1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội quận tân phú

84 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 581,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢNTRỊ RỦI RO TÍN DỤNG 1.1Tín dụng 1.1.1 Khái niệm về tín dụng “Tín dụng được xem là một hoạt động giao dịch về tài sản, tài sản nà

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của đề tài

Rủi ro tín dụng luôn là nổi lo lắng cho các ngân hàng Dù xẩy ra ít hay nhiềuthì nó cũng làm giảm lợi nhuận cũng như giảm nguồn vốn tự có của các ngân hàng

Do vậy, nếu rủi ro tín dụng không được kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tỷ lệ các khoảncho vay mất vốn tăng lên quá cao, các ngân hàng sẽ phải đối mặt với nguy cơ phásản Theo nghiên cứu của Corsetti được thực hiện năm 1998 thì chính khủng hoảngtài chính là nguyên nhân quan trọng nhất trong việc dẫn đến tỷ lệ nợ quá hạn tạicác ngân hàng tăng cao là một trong những yếu tố chính dẫn đến khủng hoảng.Trước khi khủng hoảng xẩy ra thì tỷ lệ nợ quá hạn tại các ngân hàng thương mạiThái Lan là 13%, Indonesia là 13%, Phillipines là 14%, Malaysia là 10%

Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu năm 2007 – 2009 vừa qua cho thấy

sự sụp đổ của hệ thống tài chính Mỹ với xuất phát điểm đầu tiên là từ rủi ro tín dụnggây ra Theo công bố của cục dự trữ liên bang Mỹ, hàng loạt ngân hàng lâu đời và cótiềm lực tài chính mạnh vào bậc nhất thế giới vẫn không thể thoát nổi Chỉ có 26 ngânhàng phá sản trong năm 2008 nhưng năm 2009 con số này đã lên tới 140 ngân hàng –một con số không hề nhỏ

Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng đặc biệt có mục đích đưa chínhsách ưu đãi tín dụng đến các hộ nghèo và các đối tượng chính sách Hoạt động củangân hàng không đưa mục đích lợi nhuận lên hàng đầu mà nhằm giúp giảm khoảngcách giàu nghèo trong xã hội Tuy nhiên không phải vì thế mà các ngân hàng này

lơ là với rủi ro tín dụng Quản lý rủi ro tín dụng càng tốt, thì kết quả đầu tư càngcao hay nói khác hơn điều này dẫn đến mục tiêu của Đảng và Nhà nước ổn định xãhội càng có kết quả tốt Có quản lý tốt, đầu tư hợp lý thì đời sống người dân mớiđược cải thiện đảm bảo dân giàu nước mạnh

Quá trình hoạt động vừa qua, ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú,HCM đã gặt hái được nhưng thành công nhất định Đã có hàng trăm hộ thoátnghèo vươn lên làm giàu Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động cho vay hộ nghèo tại

Trang 2

đây hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn hạn chế như nguồn vốn huy động thiếu tính

ổn định cũng như qui mô cho vay còn nhỏ, thêm vào đó điều kiện cho vay cònthiếu rõ ràng, và đặc biệt, thủ tục cho vay còn rườm rà

Để nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động cho vay hộ nghèo nói chung và hạnchế rủi ro xẩy ra, cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phútại thành phố HCM cần tìm được các giải pháp thiết thực phù hợp nhất, thiết thựcnhất để hạn chế tối đa việc xẩy ra rủi ro tín dụng

Với ý nghĩa trên, là một cán bộ đang công tác lâu năm trong ngành tại ngânhàng chính sách Quận Tân Phú, tác giả mạnh dạn đóng góp quan điểm của mình

qua đề tài: “Một số biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng đối với hộ nghèo tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú” với hy vọng tìm được các giải pháp phù

hợp, nhất là những giải pháp mang tính đột phá

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là hạn chế rủi ro tín dụng đối với hộ nghèo tạiNgân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú

Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có nhiệm vụ thực hiện các nộidung nghiên cứu sau:

- Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản trị rủi ro tín dụng

- Thứ hai, đánh giá thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàngchính sách xã hội Quận Tân Phú

- Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tíndụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội QuậnTân Phú

Trang 3

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Đề tài chọn nghiên cứu cán bộ, nhân viên và khách hàng đã sửdụng dịch vụ tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú

- Thời gian: Từ năm 2012- 2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, so sánh, tổng hợp: chủ yếu sử dụng phương phápthống kê, so sánh, tổng hợp từ các dữ liệu thứ cấp để phân tích, đánh giá thực trạngrủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú Nguồn dữ liêu thứcấp được thu thập từ các số liệu báo cáo của Ngân hàng nhà nước, Ngân hàngchính sách xã hội Quận Tân Phú số liệu thống kê báo cáo của tổng cục thống kê,

số liệu trên web, các báo cáo tình hình kinh tế xã hội, các đề tài liên quan; sáchbáo, tạp chí chuyên ngành

Phương pháp nghiên cứu theo hướng tư duy logic: đi từ lý thuyết đến thựctiễn nhằm giải quyết và làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bảng, hình vẽ vàbiểu đồ, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng

- Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xãhội Quận Tân Phú

- Chương 3: Một số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàngchính sách xã hội Quận Tân Phú

- Kết luận

- Tài liệu tham khảo

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN

TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

1.1Tín dụng

1.1.1 Khái niệm về tín dụng

“Tín dụng được xem là một hoạt động giao dịch về tài sản, tài sản này có thể

là tiền hoặc hàng hoá, giữa bên cho vay (có thể là ngân hàng hoặc các định chế tàichính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiêp (DN) và các chủ thể khác),trong đó bên cho vay chuyển giao phần tài sản của mình cho bên đi vay, bên đivay được sử dụng tài sản đó trong một thời hạn nhất định như theo thỏa thuậnđồng thời bên đi vay có trách nhiệm sẽ thực hiện hoàn trả vô điều kiện phần vốn

gốc và lãi cho bên cho vay khi đến thời gian thanh toán” [3] Từ nội dung trên cho

thấy, hoạt động tín dụng là việc mà tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự cócủa mình hoặc nguồn vốn huy động để cấp tín dụng cho một đối tượng khác đangcần

Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động mà tổ chức tín dụng đồng ý để kháchhàng được quyền sử dụng một khoản tiền và hoàn trả cho mình với khoản tiền đócộng thêm một phần lợi nhuận mà hai bên đã thỏa thuận Hoạt động này được thựchiện bằng các nghiệp vụ cho vay, nghiệp vụ chiết khấu hay cho thuê tài chính, bảolãnh ngân hàng hoặc các dịch vụ khác

Từ phân tích trên, tác giả kết luận rằng: Cho vay cũng là một hình thức cấptín dụng trong đó tổ chức tín dụng sẽ giao cho khách hàng được sử dụng mộtkhoản tiền vào mục đích và thời gian nhất định Tuy nhiên khách hàng phải thựchiện hoàn trả cả gốc và lãi theo thỏa thuận

1.1.2 Bản chất tín dụng

Khái niệm tín dụng xuất phát từ thuật ngữ La tinh “credittum”, thuật ngữ này

có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm Quan hệ tín dụng đã hình thành và phát triểnlâu đời với sự phát triển lâu dài của xã hội Tuy nhiên, dù ở trong bất kỳ môi

Trang 5

trường xã hội nào, đối tượng trao đổi trong mối quan hệ này có thể là hàng hóahoặc tiền tệ thì bản chất của tín dụng được thể hiện qua các nội dung sau:

- Quan hệ tín dụng này thực chất là quan hệ vay mượn của hai bên

- Niềm tin và sự hoàn trả là nền tảng để thực hiện quan hệ tín dụng

Tuy nhiên, giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay banđầu, hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức

“Nếu căn cứ theo thời gian cho khách hàng vay thì hoạt động này được chiathành hoạt động cho vay ngắn hạn; hoạt động cho vay trung hạn và hoạt động chovay dài hạn” [3]

“Căn cứ vào niềm tin đối với khách hàng thì hoạt động này chia thành chovay không bảo đảm và cho vay có bảo đảm” [3]

“Nếu căn cứ vào phương pháp hoàn trả thì hoạt động tín dụng được chiathành hoạt động cho vay trực tiếp và cho vay gián tiếp: chiết khấu thương mại;mua các phiếu bán hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp; nghiệp vụbao thanh toán (nghiệp vụ factoring); bảo lãnh….”[3]

1.2.Rủi ro tín dụng

1.2.1.Các khái niệm về rủi ro tín dụng:

Rủi ro tín dụng là vấn đề đặc biệt được quan tâm không chỉ ở phạm vi cácngân hàng mà còn trong toàn nền kinh tế Có nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng,gồm:

Trang 6

Theo hai nhà kinh tế “A Saunder và H Lange [Financial InstitutionsManagement – A Modern Perpective]” [2] thì rủi ro tín dụng được định nghĩa là

“khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khảnăng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng khôngthể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian” [2] Theo quan niệm của ủyban Basel thì “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác củangân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận” [2] [Basel Committee onBanking Supervision (September 2000), Principal for the Management of CreditRisk] [2] Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng có phạm vi khá rộng, không chỉtrong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt độngkhác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện Tuy nhiên, như đã giới thiệutrong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng tronghoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, vì vậy rủi ro tín dụng có thể hiểu đơn giản

là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay

Theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì “Rủi ro tín dụng là khả năngxảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàngkhông thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo camkết” [2] [quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005] Như vậy, từ nhiềuđịnh nghĩa khác nhau, đa dạng, có thể tóm lược nội dung về rủi ro tín dụng nhưsau: Rủi ro tín dụng là rủi ro do bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đốitác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộnghĩa vụ của mình theo cam kết

1.2.2.Phân loại rủi ro tín dụng:

Cơ cấu thành phần của rủi ro tín dụng bao gồm (i) Rủi ro giao dịch(Transaction risk) và (ii) Rủi ro danh mục (Portfolio risk) [Hồ Diệu (2002), Quảntrị ngân hàng, nhà xuất bản Thống kê]

1.2.2.1 Rủi ro giao dịch

Rủi ro giao dịch có 3 thành phần là: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ronghiệp vụ

Trang 7

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình thẩm định, phân tích tíndụng của ngân hàng để lựa chọn khách hàng cấp tín dụng Trong quá trình này,ngân hàng rất dễ mắc phải sự lựa chọn sai lầm do hiện tượng “thông tin bất cânxứng” xuất hiện

+ Rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn bảo đảm cho giao dịch giữangân hàng và khách hàng được diễn ra một cách suôn sẻ và an toàn cho ngân hàng.Các quy định hoặc tiêu chuẩn về tài sản bảo đảm, vốn tự có đối ứng, các thỏa thuậntrên hợp đồng tín dụng là nhằm hạn chế rủi ro trong giai đoạn này

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến các thao tác trong quá trình thựchiện khoản tín dụng Ở đây những sai sót của nhân viên cấp tín dụng trong quátrình giải ngân, giám sát theo dõi khoản tín dụng có thể là xuất phát điểm cho cácrủi ro từ đạo đức của khách hàng nảy sinh Chẳng hạn việc lơ là không thực hiệncác giám sát sau khi giải ngân, có thể khiến người vay nảy sinh ý đồ sử dụng saimục đích, làm thất thoát tiền vay, việc bỏ qua các thủ tục pháp lý cần thiết trướckhi giải ngân cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến việc chiếm dụng vốn từ phíakhách hàng

1.2.2.2 Rủi ro danh mục

Rủi ro danh mục được phân ra hai loại là rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi rotập trung (Concentration risk)

+ Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố mang tính riêng biệt của mỗi chủ thể

đi vay hoặc ngành kinh tế Chẳng hạn như biến cố rủi ro từ thiên tai, mất mùa đặctrưng trong ngành nông nghiệp, hoặc yếu tố tồn kho ứ đọng trong ngành côngnghiệp, xây dựng…Vì gắn liền với chủ thể /đối tượng được cấp tín dụng nên rủi ronội tại là yếu tố không thể triệt tiêu được

+ Rủi ro tập trung xuất phát từ việc dồn vốn cho một số ít khách hàng, một sốngành kinh tế hẹp, một số loại hình cho vay hoặc một khu vực địa lý, đi ngược lạivới nguyên tắc đa dạng hóa để phân tán rủi ro Cũng vì sự xuất hiện của rủi ro nộitại và đặc tính không thể triệt tiêu của rủi ro nội tại nên việc đa dạng hóa để hạn

Trang 8

chế và kiểm soát rủi ro tập trung là vấn đề cần thiết đối với các ngân hàng trongquá trình cấp tín dụng.

1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng

Để nghiên cứu rủi ro tín dụng, cần phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến rủi ro.các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có những nguyên nhân kháchquan từ môi trường bên ngoài và những nguyên nhân do chủ thể tham gia quan hệtín dụng

1.2.3.1 Nguyên nhân khách quan

Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định

+ Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hoá tài chính, hội nhập quốc tế Quá trình

tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ramột môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những kháchhàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luậtchọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh trạnh của cácngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tếcũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp nguy

cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bịcác ngân hàng nước ngoài thu hút

+ Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủnghoảng thừa về đầu tư trong một số ngành Tình trạng này cũng có thể kéo theo việctập trung đầu tư tín dụng quá mức của các ngân hàng thương mại cho một số ngànhkinh tế “thời thượng” nào đó, như kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứngkhoán…và hệ quả không tránh khỏi là rủi ro tín dụng tập trung trên danh mục củacác ngân hàng thương mại

+ Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽtìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lạilợi nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác vàđây cũng là một hiện tượng khách quan Ở các quốc gia đang phát triển, trong đó

có Việt Nam, sự cạnh tranh diễn ra một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với

Trang 9

sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hóa lao động, thểhiện sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô củaNhà nước

+ Khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng tình hình kinh tế vĩ mô trong nướcdẫn đến các trường hợp bất ổn về các chỉ số tài chính như lạm phát cao, mất thăngbằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối đoái không ổn định… có thể là các tácnhân dẫn đến rủi ro trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua các khách hàng) cho ngânhàng

 Rủi ro do môi trường pháp lý không thuận lợi

+ Sự chồng chéo, kém hiệu quả của hệ thống văn bản pháp luật nhà nước,hành lang pháp luật yếu, thường xuyên thay đổi và không đồng bộ, việc thực thipháp luật một cách chậm chạp có thể là một trong những nguyên nhân khách quandẫn đến rủi ro cho các ngân hàng thương mại Đây là điều không tránh khỏi tại cácquốc gia kém hoặc đang phát triển

+ Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của cơ quan giám sátngân hàng Đây là nhân tố có tác động hai chiều đối với hoạt động của các ngânhàng thương mại Ở chiều tích cực, nếu cơ quan giám sát ngân hàng hoạt động cóhiệu quả, sẽ tạo ra một hiệu ứng tốt, có tác dụng cảnh báo rủi ro từ xa cho các ngânhàng thương mại Nhưng ngược lại, sự trì trệ yếu kém của cơ quan giám sát ngânhàng có thể tạo tâm lý ỷ lại, thiếu chủ động của các ngân hàng thương mại trongviệc phòng chống rủi ro, dẫn đến nhiều khi xử lý rủi ro chậm trễ, hậu quả khắcphục rất thấp

+ Hệ thống quản lý và cung cấp thông tin, hỗ trợ cho hoạt động của các ngânhàng thương mại còn bất cập Chủ trương chính sách quản lý của Ngân hàng nhànước, các cơ quan có liên quan đến hoạt động của hệ thống ngân hàng mang tínhngắn hạn, hình thức, có định hướng ép buộc hơn là khoa học trong quản lý Đócũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tíndụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng Nếucác ngân hàng thương

Trang 10

1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng vay vốn.

Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếukém trong quản lý, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì,… là các nguyênnhân gây rủi ro tín dụng:

Thứ nhất, khách hàng vay vốn không có khả năng trả nợ ngân hàng.

- Khách hàng yếu kém trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính: Trườnghợp người vay có trình độ yếu kém về quản lý, không tính toán kỹ lưỡng hoặckhông có khả năng tính toán kỹ lưỡng những rủi ro có thể xẩy ra để nhằm phảnứng một cách chủ động cũng như khắc phục khó khăn trong kinh doanh vì thế sẽdẫn tới vốn vay không được sử dụng hiệu quả Ngoài ra, việc yếu kém trong quản

lý tài chính có thể dẫn tới trường hợp dù dự án hay quá trình sản xuất kinh doanh

có hiệu quả song nguồn trả nợ ngân hàng sẽ không được đảm bảo Như vậy doanhnghiệp không có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn cho ngân hàng

- Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Khi người vaygặp những rủi ro từ thị trường (ví dụ nhu cầu về loại sản phẩm của doanh nghiệpbất ngờ giảm sút do một số thông tin bất lợi), từ bạn hàng (ví dụ khách hàng bị bạnhàng chiếm dụng vốn và không hoàn trả đúng thời hạn quy định) hoặc từ những rủi

ro không dự kiến được tác động đến nguồn thu của doanh nghiệp và khả năng trả

nợ ngân hàng

Thứ hai, khách hàng chủ định lừa đảo ngân hàng

- Trường hợp này người vay kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ chongân hàng đúng hạn hoặc không muốn trả nợ ngân hàng Họ chây ì với hy vọng cóthể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt

- Rủi ro đạo đức là một vấn đề do thông tin không cân xứng tạo ra sau khicuộc giao dịch diễn ra Rủi ro đạo đức phát sinh do các hành động có tác động đếnhiệu quả nhưng lại không dễ dàng quan sát được và vì thế những người thực hiệncác hành động này có thể chọn theo đuổi những lợi ích cá nhân của mình trên cơ sởgây tổn hại cho người khác Rủi ro đạo đức trong lĩnh vực tài chính xảy ra sau khicấp tín dụng, những người được cấp tín dụng luôn có xu hướng muốn thực hiện

Trang 11

các đầu tư rủi ro hơn những người cho vay mong đợi, vì chủ đầu tư sẽ có đượcnhững khoản lợi nhuận rất lớn nếu dự án thành công, trong khi những người cấptín dụng chỉ nhận được một khoản lợi ích cố định Ngược lại, nếu dự án thất bại thìbên cho vay sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn do không được hoàn trả đầy đủ

1.2.3.3 Nguyên nhân từ bản thân ngân hàng.

Ngoài những nguyên nhân vừa nêu, rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng cũng

có khả năng rất lớn

Thứ nhất, quan điểm của lãnh đạo điều hành.

Rủi ro xẩy ra do ban lãnh đạo ngân hàng chấp nhận mức rủi ro cao Do rủi rocàng cao thì lợi nhuận kỳ vọng càng lớn, nên có một số ngân hàng chấp nhận chovay những dự án mạo hiểm để thu về lợi nhuận cao Nếu ngân hàng thương mại cóquan điểm đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên nhất thì cơ chế quản lý sẽ khuyến khích

và tạo điều kiện để bộ phận có liên quan tìm kiếm, quyết định những khoản chovay, đầu tư có thu nhập kỳ vọng cao nhưng tiềm ẩn rủi ro lớn; đồng thời các quyđịnh khác có liên quan về kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt là tiêu chuẩn để xem xét,đánh giá khi quyết định cho vay cũng sẽ đề ra thấp hơn so với tiêu chí về khả năngsinh lời rất được coi trọng Trường hợp ngược lại nếu quan điểm kinh doanh lấy antoàn làm chính thì các quy định về cơ chế quản lý tài sản trong việc thẩm định,xem xét trước khi ra quyết định đầu tư hay cho vay sẽ chặt chẽ hơn, rõ ràng hớn,cụ thể hơn, các tiêu chuẩn để phục vụ cho việc ra quyết định, việc kiểm tra, giámsát cũng được đặt ở mức cao hơn, các ngân hàng thương mại phải biết lựa sứcmình để xác định lợi nhuận hợp lý

Thứ hai, sự yếu kém về công nghệ của ngân hàng.

Ngày nay trình độ công nghệ là yếu tố quan trọng trong tổ chức kinh doanhngân hàng, đặc biệt là đối với quản lý rủi ro tín dụng Khi công nghệ ngày càngcao, thì dự liệu ngân hàng thu thập được sẽ nhiều Đây sẽ là nền tảng giúp chongân hàng sàng lọc những khách hàng, ngành nghề đang có mức độ rủi ro caonhằm hạn chế rủi ro ở từng khách hàng Ngày nay, tất cả các quốc gia đều nhậnthấy vai trò to lớn mà công nghệ đem lại do vậy gần như công nghệ ngân hàng gần

Trang 12

như được ứng khá phổ biến thể hiện ở mức độ tập trung thông tin, ở khả năng phântích, xử lý thông tin, từ đó rút các kết luận, nhận định phục vụ cho quản trị ngânhàng như các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng, tình hình phân bổ tài sản, mức độtập trung rủi ro công nghệ của ngân hàng còn thể hiện khả năng chi phối, kiểmsoát đối với hoạt động của các bộ phận tác nghiệp Ở mỗi trình độ công nghệ khácnhau đều phải đòi hỏi một cơ chế quản lý khác nhau.

Thứ ba, trình độ của cán bộ ngân hàng.

Chất lượng cán bộ tín dụng đóng vai trò then chốt trong việc sàng lọc đượccác khách hàng tốt, dự án tốt Cán bộ tín dụng là người tiếp xúc trực tiếp với nhiềukhách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chínhiều quốc gia khác nhau, là người đưa ra các đánh giá tốt hay xấu, rủi ro hay antoàn trong các giao dịch sắp, đang và đã xẩy ra Muốn đưa ra các quyết định đúngđắn về khách hàng thì họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinhdoanh, môi trường mà khách hàng sống Cán bộ tín dụng phải có khả năng dự báocác vấn đề liên quan đến khách hàng vay Như vậy, cán bộ tín dụng phải được đàotạo và tự đào tạo kỹ lưỡng và toàn diện Khi cán bộ tín dụng cho vay đối với kháchhàng mà họ chưa đủ trình độ để hiểu kỹ lưỡng rủi ro tín dụng luôn rình rập họ.Nguyên nhân rủi ro từ sự yếu kém của đội ngũ nhân viên ngân hàng có thể từ việc:Không phân tích đầy đủ khả năng quản lý kinh doanh của khách hàng Trongdoanh nghiệp vai trò của người lãnh đạo rất quan trọng, sự thành bại trong hoạtđộng phụ thuộc rất nhiều vào định hướng và ra quyết định của người lãnh đạodoanh nghiệp đó Nếu cho vay mà không đánh giá đúng khả năng của người quản

lý sẽ dễ dẫn đến tổn thất

Phân tích báo cáo tài chính không chính xác, không biết đánh giá món vay cóhiệu quả thật hay sẽ có nhiều rủi ro Với doanh nghiệp nào đó đang trong tình trạngsuy thoái mà nhân viên ngân hàng yếu kém trong việc đánh giá phân tích cho vaythì món vay đó sẽ khó thu hồi được

Kiến thức về mặt kinh tế xã hội luật pháp của nhân viên ngân hàng hạn chế,không nắm vững được quy chế thể lệ tín dụng cũng dẫn đến rủi ro Khi người đi

Trang 13

vay không lường hết rủi ro mà nhân viên ngân hàng cũng không hiểu biết để tư vấncho khách hàng thì khi doanh nghiệp bị thua lỗ sẽ không thể trả nợ ngân hàng.Việc định kỳ hạn trả nợ không chính xác, sau khi cho vay ngân hàng thiếu sựgiám sát theo dõi để người vay sử dụng vốn sai mục đích, không có biện pháp xử

lý kịp thời cũng dẫn đến rủi ro tín dụng

Thứ tư, đạo đức của cán bộ tín dụng

Với các khoản vay càng nhiều rủi ro và không đảm bảo những điều kiện tíndụng, người đi vay thường bỏ ra những khoản “hoa hồng” rất lớn để có thể vayđược tiền Vì thực tế này nên đã có một số cán bộ tín dụng cố ý lờ đi các quy định,hay bỏ bớt một số bước của quy trình để móc nối với khách hàng nhằm nhận đượckhoản tiền “hoa hồng” và chính điều này đã đẩy giao dịch tín dụng đó có rủi rotăng cao Bởi vậy, chất lượng cán bộ tín dụng bao gồm cả trình độ chuyên môn vàđạo đức nghề nghiệp

Thứ năm, yếu kém trong việc phối hợp tác nghiệp

Rủi ro tín dụng có thể xuất phát từ tất cả các khâu của quá trình cấp tín dụngcủa ngân hàng thương mại bao gồm: Trong giai đoạn trước khi cho vay, trong giaiđoạn giải ngân và trong giai đoạn quản lý khoản vay của khách hàng

Ở giai đoạn trước khi cho vay việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tíndụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ,không tốt sẽ dẫn đến khả năng xảy ra rủi ro tín dụng trong tương lai

Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải ngân không tuânthủ theo điều kiện; yếu kém trong kiểm soát, theo dõi (không kiểm soát mục đích

sử dụng vốn vay của khách hàng, việc kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh vàtình hình tài chính của khách hàng bị buông lỏng, việc kiểm soát, theo dõi danhmục khoản vay không được thực thi một cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năngxảy ra rủi ro tín dụng trong tương lai

Trang 14

1.2 Quản trị rủi ro tín dụng

1.2.1 Các khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng và hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có

hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất,mất mát, những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình NH tác động đến hoạt động tín dụngthông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra cácbiện pháp nhằm hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc vàlãi của khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn

Một cách tiếp cận khác, quản trị rủi ro tín dụng là việc sử dụng các biện phápnghiệp vụ để kiểm soát chất lượng tín dụng, hạn chế hậu quả xấu trong hoạt độngtín dụng, giảm thiểu sự tổn thất không để hoạt động NH lâm vào tình trạng khókhăn đổ vỡ

Có nhiều khái niệm về quản trị rủi ro tín dụng, nhưng nên hiểu quản trị rủi rotín dụng và hiệu quả kinh doanh NH có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu chọngiải pháp an toàn, mức rủi ro tín dụng thấp thì lợi nhuận thấp hoặc không có lợinhuận tức là hiệu quả kinh doanh kém thì cũng không có ý nghĩa trong quản trịkinh doanh Kinh doanh NH thực chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạtđược lợi nhuận tương ứng Không bao giờ loại bỏ được hoàn toàn rủi ro tín dụng

mà phải chấp nhận nó ở một mức độ thích hợp

Lợi nhuận và rủi ro tín dụng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Trong mộtbiên độ nhất định nào đó thì lợi nhuận và rủi ro tỷ lệ thuận với nhau, rủi ro càngcao thì lợi nhuận càng lớn và ngược lại, nhưng nếu vượt quá biên độ này thì rủi ro

sẽ tỷ lệ nghịch với lợi nhuận vì khi đó, lợi nhuận sẽ không đủ bù đắp phần rủi roquá lớn Điều này tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ rủi ro rất cao cho hoạt động kinhdoanh của NH

Vì vậy, hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng trong NH thương mại chính là lựachọn một mức độ rủi ro tín dụng thích hợp mà ở đó lợi nhuận đạt được là tối đa

Trang 15

Có thể nói RRTD luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tế hiển nhiên ở bất cứ NHnào, kể cả các NH hàng đầu trên thế giới bởi có những rủi ro nằm ngoài tầm kiểmsoát của con người Tuy nhiên, sự khác biệt cơ bản của các NH có năng lực quảntrị rủi ro tín dụng là khả năng quản trị nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận đượcnhờ xây dựng một mô hình quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, phù hợp với môitrường hoạt động để hạn chế được những rủi ro mang tính chủ quan, xuất phát từyếu tố con người và những rủi ro khác có thể kiểm soát được.

Có nhiều phương thức quản trị rủi ro tín dụng nhưng phương thức quản trị rủi

ro tín dụng hiệu quả ngày nay đó là vận dụng các nguyên tắc BASEL II về quản trịrủi ro tín dụng, tuân thủ quy trình quản trị rủi ro theo ISO 31000:2009 gồm nhậndạng đo lường, quản lý, kiểm soát và báo cáo rà soát/giảm nhẹ rủi ro tín dụng, phùhợp thông lệ quốc tế được nhiều NH và các tổ chức quốc tế khuyến khích sử dụng

Các nguyên tắc BASEL II về quản trị rủi ro tín dụng :

Uỷ ban BASEL về Giám sát NH là một Uỷ ban bao gồm các chuyên gia giámsát hoạt động NH được thành lập vào năm 1975 bởi các Thống đốc NH Trungương của nhóm G10 Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giámsát nghiệp vụ NH và NH trung ương của các nước Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, NhậtBản, Hà Lan, Thuỵ Điển, Vương quốc Anh và Mỹ Giúp việc cho Uỷ ban BASEL

là Ban Thư ký thường trực có trụ sở làm việc tại Washington (Mỹ) Uỷ ban tổ chứchọp thường niên tại trụ sở NH Thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặctại thành phố BASEL (Thuỵ Sĩ)

Uỷ ban BASEL đã xây dựng và xuất bản hai ấn phẩm:

- Những nguyên tắc cơ bản cho việc giám sát hoạt động của NH một cách cóhiệu quả (hệ thống các nguyên tắc và chuẩn mực về biện pháp thận trọng); và

- Tài liệu hướng dẫn (được cập nhật định kỳ) với các khuyến nghị hiện naycủa uỷ ban BASEL, các hướng dẫn và tiêu chuẩn, hầu hết được kèm với các hướngdẫn tham khảo trong tài liệu nguyên tắc cơ bản

Cả hai tài liệu này được coi là nền tảng quan trọng cho ngân hàng trung ươngcác nước trong việc ban hành các chính sách và quy chế nhằm đảm bảo an toàn và

Trang 16

ổn định cho các TCTD, đặc biệt là những nước có nền kinh tế phát triển và hộinhập.

Uỷ ban BASEL đã đưa ra các nguyên tắc về quản trị rủi ro tín dụng (tại ấnphẩm số 75 tháng 09/2000) như sau:

► Thiết lập môi trường rủi ro tín dụng phù hợp dựa vào các nguyên tắc sau: Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm phê duyệt và rà soát định kỳ( ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách về rủi ro tín dụng của NH Chiếnlược này phản ánh sức chịu đựng của NH đối với rủi ro và mức độ sinh lời mà NH

dự kiến đạt được khi phải gánh chịu các loại rủi ro tín dụng

Nguyên tắc 2: Ban điều hành phải có trách nhiệm triển khai thực hiện chiếnlược rủi ro tín dụng do Hội đồng quản trị phê duyệt, và xây dựng chính sách vàquy trình để nhận dạng, đo lường, kiểm soát và hạn chế rủi ro tín dụng Nhữngchính sách và quy trình này cần chỉ rõ rủi ro tín dụng trong toàn bộ hoạt động của

NH ở từng khoản tín dụng cũng như ở cấp độ quản lý danh mục

Nguyên tắc 3: NH cần phải xác định và quản lý rủi ro tín dụng phát sinh trongtất các sản phẩm và các hoạt động NH phải đảm bảo rằng rủi ro của các sản phẩm

và hoạt động mới phải được kiểm soát và thực hiện theo quy trình quản lý rủi rothích hợp trước khi sản phẩm và hoạt động đó được ban hành hoặc triển khai vàphải được phê duyệt trước bởi hội đồng quản trị hoặc một uỷ ban thích hợp

Các nguyên tắc này quy định NH cần phải thiết lập một môi trường rủi ro tíndụng phù hợp hay nói cách khác là phải xác định được mức độ chấp nhận rủi rohay khẩu vị rủi ro của NH (Risk appetite )

► Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý dựa vào các nguyên tắcsau:

Nguyên tắc 4: NH phải hoạt động trong phạm vi các tiêu chí cấp tín dụng

được xác định rõ ràng và hiệu quả Những tiêu chí này cần bao gồm những chỉ số

rõ ràng về thị trường mục tiêu của NH và sự hiểu biết thấu đáo của người vay vốnhay đối tác, nguồn trả nợ của KH cũng như mục đích và cơ cấu tín dụng

Trang 17

Nguyên tắc 5: NH phải xây dựng các hạn mức tín dụng tổng thể cho mỗi KH

hoặc đối tác vay vốn, hoặc nhóm KH có liên quan được tổng hợp lại theo các loạirủi ro khác nhau theo các phương pháp có nghĩa và có thể so sánh được cả trong sổ

NH và sổ kinh doanh cả trong và ngoài bảng tổng kết tài sản

Nguyên tắc 6: NH cần phải có quy trình rõ ràng cho việc phê duyệt mới, sửa

đổi, cấp lại hoặc tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại

Nguyên tắc 7: Việc cấp tín dụng phải được thực hiện trên nguyên tắc thận

trọng và khách quan Cụ thể là các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân cóliên quan phải được giám sát và quan tâm đặc biệt và cần có những biện phápthích hợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay

► Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù hợp dựavào các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 8: NH cần phải có một hệ thống để thực hiện quản trị và giám sát

thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro Cần duy trì bộ phậnquản lý tín dụng nhằm làm giảm rủi ro Bộ phận này cần linh hoạt tùy theo điềukiện môi trường cũng như theo từng ngân hàng Khi cán bộ quản lý tín dụng thựchiện các chức năng nhạy cảm như lưu trữ các hồ sơ quan trọng, chuyển tiền đi haynhập các giới hạn vào cơ sở dữ liệu trên máy tính, họ cần báo cáo cho các nhà quản

lý độc lập với chức năng tiếp thị và phê duyệt tín dụng

Nguyên tắc 9: NH cần phải có hệ thống giám sát điều kiện của từng khoản tín

dụng, bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng

Nguyên tắc 10: Mỗi ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội

bộ để giảm rủi ro xuống mức thấp nhất Hệ thống định hạng cần phải nhất quán vớibản chất, quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động của NH

Nguyên tắc 11: NH phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân tích để

trợ giúp cán bộ quản lý có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong các hoạtđộng trong và ngoài Bảng cân đối kế toán Hệ thống thông tin quản lý cần cungcấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các rủi rotín dụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực

Trang 18

Nguyên tắc 12: NH phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể và chất lượngdanh mục tín dụng.

Nguyên tắc 13: NH cần phải đánh giá đầy đủ những biến động về điều kiệnkinh tế có thể xảy ra trong tương lai khi xem xét từng khoản tín dụng cũng nhưdanh mục cho vay của mình và cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều kiệnxấu nhất (Stress testing)

►Đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng dựa vào các nguyên tắc sau:

Nguyên tắc 14: NH phải xây dựng hệ thống rà soát, đánh giá độc lập và liên

tục quy trình quản lý rủi ro tín dụng của NH, kết quả rà soát phải được báo cáo trựctiếp Hội đồng Quản trị và Ban điều hành

Nguyên tắc 15: NH phải đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụng được quản lý

đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn và chuẩn mực nội

bộ NH cần thiết lập và thực thi hệ thống kiểm tra nội bộ và các thông lệ khác đểđảm bảo rằng các trường hợp ngoại lệ so với chính sách, quy trình và hạn mứcđược báo cáo một các kịp thời tới cấp quản lý thích hợp để xử lý

Nguyên tắc 16: NH phải có hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản tín

dụng có nguy cơ giảm sút, quản lý các khoản cho vay có vấn đề và các trường hợp

nợ xấu tương tự

Uỷ ban BASEL tin rằng các nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng này là mộtkhuôn khổ hữu ích cho việc quản lý và giám sát rủi ro NH một cách thận trọng,đồng thời làm cơ sở cho các NH ban hành các chính sách , thủ tục và thông lệ thựchành về quản trị rủi ro trong hoạt động NH

1.2.2 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng

Dựa vào các nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL và các thông lệ quốc tế,quy trình quản trị rủi ro tín dụng thường gồm các nội dung sau:

Trang 19

Nguồn: nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL

Hình 1.1 Mô hình quản trị rủi ro

Như vậy có thể thấy quy trình quản trị rủi ro gồm các nội dung: 1) Nhận diện/xác định rủi ro, 2) Đo lường rủi ro; 3) Quản lý kiểm soát rủi ro và 4) Giảm thiểurủi ro

1.2.2.1.Nhận diện rủi ro:

Để quản trị rủi ro trước hết phải nhận dạng hay nhận biết được rủi ro Nhậndạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt độngkinh doanh của NH Nhận diện rủi ro bao gồm các công việc như thường xuyêntheo dõi, xem xét, nghiên cứu sự biến động của môi trường hoạt động cũng nhưtoàn bộ mọi hoạt động của NH nhằm thống kê được tất cả các rủi ro, không chỉnhững loại rủi ro đã và đang xảy ra, mà còn dự báo được những dạng rủi ro mới cóthể xuất hiện đối với NH, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kiểm soát và tài trợrủi ro thích hợp

Có nhiều phương pháp nhận biết rủi ro như: phương pháp dựa vào mục tiêu(bất kỳ những gì cản trở việc thực hiện mục tiêu được coi là rủi ro); phương phápđưa ra tình huống (đặt giả thiết nếu một việc xảy ra thì sẽ như thế nào? ); phương

Báo cáo/ Giảm

Trang 20

pháp dựa vào kinh nghiệm, tiền lệ; phương pháp hỗn hợp (kết hợp các phươngpháp trên).

Một số dấu hiệu cảnh báo khoản tín dụng có vấn đề:

- Nhu cầu vay vốn tăng cao so với doanh thu, vòng quay vốn chậm

- DN sử dụng vốn sai mục đích

- Thay đổi cơ cấu quản trị, ban lãnh đạo DN

- Sản phẩm tiêu thụ chậm, hàng tồn kho ngày càng tăng

- Các khoản phải thu lớn, xuất hiện những khoản thu khó đòi

- Báo cáo tài chính không rõ ràng minh bạch, có nhiều báo cáo tài chính khácnhau

- Có những thông tin xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của DN

- Thường xuyên gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ

- Ban lãnh đạo DN luôn lảng tránh hoặc trì hoãn trong việc thực hiện các yêucầu của NH

1.2.2.2 Đo lường rủi ro tín dụng:

Trong công tác quản trị rủi ro, cần thiết phải có một hệ thống đo lường RRTDnhằm phân loại các mức độ ảnh hưởng của rủi ro trong hoạt động kinh doanh NH,

từ đó có biện pháp cụ thể để quản trị tốt những rủi ro ở các mức độ khác nhau Cónhiều mô hình để đo lường rủi ro tín dụng gồm cả định tính và định lượng, đánhgiá KH và đánh giá tổng thể rủi ro của hoạt động tín dụng một NH Sau đây là một

số mô hình phổ biến:

Theo nghiên cứu của Trương Đông Lộc và Nguyễn Thị Tuyết, tác giả lấy sốliệu nghiên cứu từ 438 hồ sơ vay của khách hàng cá nhân, doanh nghiệp tại VCBCần Thơ Sau đó tiến hành khảo sát hồ sơ tín dụng để thu thập số liệu và thông tincần thiết Trong nghiên cứu mô hình xác suất probit được sử dụng để đánh giá mức

độ rủi ro tín dụng của khoản vay Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến khả năngtài chính của khách hàng vay, sử dụng vốn vay, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng,

đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, kiểm tra, giám sát khoản vay là có ảnh hưởng

Trang 21

đến mức độ rủi ro tín dụng Điều đó chứng tỏ cả ngân hàng và khách hàng đều cóảnh hưởng đến việc thanh toán các khoản cấp tín dụng có đúng hạn hay không.a) Mô hình 1: Mô hình định tính: mô hình chất lượng 6C

- Tư cách người vay (Character): Thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tính trungthực, danh tiếng, thương hiệu, lịch sử quan hệ tín dụng, mục đích vay rõ ràng

- Năng lực của người vay (Capacity): Tùy thuộc vào quy định luật pháp củaquốc gia, đòi hỏi người đi vay phải có năng lực lực pháp luật dân sự và năng lựchành vi dân sự

- Thu nhập của người vay (Cash): Thể hiện nguồn thu nhập thường xuyên

và hợp pháp của khách hàng như lương, lợi nhuận, doanh thu từ hoạt động kinhdoanh

- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả

nợ vay cho ngân hàng thuộc sở hữu hợp pháp khách hàng hoặc người bảo lãnhnhư động sản, bất động sản, giấy tờ có giá… Đặc biệt, chú ý đến những yếu tốnhạy cảm như: tuổi thọ, tính khả mại, khía cạnh công nghệ, mức độ chuyên dụngcủa tài sản và tuổi của chủ sở hữu bất động sản

- Các điều kiện (Condition): ngân hàng quy định các điều kiện tùy theo chínhsách tín dụng theo từng thời kỳ như xu hướng ngành, điều kiện kinh tế, chu kỳkinh doanh

- Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như sự thay đổi củaluật pháp có liên quan và quy chế hoạt động mới có ảnh hưởng xấu đến ngườivay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn củangân hàng hay không?

Ưu điểm: Mô hình tương đối đơn giản

Nhược điểm: Mô hình phụ thuộc quá nhiều vào mức độ chính xác của nguồnthông tin thu thập được, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giáchủ quan của CBTD (Nguyễn Đăng Dờn [7])

b) Mô hình 2: Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’s

Trang 22

Rủi ro tín dụng thường được thể hiện bằng việc xếp hạng trái phiếu và cáckhoản cho vay Moody’s và Standard & Poor’s là những dịch vụ xếp hạng tốt nhất.

Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng của Moody’s và Standard & Poor’ s:

Moody’s Standard &

Poor’s

Tình trạng

AAA Aaa Chất lượng cao nhất, rủi ro thấp nhất

BBB Baa Chất lượng trung bình

BB Ba Chất lượng trung bình mang yếu tố đầu

CC Ca Mang tính đầu cơ, có thể vỡ nợ

C C Chất lượng kém nhất, triển vọng xấu

Nguồn: Moody’s và Standard & Poor’s

c) Mô hình 3: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng

Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng mô hình cho điểmtín dụng bao gồm: Hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc,

sở hữu nhà, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác Tổng sốđiểm tín dụng tiêu dùng theo 8 tiêu chí trên là 43 điểm (Max), thấp nhất là 9 điểm(Min) Giả sử ngân hàng xác định mức 28 điểm là ở mức rủi ro khá cao, cần từchối cho vay, còn lại trên 28 điểm, được chia ra 6 bậc theo khung chính sách tíndụng với hạn mức cho vay tối đa (Nguyễn Đăng Dờn) như sau:

Bảng 1.2: Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng Tổng số điểm của KH Hạn mức tín dụng

Từ 28 điểm trở xuống Từ chối tín dụng 29-30 điểm 500 USD (10 triệu VND) 31-33 điểm 1.000 USD (20 triệu VND) 34-36 điểm 2.500 USD (50 triệu VND) 37-38 điểm 3.500 USD (70 triệu VND)

Trang 23

39-40 điểm 5.000 USD (100 triệu VND) 41-43 điểm 10.000 USD (200 triệu VND)

Nguồn: Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự 1.2.2.3.Quản lý/ kiểm soát rủi ro tín dụng :

Các biện pháp quản lý rủi ro tín dụng cụ thể có thể khác nhau giữa các NHtuỳ theo khả năng nhận thức cũng như bản chất và mức độ phức tạp của hoạt độngtín dụng Các biện pháp quản lý rủi ro toàn diện sẽ tuân thủ các nguyên tắc quản lýrủi ro cẩn trọng, đó là các nguyên tắc quản lý rủi ro của BASEL và các thông lệ tốtnhất Một số biện pháp quản lý rủi ro tín dụng như:

- Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược chính sách, quy trình quản lý rủi

- Kiểm soát theo quy trình cấp tín dụng: Trước, trong và sau khi cho vay

- Tuân thủ chính sách, quy trình tín dụng một cách thận trọng

- Nâng cao chất lượng công tác phân tích và thẩm định tín dụng

- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng, hệ thống chấm điểm tín dụng

- Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng

- Hoàn thiện và nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu về KH, khoản vay

1.2.2.4 Giảm nhẹ rủi ro :

Là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chươngtrình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro Căn cứ vào mức độ rủi

ro đã được tính toán, các hệ số an toàn tài chính, và khả năng chấp nhận rủi ro mà

có những biện pháp phòng chống khác nhau nhằm làm giảm mức độ thiệt hại:

- Nâng cao tỷ trọng và chất lượng tài sản bảo đảm

- Phân loại nợ và xử lý nợ xấu

- Trích dự phòng và xử lý rủi ro tín dụng

Trang 24

- Chia sẻ rủi ro (đồng tài trợ, bán nợ ).

- Sử dụng một số công cụ tài chính để bán hay phân tán rủi ro như:

+ Các công cụ tài chính phái sinh như kỳ hạn, quyền chọn, hoán đổi :

Như đã đề cập phần trên, khi DN vay bằng ngoại tệ và trả bằng VND thì sẽgặp rủi ro tỷ giá, cụ thể là DN sẽ bị thiệt hại nếu tỷ giá tăng và NH sẽ thiệt hại nếu

tỷ giá giảm Để phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, có thể sử dụng các kỹ thuật bảo hiểmrủi ro tỷ giá như hợp đồng kỳ hạn (forwawd), quyền chọn (Option), hoán đổi ngoại

tệ (swap), hợp đồng tương lai (Future)… Đây là những công cụ phòng ngừa rủi rohiệu quả cho cả DN và NH khi tỷ giá biến động, đảm bảo khả năng trả nợ của DN

và do đó sẽ giảm được rủi ro tín dụng cho NH

+ Hoán đổi lãi suất: NH sử dụng các nghiệp vụ như hoán đổi lãi suất một

đồng tiền (đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ), giữa hai đồng tiền, hoán đổi lãi suất tiền

tệ chéo, hoán đổi lãi suất bắt đầu trong tương lai, hoán đổi lãi suất cộng dồn nhằmphòng ngừa, hạn chế rủi ro do biến động lãi suất trên thị trường, vừa đa dạng dịchvụ cho KH, vừa kiếm thêm lợi nhuận

+ Bảo hiểm tín dụng :

Người mua bảo hiểm có thể là ngân hàng hoặc có thể là khách hàng Khikhách hàng không có khả năng trả nợ thì Công ty bảo hiểm (bên bán bảo hiểm) sẽchịu trách nhiệm trả nợ Đây là biện pháp quản lý rủi ro khá hiệu quả và thườngđuợc áp dụng đối với khách hàng cá nhân

Ngoài các công cụ tài chính trên đã bước đầu được sử dụng khá hiệu quả ởViệt Nam, còn một số công cụ khác để phòng ngừa rủi ro tín dụng như: nghiệp vụchứng khoán hoá bảng tổng kết tài sản của ngân hàng, sử dụng các công cụ tíndụng phái sinh như hợp đồng trao đổi TD, hợp đồng quyền TD (Credit options)…Đây là các hợp đồng tài chính bảo vệ NH trong trường hợp các khoản nợ không thểthanh toán được, có thể được sử dụng hiệu quả trong việc giảm rủi ro phát sinh nợxấu cũng như giảm rủi ro lãi suất của NH Tuy nhiên, các công cụ này khá phức tạp

và mới mẻ nên chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam

Trang 25

1.3 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú

Dựa trên những cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng,tác giả tiến hành xây dựng quy trình quản trị tín dụng bằng việc phỏng vấn cácchuyên gia về tài chính trong ngành

Qua thảo luận, các chuyên gia đã thống nhất mô hình quản trị rủi ro tín dụngtại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú, HCM là sự phối hợp nhịp nhàngcủa cả bốn quá trình: Nhận diện/ xác định rủi ro, đo lường rủi ro, quản lý/ kiểmsoát rủi ro, và giảm thiểu rủi ro Điều này thể hiện qua hình sau :

Nguồn: tác giả và phỏng vấn chuyên gia

Hình 1.2: Mô hình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội

Quận Tân Phú

Mô hình này là nền tảng lý thuyết để tác giả tiến hành phân tích thực trạngquản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú trongchương 2

Báo cáo/ Giảm

Trang 26

1.4 Kinh nghiệm quản trị rủi ro tín dụng của một số nước trên thế giới

Khủng hoảng tài chính khu vực châu Á thời kỳ 1997-1998 bắt nguồn từ TháiLan, và cuộc khủng hoảng tài chính- tín dụng toàn cầu khởi đầu từ Mỹ lan rộngsang khu vực châu Âu và sau đó là các nước trên thế giới vào năm 2008, cho thấyngày càng nhiều ngân hàng trên thế giới với trình độ, thâm niên, kinh nghiệm hàngtrăm năm nhưng cuối cùng cũng buộc phải công bố các khoản nợ xấu và thua lỗlớn kỷ lục, trong đó có rất nhiều ngân hàng trong khu vực và trên thế giới đứngtrước nguy cơ phá sản hoặc thậm chí là tuyên bố phá sản như Fannie Mae vàFreddie Mac hay Lehman Brothers Vì vậy, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý rủi rotín dụng ở các nước trên thế giới sẽ là hữu ích để sẵn sàng đối phó với các rủi ro tíndụng cho các ngân hàng Việt Nam

1.4.1 Kinh nghiệm của Mỹ

Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại ở Mỹ cho thấy, đểviệc kiểm soát rủi ro tín dụng hiệu quả cần:

Thứ nhất, nuôi dưỡng một mối quan hệ lâu dài và tổng hợp với bên đi vay và

phục vụ mọi nhu cầu về tài chính của họ Kết quả là những người cho vay sẽ hiểunhiều hơn về tình hình tài chính của khách hàng và có được lợi nhuận khi bán cácsản phẩm tài chính đa dạng, trong khi đó bên vay sẽ có được một nguồn hỗ trợ lâudài cùng với dịch vụ tín dụng

Thứ hai, nhấn mạnh việc thẩm định khoản vay hơn là việc kiểm soát khoản

vay Việc cắt giảm hoặc làm tắt trong quá trình thẩm định sẽ dẫn đến khoản nợ xấu.Thêm vào đó, cho vay các khoản nợ có rủi ro sẽ không đáng nếu tính đến khốilượng công việc phải thực hiện để khoản vay không bị quá hạn Hơn nữa, cần đánhgiá đúng tình trạng của từng bên vay hơn là quá chú trọng vào các phương pháp vàcông thức tự động điển hình như chấm điểm tín dụng Chấm điểm tín dụng là hìnhthức căn cứ vào công thức có sẵn để đo lường và tiên đoán về mức độ rủi ro củacác khách hàng tiềm năng, được thiết kế để cải tạo quy trình thẩm định khoản vay.Mặc dù chấm điểm tín dụng theo cách truyền thống thường được sử dụng cho vaytiêu dùng, khi dựa vào đó để duyệt khoản tín dụng thẻ hoặc tín dụng để mua ô tô,

Trang 27

họ là khách hàng tiềm năng trong một chuỗi khách hàng 8/9 đơn vị cho vay đượcnghiên cứu, tuy nhiên, lại không sử dụng chấm điểm tín dụng cho khách hàng nhỏ,chủ yếu vì họ cho rằng không có nhiều tương quan giữa quá khứ tín dụng của bênvay, như được đo lường trong hệ số tín nhiệm, với hoạt động của khách hàng nàytrong tương lai Mặc dù có một số đơn vị cho vay sử dụng chấm điểm tín dụng chotín dụng tiêu dùng, họ tin rằng cho vay doanh nghiệp nhỏ có quá nhiều những đặctính riêng rất khó được phân tích thông qua một hệ thống tự động Hơn thế nữa,chấm điểm tín dụng có thể loại trừ mất các khách hàng tiềm năng tốt, những kháchhàng không có đủ số lượng năm có lãi, số năm có lãi tối thiểu là một tiêu chí đểxác định dự án khả thi trong tương lai.

Thứ ba, tránh sử dụng những đơn vị môi giới, vì các đơn vị môi giới không

có động cơ để đem lại các khoản vay có chất lượng cao hơn do họ được trả khôngcăn cứ vào chất lượng khoản vay

Thứ tư, “thực chứng hơn thực cung”, nghĩa là cần yêu cầu bên vay phải

chứng tỏ được kinh nghiệm của mình trong kinh doanh, yêu cầu bên vay cung cấpthế chấp cả tài sản cá nhân và tài sản doanh nghiệp cho dù là tài sản đảm bảo cócần thiết hay không để tạo ra động lực về tâm lý cho bên vay đối với khoản vay

Thứ năm, tập trung quyết định cho vay để bảo đảm tính thống nhất và kiểm

soát Mặc dù các bên cho vay nhỏ hoặc lớn có thể khác nhau về phương pháp xemxét khoản vay, cả 2 đều yêu cầu có ít nhất một cán bộ, không phải là cán bộ thẩmđịnh khoản vay, để xem xét lại khoản vay và đưa ra quyết định phê duyệt cuốicùng Kết cấu này loại bỏ việc ra quyết định phê duyệt cuối cùng từ nhiều cán bộrải rác mà tập trung việc phê duyệt vào một cán bộ hoặc một nhóm để đảm bảotính thống nhất, kiểm soát và hiệu quả trong thẩm định khoản vay

Thứ sáu, yêu cầu cán bộ cho vay phải có trách nhiệm với khoản vay họ cho

vay Quyết định tín dụng chỉ tốt khi thông tin trình bày, việc phân tích phải đầy đủ,

đa số các đơn vị cho vay đều tin vào trách nhiệm của cán bộ cho vay Mặc dùkhông có đơn vị nào nhấn mạnh về việc phạt các cán bộ khi có nợ khó đòi, trong

Trang 28

đa số trường hợp các cán bộ cho vay phải hỗ trợ việc thu hồi các khoản vay khóđòi.

Thứ bảy, áp dụng hệ số tín nhiệm cho các khoản vay mới và thẩm định lại hệ

số này theo định kỳ trong suốt thời hạn của khoản vay Ngân hàng cần xây dựngmột hệ thống chấm hệ số tín nhiệm hoặc có kế hoạch để tạo ra một chương trìnhchấm điểm Trong một chương trình điển hình, một khoản vay mới sẽ được ápdụng một giá trị bằng số thể hiện mức rủi ro vào thời điểm thẩm định khoản vay.Trong suốt thời gian vay vốn, con số này có thể được duyệt lại căn cứ vào lịch sửtrả nợ của bên vay và các yếu tố khác Khi giao dịch có vấn đề, đây là cách để nhận

ra và theo dõi các khoản nợ xấu Hệ thống này khác với chấm điểm tín dụng, được

sử dụng trước đó để ra quyết định vay vốn

Thứ tám, xác định nợ xấu sớm và tăng cường các nỗ lực thu hồi nợ rất mạnh

mẽ; luôn theo dõi để xác định sớm những dấu hiệu của khoản vay xấu trong tươnglai Cách tốt nhất để xác định sớm các dấu hiệu là luôn giữ mối liên hệ với kháchhàng, không đợi cho đến khi khoản vay trở nên quá hạn Sự tích cực xác định vàtìm kiếm khả năng thu hồi các khoản nợ chỉ trong vài ngày kể từ khi khoản vay bịtrễ có thể làm giảm thời gian cần có tiêu tốn vào các động tác thu hồi nợ và chophép các bên cho vay điều chỉnh thời hạn trả nợ hoặc giải quyết các vấn đề kháccủa bên vay sớm

Thứ chín, tuy nhiên, thực tế ngân hàng Mỹ cho thấy, việc đề xuất đúng lối ra

cho các khoản nợ xấu là quan trọng hơn việc thu hồi nợ Việc tất toán nợ xấu làgiải pháp cuối cùng đưa ra khi giao dịch có ván đề Bởi vì, thu hồi nợ sẽ có thểhiệu quả hơn thông qua việc tiếp tục trả nợ của một doanh nghiệp vẫn đang hoạtđộng hơn là phải tất toán tài sản

Đến năm 2012 đã có tới 117 ngân hàng Mỹ thuộc diện “có vấn đề” (theo công

bố của Federal Deposit Insurance Corporation – Công ty Bảo hiểm tiền gửi Liênbang Mỹ FDIC) và hơn 10 ngân hàng Mỹ bị phá sản Nguyên nhân là do các ngânhàng mất khả năng thanh khoản do danh sách các khoản nợ khó thu hồi tăng cao,dùng tiền gửi huy động được cho vay bất động sản đồng nghĩa với việc lấy ngắn

Trang 29

nuôi dài, thêm vào đó không thẩm định nguồn trả nợ và cả cho vay dưới chuẩn.Đến khi giá bất động sản tụt dốc không phanh, các khoản nợ không thu hồi đượcdẫn đến ngân hàng mất khả năng chi trả các khoản tiết kiệm đến hạn, tình hìnhkinh tế khủng hoảng, các doanh nghiệp Mỹ rơi vào tình cảnh khó khăn phá sản, cáckhoản đầu tư của ngân hàng cũng từ đó thua lỗ,…

Từ cuộc khủng hoảng tín dụng Mỹ, cho thấy nguyên nhân xuất phát phần lớn

từ việc quản lý kiểm soát khoản vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán cònyếu kém, chất lượng tín dụng không được coi trọng, có nhiều khoản cho vay dướichuẩn, không thẩm định kỹ trước khi cho vay, sử dụng nguồn huy động ngắn hạn

để đầu tư vào những khoản dài hạn như bất động sản nên không tránh khỏi rủi romất khả năng thanh toán và không thu hồi được nợ Đó cũng là bài học kinhnghiệm quý báu cho Việt Nam khi rơi vào tình trạng tương tự…

1.4.2 Kinh nghiệm của Nhật bản

Hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế Nhật có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Khi nền kinh tế có vấn đề thì hoạt động ngân hàng cũng ngay lập tức chịuảnh hưởng Ngược lại, hoạt động ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ đối với các ngànhcông nghiệp sản xuất và dịch vụ, nhưng hệ thống ngân hàng cũng có thể làm tìnhhình xấu hơn và trì trệ sự ổn định của nền kinh tế nếu hoạt động ngân hàng gặpkhó khăn Nếu như phần lớn các khoản cho vay của ngân hàng cấp cho các doanhnghiệp không khỏe mạnh, thì không chỉ ngân hàng hoạt động không hiệu quả, mànền kinh tế cũng sẽ bị ảnh hưởng Thực tế hoạt động tín dụng của các ngân hàngthương mại Nhật Bản cho thấy việc cho vay không chặt chẽ cùng với chính sách

mở rộng quá tham vọng càng được kích thích thêm do cạnh tranh trên thị trường làkết quả gây ra thua lỗ của ngân hàng Mặt khác, do không có kinh nghiệm vớinhững khoản vay bị thất thoát nghiêm trọng trước đây nên các ngân hàng Nhậtkhông biết cách quản lý khi có phát sinh lãi lỗ tín dụng Đối với các trường hợpngân hàng có kết quả hoạt động kinh doanh thua lỗ với mức lỗ vượt khả năng củacác ngân hàng thương mại thì nhà nước sẽ dùng các nguồn quỹ quốc gia để canthiệp đồng thời thay thế cấp quản trị điều hành cấp cao Hiện nay các ngân hàng

Trang 30

Nhật đã xử lý thành công các vấn đề liên quan đến tài sản không thu hồi được Tổchức dịch vụ tài chính (The Financial Service Agency) đóng vai trò quan trọngtrong việc thúc ép các ngân hàng thực hiện công tác dự phòng cần thiết cũng như

xử lý những khoản nợ xấu mà trước đây đã từng gây ra các khoản lỗ lớn kéo dàitrong nhiều năm đối với hầu hết các ngân hàng

1.5 Tóm tắt chương 1

Chương 1 của luận văn đã khái quát các vấn đề cơ bản về quản trị rủi ro tíndụng cũng như đề cập đến các mô hình và biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng,làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp cho công tác quản trịrủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú, HCM Để giảm rủi

ro tín dụng, trước hết các ngân hàng và cá công ty tài chính cần hiểu rõ rủi ro tíndụng luôn tồn tại, nhà quản trị cần lựa chọn một mức độ rủi ro tín dụng thích hợp

để tối đa hóa lợi nhuận cũng như tối đa hóa giá trị cho cổ đông Có nhiều mô hình

về quản trị rủi ro tín dụng,tác giả sử dụng mô hình quản trị rủi ro tín dụng dựa trênNguyên tắc BASEL và phù hợp thông lệ quốc tế để tăng tính an toàn, hiệu quả Môhình quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng chính sách xã hội Quận Tân Phú là sự

phối hợp nhịp nhàng của cả bốn quá trình: Nhận diện/ xác định rủi ro, đo lường rủi

ro, quản lý/ kiểm soát rủi ro, và giảm thiểu rủi ro làm các biện pháp phòng ngừa

rủi ro hiệu quả Đây sẽ là cơ sở khoa học và thực tiễn giúp tác giả phân tích thựctrạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tín dụng ở chương

2 và chương 3 của luận văn

Trang 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI QUẬN

Từ đó, để thực hiện hiệu quả quyết định này, Chính phủ đã thành lập quỹ chovay ưu đãi để xóa đói giảm nghèo rút ngắn khoảng cách giàu nghèo trong xã hội.Quỹ thành lập từ tiền của ba tổ chức tín dụng là do Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng gópvới tổng số tiền ban đầu là 400 tỷ Quỹ sử dụng tiền để cho người nghèo vay, vàngười vay không cần phải có tài sản đảm bảo tiền vay

Từ những đút kết sau hai năm thực hiện, ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chínhphủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụngười nghèo, và ngân hàng này được đặt trong đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn Việt Nam Ngân hàng hoạt động không vì mục tiêu lợinhuận, mà chủ yếu để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất.Dựa trên mạng lưới có sẳn của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nôngthôn, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã xây dựng được kênh tín dụng riêng để

hỗ trợ tín dụng cho các hộ nghèo ở Việt Nam nhằm giúp họ co vốn sản xuất, cócông ăn việc làm từ đó thoát khỏi cảnh nghèo

Qua quá trình hoạt động, từ những bất cập phát sinh như bộ phận quản trị đến

bộ phận điều hành của Ngân hàng Phục vụ người nghèo đều làm việc theo chế độkiêm nhiệm nên rất ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, thiếu cậpnhật những chính sách, tâm lý ỷ lại vào Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông

Trang 32

thôn từ đó không có những hoạch định phương hướng phát triển cũng như xử lýcác rủi ro phát sinh Thêm nữa, Ngân hàng Phục vụ người nghèo lấy nguồn vốn từngân sách Nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác cònđược giao cho nhiều cơ quan Nhà nước, hội đoàn thể và Ngân hàng thươngmại Nhà nước cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực củaNhà nước bị phân tán, chồng chéo, trùng lắp, thậm chí cản trở lẫn nhau Bên cạnhnguồn vốn cho vay hộ nghèo được Ngân hàng Phục vụ người nghèo vàNHNo&PTNT Việt Nam thực hiện thì thực tế còn có các cơ quan khác tham gianhư nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm do Kho bạc Nhà nước quản lý và chovay; nguồn vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn doNgân hàng Công thương thực hiện; nguồn vốn cho vay ưu đãi các tổ chức kinh tế

và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi, các xãđặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 của Chính phủ… Từ đó có thể thấyrằng, việc hình thành các nguồn vốn cho vay chính sách nằm rải rác ở nhiều tổchức tài chính với cơ chế quản lý khác nhau đã gây nhiều trở ngại cho quá trìnhkiểm soát của Nhà nước, không tách bạch được tín dụng chính sách với tín dụngthương mại

Từ đó, các nghị quyết của Đại hội Đảng IX, nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốchội khoá X về việc sớm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của NHCSXH, tách tíndụng ưu đãi ra khỏi tín dụng thương mại; đồng thời thực hiện cam kết với Ngânhàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) về việc thành lập Ngân hàng Chínhsách; ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tíndụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Thủ tướng Chính phủ

đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổchức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam

2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập nhằm mục đích thựchiện các chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo và các đối tượng chính sáchkhác

Trang 33

Hoạt động của NHCSXH rất đặc biệt là không vì mục đích lợi nhuận, đượcNhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (khôngphần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoảnphải nộp ngân sách Nhà nước

NHCSXH được thực hiện các nghiệp vụ: huy động vốn, cho vay, thanh toán,ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương,các tổ chức kinh tế, chính trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chínhphủ, các cá nhân trong và ngoài nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triểnkinh tế xã hội

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

NHCSXH được tổ chức theo 3 cấp: Hội sở chính ở Trung ương, Chi nhánh ởcấp tỉnh, Phòng giao dịch ở cấp huyện Mỗi cấp đều có bộ máy quản trị và bộ máyđiều hành tác nghiệp:

Bộ máy quản trị, gồm: Hội đồng quản trị và bộ máy giúp việc ở Trung ương;Ban đại diện Hội đồng quản trị ở cấp tỉnh, cấp huyện

Bộ máy điều hành tác nghiệp bao gồm: Hội sở chính ở Trung ương; Sở giaodịch, Trung tâm Đào tạo, Trung tâm Công nghệ thông tin; 63 Chi nhánh cấptỉnh và 618 Phòng giao dịch cấp huyện

2.1.4 Phương thức cho vay của NHCSXH

Điều 5, Nghị định 78/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định: “Việc cho vaycủa NHCSXH được thực hiện theo phương thức uỷ thác cho các tổ chức tín dụng,

tổ chức chính trị - xã hội (gọi tắt là tổ chức Hội) theo hợp đồng uỷ thác hoặc trựctiếp cho vay đến người vay” Hiện nay, hầu hết các chương trình Tín dụng tạiNHCSXH đều thực hiện phương thức cho vay trực tiếp có ủy thác một số nội dung

công việc cho các tổ chức Hội sau đây gọi tắt là phương thức cho vay ủy thác.

Ngoài ra, NHCSXH thực hiện phương thức cho vay trực tiếp đến người vay

a Phương thức cho vay ủy thác:

Cho vay ủy thác được hiểu là NHCSXH giao cho các tổ chức Chính trị-xãhội, sau đây gọi tắt là (tổ chức Hội) thực hiện một số nội dung công việc trong quy

Trang 34

trình cho vay được thống nhất trong văn bản liên tịch, văn bản thỏa thuận.NHCSXH có trách nhiệm trả phí cho các tổ chức Hội theo mức phí đã thoả thuậnphù hợp với mức phí quản lý do Bộ Tài chính quy định theo từng thời kỳ

Điều kiện để thực hiện cho vay ủy thác:

- Đối với các tổ chức Hội:

+ Có mạng lưới hoạt động đến thôn, bản; có uy tín với nhân dân, đượcNHCSXH tín nhiệm

+ Có khả năng tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách tíndụng ưu đãi của Nhà nước và quy trình nghiệp vụ cho vay của NHCSXH

+ Có cán bộ am hiểu nghiệp vụ cho vay của NHCSXH, được tập huấn nghiệpvụ để thực hiện các nội dung công việc được ủy thác

- Đối với Tổ Tiết kiệm và vay vốn:

+ Được thành lập và hoạt động theo Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày05/3/2013 của Hội đồng quản trị NHCSXH

+ Ban quản lý Tổ được NHCSXH nơi cho vay ký “Hợp đồng uỷ nhiệm”

- Đối với hộ vay: Là thành viên Tổ TK&VV và chấp hành nghiêm chỉnh nội

dung quy ước hoạt động của Tổ TK&VV

b Phương thức cho vay trực tiếp

Cho vay trực tiếp là việc NHCSXH trực tiếp thực hiện tất cả các nghiệp vụ

với người vay vốn

2.1.5 Phân loại các chương trình cho vay tại NHCSXH

a Các chương trình chỉ thực hiện cho vay ủy thác

- Cho vay hộ nghèo; hộ cận nghèo; hộ mới thoát nghèo

- Các chương trình cho vay hộ dân tộc thiểu số nghèo theo các Quyết địnhnhư: Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg ngày 04/12/2012, Quyết định số 755/QĐ-TTg ngày 20/5/2013, Quyết định số 29/2013/QĐ-TTg ngày 20/5/2013…

- Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài

Trang 35

- Cho vay hỗ trợ các huyện nghèo đẩy mạnh xuất khẩu lao động góp phầngiảm nghèo bền vững giai đoạn 2009-2020 theo Quyết định số 71/QĐ-TTg ngày29/04/2009 của Thủ tướng Chính phủ

- Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

- Các chương trình cho vay về nhà ở đối với hộ gia đình như: Cho vay nhà ởcho hộ dân vùng ngập lũ khu vực ĐBSCL, cho vay hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà

ở phòng, tránh bão, lụt tại14 tỉnh khu vực Miền Trung theo Quyết định số48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ

- Cho vay người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp theo Quyết định số52/2012/QĐ-TTg ngày 16/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ

- Cho vay đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện matúy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, ngườibán dâm hoàn lương theo Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/4/2014 của Thủtướng Chính phủ

b Các chương trình chỉ thực hiện cho vay trực tiếp

- Chương trình cho vay Doanh nghiệp vừa và nhỏ

Đây là dự án vay vốn từ nguồn vốn của CHLB Đức thông qua Ngân hàng Táithiết Đức (KfW) để thiết lập Quỹ tín dụng quay vòng nhằm cho vay tới các doanhnghiệp vừa và nhỏ thuộc vùng dự án Vì thế, Chi nhánh nào được Tổng Giám đốcphê duyệt thì được triển khai cho vay Mức cho vay được xác định căn cứ vào giátrị tài sản bảo đảm tiền vay, khả năng hoàn trả nợ của người vay và khả năngnguồn vốn của Dự án nhưng mức cho vay tối đa không quá 500.000.000 đồng(năm trăm triệu đồng) đối với một khách hàng

- Chương trình cho vay để ký quỹ đi lao động tại Hàn Quốc: Thực hiện thíđiểm ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo Chương trìnhcấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc Mức cho vay để ký quỹcho người đi lao động tại Hàn Quốc tối đa 100.000.000 đồng/lao động

Trang 36

c Các chương trình vừa cho vay trực tiếp vừa cho vay ủy thác

Để đảm bảo an toàn vốn cho Nhà nước và để tạo điều kiện thuận tiện nhất chongười vay, một số chương trình cho vay được NHCSXH áp dụng đồng thời 02phương thức cho vay, bao gồm:

- Cho vay Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn

+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với học sinh sinh viên vay thôngqua hộ gia đình

+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với học sinh sinh viên mồ côi cảcha và mẹ hoặc chỉ mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại không có khả năng laođộng

- Cho vay Hộ gia đình sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn

+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với mức cho vay đến 30 triệuđồng/Hộ

+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với mức cho vay trên 30 triệuđến 100 triệu đồng/Hộ

- Cho vay Thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn

+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với Thương nhân là cá nhân.+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với Thương nhân là tổ chức kinh tế

- Cho vay dự án phát triển ngành Lâm nghiệp (tại 06 tỉnh khu vực miền

trung)

+ Phương thức cho vay uỷ thác: Áp dụng đối với những hộ gia đình tham gia

Tổ

+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với hộ không tham gia vào Tổ

- Cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm (gọi tắt là cho vay giải quyết việc làm):

+ Phương thức cho vay ủy thác: Áp dụng đối với người lao động vay vốn từnguồn vốn do UBND tỉnh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cụ chiến binh và Đoànthanh niên quản lý

Trang 37

+ Phương thức cho vay trực tiếp: Áp dụng đối với Các cơ sở sản xuất kinhdoanh, Hộ gia đinh hoặc người lao động vay vốn từ nguồn vốn do Tổng liên đoànlao động, Liên minh hợp tác xã, Hội người mù quản lý.

2.1.6 Thủ tục và quy trình cho vay

a Đối với Phương thức cho vay ủy thác:

- Hồ sơ cho vay vốn bao gồm:

+ Hồ sơ do người vay lập:

Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn vay (Mẫu 01/TD).Riêng chương trình cho vay giải quyết việc làm, sử dụng (mẫu số 01b)

+ Hồ sơ do Tổ TK&VV lập:

* Danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn NHCSXH (mẫu 03/TD)

* Biên bản họp Tổ để bình xét cho vay (mẫu số 10C/TD)

* Biên bản họp Tổ (mẫu 10A/TD đối với tổ TK&VV thành lập lần đầu)

+ Hồ sơ do NHCSXH nơi cho vay lập:

Thông báo kết quả phê duyệt cho vay (mẫu 04/TD)

+ Hồ sơ do NHCSXH nơi cho vay và người vay cùng lập: Sổ vay vốn

Bộ hồ sơ vay vốn nêu trên được áp dụng chung cho tất cả các chương trình thựchiện phương thức cho vay ủy thác

b Quy trình cho vay: gồm 08 bước được mô tả như sau:

Bước 1: Khi có nhu cầu vay vốn, người vay viết Giấy đề nghị vay vốn kiêmphương án sử dụng vốn vay (mẫu số 01/TD), gửi cho Tổ TK&VV Riêng chươngtrình cho vay giải quyết việc làm sử dụng (mẫu 01b) Trên giấy đề nghị vay vốn,người vay phải ghi đúng, đầy đủ, rõ ràng các nội dung theo yêu cầu và có chữ kýcủa người vay

Bước 2: Sau khi Tổ nhận giấy đề nghị vay vốn của người vay, Tổ TK&VV tổchức họp để bình xét những hộ đủ điều kiện vay vốn, có sự tham gia chỉ đạo tổchức Hội và sự giám sát của Trưởng thôn; lập danh sách các hộ gia đình đề nghịvay vốn mẫu 03/TD trình UBND cấp xã xác nhận

Trang 38

Đây là bước hết sức quan trọng, vì vậy tổ chức Hội phải chỉ đạo sát sao các

Tổ khi bình xét để đảm bảo“Công khai, công bằng, dân chủ, khách quan và đúng đối tượng” Để làm tốt nội dung này, trước khi họp bình xét, trưởng thôn và các tổ

chức Hội phải quán triệt các Tổ các nội dung sau:

- Các hộ được vay vốn phải đúng đối tượng theo quy định ở mỗi chương trìnhcho vay

- Không được chia đều về số tiền cho hộ vay cũng như thời hạn cho vay

- Mục đích cho vay của mỗi hộ vay phải cụ thể, đúng với nhu cầu cần thiết vềmức vốn, thời hạn vay phù hợp và phải được các thành viên trong Tổ nhất trí

- Việc bình xét tránh tình trạng nể nang, dẫn đến cho vay sai đối tượng, vốnvay không phát huy được hiệu quả làm mất uy tín của tổ chức Hội, NHCSXH vàảnh hưởng kết quả sử dụng vốn vay

- Các thành viên trong Tổ phải có trách nhiệm phân tích điều kiện cụ thể vớitừng Hộ vay để các đối tượng được vay cũng như chưa được vay nhận thức đúng

về đồng vốn tín dụng chính sách ưu đãi

Bước 3: Tổ tiết kiệm và vay vốn gửi bộ hồ sơ đề nghị vay vốn cho cán bộ Tíndụng theo dõi địa bàn, gồm: Mẫu 01/TD, 03/TD, 10C/TD và mẫu 10A/TD (nếu Tổthành lập lần đầu) đã được UBND xác nhận

Lưu ý: Trước khi gửi hồ sơ vay vốn của Tổ cho cán bộ Tín dụng theo dõi địa

bàn xã, Tổ trưởng phải kiểm soát cẩn thận (đủ các giấy tờ liên quan, không đượctẩy, xóa, đủ chữ ký hộ vay, phần xác nhận của Ủy ban nhân dân xã phải cụ thể, cóđủ dấu, chữ ký và gửi bản chính, không được gửi bản photocopy)

Bước 4: Cán bộ Tín dụng tiếp nhận bộ hồ sơ của Tổ và có nhiệm vụ:

- Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của bộ hồ sơ Trường hợp hồ sơ chưa đúngquy định phải hướng dẫn lại Tổ để hoàn thiện đầy đủ

- Trình Giám đốc phê duyệt cho vay những hồ sơ đã đầy đủ, hợp lệ;

- Lập thông báo kết quả phê duyệt cho vay mẫu số 04/TD gửi UBND cấp xã

và cùng hộ vay lập Sổ vay vốn (đối với hộ vay lần đầu)

Lưu ý:

Trang 39

- Thời hạn phê duyệt cho vay không quá 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngàyNHCSXH nhận được đầy đủ hồ sơ vay vốn theo quy định.

- Để tiết giảm chi phí, nên định ngày giải ngân trùng vào ngày giao dịch cốđịnh tại xã (trừ trường hợp phải giải ngân theo mùa vụ như cho vay học sinh sinhviên hoặc theo chỉ tiêu kế hoạch bổ sung, đột xuất)

Bước 5: Nhận được thông báo kết quả phê duyệt cho vay mẫu số 04/TD củaNHCSXH, UBND cấp xã thông báo trực tiếp cho tổ chức Hội cấp xã

Việc NHCSXH gửi Thông báo đến UBND để họ nắm bắt được nguồn vốnđầu tư cho xã và có kế hoạch chỉ đạo các Ban, ngành liên quan giúp hộ vay sửdụng vốn vay đạt hiệu quả Đồng thời để bố trí lực lượng bảo vệ phối hợp cùngNHCSXH đảm bảo an toàn cho buổi giải ngân

Bước 6: Nhận được thông báo kết quả phê duyệt cho vay của NHCSXH (mẫu

số 04/TD) từ UBND cấp xã, Tổ chức Hội cấp xã thông báo cho Tổ TK&VV vàtriển khai các công việc có liên quan, cụ thể:

- Bố trí cán bộ tổ chức Hội và đôn đốc các Tổ trưởng tham gia chứng kiếngiải ngân

- Trường hợp trong xã có nhiều Tổ được giải ngân, tổ chức Hội chủ độngphân chia về thời gian cho các Tổ để tổ viên đến lĩnh tiền đúng giờ, tránh lãng phíthời gian

- Nắm bắt các Tổ giải ngân đợt này để theo dõi, giám sát, chỉ đạo các Tổ kiểmtra, giám sát người vay sử dụng vốn đúng mục đích và hiệu quả

Bước 7: Tổ TK&VV thông báo cho người vay biết số tiền được vay và thờigian, địa điểm NHCSXH giải ngân

Khi thông báo cho người vay, Tổ trưởng phải cụ thể về thời gian, địa điểm vàyêu cầu người vay mang theo Chứng minh nhân dân để nhận tiền Nếu người vaykhông trực tiếp đến nhận tiền vay, thì được uỷ quyền cho thành viên trong hộ đếnnhận thay nhưng phải có giấy uỷ quyền có xác nhận cuả UBND cấp xã

Bước 8: Ngân hàng tiến hành giải ngân trực tiếp cho người vay tại điểm giaodịch xã

Trang 40

Để buổi giải ngân đạt hiệu quả cao nhất, cán bộ Tín dụng theo dõi địa bàntrực tiếp tham gia buổi giải ngân phải chủ động sắp xếp các công việc như: hồ sơvay vốn, dự kiến thu nợ, thu lãi (nếu có) để chuẩn bị lượng tiền cần thiết giải ngân,các giấy tờ liên quan, phương tiện làm việc ; Giám đốc phân công trách nhiệmtừng cán bộ Tổ giao dịch phải rõ ràng và phù hợp với chuyên môn, năng lực và sởtrường mỗi cán bộ Trong quá trình giao dịch, cán bộ phải tự giác, nghiêm túc vàtuân thủ theo đúng quy trình đã quy định.

b Đối với Phương thức cho vay trực tiếp

- Bộ hồ sơ cho vay:

+ Hồ sơ do khách hàng lập và cung cấp

* Trường hợp người vay vốn là cá nhân hoặc Hộ gia đình thì Bộ hồ sơ cho

vay chỉ có Hồ sơ vay vốn

* Trường hợp khách hàng vay vốn là các tổ chức kinh tế; Cơ sở sản xuất, kinhdoanh thì bộ hồ sơ gồm: Hồ sơ pháp lý, Hồ sơ kinh tế và Hồ sơ vay vốn

Hồ sơ pháp lý: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy phép đầu tư Văn

bản ủy quyền hoặc bảo lãnh vay vốn của cơ quan cấp trên có thẩm quyền (nếu có)đối với đơn vị hạch toán phụ thuộc

Hồ sơ kinh tế: Báo cáo tài chính và kết quả thực hiện sản xuất kinh doanh 2

năm liền kề và kỳ gần nhất

Hồ sơ vay vốn: Giấy đề nghị vay vốn; Dự án, phương án SXKD dịch vụ và các

giấy tờ liên quan (nếu có)

+ Hồ sơ do NHCSXH lập: Phiếu thẩm định, tái thẩm định (nếu có)

+ Hồ sơ do người vay cùng NHCSXH lập: Hợp đồng bảo đảm tiền vay, hợpđồng tín dụng hoặc Sổ vay vốn

Tùy theo đối tượng vay vốn ở từng chương trình cụ thể, NHCSXH có cácmẫu biểu hướng dẫn phù hợp

- Quy trình cho vay: gồm 03 bước sau đây:

Bước 1 Người vay vốn lập dự án hoặc phương án vay vốn trình UBND cấp

xã nơi thực hiện dự án xác nhận, sau đó gửi NHCSXH

Ngày đăng: 08/03/2018, 10:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự (2010), Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Dờn và cộng sự
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2010
[4] Trần Huy Hoàng (2007), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Trần Huy Hoàng
Nhà XB: NXB Lao động Xã hội
Năm: 2007
[6] Lê Văn Tề (2007), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: Lê Văn Tề
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2007
[7] Nguyễn Thị Ngọc Trang (2006), Quản trị rủi ro tài chính, NXB Thống Kê, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Quản trị rủi ro tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Trang
Nhà XB: NXB Thống Kê
Năm: 2006
[11] Vương Hảo Hớn (2015), “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại để phát triển bền vững”, Luận Văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại để phát triển bền vững”
Tác giả: Vương Hảo Hớn
Năm: 2015
[1] Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của NHCSXH Quận Tân Phú, HCM [2] Các văn bản luật về ngân hàng Khác
[9] Tạp chí Kinh tế phát triển [10] Thông tin từ các website Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w