Stt Nội dung TrangI LỜI CAM ĐOAN 1 Tính cấp thiết của đề tài 2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4 Phương pháp nghiên cứu 5 Tình hình nghiên cứu và đóng góp của luận văn 5.1 Tình hình ngh
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôithực hiện cùng với sự hướng dẫn của PGS-TS Nguyễn Văn Sơn
Các số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tôi cam đoan rằng tất cả các thông tin, trích dẫn trong luận văn được chỉdẫn nguồn gốc và nghiên cứu đầy đủ Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bình
Trang 2An Dương và các hộ dân đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bình
MỤC LỤC
Trang 3Stt Nội dung Trang
I LỜI CAM ĐOAN
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Tình hình nghiên cứu và đóng góp của luận văn
5.1 Tình hình nghiên cứu
5.2 Đóng góp của luận văn
6 Kết cấu của luận văn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO
NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động
bị thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về việc làm
1.1.2 Khái niệm về giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông
nghiệp bị thu hồi
1.13 Vai trò của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động có
đất nông nghiệp bị thu hồi
1.1.4 Những nội dung cơ bản của chính sách giải quyết việc làm cho
người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
1.2 Căn cứ để giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông
nghiệp bị thu hồi
1.2.1 Căn cứ chính trị
1.2.2 Căn cứ pháp luật
1.2.3 Căn cứ vào năng lực của chủ thể ban hành và thực hiện chính sách
1.2.4 Căn cứ vào đặc trưng của đổi tượng thụ hưởng chính sách
1.2.5 Căn cứ vào các điều kiện kinh tế
1.2.6 Căn cứ xã hội
1.2.7 Căn cứ vào tình hình quốc tế
1.3 Vai trò của nhà nước, các tổ chức, thành phần và xã hội trong
hoạch định và thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người
Trang 4lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
1.3.1 Vai trò của nhà nước
1.3.2 Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội
1.3.3 Vai trò của doanh nghiệp
1.3.4 Vai trò của nông dân
1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở một số nước
trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở một số nước
trên thế giới
1.4.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở Việt Nam 1.5 Chính sách của thành phố Hải Phòng đối với người lao động có đất
nông nghiệp bị thu hồi
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của huyện
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.2 Tài nguyên nước
2.1.3 Thực trạng môi trường
2.1.4 Lao động, việc làm
2.1.5 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông dân
2.2 Tình hình thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện và chính sách
bồi thường
2.3 Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông
nghiệp bị thu hồi ở huyện An Dương
2.3.1 Thực trạng việc sử dụng tiền bồi thường, đời sống thu nhập của
nhóm hộ điều tra
2.3.2 Thực trạng công tác giải quyết việc làm cho người lao động ở các
địa phương có đất nông nghiệp bị thu hồi
2.4
Một số đánh giá chung về đời sống, phân tích thuận lợi, khó khăn,
cơ hội và thách thức đối với người lao động có đất nông nghiệp bịthu hồi
Trang 53.1.1 Dự báo tình hình thu hồi đất
3.1.2 Quan điểm
3.2 Định hướng giải quyết việc làm
3.3 Mục tiêu giải quyết việc làm
3.3.1 Mục tiêu tổng thể
3.1.2 Mục tiêu cụ thể
3.4 Những biện pháp chủ yếu giải quyết việc làm cho người lao động
có đất nông nghiệp bị thu hồi
3.4.1 Biện pháp quản lý và sử dụng đất nông nghiệp
3.4.2 Biện pháp đẩy mạnh công tác hướng nghiệp đào tạo nghề, gắn
với…
3.4.3 Biện pháp cho vay vốn giải quyết việc làm
3.4.4 Biện pháp chuyển dịch cơ cấu lao động và có cơ cấu kinh tế nông
nghiệp tạo việc làm
3.4.5 Biện pháp đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động và phát triển thị
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIÊT TẮT
1 Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa : CNH - HĐH
2 Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp : CN - TTCN
Trang 7DANH MỤC BẢNG
2.1 Các loại đất trên địa bàn huyện An Dương
2.2 Tổng hợp kết quả thu hồi đất thực hiện Dự án từ năm 2011-
2015 trên địa bàn huyện An Dương
2.3 Thực trạng thu hồi đất nông nghiệp tại 4 xã An Đồng, Lê Lợi,
Hồng Phong giai đoạn 2011-2015
2.4 Cơ cấu sử dụng tiền bồi thường của người lao động được khảo
sát
2.5 Kết quả giải quyết việc làm của huyện giai đoạn 2011- 2015
2.6 Tổng hợp tình hình việc làm của lao động có đất nông nghiệp
bị thu hồi trên địa bàn huyện An Dương giai đoạn 2011- 2015
2.7 Dự báo tình hình thu hồi đất nông nghiệp và lao động mất việc
làm năm 2016 - 2020
2.8 Kế hoạch giải quyết việc làm giai đoạn 2016 - 2020
2.9 Kế hoạch đào tạo nghề nghề cho người lao động bị thu hồi đất
nông nghiệp giai đoạn 2016 - 2020
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động là nông dân khi thu hồiđất nông nghiệp đang được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm Hiện nay, ởViệt Nam đã có trên 200 các Khu công nghiệp lớn, gần 300 các cụm côngnghiệp và hàng nghìn các khu đô thị, nơi đây tập trung một lượng lớn các LLLĐtrực tiếp và đóng góp vào ngân sách hàng tỉ USD cho sự phát triển chung củađất nước Bên cạnh những thành tựu đã đạt được về đổi mới kinh tế đất nước,việc thu hồi và sử dụng đất ở một số nơi còn nhiều bất cập và cần hoàn thiện vềchính sách, pháp luật cũng như những vấn đề phát sinh cần được giải quyết kịpthời để có thể khai thác sử dụng có hiệu quả, bền vững đối với nguồn tài nguyênđất đai của đất nước và phục vụ tốt cho các mục đích phát triển công nghiệp,dịch vụ, phát triển đô thị và khu dân cư trong quá trình CNH, hiện đại hóa đấtnước Bên cạnh đó, việc thu hồi đất cho các mục đích phát triển lại nảy sinhvấn đề liên quan đến đời sống, việc làm của những người nông dân mà họ sốngdựa hoàn toàn vào đất sản xuất nông nghiệp Những vấn đề về môi trường dohậu quả của quá trình phát triển các khu công nghiệp, mở mang đô thị và cáckhu dân cư mới, điều này đã và đang đặt ra nhiều thách thức cho công tác quản
lý cũng như hoạch định chiến lược phát triển
Huyện An Dương là huyện ven đô, nằm phía Tây của thành phố Hải Phòngđược tách ra từ huyện An Hải cũ từ năm 2003 Trong những năm gần đây tốc độphát triển các khu công nghiệp, khu dịch vụ, đô thị, các dự án phát triển sảnxuất, xây dựng cơ sở hạ tầng,…khá nhanh Vì vậy, nhiều nông dân mất đất sảnxuất, không có việc làm Mặc dù trong những năm qua, Thành ủy, Uỷ ban nhândân thành phố Hải Phòng, các đơn vị kinh tế, doanh nghiệp và người lao động
đã triển khai nhiều hoạt động quan trọng để giải quyết việc làm, thu hút nhiềulao động cho nhân dân các khu vực đã bàn giao mặt bằng cho các dự án Tuynhiên, vấn đề thiếu việc làm vẫn còn xảy ra ngày càng trầm trọng
Xuất phát từ thực tế trên, học viên chọn đề tài “Biện pháp giải quyết việc
Trang 9làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi trên địa bàn huyện An Dương thành phố Hải Phòng”.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích
Phân tích thực trạng mất và thiếu việc làm của nông dân, chính sách về giảiquyết việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi để thấy được cácmặt được, mặt tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại Từ đó, luận văn sẽ đưa ramột số biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất
Đề xuất một số biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao động bị thuhồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện An Dương
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận là phương phápduy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp điều tra xã hội học, phươngpháp thống kê, phương pháp tham vấn chuyên gia và phân tích số liệu, so sánh,tổng hợp…
5 Tình hình nghiên cứu và đóng góp của luận văn
5.1 Tình hình nghiên cứu
Trang 10Trong phạm vi giải quyết việc làm cho người lao động khi thu hồi đất nôngnghiệp đã có một số đề tài nghiên cứu Ví dụ:
Báo cáo chuyên đề “Tác động của quá trình CNH, đô thị hóa đến lao động
và việc làm khu vực nông nghiệp, nông thôn” – 2006 của Thạc sĩ Nguyễn Thị
Tâm – Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn;
Đề tài khoa học: “Thực trạng và giải pháp giải quyết việc làm cho lao động sau khi bàn giao đất cho các cụm công nghiệp, khu công nghiệp và các khu đô thị mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương” do cử nhân Nguyễn Văn Hưng, Phó giám đốc
sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương làm chủ nhiệm (Tải phầnnày về nghiên cứu giải pháp giải quyết của Hải Dương)
Đề tài “Thực trạng việc làm của người lao động trong các hộ nông dân diện thu hồi đất tỉnh Quảng Nam” do Tiến Sĩ Phạm Quang Tín, Đại học Kinh tế,
Đại học Đà Nẵng làm chủ nhiệm…
5.2 Đóng góp của luận văn
Luận văn phân tích thực trạng việc làm và chính sách giải quyết việc làmcủa Đảng và nhà nước được áp dụng đối với người lao động là nông dân bị thuhồi đất nông nghiệp tại huyện An Dương Tổng kết kết quả đạt được trong giảiquyết việc làm, phát hiện các sai sót, hạn chế, nguyên nhân của các hạn chế, từ
đó đề xuất các biện pháp khắc phục Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo chosinh viên, học viên cao học và những ai quan tâm
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết việc làm cho người lao động khi
thu hồi đất nông nghiệp
Chương 2: Thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động khi thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện An Dương
Chương 3: Biện pháp để giải quyết việc làm cho người lao động khi thu
hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện An Dương
Kết luận và kiến nghị
Trang 11Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI
LAO ĐỘNG KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 Quan niệm về việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1 Khái niệm về việc làm
Việc làm là một phạm trù tổng hợp, liên kết các quá trình kinh tế, xã hội
và nhân khẩu
Nhà khoa học nổi tiếng trong kinh tế lao động người Nga Kotlia A đã đưa
ra khái niệm việc làm trong phạm trù kinh tế nói chung tồn tại ở mọi hình thái
xã hội; đồng thời, việc làm là phạm trù tái sản xuất xã hội, mà không thể đồngnhất với lao động và sử dụng sức lao động, nó định ra đặc tính dân số hoạt độngkinh tế so với những yếu tố sản xuất vật chất, thể hiện quan hệ giữa con người
về việc tham gia của họ vào quá trình sản xuất xã hội
Các nhà khoa học kinh tế Anh lại cho rằng "việc làm theo nghĩa rộng làtoàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệđến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêuchuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế"
Các nhà kinh tế Sônhin và Grincốp của Liên Xô lại cho rằng "việc làm là
sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội có íchtrong khu vực xã hội hoá của sản xuất, trong học tập, trong công việc nội trợ,trong kinh tế phụ của các nông trang viên"
Luật Lao động được Quốc hội (khoá IX) thông qua ngày 23/6/1994 ghi rõ
"mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập không bị pháp luật ngăn cấm đều đượcthừa nhận là việc làm…"
Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động, có giaokết hợp đồng lao động, gồm những người đang có việc làm và những ngườichưa có việc
Bộ luật Lao động nước Việt Nam đã cụ thể hoá khái niệm việc làm dưới
ba dạng hoạt động như sau:
- Làm các công việc để nhận tiền lương, tiền công bằng tiền mặt hoặc
Trang 12bằng hiện vật;
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân;
- Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù laodưới hình thức tiền lương, tiền công cho công việc đó
1.1.2 Khái niệm về giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
“Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định đến phát huy nhân tố con người,
ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chínhđáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân” [19] là Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010 đã được thông qua tại Đại hội Đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảng ta
Giải quyết việc làm có thể hiểu là tổng thể các biện pháp, chính sách kinh tế
- xã hội từ vi mô tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội tạo điều kiện đểngười lao động có thể có việc làm
Chính sách lao động việc làm được coi là chính sách kinh tế - xã hội cơ bảngiúp đảm bảo sự phát triển bền vững cho các thành phần kinh tế Hội nghịthượng đỉnh Copenhagen tháng 3 năm 1945 cho thấy các chiến lược phát triển
xã hội của các quốc gia đến năm 2000 và 2010 đều tập trung và các chính sáchtạo việc làm xã hội, bao gồm cả khu vực nông nghiệp và nông thôn Chính sáchtạo việc làm thực chất là các biện pháp làm tăng khả năng tiếp cận với việc làmcủa LLLĐ xã hội
Các chính sách tạo việc làm có mối quan hệ biện chứng với các chính sáchkinh tế và xã hội khác mà nếu được thực hiện tốt nó sẽ sử dụng hiệu quả mọinguồn lực lao động nhờ đó thất nghiệp và trợ cấp thất nghiệp sẽ giảm đi Ngượclại, khi các chính sách này không được thực thi tốt, lại rơi vào đúng thời kỳ suythoái kinh tế thì thất nghiệp sẽ gia tăng, kéo theo là gia tăng các tệ nạn xã hội làmtăng gánh nặng lên các chính sách an sinh xã hội và như thế có thể kết luận, mộtchính sách lao động việc làm không hiệu quả sẽ dẫn tới hậu quả xấu cho xã hội.Giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động bị thu hồi đất là một bàitoán khó đối với các nhà hoạch định chính sách, bởi nó liên quan đến nhiều
Trang 13Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất khác với chínhsách nói chung ở đối tượng mà nó tác động – đó chính là nông dân bị thu hồi đấtnông nghiệp Cần đặt chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đấttrong hệ thống các chính sách vĩ mô của nhà nước như chính sách phát triểnnguồn nhân lực, chính sách tam nông, chính sách giải quyết việc làm, chính sáchphát triển các khu công nghiệp, chính sách đất đai… Do đó, chính sách giảiquyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất không chỉ được thực hiện thông quacác biện pháp về kinh tế (tín dụng cho nông dân, khuyến khích đầu tư xây dựng
cơ sở hạ tầng, trợ cấp, đền bù…) mà còn phải chú trọng đến các biện pháp mangtính xã hội (giáo dục đào tạo, tư vấn việc làm, vận động, khuyến khích chuyểnđổi cơ cấu kinh tế…) Sự kết hợp hài hòa các biện pháp phù hợp với tình hìnhthực tiễn, nhu cầu, nguyện vọng, tâm lý, tập quán của nông dân sẽ là nhân tốđảm bảo sự thành công của sự can thiệp của Nhà nước thông qua chính sách
Thứ nhất, các chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
mang tính hỗ trợ là chủ yếu Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm riêngcủa nhà nước đối với nông dân bị thu hồi đất mà còn là trách nhiệm của toàn xãhội và đặc biệt là cần chính sự nỗ lực tìm kiếm và chuyển đổi nghề nghiệp từchính những người nông dân bị thu hồi đất
Thứ hai, chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất có tính
vùng, tính khu vực rõ rệt Rõ ràng, tính không đồng đều của LLLĐ nông nghiệptrên phạm vi cả nước về chất lượng nguồn nhân lực, trình độ dân trí, phong tụctập quán canh tác của nông dân mỗi vùng miền rất khác nhau, sự phân bố dân cư
và lao động giữa các vùng nông thôn trong nước không đồng đều, số lượng nông
Trang 14dân bị thu hồi đất ở mỗi địa phương là khác nhau Tính không đồng đều còn thẻhiện ở vị trí địa lý của từng vùng, có những khu vực giá trị đất đai cao hơnnhững khu vực khác, có khu vực việc thu hút đầu tư, xây dựng các khu côngnghiệp mạnh mẽ hơn các khu vực khác… Do vậy, đòi hỏi các chính sách giảiquyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất phải có những văn bản tương xứng
Thứ ba, đây là loại chính sách mang tính xã hội rõ nét Đây là một trong
những nội dung cơ bản của công bằng xã hội và phát triển cuộc sống con người.Đối tượng của chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là loạichính sách xã hội liên quan đến một trong những mặt sống còn của cuộc sốngcon người
Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là loại chínhsách liên quan trực tiếp đến con người và mang tính xã hội, nhân văn và nhânđạo sâu sắc bởi vì mục tiêu cơ bản của nó là hiệu quả xã hội, góp phần ổn định,phát triển và tiến bộ xã hội, đảm bảo cuộc sống của hàng triệu nông dân bị thuhồi đất và đảm bảo tính công bằng, bình đẳng
Người lao động không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến đời sống gia đình vàđương nhiên sẽ ảnh hưởng đến xã hội Tệ nạn xã hội sẽ tăng lên, tình hình chínhtrị, xã hội sẽ không ổn định và giải quyết được
Thứ tư, tổ chức triển khai văn bản chính sách phụ thuộc vào các đặc điểm
tâm lý, tập quán của người nông dân của lao động nông thôn Trong điều kiệndân cư nông thôn dân trí thấp hơn các khu vực khác, hoạt động nông nghiệp vớitác động của điều kiện tự nhiên đã tạo ra những đặc điểm tâm lý rất khác nhaugiữa nông dân các vùng miền trong cả nước Trong điều kiện như vậy, nhữngchính sách tác động đến nông dân phải có những biện pháp tổ chức thích hợp thìmới mang lại hiệu quả cao
Thứ năm, đây là chính sách có tính cấp bách Việc làm luôn là một vấn đề
mang tính kinh tế - chính trị - xã hội được tất cả các chính phủ trên thế giới quantâm Đối với nước ta nông dân chiếm phần lớn LLLĐ của cả nước (hơn 70%LLLĐ) Với tốc độ thu hồi đất mạnh mẽ như hiện nay để phục vụ cho CNH, đôthị hóa, nếu không sớm xây dựng các chính sách giải quyết việc làm cho nông
Trang 15dân bị thu hồi đất sẽ gây ra những hậu quả nặng nề đối với xã hội và đối vớinhững nông dân bị thu hồi đất
Công tác thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồiđất cũng phải khẩn trương và được chú trọng đặc biệt, tránh để nhiều nông dânrơi vào tình trạng không có việc làm
1.1.3 Vai trò của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
Thứ nhất, về mặt kinh tế
Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất hợp lý sẽ chophép khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, các tiềm năng kinh tế, tránhlãng phí nguồn lực xã hội Lao động trong khu vực nông nghiệp chiếm hơn 70%LLLĐ cả nước Hàng năm LLLĐ nông nghiệp đã góp phần đáng kể cho GDPcủa đất nước Nếu không sử dụng LLLĐ này vào sản xuất sẽ gây lãng phí tàinguyên con người – nguồn lực quan trọng nhất để phát triển đất nước Vớinhững phẩm chất đáng quý của nguồn nhân lực Việt Nam, nếu có chính sáchphù hợp sẽ khuyến khích được lực lượng này tham gia vào các khu vực sản xuấtngoài nông nghiệp như dịch vụ, công nghiệp, thủ công nghiệp… từ đó góp phầnthực hiện thành công chủ trương CNH, HĐH và chuyển dịch CCLĐ của Đảng
và Nhà nước ta
Chính sách giải quyết việc làm hợp lý còn cho phép sử dụng có hiệu quảnguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực và vốn Tạo việc làm và giảiquyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất sẽ góp phần tích cực trong việc phân
bổ lao động một cách hợp lý
Thứ hai, về mặt chính trị
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa và hội nhập sâu vào kinh tếthế giới và khu vực, nhiều cơ chế chính sách đã ban hành không còn phù hợp,tính đồng bộ của chủ trương chính sách không cao Nông dân bị thu hồi đất, mấtviệc làm đang trở thành vấn đề gây bức xúc trong xã hội Nếu không giải quyếtđược vấn đề không những gây ảnh hưởng đến kinh tế - xã hội mà còn ảnh hưởnglớn đến chính trị Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, cả quốc gia phát triển và
Trang 16quốc gia đang phát triển, để ổn định chính trị, các nhà lãnh đạo luôn phải quantâm đến vấn đề việc làm và hạn chế thất nghiệp.
Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất sẽ củng cố vàduy trì lòng tin của hàng chục triệu nông dân vào sự lãnh đạo của Đảng và việcthực hiện tôn chỉ, mục đích của Đảng ta Nhân dân, đặc biệt là tầng lớp nôngdân đã một lòng theo Đảng là vì chúng ta đã thực hiện đúng khẩu hiệu “Ngườicày có ruộng” Vì vậy, nếu vì phục vụ cho CNH, hiện đại hoá mà chúng ta lấyđất của nông dân bất chấp những hậu quả sẽ xảy ra đối với đời sống của nhữngnông dân bị thu hồi đất thì lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng sẽ bịxói mòn Một chính sách không hợp lý sẽ không thu phục được lòng tin củanhân dân, do vậy tất yếu sẽ gây ra khiếu kiện, khiếu nại làm tổn hại đến uy tíncủa Đảng và Nhà nước
Không có việc làm, người dân sẽ đi tự do từ nông thôn ra thành thị để kiếmviệc làm Điều đó dẫn đến mật độ dân số ở đô thị tăng đột biến, quá tải về cơ sở
hạ tầng, tạo ra sự lộn xộn và sức ép lớn cho các khu đô thị như nhà ở chật chội,thiếu thốn, giá cả leo thang, nạn xây dựng, lấn chiếm đất công bừa bãi, tệ nạn xãhội, bệnh tật, lối sống xô bồ, xuống cấp, ô nhiễm môi trường… Đây là nhữngvấn đề khó giải quyết cho các cơ quan quản lý ở đô thị
Nông dân bị thu hồi đất và không có việc làm là một vấn đề mà các chuyên
gia kinh tế đã cho là “có tính chất xã hội nan giải” Như vậy, nếu không có
chính sách hỗ trợ phù hợp, người nông dân mất đất sẽ bị đẩy trở lại tình trạngđói nghèo Giải quyết việc làm giúp họ tham gia vào quá trình sản xuất xã hộicũng là yêu cầu của sự phát triển, là điều kiện cơ bản cho sự tồn tại và phát triển
Trang 17của con người.
1.1.4 Những nội dung cơ bản của chính sách giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
Chính sách giải quyết việc làm được phân loại như sau:
Các chính sách vĩ mô nhằm mở rộng và phát triển việc làm cho lao động xãhội nói chung và nông dân bị thu hồi đất nói riêng Các chính sách này gồm có:Chính sách tín dụng, vốn, nâng cao dân trí, đào tạo nghề, chuyển dịch cơ cấukinh tế và cơ cấu lao động nông thôn, tạo và mở rộng thị trường lao động chonông dân bị thu hồi đất tìm việc làm…
Các chính sách khuyến khích phát triển các ngành nghề và lĩnh vực có khảnăng tạo ra việc làm: Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, phát triểncác ngành kinh tế phụ trợ, chính sách di dân xây dựng vùng kinh tế mới, chínhsách xuất khẩu lao động trong những giai đoạn nhất định, chính sách phát triểncông nghiệp nông thôn, chính sách khôi phục và phát triển các ngành nghề thủcông truyền thống… Cụ thể là:
- Chính sách về nâng cao dân trí và đạo tạo nghề cho nông dân bị thu hồi đấtDạy nghề cho lao động nông thôn vừa là khâu cơ bản, vừa là khâu đột phálàm dịch chuyển cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.Từng bước nâng cao trình độ đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuậtcao Chính vì vậy, công tác dạy ngề cũng được Đảng và Nhà nước ta quan tâm vàcoi đó là một nhiệm vụ quan trọng góp phần phát triển kinh tế - xã hội nói chung
và đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Chính sách vốn và tín dụng để tạo việc làm
Chính sách vốn và tín dụng là một chính sách có vai trò quan trọng trongviệc giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất Chính sách này hướng tớihai đối tượng chính là doanh nghiệp và nông dân bị thu hồi đất Doanh nghiệpcần vốn để mở rộng sản xuất, doanh nghiệp lớn mạnh sẽ là nơi thu hút lao động.Nông dân bị thu hồi đất cần vốn để học nghề mới, chuyển đổi nghề nghiệp, đầu
tư sản xuất kinh doanh, góp vốn…
Khi bị thu hồi đất, người nông dân mất kế sinh nhai, buộc họ phải chuyển
Trang 18đổi sang làm những công việc khác ngoài nông nghiêp Để chuyển đổi nghềnghiệp, họ cần vốn để học nghề, để đầu tư vào các ngành nghề mới như muatrang thiết bị sản xuất, việc chuyển sang nghề mới không đơn giản, người laođộng phải làm quen, học hỏi và thậm chí thất bại, phải trải qua nhiều nghề khácnhau hoặc để đi xuất khẩu lao động, những nông dân này cũng phải có tiền thếchấp, các khoản phí học nghề, dịch vụ, môi giới… cho các công ty xuất khẩu laođộng.
Như vậy, để giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất nhà nước cần
có chính sách hỗ trợ vốn và tín dụng hợp lý mang tính nâng đỡ cho các doanhnghiệp (nơi tạo ra việc làm và tiếp nhận lao động) và đặc biệt là nông dân bị thuhồi đất để họ có thẻ tự tạo việc làm cho chính bản thân mình
- Chính sách chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp
Đây là một giải pháp phù hợp với định hướng chung của Đảng và Nhà nước
ta về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu lao động nóiriêng Cùng với quá trình CNH, hiện đại hóa đất nước sẽ diễn ra sự biến đổi sâusắc về cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, đặc biệt là cơ cấu lao động nông thôn.Sản xuất ở nông thôn đã và đang chuyển dịch theo hướng từ thuần nông sang kếthợp chặt chẽ với nông – công nghiệp – dịch vụ
Trong thực tế phát triển, muốn CNH, hiện đại hóa thì một phần lớn đấtnông nghiệp được chuyển sang sử dụng và mục đích phi nông nghiệp, chủ yếucho phát triển công nghiệp, dịch vụ, đô thị; một bộ phận lớn nông dân bị mất đấtsản xuất, phải chuyển đổi nghề nghiệp Ngược lại, việc thu hồi đất nông nghiệpcũng là một cơ hội để chúng ta thực hiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế
và cơ cấu lao động trong cả nước Do đó, việc hoàn thiện chính sách về chuyểndịch cơ cấu lao động nông nghiệp, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm tạichỗ cho nông dân là một yêu cầu cấp bách hiện nay
- Chính sách về mở rộng và tạo điều kiện cho nông dân bị thu hồi đất tiếpcận các thị trường lao động
Chính sách thị trường lao động là toàn bộ những biện pháp nhằm đảm bảogiải quyết việc làm liên tục, thích hợp với nhu cầu, khả năng và điều kiện đối với
Trang 19những người có khả năng lao động muốn có việc làm Chính sách thị trường laođộng là nhân tố quyết định tới việc tạo thế cân đối trong thị trường lao động giảmbớt thất nghiệp đến giới hạn an toàn cho xã hội Xét về mặt kinh tế, chính sách thịtrường lao động có mục tiêu tái tạo sự ổn định trong thị trường lao động, tạo điềukiện cho thị trường lao động phát triển Còn về mặt xã hội, chính sách thị trườnglao động nhằm điều chỉnh lại cũng như giảm bớt sự phân bố bất hợp lý về LLLĐhạn chế những tiêu cực do thất nghiệp gây ra.
Một trong những cản trở đối với nông dân nói chung và nông dân bị thu hồiđất nói riêng khiến họ không tìm được việc làm là do khả năng tiếp cận thị trườnglao động hạn chế Điều đó một phần do bản thân người lao động còn hạn chế vềtrình độ và khả năng tìm kiếm, một phần do nhà nước chưa có những biện pháphợp lý để thông tin về thị trường lao động có thể đến gần với người nông dân cóđất bị thu hồi Chính bởi vậy chính sách mở rộng và tạo điều kiện để nông dân bịthu hồi đất tiếp cận với thị trường lao động là một chính sách hết sức cần thiết tạoviệc làm Để giảm bớt tỷ lệ thất nghiệp cho phép, một trong những biện pháp tổnghợp là nhà nước cần phải có những chính sách tác động để hình thành và mở rộngthị trường lao động Bao gồm cả thị trường lao động trong nước và thị trường laođộng nước ngoài
- Chính sách về đất đai và bồi thường khi thu hồi đất
Đất đai là TLSX của người nông dân Mất TLSX đồng nghĩa với việc mất kếsinh nhai cũng như làm thay đổi cấu trúc của LLLĐ xã hội Những nông dânkhông còn ruộng đất chuyển sang các khu vực kinh tế khác nghĩa là họ đã rờikhỏi LLLĐ nông nghiệp Các chính sách liên quan đến đất đai và đặc biệt làchính sách về thu hồi đất là loại chính sách hết sức nhạy cảm vì nó tác động đếnlực lượng sản xuất chính của nước ta, làm thay đổi quan hệ sản xuất Do vậy phảihết sức cẩn trọng khi hoạch định các chính sách liên quan đến đất đai nói chung
và thu hồi đất nói riêng Trong phạm vi đề tài này không đề cập đến chính sáchđất đai và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung mà chỉ đề cập đến chínhsách đất đai và bồi thường, hỗ trợ có liên quan đến tạo việc làm cho nông dân cóđất bị thu hồi
Trang 20Mục tiêu của chính sách bồi thường khu thu hồi đất của nông dân là đảm bảotính công bằng và hỗ trợ cho họ khi mất đi tư liệu sản xuất để có thể chuyển đổi nghềnghiệp sang các khu vực khác ngoài nông nghiệp Chính sách về đất đai nói chung
và bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng có hiệu quả, khả thi sẽ làtiền đề tốt để thực hiện giải quyết việc làm Giá bồi thường cao hay thấp, thỏa đánghay không thỏa đáng, phương thức bồi thường như thế nào, thủ tục bồi thường đơngiản hay phức tạp… ảnh hưởng rất lớn đến cơ hội nghề nghiệp của nông dân bị thuhồi đất Một chính sách về đất đai hợp lý như: khai hoang, mở rộng diện tích đấtmới, quy hoạch đất, cải tạo đất, thu hồi đất… cũng ảnh hưởng không nhỏ đến côngtác giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
để giải quyết việc làm cho nông dân có đất nông nghiệp bị thu hồi
Doanh nghiệp là lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, làm nền tảngcho việc thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất củanhà nước Do đó, chính sách đối với doanh nghiệp trong việc tạo việc làm chonông dân nói chung và người lao động là nông dân bị thu hồi đất nói riêng là hếtsức quan trọng Nhà nước cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích cácdoanh nghiệp phát triển
1.2 Căn cứ để giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
1.2.1 Căn cứ chính trị
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhànước ta thực hiện những mục tiêu chiến lược của đất nước, Đảng lãnh đạo Nhànước thông qua việc vạch ra cương lĩnh, chiến lược và các định hướng về chínhsách Nhà nước thể chế hóa những đường lối, chủ trương của Đảng bằng phápluật và thực thi những đường lối, chủ trương đó trong thực tiễn Vì vậy, những
Trang 21chính sách do Nhà nước đề ra phải căn cứ vào đường lối, chủ trương và nhữngđịnh hướng chính sách của Đảng.
Trong nguồn nhân lực, lao động nông thôn chiếm một tỷ lệ lớn Đây là đốitượng có đóng góp to lớn đối với sự phát triển và nền kinh tế quốc dân Giai cấpnông dân có một vị trí quan trọng, tạo ra nội lực tiềm tàng về phương diện chínhtrị - xã hội và công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp CNH, hiện đạihóa nông nghiệp, nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng có được thực hiện tốthay không phụ thuộc rất lớn và giai cấp nông dân Bởi vì, giai cấp nông dânchính là chủ thể và là nguồn nội lực quan trọng nhất của CNH, hiện đại hóanông nghiệp, nông thôn Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ:
“Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức do Đảng Cộng Sản lãnh đạo” (1) Theo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vai trò của nông dân là quân chủ lực của Cách mạng, là bạn đồng minh chủ yếu và tin cậy nhất của giai cấp công nhân, là lực lượng cơ bản cùng với giai cấp công nhân xây dựng chủ nghĩa xã hội” Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương khóa 7 của
Đảng đã xác định vị trí của nông nghiệp, nông thôn và nông dân (Tam nông) là
cơ sở để ổn định chính trị đất nước trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, hiện đại hóa
và hội nhập kinh tế thế giới Trên cơ sở vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại
hội IX, Đảng ta đã đề ra mục tiêu: “Đối với giai cấp nông dân, ra sức bồi dưỡng sức dân ở nông thôn và phát huy vai trò giai cấp nông dân trong sự nghiệp đổi mới, tập trung sự chỉ đạo và các nguồn lực cần thiết cho CNH, hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển nông thôn; thực hiện tốt các chính sách về ruộng đất, phát triển nông nghiệp toàn diện, tiêu thụ nông sản hàng hóa, bảo hiểm sản xuất và bảo hiểm xã hội; phát huy lợi thế từng vùng, giúp đỡ vùng khó khăn; phân bổ dân cư theo quy hoạch, phát triển ngành nghề, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới…” (1)
1.2.2 Căn cứ pháp luật
Hệ thống pháp luật tạo nên những khuôn khổ pháp lý quy định và điều
Trang 22chỉnh tất cả các quan hệ xã hội Các chính sách công do nhà nước ban hành, vìvậy cũng phải căn cứ vào hệ thống pháp luật hiện hành.
Các thể chế pháp luật cung cấp cho các nhà hoạch định chính sách nhữngquy tắc hành động, tiêu chuẩn xây dựng chính sách, những ràng buộc và khuônkhổ đối với chính sách Nói cách khác, các chính sách không được trái vớinhững quy định pháp luật hiện hành Điều đó có nghĩa là khi hoạch định mộtchính sách phải nắm được tất cả các quy định pháp luật đang điều tiết lĩnh vực
có liên quan đến vấn đề chính sách đó
Các chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trước hếtphải dựa vào các quy định của Hiến pháp, Luật Lao động, Luật Đất đai, LuậtDạy nghề và các quy định của địa phương Một số dự án ODA có quy chế rộng
mở hơn so với các quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết việc làm chonông dân bị thu hồi đất
1.2.3 Căn cứ vào năng lực của chủ thể ban hành và thực hiện chính sách
Thành công của một chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng của chủ thểban hành và thực hiện chính sách Đó chính là năng lực hoạch định và thực thichính sách của cán bộ - công chức trong bộ máy quản lý nhà nước Năng lực nàyđược thể hiện qua các mặt như: Năng lực phân tích, dự báo, năng lực thực tế,năng lực về thiết kế tổ chức… Nếu năng lực của chủ thể hoạch định và thực thichính sách yếu kém thì sẽ đưa ra những chính sách không sát thực tế, làm lãngphí nguồn lực huy động, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của chính sách, thậm chícòn làm biến dạng chính sách trong quá trình tổ chức thực hiện Ví dụ như chínhsách giá để tính bồi thường khi người nông dân bị thu hồi đất hiện nay còn nhiềubất cập như chưa sát giá thị trường… dẫn đến tình trạng nhiều dự án bị chậmtiến độ do người dân không đồng ý với phương án bồi thường đưa ra
Bên cạnh đó việc thực hiện các chính sách về đất đai cũng liên quan đếncác chính sách khác như: chính sách tăng cường nâng cao năng lực cho lựclượng giáo viên dạy nghề còn chưa đồng bộ và đủ mạnh nên lực lượng giáo viêndạy nghề hiện tại còn nhiều bất cập không chỉ về số lượng mà cả về chất lượng
và sẽ là thách thức lớn để phát triển công tác dạy nghề trong thời gian tới ở Việt
Trang 23Nam Do vậy, triển khai việc dạy nghề cho nông dân bị thu hồi đất gặp rất nhiềukhó khăn Nông dân không có nhiều lựa chọn và khó tiếp cận được chính sáchđào tạo nghề để chuyển đổi nghề nghiệp.
1.2.4 Căn cứ vào đặc trưng của đối tượng thụ hưởng chính sách
Khi xây dựng và thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bịthu hồi đất, các nhà hoạch định phải căn cứ vào đặc điểm của đối tượng thuhưởng chính sách, đó là những nông dân, hộ nông dân bị thu hồi đất
Một số đặc trưng của lao động nông nghiệp, nông thôn ảnh hưởng đến việchoạch định và thực hiện chính sách:
- Nguồn nhân lực trong nông nghiệp nông thôn nhìn chung có trình độ vănhóa và chuyên môn kỹ thuật thấp và không đồng đều so với các lĩnh vực kháccủa nền kinh tế quốc dân Trình độ văn hóa thấp làm hạn chế khả năng tiếp thukiến thức và áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới Đồng thời cũng gâykhông ít khó khăn cản trở cho việc đào tạo để chuyển đổi nghề, chuyển dịch laođộng sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế Để có thể tạo được việc làm phùhợp, các nhà hoạch định chính sách phải dựa trên tình trạng việc làm, độ tuổi,trình độ văn hóa, nghề nghiệp… của người bị thu hồi đất Chính vì vậy, chínhsách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất cần khuyến khích các hoạtđộng đào tạo, tập huấn kỹ năng nghề nghiệp mà còn cả các hoạt động nâng caotrình độ văn hóa cho người lao động (học chữ, phổ cập tiểu học…) Cần cónhững chính sách về đào tạo nghề để chuyển đổi nghề nghiệp cho những nôngdân không còn đất sản xuất…;
- Sản xuất nông nghiệp trên cơ sở kinh tế tiểu nông với điều kiện lao độngdựa vào công cụ thô sơ đòi hỏi con người phải lao động vất vả, đặc biệt trongđiều kiện thiên nhiên nắng lắm, mưa nhiều, hạn hán, lũ lụt… đã tôi luyện chocon người sức bền bỉ chịu đựng gian khổ, cần cù, chịu thương, chịu khó;
- Nghề nông, nhà nông lấy sự cần mẫn, chăm chỉ làm đầu chứ không phảihọc vấn cao xa “Lão nông chi điền” là điển hình được đề cao yếu tố tình cảm,cảm tính, trực tính, dù có những tinh tế qua trải nghiệm thực tiễn, tích lũy kinhnghiệm và vốn sống nhưng lại hạn chế về năng lực phân tích, về tư duy khái
Trang 24quát và đầu óc duy lý Do tồn tại là lưu truyền hàng ngàng năm qua các thế hệnên nghề nông và nhà nông hoàn toàn có sự chi phối của tri thức kinh nghiệmchứ không dựa trên tri thức lý luận khoa học Trong nông thôn truyền thống,nghề làm ruộng là nghề mà không có nghề với nghĩa là chuyên môn, được đàotạo, huấn luyện theo khoa học Bước vào thời kỳ đổi mới và hiện đại hóa đòi hỏiphải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, văn hóa, lối sống làm cho nhiều người tỏ ra bỡngỡ, lúng túng, bị động, thậm chí bất lực, không tiếp cận được với nghề mới,việc mới;
- Cũng do đặc điểm của nền nông nghiệp truyền thống lấy kinh tế tiểu nôngmang nặng tính tự cung, tự cấp làm đơn vị cơ sở, nên người sản xuất khôngquen hạch toán kinh tế Với người nông dân, hầu như mọi tư liệu vật chất phục
vụ sản xuất đều có sẵn trong tay và đặc biệt họ không tính tới công sức mình bỏ
ra Sự lo toan của con người chủ yếu tập trung vào chu trình sinh trưởng của câytrồng, vật nuôi trong thời gian một vụ Từ đó đã hình thành một tập tính kémhạch toán, không quen lường tính xa Bên cạnh đó, sự thành bại của nông nghiệpphần lớn phụ thuộc vào thiên niên, nên dễ tạo tâm lý cầu may và “ăn xổi” Đócũng là cách làm ăn tùy tiện, tản mạn, lãng phí về thời gian, thiếu kỷ luật chặtchẽ;
- Nguồn nhân lực trong nông nghiệp, nông thôn (đặc biệt là bộ phận laođộng trực tiếp sản xuất) làm việc có tính chất thời vụ Sản xuất nông nghiệp phụthuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, sinh thái của từng vùng Sản xuất chủyếu theo mùa vụ, việc làm không thường xuyên;
- Về cơ cấu dân số, đặc điểm chung nhất của khu vực này là dân số tăngnhanh, cơ cấu dân số trẻ làm tăng LLLĐ cho nên khả năng tạo việc làm luônthấp hơn cầu về việc làm của lao động nông thôn Nguồn nhân lực nông nghiệp,nông thôn có độ tuổi trung bình ngày càng tăng Điều đó đồng nghĩa với khảnăng sức khỏe và trình độ sẽ hạn chế hơn so với các lĩnh vực khác Độ tuổi trungbình cao cũng có thể dẫn đến hạn chế việc tiếp thu ứng dụng khoa học côngnghệ và làm quen với môi trường công nghiệp, cường độ lao động cao Do vậycác chính sách giải quyết việc làm cho đối tượng này khi chuyển sang lĩnh vực
Trang 25khác phải hết sức chú ý.
1.2.5 Căn cứ vào các điều kiện kinh tế
Mỗi chính sách đề ra phải dựa vào hoàn cảnh kinh tế cụ thể, chúng ta khôngthể vượt quá điều kiện kinh tế và các nguồn lực hiện có Chính sách giải quyếtviệc làm cho nông dân bị thu hồi dất phải dựa trên các đặc điểm về điều kiệnkinh tế
Nước ta là một nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trên thế giới và trongkhu vực, tốc độ đô thị hóa, CNH vào loại nhanh, nhiều khu công nghiệp đangthế cho những khu chuyên canh nông nghiệp Quá trình này đang diễn ra với tốc
độ nhanh và với quy mô rộng khắp cả nước đặc biệt là tại các vùng đồng bằng.Chính vì vậy, chính sách giải quyết việc làm cho nông dân những vùng bị thuhồi đất phải tính toán đến những tác động trước mắt và lâu dài đối với nhữngnông dân bị thu hồi đất, đưa ra những giải pháp phù hợp và kịp thời nhất
Mặc dù nền kinh tế nước ta có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định, nhưnghiện tại nước ta vẫn là một trong những nước nghèo, trình độ phát triển kinh tế,
cơ sở vật chất, kỹ thuật còn lạc hậu… Chính sách giải quyết việc làm cho nôngdân bị thu hồi đất phải xem xét đến các yếu tố này để có những phương án phùhợp và khả thi
Các chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất không chỉcăn cứ vào các điều kiện kinh tế từ phía nhà nước, tiềm lực kinh tế, ngân sáchquốc gia mà còn phải dựa vào tiềm lực kinh tế của chính các hộ nông dân bị thuhồi đất và doanh nghiệp
1.2.6 Căn cứ xã hội
Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là một loạichính sách xã hội Do vậy nhất thiết phải xuất phát từ căn cứ xã hội Đó là: Biếnđộng về đất đai, tình hình thu hồi đất, những hậu quả của việc thu hồi đất tới đờisống của nông dân Do tác động của việc thu hồi đất, dòng người di dân tự phát
từ nông thôn vào các thành phố lớn với quy mô, tốc độ ngày càng tăng Số nàyvào thành phố chủ yếu kiếm việc làm có thu nhập cao hơn nông thôn (phần lớn
là lao động phổ thông nặng nhọc), nhưng cũng gây nên những phức tạp rất lớn
về quản lý đô thị, làm quá tải cơ sở hạ tầng và các dịch vụ xã hội khác và gây
Trang 26nên nhiều tệ nạn khác Trình độ dân trí, phong tục tập quán sinh hoạt và sản xuấtcủa nông dân là một căn cứ để hoạch định chính sách giải quyết việc làm.
1.2.7 Căn cứ vào tình hình quốc tế
Toàn cầu hóa đang là một thực tế đang diễn ra trên thế giới, các quốc giangày càng phụ thuộc vào cộng đồng quốc tế Toàn cầu hóa đã dẫn đến sự thayđổi chính sách liên quốc gia cũng như chính sách của từng quốc gia
Chính sách giải quyết việc làm nói chung và giải quyết việc làm cho nôngdân bị thu hồi đất nói riêng cũng phải xem xét các tác động và ảnh hưởng củabối cảnh quốc tế
Trong khi LLLĐ trong nước vượt quá khả năng thu hút của các doanhnghiệp trong nước, việc xuất khẩu lao động là một giải pháp đem lại nhiều việclàm cho LLLĐ xã hội Việc đào tạo nghề cho lao động phù hợp và đáp ứng đượcnhu cầu và thị hiếu của thị trường quốc tế để tăng tính cạnh tranh của nguồnnhân lực cũng cần phải có những chính sách về đào tạo, định hướng thích hợp từphía nhà nước
1.3 Vai trò của nhà nước, các tổ chức, thành phần và xã hội trong hoạch định và thực hiện chính sách giải quyết việc làm cho người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
1.3.1 Vai trò của nhà nước
Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là vấn đề mang tính chínhtrị, kinh tế, xã hội vừa cơ bản, bức xúc trước mắt liên quan đến cuộc sống củahàng triệu nông dân có ruộng đất bị thu hồi để thực hiện dự án Do vậy, nhànước là chủ thể trước tiên cũng là chủ thể có tiềm lực mạnh mẽ nhất để giảiquyết vấn đề này
- Nhà nước có chính sách bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất nông nghiệpnhư hỗ trợ để chuyển đổi nghề nghiệp, cho vay vốn sản xuất ;
- Nhà nước ban hành chính sách tạo thuận lợi phát triển các hoạt động giaodịch trên thị trường Ví dụ như các chính sách khuyến khích, tạo điều kiện hoạtđộng cho các trung tâm giới thiệu việc làm và cung ứng lao động, trung tâm đàotạo nghề
Trang 27- Nhà nước có những chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện cho các doanh nghiệptiếp nhận những lao động là nông dân bị thu hồi đất’
- Nhà nước ban hành hệ thống pháp luật phù hợp và tạo điều kiện để nôngdân bị thu hồi đất có khả năng tìm kiếm việc làm, chuyển đổi nghề nghiệp
Việc hoạch định các chính sách về giải quyết việc làm cho nông dân bị thuhồi đất do các cơ quan nhà nước tiến hành Cụ thể là:
- Chính phủ: Tổ chức soạn thảo và ban hành các chính sách lớn, mang tầm
vĩ mô có liên quan đến vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đấttrên phạm vi cả nước, có quy mô triển khai lớn, huy động sự tham gia quản lý vàhuy động nguồn lực của nhiều cấp, nhiều ngành
- Các Bộ, ngành có liên quan: Bộ, ngành có liên quan đến vấn đề giải quyếtviệc làm cho nông dân bị thu hồi đất soạn thảo và ban hành những chính sách cóquy mô nhỏ hơn và thuộc quyền quản lý của Bộ và ngành có liên quan Các vănbản này có thể do từng bộ, ngành soạn thảo và ban hành nhưng cũng có thể donhiều Bộ cùng tham gia soạn thảo dưới dạng các Quyết Định, Thông tư mangtính liên bộ
- Chính quyền địa phương: Trên cơ sở các chương trình mục tiêu quốc gia,các chính sách chung của các cơ quan nhà nước trung ương, cấp chính quyền địaphương căn cứ vào khả năng của các cơ quan ban hành và thực hiện chính sách
ở địa phương cũng như thực trạng lao động việc làm bị thu hồi đất ở địa phươngmình mà có những chính sách cụ thể
UBND cấp tỉnh có định hướng quy hoạch, kế hoạch về chuyển đổi mục đích
sử dụng đất nông nghiệp, chủ động xây dựng kế hoạch hỗ trợ dạy nghề và tạoviệc làm từ dự án dạy nghề cho lao động nông thôn và vay vốn giải quyết việclàm cho người lao động ngay trong quá trình xây dựng quy hoạch và kế hoạch thuhồi đất nông nghiệp, nắm chắc tình hình nguồn lao động và cơ cấu lao động –việc làm vùng chuyển đổi để có biện pháp, đề án hỗ trợ tái định cư, xây dựng vàphát triển các hợp tác xã dịch vụ hoặc doanh nghiệp nhỏ hoạt động dịch vụ tạivùng bị thu hồi đất, phát triển ngành nghề truyền thống tạo thêm nhiều việc làmcho người lao động; tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về chủ trương,
Trang 28đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn và vận độngnhân dân chủ động tham gia học nghề để chuyển đổi nghề và tìm việc làm phùhợp nhằm nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Các địa phương từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã có thể soạn thảo và ban hànhcác chính sách cho địa phương mình về các vấn đề liên quan đến giải quyết việclàm cho nông dân bị thu hồi đất Các chính sách cấp địa phương soạn thảo vàban hành có thể là triển khai các văn bản của Trung ương Nhưng cũng có thể lànhững chính sách ban hành nhằm thực hiện những mục tiêu mang tính chiếnlược trong tạo việc làm cho nông dân bị thu hồi đất
1.3.2 Vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội
a Đảng bộ và các chi bộ Đảng ở địa phương
Đối với vấn đề giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất, Đảng bộ vàchi bộ Đảng ở địa phương có vai trò và trách nhiệm:
Thông báo mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước, tổ chức học tập phổbiến tới các cán bộ đảng viên, cung cấp tài liệu liên quan đến đường lối, chínhsách của Đảng và thông báo, phổ biến trên các phương tiện thông tin tới nhữngđối tượng bị thu hồi đất vì quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động
Cùng các cấp chính quyền đưa ra các chủ trương, đường lối phát triển kinh
tế - xã hội, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nông dân bị thu hồi đất và tổchức các cuộc họp bàn, dân chủ, ra quyết định các vấn đề như chủ trương xóađói, giảm nghèo, kế hoạch vay vốn – tạo việc làm
b) Hội Nông dân
Trong những năm qua, hội nông dân đã đóng vai trò tích cực trong vấn đềtạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân bị thuhồi đất ở nhiều địa phương Cụ thể là:
Tạo điều kiện để nông dân bị thu hồi đất được vay vốn để tạo việc làm, pháttriển kinh tế gia đình thông qua các hình thức tín chấp tại các ngân hàng Nôngnghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng Chính sách, xây dựng nguồn vốn Quỹ
hỗ trợ nông dân ;
Chỉ đạo nông dân thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế bền vững và có hiệu
Trang 29Tuyên truyền cho hội viên thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xãhội của địa phương;
Tổ chức tập huấn cho hội viên những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp, tổchức các lớp dạy nghề để họ có thể lựa chọn các ngành nghề phù hợp khi bị thuhồi đất và liên hệ việc làm cho chị em sau học nghề;
Giúp đỡ chị em tiếp cận được các nguồn vốn vay ưu đãi thông qua việc tổchức và đứng ra tín chấp cho chị em vay vốn từ quỹ quốc gia để giải quyết việclàm và các nguồn hỗ trợ khác để phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm việclàm, tăng thu nhập cho gia đình
d) Hội Cựu chiến binh
Tham gia đóng góp vào xây dựng các chương trình phát triển kinh tế xãhội, tạo việc làm cho lao động địa phương và xây dựng các hương ước của thôn,làng;
Vận động hội viên và nhân dân trong xã thực hiện tốt các quyết định vềphát triển kinh tế xã hội ở địa phương, đóng góp đầy đủ để xây dựng cơ sở hạtầng hay các công trình phúc lợi khác
d) Đoàn thanh niên
Vận động Đoàn viên thanh niên tham gia phong trào làm kinh tế,
Tuyên truyền, cập nhật thông tin, chính sách pháp luật của Đảng và nhànước cho thanh niên những vùng bị thu hồi đất để họ hiểu và có kế hoạch họcnghề chuyển đổi nghề nghiệp Tổ chức các lớp dạy nghề, vận động các đoànviên tham gia và liên hệ việc làm cho các đoàn viên;
Trang 30Đoàn thanh niên đứng ra tín chấp cho các đoàn viên vay vốn đầu tư sảnxuất kinh doanh, phát triển kinh tế gia đình.
1.3.3 Vai trò của doanh nghiệp
Vai trò của doanh nghiệp trong việc tạo công ăn việc làm cho nông dân bịthu hồi đất được thể hiện ở chỗ:
Doanh nghiệp là nơi đào tạo và truyền nghề mới, chuyển đổi nghề nghiệpcho nông dân bị thu hồi đất;
Là nơi tiếp nhận một lực lượng lớn lao động xã hội trong đó có nông dân bịthu hồi đất tại địa phương cũng như các địa phương lân cận;
Môi giới việc làm giữa các thành phần kinh tế và khu vực kinh tế nôngthôn, đô thị nhằm xúc tiến việc làm và tạo ra các luồng di cư lao động và trungchuyển việc làm hợp lý và hiệu quả trong xã hội;
Doanh nghiệp có vai trò tận dụng, khai thác các nguồn lực xã hội nhằmtừng bước giải quyết việc làm đầy đủ, hợp lý cho người lao động;
Doanh nghiệp gián tiếp tạo công ăn việc làm cho những người dân vùng lâncận Nông dân bị thu hồi đất chưa qua đào tạo hoặc quá tuổi đào tạo có thể thamgia vào các lĩnh vực dịch vụ phục vụ cho các khu công nghiệp và các doanhnghiệp trong vùng Ví dụ: Bảo vệ, trông xe, sửa chữa xe, rửa xe, xây nhà trọ,cung cấp thực phẩm và các loại hình dịch vụ đơn giản khác
1.3.4 Vai trò của nông dân
Giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất cần sự nỗ lực của chính bảnthân họ Chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất sẽ không cókết quả do hạn chế về thông tin hoặc người lao động không hợp tác với cácchương trình chính sách Tạo việc làm là sự nghiệp của toàn dân, thực hiệnphương châm dân tự lo việc làm cho mình trong các thành phần kinh tế là chính,khắc phục tâm lý ỷ lại trông chờ vào nhà nước Để chính sách giải quyết việclàm cho nông dân đạt kết quả, nông dân bị thu hồi đất cần tích cực, chủ độngtrong việc nâng cao trình độ dân trí, kỹ năng nghề nghiệp, nắm bắt thông tin và
cơ hội để tìm kiếm hoặc chuyển đổi nghề nghiệp khi bị thu hồi đất Người dânphải động viên, khuyến khích con em mình học tập để trang bị kiến thức, taynghề Có kế hoạch sử dụng tiền đền bù đất và các khoản hỗ trợ khác của nhà
Trang 31nước hợp lý để tìm kiếm việc làm Trên thực tế, có không ít nông dân sau khinhận tiền bồi thường hàng trăm triệu đồng đã dồn hết cho thú vui “mua sắm thờithượng” thay vì đầu tư học hành Nhà nước yêu cầu các doanh nghiệp khi tuyểnlao động phải ưu tiên người địa phương và coi đó như một trong những điềukiện ràng buộc khi ký kết Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ có thể tuyển những laođộng đáp ứng được tiêu chuẩn Do vậy, nhận thức và sự nỗ lực của chính ngườidân là chìa khóa thành công của chính sách giải quyết việc làm.
Tóm lại, giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất là một bài toánphức hợp cần sự hợp sức, nỗ lực từ nhiều phía - cả nhà nước, các tổ chức chínhtrị xã hội, doanh nghiệp và cả bản thân người lao động Nếu không có sự phốihợp thì chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất khó có tínhkhả thi và đạt được mục tiêu
1.4 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở một số nước trên thế giới
Kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức: Công tác khuyến khích pháttriển kinh tế đô thị là một trọng tâm được ưu tiên ở tất cả các đô thị của nướcĐức Công tác lãnh đạo và quản lý các KCN đều chú ý tập trung khai thác cáctiềm năng kinh tế địa phương tạo điều kiện thuận lợi để nó phát triển Việc nàyliên quan đến hàng loạt các nhân tố như tác động vào hoạt động của các doanhnghiệp thông qua chính sách tài chính thuế, duy trì khuyến khích các doanhnghiệp mới, chuẩn bị mặt bằng và cơ sở hạ tầng, quảng cáo đô thị, khuyến khíchđổi mới công nghệ, xây dựng chính sách việc làm cho địa phương Nước Đứchiện nay đang ở trong thời kỳ “phi công nghiệp hoá” nên đã giải thể các nhàmáy xuất hiện từ đầu thế kỷ 20 để chuyển sang các dây chuyền sản xuất hiện đại
có công nghệ cao và sạch, tạo năng suất lao động cao và giảm ô nhiễm môitrường Các dự án phát triển kinh tế ở các KCN được chuẩn bị một cách nghiêmtúc, dân chủ và hướng vào phục vụ lợi ích của cộng đồng
Kinh nghiệm của Trung Quốc: Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất thế
Trang 32giới Tốc độ CNH-HĐH cũng đang diễn ra rất nhanh chóng Diện tích đất canhtác hạn chế trong khi dân số đang tăng làm cho tỷ lệ thất nghiệp ở các vùngnông thôn ngày càng tăng Hiện nay, ước tính Trung Quốc có từ 100 - 120 triệulao động nông thôn không có việc làm, hàng năm lại tăng thêm 6-7 triệu laođộng Với LLLĐ nông thôn dư thừa này, hàng năm có hàng triệu người nhập cưvào các vùng thành thị Thực trạng này đã gây ra rất nhiều khó khăn cho côngtác quản lý đô thị về các mặt như: quản lý dân cư, lao động việc làm, an ninh,sức khoẻ và nhiều vấn đề khác Trong những năm qua, mặc dù vẫn còn tìnhtrạng di cư đến các đô thị lớn nhưng với các biện pháp hữu hiệu Trung Quốc đãđạt được những thành công trong việc hạn chế sức ép về việc làm Giải pháp chủyếu mà Trung Quốc áp dụng để giải quyết việc làm cho các KCN là:
+ Phát triển các xí nghiệp địa phương để thu hút việc làm Các giai đoạnphát triển của xí nghiệp địa phương ở Trung Quốc
+ Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp địa phương, tạo điều kiện thu hútlao động dư thừa
+ Xây dựng các đô thị quy mô vừa và nhỏ để giảm bớt lao động nhập cư ởcác thành phố lớn
Kinh nghiệm ở Nhật Bản: Những năm 40 và 50 của thế kỷ XX, đời sốngcủa nông dân Nhật Bản gặp rất nhiều khó khăn, ruộng đất tập trung vào tay địachủ, nông dân thiếu việc việc trầm trọng Để giải quyết tình trạng thất nghiệp vàthiếu việc làm ở nông thôn chính phủ Nhật Bản đã tiến hành :
+ Cải cách ruộng đất và thực hiện đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp Cảicách ruộng đất đã khuyến khích người nông dân đầu tư thêm nhiều lao động vàoruộng đất chính họ sở hữu Để tăng sản lượng, số ngày làm việc bình quân một
vụ trên diện tích gieo trồng được tăng lên Bên cạnh đó, thâm canh tăng vụ, hợp
lý hoá cơ cấu cây trồng đã hạn chế được tình trạng thiếu việc làm theo thời vụ
+ Các chính sách và chương trình hỗ trợ nông thôn khác nhau như:Chương trình tưới tiêu, cung cấp tín dụng và trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dụcnông học vào trường phổ thông, hình thành các trung tâm nghiên cứu và trạmứng dụng thử nghiệm phục vụ nông dân Những chương trình này đã tạo thêm
Trang 33việc làm và thu nhập cho nông dân Sức mua ở các khu vực nông thôn tăng lên,tạo điều kiện để phát triển kinh tế phi nông nghiệp, từ đó thu nhập của các hộnông dân đã không ngừng tăng lên Một nguyên nhân thành công của Nhật Bảntrong việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp thấp là mở rộng các dịch vụ ngành nôngnghiệp, bán lẻ và phân phối các lĩnh vực, nền kinh tế thoát khỏi áp lực của didân và cạnh tranh quốc tế [3].
1.4.2 Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở Việt Nam
a) Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở thành phố Hồ Chí Minh
So với cả nước, thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ đô thị hoá diễn ra rấtcao Mỗi năm có hàng ngàn héc ta đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sửdụng Năm 2003, có khoảng 1.000 ha đất canh tác chuyển thành đất ở nông thôn,
551 ha được chuyển sang làm đất ở đô thị, hơn 2.000 ha được chuyển sang chonhững mục đích sử dụng khác Năm 2004 có khoảng 10.000 ha được chuyển sangmục đích chuyên dùng và nhà ở Như vậy, thành phố Hồ Chính Minh đang cóhàng ngàn hộ nông dân bỗng nhiên trở thành thị dân Tuy nhiên, hàng trăm vấn đềnảy sinh đối với nông dân vì mất đất, cuộc sống thay đổi
Theo báo cáo của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố, sáutháng đầu năm 2005, thành phố đã giải quyết được cho 119.580 lao động, đạt51,99% kế hoạch cả năm Cụ thể, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố đãgiải quyết việc làm cho 105.179 lao động, trong đó có hơn 40.000 chỗ làm, Quỹxoá đói giảm nghèo và Quỹ quốc gia hỗ trợ và giải quyết việc làm cho 8.467 laođộng, các doanh nghiệp xuất khẩu lao động trên địa bàn thành phố đã đưa được5.312 người đi làm việc ở nước ngoài, đạt 35,47% kế hoạch năm Trung tâm bảotrợ dạy nghề và tạo việc làm cho người tàn tật giới thiệu việc làm ổn định cho
623 lao động, trong đó có 203 người lao động khuyết tật [5]
b) Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người lao động ở tỉnh Hà Nam
Theo quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp và đô thị của tỉnh đếnngày 28/06/2005 tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi là 601,1 ha, số diệntích sẽ tiếp tục thu hồi để phát triển các khu công nghiệp đến 2010 là 559 ha
Trang 34Đến hết năm 2004, Hà Nam có 8.018 hộ có đất bị thu hồi, tổng nhân khẩucủa các hộ này khoảng 24.000 người Đại bộ phận các hộ nông dân bị thu hồiđất là hộ thuần nông, cuộc sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuôi quy mônhỏ Việc thu hồi đất nông nghiệp đã làm cho người nông dân bị mất một phầnhoặc toàn bộ TLSX dẫn đến mất việc làm, gặp khó khăn trong tìm và tạo việclàm mới hoặc tìm được việc làm nhưng không đảm bảo được đời sống hoặc việclàm không phù hợp với trình độ chuyên môn kỹ thuật, tay nghề Theo số liệuđiều tra, trong số lao động bị thu hồi đất có trên 12.000 lao động có nhu cầu họcnghề để tìm việc làm mới.
Trước thực trạng trên Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Nam
đã hướng dẫn, chỉ đạo toàn ngành thực hiện các giải pháp hỗ trợ trực tiếp, trọngđiểm về giải quyết việc làm cho các hộ nông dân bị thu hồi đất Cụ thể về đàotạo nghề, xây dựng và hướng dẫn các trung tâm, cơ sở đào tạo nghề triển khaithực hiện dự án đào tạo nghề cho các hộ nông dân và bước đầu đào tạo nghề cho
385 người; đồng thời hướng dẫn những địa phương có lao động không còn đấtsản xuất mở các lớp dạy nghề, truyền nghề, nhân cấy nghề Đơn cử như huyệnDuy Tiên đã dạy nghề cho trên 500 lao động, thị xã Phủ Lý mở 15 lớp đào tạonghề cho 470 lao động Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hà Namcũng triển khai thực hiện 3 cấp chính quyền trong công tác xuất khẩu lao động,
mở các hội nghị về xuất khẩu lao động, giới thiệu các công ty về tuyển dụng laođộng xuất khẩu tại các xã có nhiều lao động thất nghiệp do chuyển giao đất;hướng dẫn Trung tâm dịch vụ việc làm mở văn phòng đại diện giới thiệu việclàm tại thị trấn Đồng Văn, nơi có khu công nghiệp thu hút nhiều doanh nghiệpvào đầu tư Nhờ vậy, năm 2004 đã có hàng chục lao động của huyện Duy Tiênthuộc đối tượng bị thu hồi đất đi xuất khẩu lao động, nhiều người đã, đang tiếptục đăng ký tham gia Bên cạnh đó Sở đã chỉ đạo các huyện, thị xã ưu tiên đầu
tư vốn hỗ trợ việc làm cho người lao động thuộc vùng chuyển đổi Nhờ vậy, đếnnay đã có 42 dự án vay vốn với tổng số tiền gần 1,9 tỷ đồng, giải quyết việc làmmới cho 576 lao động Với các giải pháp trên, công tác giải quyết việc làm bướcđầu có hiệu quả Theo báo cáo của huyện Duy Tiên và thị xã Phủ Lý, tổng số lao
Trang 35động được giải quyết việc làm là 1.279 người, trong đó huyện Duy Tiên là 824người và thị xã Phủ Lý là 455 người.
Năm 2005, toàn tỉnh Hà Nam đã phấn đấu giải quyết việc làm cho 3.500lao động bị thu hồi đất bằng các hoạt động cụ thể như: đưa khoảng 1.150 ngườivào làm việc trong các khu công nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn, xuất khẩulao động 100 người, cho vay vốn từ quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm 550 người,đào tạo nghề cho 1.000 người, các chương trình kinh tế - xã hội khác 1.700người
c) Kinh nghiệm giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi cho phát triển công nghiệp tại Tập đoàn LG Việt Nam – Khu công nghiệp Tràng Duệ huyện An Dương thành phố Hải Phòng
Khi dân có đất bị thu hồi, vấn đề lớn đặt ra là giải quyết việc làm chongười trong độ tuổi lao động Về vấn đề này, tập đoàn LG Việt Nam tại Khucông nghiệp Tràng Duệ, An Dương, Hải Phòng đã có một số giải pháp cụ thể đểgiúp người dân trong vấn đề tìm việc làm
Do nhu cầu thị trường phát triển ngày càng mạnh, LG Việt Nam đã khôngngừng nỗ lực đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, dẫn đến việc sửdụng mặt bằng làm văn phòng, phân xưởng, kho bãi… rất lớn Vì thế mà hàngtrăm hecta đất nông nghiệp tại 2 xã An Hòa, Hồng Phong đã được đền bù hợp lý
và bàn giao mặt bằng cho LG Bên cạnh đó, vấn đề cấp thiết được đặt ra là việclàm cho người lao động, trước tình hình đó thì LG Việt Nam đã đề ra 1 chủtrương chính sách việc làm cho những người trong độ tuổi lao động mà chưakiếm được việc làm LG sẽ tuyển dụng những lao động đã tốt nghiệp trung họcphổ thông và tốt nghiệp từ trung cấp nghề trở lên Đối với trường hợp vừa mớitốt nghiệp phổ thông, thì công ty bố trí vào những vị trí lao động phổ thông như:làm tạp vụ, vận chuyển, vệ sinh khu công nghiệp Đối với trường hợp mà tốtnghiệp các trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề, thì sẽ đào tạo thêm để nângcao tay nghề cho họ, đưa họ vào các vị trí lao động phù hợp với trình độ chuyênmôn đã được đào tạo
Trang 36Tính đến ngày 31/12/2015, LG đã tiếp nhận 1.500 công nhân của 2 xã AnHòa, Hồng Phong Với chủ trương ưu đãi này, LG không những nhận đượcnhững lời khen ngợi từ các ban ngành lãnh đạo của thành phố mà còn đượcngười dân địa phương hết sức ủng hộ LG đã không những làm thay đổi diệnmạo của Hồng Phong, An Hòa nói riêng, Huyện An Dương nói chung mà cònthay đổi được cả đời sống vật chất lẫn tinh thần cho người dân địa phương nơiđó.
Qua bài học thành công của một số tỉnh và của Tập đoàn LG Việt Namtrong công tác giải quyết lao động, việc làm sau thu hồi đất nông nghiệp có thểrút ra một số kinh nghiệm:
Một là, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội của các địa phương
phải gắn với kế hoạch đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho người lao động cóđất bị thu hồi Bên cạnh đó cần phải công khai quy hoạch theo quy định củapháp luật giúp người dân chủ động trong việc lựa chọn học nghề, chuyển đổinghề
Hai là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp làm cơ sở, nền tảng thúc đẩy cácngành kinh tế khác phát triển, góp phần giải quyết lao động, việc làm trong nội
bộ của mỗi ngành kinh tế
Ba là, tăng cường công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề cho người lao
động Tập trung củng cố, mở rộng, nâng cao năng lực, hiệu quả công tác đào tạonghề của các cơ sở dạy nghề, gắn đào tạo nghề với nhu cầu sử dụng lao độngcủa từng ngành kinh tế, của các doanh nghiệp Đẩy mạnh công tác giáo dụchướng nghiệp cho học sinh phổ thông, thực hiện phân luồng học sinh trong cáctrường phổ thông
Bốn là, đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động, coi đây là một trong
những giải pháp mang lại hiệu quả thiết thực trong giải quyết việc làm chongười lao động
Năm là, các doanh nghiệp (chủ đầu tư) cần chủ động liên doanh, liên kết
một cách chặt chẽ với chính quyền địa phương nơi có đất nông nghiệp bị thu hồi
Trang 37để đào tạo và tiếp nhận người lao động
Sáu là, chính quyền địa phương, cần phối hợp với doanh nghiệp(chủ đầu
tư) tổ chức các lớp dạy nghề để cung cấp nguồn lao động cho doanh nghiệp khi
dự án hoàn thành
Bảy là, Những người có nhiều ruộng đất bàn giao thì con em họ được
nhận vào làm trước; hộ nào bàn giao trước thì được nhận lao động trước, bàngiao sau thì nhận sau; hộ bàn giao nhiều ruộng đất thì nhận nhiều lao động, bàngiao ít ruộng đất thì được nhận ít lao động Ngoài ra còn phải tính đến các đốitượng ưu tiên khác như: người khuyết tật, con em liệt sĩ, thương bệnh binh,người có công với cách mạng, bảo đảm sự công khai, công bằng hợp lý tronggiải quyết lao động
Tám là, doanh nghiệp cần có kế hoạch đào tạo nhằm nâng cao trình độ,
tay nghề cho lao động địa phương Thường xuyên phối hợp với các trường đạihọc, cao đẳng, đơn vị dạy nghề khác đưa lao động đi đào tạo và tiếp nhận laođộng sau khi tốt nghiệp
1.5 Chính sách của thành phố Hải Phòng đối với người lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi
Từ những chủ trương, chính sách chung của Đảng, Nhà nước áp dụng chocác vùng thu hồi đất phục vụ các dự án phát triển công nghiệp, giao thông, xâydựng, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế, Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷban nhân dân thành phố Hải Phòng đã cụ thể hoá thành các quy định về đền bù,
hỗ trợ ổn định đời sống, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn nói chung
và lao động có đất nông nghiệp bị thu hồi nói riêng, cụ thể là:
- Quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày 22/01/2010của Uỷ ban nhândân thành phố ban hành quy địnhvề chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cưkhi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng Điều 17 quy định
“Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp trên đất được giao ổn địnhlâu dài và đất rừng sản xuất, kinh doanh, khi bị thu hồi thì được hỗ trợ ổn địnhđời sống, sản xuất, chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm
- Quyết định số 1263/2010/QĐ-UBND ngày ngày 30/7/2010 của Ủy ban
Trang 38nhân dân thành phố về việc sửa đổi, bổ sung một số điều quy định về chính sáchbồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phốHải Phòng ban hành kèm theo quyết định số 130/2010/QĐ-UBND ngày22/01/2010của Uỷ ban nhân dân thành phố
Theo Quyết định này quy định: “Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuấtnông nghiệp trên diện tích đất quy định tại Khoản 1 Điều 14 Thông tư số14/2009/TT-BTNMT (không tính đất nông nghiệp thuộc trường hợp quy địnhtại Khoản 1, 2 Điều 35 quy định này) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp có
đủ một trong các điều kiện quy định tại Điều 5 của Quy định này mà không cóđất để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường theo quy định tại Khoản 1Điều 11 của Quy định này còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việclàm theo hình thức hỗ trợ bằng tiền, mức hỗ trợ cụ thể như sau:
Hỗ trợ bằng hai lần giá đất nông nghiệp có cùng vị trí, loại đất và cùngmục đích sử dụng theo giá quy định của Uỷ ban nhân dân tỉnh tại thời điểm thuhồi đất đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi nhưng không đượcvượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương; diện tích tính hạn mứcbao gồm cả phần diện tích đất đã thu hồi trước đây (nếu có)”
- Quyết định số 2680/2014/QĐ-UBND ngày 03/12/2014 Ban hành quyđịnh chi tiết một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thuhồi đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng
Theo Quyết định này quy định tại điều 21 mức hỗ trợ, đào tạo, chuyển đổi
và tìm kiếm việc làm theo khoản 1 điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP đượctính bằng 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại, cùng vị trí trong bảng giá đất doUBND thành phố ban hành đối với toàn bộ diện tích đất thu hồi; diện tích hỗ trợkhông vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương
Từ năm 2010 trở lại đây, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông,xây dựng của thành phố Hải Phòng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, chính sách
hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn có đất nông nghiệp bịthu và việc thực hiện chính sách đền bù, hỗ trợ còn hạn chế Cụ thể xem xét một
số chính sách chủ yếu sau:
Trang 39- Chính sách bồi thường
Chính sách đền bù là một trong những chính sách quan trọng của Nhànước nhằm bù đắp những thiệt hại về tài sản, hoa màu trên đất mà người dânđang quản lý, sử dụng bị thu hồi Chính sách đền bù hợp lý sẽ tạo đồng thuậncao trong nhân dân khi trả lại đất cho Nhà nước Tuy nhiên, phần lớn các hộ dânlại cho rằng, chính sách đền bù của Nhà nước vẫn còn có sự bất cập, chưa tốthay việc thực hiện thiếu đồng bộ Do vậy, cần có sự xem xét, đánh giá kỹ mứcđền bù, thời gian chi trả tiền đền bù để người dân thực sự an tâm khi trả lạiruộng đất cho Nhà nước
- Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất
Chính sách hỗ trợ của Nhà nước nhằm giúp người dân có đất bị thu hồinhanh chóng ổn định cuộc sống trong điều kiện mới Tuy nhiên, việc triển khaithực hiện chính sách này cũng cần được hoàn thiện hơn trong thời gian tới
- Chính sách hỗ trợ việc làm
Đây là chính sách quan trọng, cần thiết đối với người dân vùng thu hồiđất, bởi cuộc sống của họ và gia đình luôn gắn liền với sản xuất nông nghiệp.Chính sách này cũng rất nhạy cảm, nếu làm tốt không những bảo đảm việc làm
và cho người lao động, mà còn góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội của địa phương Khi vấn đề này giải quyết chưa tốt, chưa được quantâm đầy đủ, đúng mức, người dân thường có phản ứng mạnh mẽ
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
2.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện An Dương
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1 Vị trí địa lý
Huyện An Dương là một huyện nằm ở phía Tây thành phố Hải Phòng,được tách ra từ huyện An Hải cũ vào năm 2003 Huyện có 16 đơn vị hành chínhtrực thuộc, gồm thị trấn An Dương và 15 xã: Lê Thiện, Đại Bản, An Hòa, HồngPhong, Tân Tiến, An Hưng, An Hồng, Bắc Sơn, Nam Sơn, Lê Lợi, ĐặngCương, Đồng Thái, Quốc Tuấn, An Đồng, Hồng Thái Vị trí địa lý:
- Phía Tây, Tây bắc giáp với tỉnh Hải Dương;
- Tây Nam giáp với huyện An Lão,
- Phía Nam giáp với quận Kiến An,
- Phía Bắc giáp huyện Thủy Nguyên
- Phía Đông Nam giáp quận Hồng Bàng và quận Lê Chân
Trên địa bàn huyện có sông Kinh Môn (phía Bắc), sông Lạch Tray (phíaTây), sông Cấm chảy qua (phía Đông), sông Hàn làm ranh giới giữa An Dương
và Kiến An Có quốc lộ 5A và quốc lộ 10 là hai tuyến giao thông quan trọng nhấtcủa huyện, ngoài ra còn có tỉnh lộ 188 và 351 Các yếu tạo nhiều thuận lợi cho
An Dương phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu văn hóa, chính trị
2.1.1.2 Đặc điểm địa hình, địa mạo
Địa hình: Đất đai huyện An Dương do phù sa bồi đắp mà hình thành Tuynhiên do sự bồi đắp không đồng đều nên địa hình có những nơi cao, nơi thấpxen kẽ nhau Độ cao trung bình của huyện giao động từ 0,7 - 3m Những xã ởphiá Bắc và Đông bắc, dọc quốc lộ 5 có địa hình cao hơn các xã ở phía Nam vàĐông nam
Địa mạo: An Dương nằm trong vùng có nền địa chất công trình thuộc loạixấu của thành phố Hải Phòng với cột địa tầng điển hình sắp xếp từ trên xuống