máu, nước tiểu, phân, hoặc nước thải bệnh viện Tuynhiên, thậm chí chất thải rắn nguy hại, chất thải y tế, bao gồm cả vi sinh, vật sắcnhọn, vv, có thể cũng được khử trùng hóa học, với những hạn chế sau đây :

 Nghiền nhỏ chất thải thường là cần thiết trước khi khử trùng; máy cắtthường là điểm yếu trong chuỗi xử lý, được chịu thất bại cơ khí thường xuyênhoặc sự cố

 Chất khử trùng mạnh được sử dụng, trong đó có cơ thể cũng nguy hiểm vàchỉ nên được sử dụng bằng cách đào tạo tốt và bảo vệ đầy đủ nhân viên

 Hiệu quả khử trùng phụ thuộc vào điều kiện hoạt động

 Chỉ có bề mặt nguyên vẹn chất thải rắn sẽ được khử trùng

 Bộ phận cơ thể con người và xác động vật không nên thường được khửtrùng hóa học Trong quy hoạch sử dụng hóa chất khử trùng, yêu cầu cho việc xử

lý cuối cùng của các dư lượng nên được xem xét cẩn thận, xử lý không đúng cóthể làm phát sinh các vấn đề môi trường nghiêm trọng

Vi khuẩn Kháng khử trùng đã được điều tra, đó là có thể liệt kê các nhómchính của vi sinh vật ít nhất là kháng như sau: vi khuẩn mycobacteria hydrophilic,nấm viruses vegetative viruses lipophilic và nấm spores vegetative vi khuẩn Mộtchất khử trùng được biết là có hiệu quả chống lại nhóm vi sinh vật cũng sẽ cóhiệu lực đối với tất cả các nhóm ít chịu Hầu hết các ký sinh trùng, chẳng hạn nhưGiardia và Cryptosporidium spp, là kháng khử trùng đáng kể và thường được xếphạng giữa các mycobacteria và virus Hiệu quả của khử trùng được ước tính từ tỷ

lệ sống sót của vật chỉ thị trong kiểm tra tiêu chuẩn vi sinh

Các loại hóa chất khử trùng

Trang 29

Mục đích khử trùng là để loại bỏ các vi sinh vật hoặc ít nhất là giảm số lượngcủa họ đến một mức độ tối thiểu Một số chất khử trùng hiệu quả trong giết chếthoặc bất hoạt các loại riêng của vi sinh vật và những người khác hiệu quả chốnglại tất cả các loại Do đó nó là điều cần thiết để biết được danh tính của các visinh vật mục tiêu bị phá hủy Tuy nhiên, lựa chọn thuốc khử trùng không chỉphụ thuộc vào hiệu quả của họ, mà còn của họ ăn mòn và những nguy hiểm khácliên quan đến xử lý toàn diện hơn của mình ,

Thông tin về chất khử trùng :

Các loại hóa chất được sử dụng để khử trùng chất thải y tế là chủ yếu là aldehyt,các hợp chất clo, muối amoni, và các hợp chất phenolic, đặc điểm của nhữngngười thường được sử dụng cho ứng dụng các chất thải.Việc sử dụng ethyleneoxide không còn được đề nghị cho xử lý chất thải vì mối nguy hiểm đáng kể liênquan đến xử lý Tuy nhiên, nó đã được sử dụng trong quá khứ và vẫn có thể sửdụng ở một số nơi, và do đó các đặc tính của nó là vì lợi ích của sự hoàn chỉnh Việc sử dụng ozone (O3) để khử trùng chất thải hiện đang được điều tra.Thuốc khử trùng này là mạnh và tương đối an toàn Quá trình này sẽ tương tựnhư quá trình nhiệt ướt, Hầu hết các chất khử trùng được mô tả ở đây là ổn định

ít nhất 5 năm ngoại trừ natri hypochloriteremain hiệu quả cho 6-12 tháng sau khi

mở bao bì Thuốc khử trùng mạnh thường nguy hiểm và độc hại, nhiều có hạicho da và màng nhầy Người sử dụng do đó nên mặc bảo vệ quần áo, kể cả găngtay và kính bảo vệ mắt hoặc kính bảo hộ, thuốc khử trùng cũng đang tích cực đểgóp phần bảo vệ vật liệu y tế nhất định và phải được xử lý và lưu trữ phù hợp.Một lượng nhỏ các chất khử trùng có thể được thải ra hệ thống cống rãnh chưa

xử lý, với điều kiện là có một quá trình xử lý nước thải xử lý thích hợp; mộtlượng lớn các chất khử trùng không bao giờ được thải ra hệ thống cống rãnh.Không có chất khử trùng được thải vào các nguồn nước tự nhiên

Trang 30

Đặc điểm của ethylene oxide (CH2OCH2): như một chất khử trùng hóa học ứngdụng Bất hoạt tác dụng chống lại tất cảnn các vi sinh vật, bao gồm cả vi khuẩn,virus, và bào tử vi khuẩn, khử trùng chất thải rắn ở nhiệt độ 37-550, ở mức 60-80

% độ ẩm, cho 4-12 giờ

Tính chất vật lý và hóa học

Khí ở nhiệt độ trên 100C, dễ cháy nổ trong các hỗn hợp với không khí ở nồng độ

3 % trở lên, rất phản ứng ở nhiệt độ môi trường xung quanh, tan trong nước vàcác dung môi hữu cơ nhất Mùi ngưỡng: 320 - 700ppm là mối nguy hiểm sứckhỏe Chất lỏng ethylene oxide và dung dịch nước là cực kỳ kích thích da vàmắt; giới hạn an toàn lao động: 1-5 ppm (tùy thuộc vào quốc gia) Ethyleneoxide có được phân loại là chất gây ung thư do Cơ quan Nghiên cứu Quốc tếUng thư, tất cả các biện pháp phòng ngừa do đó cần được thực hiện để tránh hítphải hợp chất này trong quá trình xử lý

 Biện pháp bảo vệ phải mang Găng tay và kính bảo vệ mắt trong xử lýethylene oxit để bảo vệ da và mắt, trong trường hợp tiếp xúc với da, các khu vực

bị ảnh hưởng phải được rửa sạch dồi dào với nước, trong trường hợp tiếp xúcmắt, đôi mắt cần được rửa sạch dồi dào với nước trong ít nhất 15 phút, tiếp theo

là kiểm tra y tế; sự chú ý của bệnh viện ngay lập tức là cần thiết trong trường hợpđường hô hấp hoặc tiêu hóa, liên tục giám sát ăn mòn của ethylene oxide nênđược thực hiện Ethylene oxide ăn mòn cao su và nhựa nhưng không kim loại, nóthường là được lưu trữ trong các thùng chứa kim loại áp lực, ở dạng lỏng, nitơdưới áp suất cao khí Lửa Cháy oxit ethylene rất khó để dừng lại, trong trường hợpcháy, dòng khí nên được dừng lại, bình CO2 hoặc bột nên được sử dụng, nhânviên cứu hỏa phải mặc mặt nạ bảo hộ

Bình luận: Việc sử dụng ethylene oxide không được khuyến khích vì sức khỏe cóliên quan đáng kể mối nguy hiểm

Trang 31

1.14 Đặc điểm và mối nguy hiểm của nước thải từ các cơ sở chăm sóc sức khỏe

Nước thải từ các cơ sở chăm sóc sức khỏe là có chất lượng tương tự nhưnước thải đô thị, nhưng cũng có thể chứa nhiều thành phần nguy hiểm tiềm tàng

 Mầm bệnh vi sinh: Khu vực chính của mối quan tâm là nước thải có hàmlượng cao tác nhân gây bệnh của đường ruột, bao gồm vi khuẩn, virus và giunsán, có thể dễ dàng lây truyền qua nước Nước thải bị ô nhiễm là sản phẩm củabệnh biện, điều trị bệnh nhân bệnh đường ruột và là một vấn đề cụ thể trong các

vụ dịch bệnh tiêu chảy

 Hoá chất nguy hiểm: Một lượng nhỏ hóa chất từ làm sạch và khử trùnghoạt động thường xuyên thải ra hệ thống cống rãnh Nếu các kiến nghị khôngđược thực hiện, số lượng lớn sản phẩm có thể có mặt trong nước thải

1.15 Dược phẩm : Một lượng nhỏ thuốc thường được thải ra hệ thống cống

rãnh từ nhà thuốc bệnh viện và từ các phòng khám khác nhau, số lượng quan

trọng của Kháng sinh và thuốc gây độc tế bào cũng được xuất hiện.

1.16 Đồng vị phóng xạ : Một lượng nhỏ đồng vị phóng xạ sẽ được thải ra hệ

thống cống rãnh của ngành ung thư nhưng không nên đặt ra bất kỳ nguy cơ cho

sức khỏe 1.17 Mối nguy hiểm liên quan :Ở một số nước đang phát triển và

công nghiệp hóa, sự bùng phát của dịch tả được báo cáo theo định kỳ Hệ thốngcống rãnh của các cơ sở chăm sóc sức khỏe

nơi bệnh nhân tả được điều trị không phải lúc nào kết nối hiệu quả với nhà máy

xử lý nước thải, và mạng lưới cống rãnh thành phố đôi khi có thể thậm chíkhông tồn tại Mặc dù mối liên hệ giữa sự lây lan của dịch tả và không an toàn

xử lý nước thải chưa được nghiên cứu đầy đủ, ví dụ trong thời gian gần đây dịch

Ở châu Phi( Cộng hòa Dân chủ Congo, Rwanda ), và trong 1991-1992 bệnhdịch tả ở miền nam nước Mỹ thông tin Thu gom và xử lý nước thải có sẵn tác

Trang 32

nhân truyền bệnh khác thông qua nước thải các cơ sở chăm sóc sức khỏe Nhữngảnh hưởng độc hại của bất kỳ chất gây ô nhiễm hóa học chứa trong nước thảitrên các vi khuẩn hoạt động của quá trình làm sạch nước thải có thể làm phátsinh thêm mối nguy hiểm.

1.18 Quản lý nước thải : Các nguyên tắc cơ bản làm cơ sở quản lý nước thải

hiệu quả là một giới hạn nghiêm ngặt về việc xả chất lỏng nguy hại đến hệ thốngcống rãnh, theo khuyến cáo

 Kết nối với một nhà máy xử lý nước thải thành phố Trong nước không trảinghiệm dịch bệnh đường ruột và không phải là loài đặc hữu cho giun sán đườngruột, nó được chấp nhận để xả nước thải của các cơ sở chăm sóc sức khỏe đểcống thành phố mà không tiền xử lý, cung cấp các yêu cầu sau đây:

-Hệ thống cống rãnh thành phố được kết nối với nhà máy xử lý nước thảihoạt động hiệu quả để đảm bảo ít nhất 95% loại bỏ các vi khuẩn

- Bùn do xử lý nước thải phải chịu Vi khuẩn kỵ khí tiêu hóa, không để lạinhiều trứng giun sán cho mỗi lít bùn

- Hệ thống quản lý chất thải của các cơ sở y tế chăm sóc duy trì tiêu chuẩncao, đảm bảo sự vắng mặt của số lượng đáng kể của hóa chất độc hại, dượcphẩm, hạt nhân phóng xạ, thuốc gây độc tế bào, và kháng sinh trong nước thảithải ra

- Phân của bệnh nhân được điều trị với các thuốc gây độc tế bào có thể thuthập một cách riêng biệt và điều trị đầy đủ (như cho chất thải gây độc tế bàokhác)

1.19 Mầm bệnh vi sinh :

Khu vực chính của mối quan tâm là nước thải có hàm lượng cao tác nhângây bệnh của đường ruột, bao gồm vi khuẩn, virus và giun sán, có thể dễ dànglây truyền qua nước Nước thải bị ô nhiễm là sản phẩm củaTruyền nhiễm, điều

Trang 33

trị bệnh nhân bệnh đường ruột và là một vấn đề cụ thể trong các vụ dịch bệnh

tiêu chảy

2 Quản lý chất thải y tế tại Việt Nam :

QUY CHẾ QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ

(Ban yành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế)

Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1 Phạm vi điều chỉnh

1 Quy chế này quy định về hoạt động quản lý chất thải y tế, quyền và tráchnhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện quản lý chất thải y tế

2 Các cơ sở y tế và các tổ chức, cá nhân tham gia xử lý và tiêu hủy chất thải y tếngoài việc thực hiện Quy chế này phải thực hiện các quy định hiện hành củaNhà nước về quản lý chất thải

Điều 2 Đối tượng áp dụng

Quy chế này được áp dụng đối với các cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm

y tế, cơ sở nghiên cứu y dược, y tế dự phòng, đào tạo cán bộ y tế, sản xuất, kinhdoanh dược phẩm, vắc-xin, sinh phẩm y tế (gọi chung là các cơ sở y tế) và các tổchức, cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế

Điều 3 Giải thích từ ngữ

Trong Quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1 Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tếbao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

2 Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe conngười và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,

dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không đượctiêu hủy an toàn

3 Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thugom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy chấtthải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

Trang 34

4 Giảm thiểu chất thải y tế là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải chấtthải y tế, bao gồm: giảm lượng chất thải y tế tại nguồn, sử dụng các sản phẩm cóthể tái chế, tái sử dụng, quản lý tốt, kiểm soát chặt chẽ quá trình thực hành vàphân loại chất thải chính xác.

5 Tái sử dụng là việc sử dụng một sản phẩm nhiều lần cho đến hết tuổi thọ sảnphẩm hoặc sử dụng sản phẩm theo một chức năng mới, mục đích mới

6 Tái chế là việc tái sản xuất các vật liệu thải bỏ thành những sản phẩm mới

7 Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói

và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế

8 Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tớinơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy

9 Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơlây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữhoặc tiêu hủy

10 Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mấtkhả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường

4 Buôn bán chất thải nguy hại

5 Tái chế chất thải y tế nguy hại

Chương II XÁC ĐỊNH CHẤT THẢI Y TẾ Điều 5 Các nhóm chất thải y tế

Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau:

1 Chất thải lây nhiễm

2 Chất thải hóa học nguy hại

3 Chất thải phóng xạ

4 Bình chứa áp suất

Trang 35

5 Chất thải thông thường

Điều 6 Các loại chất thải y tế

1 Chất thải lây nhiễm:

a Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọcthủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dâytruyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vậtsắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

b Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấmdịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

c Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong cácphòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

d Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người;rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

2 Chất thải hóa học nguy hại:

a Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

b Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế (Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quychế này)

c Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốcgây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu (Phụlục 2 ban hành kèm theo Quy chế này)

d Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị

vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗbọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoánhình ảnh, xạ trị)

Trang 36

Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa họcnguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

a Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

b Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủytinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín.Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguyhại

c Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệuđóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

d Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

Chương III TIÊU CHUẨN CÁC DỤNG CỤ BAO BÌ ĐỰNG VÀ VẬN CHUYỂN

CHẤT THẢI RẮN TRONG CÁC CƠ SỞ Y TẾ Điều 7 Mã màu sắc

1 Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

2 Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ

3 Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ

4 Màu trắng đựng chất thải tái chế

Điều 8 Túi đựng chất thải

1 Túi màu vàng và màu đen phải làm bằng nhựa PE hoặc PP, không dùng nhựaPVC

2 Túi đựng chất thải y tế có thành dầy tối thiểu 0,1mm, kích thước túi phù hợpvới lượng chất thải phát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1 m3

3 Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi và có dòng chữ

“KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

4 Các túi đựng chất thải phải tuân theo hệ thống màu quy định tại Điều 7 củaQuy chế này và sử dụng đúng mục đích

Điều 9 Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn

1 Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn phải phù hợp với phương pháp tiêu hủy cuốicùng

2 Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn

a Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng

b Có khả năng chống thấm

Trang 37

c Kích thước phù hợp.

d Có nắp đóng mở dễ dàng

đ Miệng hộp đủ lớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy

e Có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ởmức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

g Màu vàng

h Có quai hoặc kèm hệ thống cố định

i Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài

3 Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy hủy kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộpđựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng, có thểdùng lại và phải là một bộ phận trong thiết kế của máy hủy, cắt bơm kim

4 Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sửdụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ

y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng banđầu

Điều 10 Thùng đựng chất thải

a Phải làm bàng nhựa có tỷ trọng cao, thành dầy và cứng hoặc làm bằng kimloại có nắp đậy mở bằng đạp chân Những thùng thu gom có dung tích từ 50 líttrở lên cần có bánh xe đẩy

b Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng

c Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng

xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại

d Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh

đ Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng

c Dung tích thùng tùy vào khối lượng chất thải phát sinh, từ 10 lít đến 250 lít

g Bên ngoài thùng phải có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và ghi dòng chữ

“KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

Điều 11 Biểu tượng chỉ loại chất thải:

Mặt ngoài túi, thùng đựng một số loại chất thải nguy hại và chất thải để tái chếphải có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp (Phụ lục 3 ban hành kèm theo Quychế này):

a Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinhhọc

Trang 38

b Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc

tế bào kèm dòng chữ “CHẤT GÂY ĐỘC TẾ BÀO”

c Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng chất phóng xạ và

có dòng chữ “CHẤT THẢI PHÓNG XẠ”

d Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng chất thải có thểtái chế

Điều 12 Xe vận chuyển chất thải

Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáykín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

Chương IV PHÂN LOẠI, THU GOM, VẬN CHUYỂN VÀ LƯU GIỮ

CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC CƠ SỞ Y TẾ Điều 13 Phân loại chất thải rắn

1 Người làm phát sinh chất thải phải thực hiện phân loại ngay tại nơi phát sinhchất thải

2 Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã mầu kèm biểutượng theo đúng quy định

Điều 14 Thu gom chất thải rắn trong cơ sở y tế

1 Nơi đặt thùng đựng chất thải

a Mỗi khoa, phòng phải định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loạichất thải, nơi phát sinh chất thải phải có loại thùng thu gom tương ứng

b Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom

c Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải được vệsinh hàng ngày

d Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để thaythế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thảicủa cơ sở y tế

2 Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã mầu quyđịnh và phải có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải

3 Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường.Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợpchất thải đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại

4 Lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy tới 3/4 túi, sau đó buộc cổ túi lại

5 Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu tráchnhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơi chất

Trang 39

thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khicần.

6 Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chấtthải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải

Điều 15 Vận chuyển chất thải rắn trong cơ sở y tế

1 Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa/phòngphải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất mộtlần một ngày và khi cần

2 Cơ sở y tế phải quy định đường vận chuyển và giờ vận chuyển chất thải.Tránh vận chuyển chất thải qua các khu vực chăm sóc người bệnh và các khuvực sạch khác

3 Túi chất thải phải buộc kín miệng và được vận chuyển bằng xe chuyên dụng;không được làm rơi, vãi chất thải, nước thải và phát tán mùi hôi trong quá trìnhvận chuyển

Điều 16 Lưu giữ chất thải rắn trong cơ sở y tế

1 Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồngriêng biệt

2 Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng

3 Nơi lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:

a Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đôngngười tối thiểu là 10m

b Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến

c Nhà lưu giữ chất thải phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa.Không để súc vật, các loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâmnhập

d Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế

đ Có phương tiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ, hóachất làm vệ sinh

e Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt

g Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh

4 Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại cơ sở y tế

a Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ

b Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ

có thể đến 72 giờ

Trang 40

c Chất thải giải phẫu phải chuyển đi chôn hoặc tiêu hủy hàng ngày.

d Đối với các cơ sở y tế có lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh dưới5kg/ngày, thời gian thu gom tối thiểu hai lần trong một tuần

Chương V

VẬN CHUYỂN CHẤT THẢI RẮN Y TẾ

RA NGOÀI CƠ SỞ Y TẾ Điều 17 Vận chuyển

1 Các cơ sở y tế ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vậnchuyển và tiêu hủy chất thải Trường hợp địa phương chưa có cơ sở đủ tư cáchpháp nhân vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế thì cơ sở y tế phải báo cáo vớichính quyền địa phương để giải quyết

2 Chất thải y tế nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụngbảo đảm vệ sinh, đáp ứng yêu cầu tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hànhnghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thảinguy hại

3 Chất thải y tế nguy hại trước khi vận chuyển tới nơi tiêu hủy phải được đónggói trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển

4 Chất thải giải phẫu phải đựng trong hai lượt túi màu vàng, đóng gói riêngtrong thùng hoặc hộp, dán kín nắp và ghi nhãn “CHẤT THẢI GIẢI PHẪU”trước khi vận chuyển đi tiêu hủy

Điều 18 Hồ sơ theo dõi và vận chuyển chất thải

Mỗi cơ sở y tế phải có hệ thống sổ theo dõi lượng chất thải phát sinh hàng ngày;

có chứng từ chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường được chuyển đitiêu hủy theo mẫu quy định tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26 tháng

12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành nghề

và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguyhại

Chương VI

MÔ HÌNH, CÔNG NGHỆ XỬ LÝ VÀ TIÊU HỦY CHẤT THẢI RẮN Y TẾ Điều 19 Các mô hình xử lý, tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại và áp dụng

mô hình.

1 Các mô hình xử lý, tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:

a Mô hình 1: Trung tâm xử lý và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại tập trung

b Mô hình 2: Cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại cho cụm cơ sở y tế

Ngày đăng: 08/03/2018, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w