Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng đượcphạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, công thứccụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh do
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnêu trong luận văn là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trìnhnào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đượcchỉ rõ nguồn gốc
Hải Phòng, ngày 01 tháng 06 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Lan Thủy
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Quản lý kinh tế,Viện đào tạo sau đại học, Trường đại học Hàng Hải Việt Nam và các đồng nghiệptại Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát đã có nhiều đóng gópquý báu cho việc học tập và nội dung luận văn này
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS.Nguyễn Hồng Thái, người đã
tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Trong thời gian học tập và làm luận văn, do quỹ thời gian và khả năng có hạn,luận văn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong quý Thầy, Cô, bạn bè,đồng nghiệp đóng góp ý kiến để luận văn hoàn thiện hơn
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BALPAC Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát
HABECO Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội
SABECO Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài GònTFS Tin Free Steel (Thép lá mạ Crôm)
TSCĐ Tài sản cố định
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
2.1 Phân tích tình hình tài sản, nguồn vốn giai đoạn 2013-2015 412.2 Phân tích cơ cấu doanh thu giai đoạn 2013-2015 452.3 Phân tích cơ cấu sản phẩm chính (nắp khoén) giai đoạn2013-2015 46-472.4 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2013-2015 502.5 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợpgiai đoạn 2013-2015 532.6 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động giai đoạn2013-2015 552.7 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định giai đoạn
2.8 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
2.2 Tài sản ngắn hạn giai đoạn 2013-2015 42
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường là việc tổ chức nền kinh tế xã hội dựa trên cơ sở mộtnền sản xuất hàng hóa Thị trường luôn mở ra các cơ hội kinh doanh mới nhưngđồng thời cũng chứa đựng những nguy cơ đe dọa các doanh nghiệp Để có thểđứng vững trước quy luật cạnh tranh khắc nghiệt của cơ chế thị trường đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải luôn vận động, tìm tòi một hướng đi mới cho phù hợp Vì vậy,các doanh nghiệp cần quan tâm, tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp mình
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu hàng đầu, quyết định sự tồn tạicủa mỗi doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp muốn tồn tạiphải làm ăn “có lãi”, nhất là những doanh nghiệp bước vào hoạt động với tư cách
là công ty cổ phần, vận hành theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm vớicông việc sản xuất kinh doanh của mình Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là
nhiệm vụ chủ đạo của mỗi doanh nghiệp Có nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển, qua đó mở rộng sản xuất,nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên và tạo sự phát triển vững chắc củadoanh nghiệp
Vấn đề nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh vẫn là bài toán khó đối vớinhiều doanh nghiệp Ở nước ta hiện nay, số doanh nghiệp đạt được hiệu quả trongquá trình sản xuất kinh doanh vẫn chưa nhiều Điều này có nhiều nguyên nhân nhưhạn chế trong công tác quản lý, hạn chế về năng lực sản xuất hay kém thích ứngvới nhu cầu của thị trường Do đó, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tronglĩnh vực kinh doanh liên quan đến rượu, bia, nước giải khát càng ngày càng phảiđược chú trọng, đặc biệt là trong môi trường cạnh tranh quốc tế như hiện nay
Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát” làm nội dung nghiên cứu luận văn cao học Quản lý kinh tế.
Thông qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất
Trang 8kinh doanh của Công ty, luận văn mong muốn đề xuất một số biện pháp nhằmkhắc phục những hạn chế, phát huy những điểm mạnh, từ đó nâng cao hiệu quảsản xuất kinh doanh của Công ty.
2 Mục đích nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Nghiên cứu, hệ thống hóa những lý luận cơ bản
về kinh doanh, hiệu quả kinh doanh, các phương phápđánh giá, phân tích và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinhdoanh của Công ty;
- Về mặt thực tiễn: Phân tích, đánh giá về hiệu quả kinh doanh của
Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát, trên cơ sở
đó nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệuquả hoạt động kinh doanh của Công ty trong thời gian tới Cụthể, luận văn nghiên cứu trả lời các câu hỏi: Hiệu quả kinhdoanh của Công ty trong thời gian qua như thế nào? Công ty cầnphải làm gì để nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty?
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận về hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, luậnvăn tập trung đi sâu vào nghiên cứu thực trạng hiệu quả sảnxuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nướcgiải khát trong những năm qua;
- Phạm vi nghiên cứu: Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sản
xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia Rượu Nước giải khát trong những năm gần đây và dự báo sự phát triển
-từ nay đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp như phương pháp duy vật biện chứng vàduy vật lịch sử, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, đồng thời còn
sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, phương pháp điều tra
Trang 9nghiên cứu, phương pháp chuyên gia để nghiên cứu đánh giá hiệu quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát
từ năm 2013 đến năm 2015, nhằm đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh của Công ty trong những năm tương lai
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục các bảng, biểu, chữ viết tắt, tài liệutham khảo, kết cấu của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát
Chương 3: Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát
Trang 10CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan đến hiệu quả sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp 1.1.1 Khái niệm về kinh doanh
Khoản 16, Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: “Kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình, đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằmmục đích sinh lợi”
Khái niệm kinh doanh này đề cập đến mục đích của hành vi và nơi mà hành vicủa chủ thể có thể thực hiện, nó bao trùm tất cả các giai đoạn của hoạt động đầu tưkinh doanh, từ việc bỏ vốn vào đầu tư, đến sản xuất, gia công, chế biến hàng hóa,cung ứng các loại dịch vụ trên thị trường như đại lý, môi giới, ủy thác, dịch vụgiao nhận… nhằm tìm kiếm lợi nhuận Nói một cách khác, khái niệm này tập trungvào bản chất và mục đích của hành vi chứ không phải kết quả cụ thể mà các bênđạt được trong thực tiễn
Khái niệm về kinh doanh trong Luật Doanh nghiệp hàm ý ba đặc tính cơ bản:
- Hoạt động kinh doanh là hoạt động mang tính nghề nghiệp;
- Hoạt động kinh doanh diễn ra trên thị trường;
- Hoạt động kinh doanh có mục đích là lợi nhuận
1.1.2 Khái niệm, bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.1.2.1. Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì làm
ăn phải có hiệu quả Đây là một sự thật hiển nhiên, một chân lý và để hiểu rõ điềunày thì trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu về khái niệm hiệu quả
Ngày nay, người ta vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về hiệu quả Ở mỗigóc độ, lĩnh vực khác nhau thì hiệu quả cũng được xem xét nhìn nhận khác nhau
và thông thường khi nói đến hiệu quả của một lĩnh vực nào đó thì chúng ta xem xét
Trang 11vấn đề hiệu quả trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Tương ứng ta có 03(ba) phạm trù là hiệu quả kinh tế, hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội.
Hiệu quả kinh tế
Nếu xét trên phạm vi từng khía cạnh, từng yếu tố, từng ngành thì chúng ta cóphạm trù hiệu quả kinh tế Có thể hiểu hiệu quả kinh tế là hệ số giữa kết quả thu về
và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Kết quả thu về đề cập trong khái niệm này
có thể là doanh thu, lợi nhuận, tổng sản phẩm… Hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ
sử dụng các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh doanh
Hiệu quả chính trị, xã hội
Nếu đứng trên phạm vi toàn xã hội và nền kinh tế quốc dân thì chúng ta có 02(hai) phạm trù hiệu quả chính trị và hiệu quả xã hội Hai phạm trù này phản ánhảnh hưởng của hoạt động sản xuất kinh doanh đối với việc giải quyết nhữngyêu cầu và mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế xã hội Và hai loại hiệu quả này
có vị trí quan trọng trong việc phát triển đất nước một cách toàn diện và bền vững.Hiệu quả chính trị, xã hội phản ánh trình độ phát triển nền kinh tế xã hội ở các mặt:trình độ tổ chức sản xuất, trình độ quản lý và mức sống bình quân
Phải luôn có sự cân đối giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả chính trị, xã hội.Đây là một nguyên tắc để phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia một cáchliên tục và lâu dài Bất kỳ một sự mất cân đối nào sẽ dẫn đến những hậu quảnghiêm trọng
Dưới góc độ của doanh nghiệp, ta có khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh.Hiệu quả sản xuất kinh doanh có bản chất của hiệu quả kinh tế và cũng có bản chấtcủa hiệu quả chính trị, xã hội (đời sống người lao động…) Dưới đây là một sốquan điểm về hiệu quả kinh tế và hiệu quả chính trị, xã hội Nếu áp dụng nhữngquan điểm đó vào phạm vi của doanh nghiệp thì có thể coi đó là các quan điểm vềhiệu quả sản xuất kinh doanh Qua đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về khái niệmhiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 12Mặc dù đã có sự thống nhất rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanhphản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng vẫn chưa có sựthống nhất trong quan niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Các nhà kinh tế và thống kê có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quảsản xuất kinh doanh do điều kiện lịch sử cũng như góc độ nghiên cứu khác nhau
Quan điểm 1: Trước đây người ta coi “Hiệu quả là kết quả đạt được trong
hoạt động kinh tế, là doanh thu trong tiêu thụ hàng hóa” Theo quan điểm này thìhiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như tốc độ tăng của doanh thu,lợi nhuận Như vậy, hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay vớinhịp độ tăng của các chỉ tiêu ấy Quan điểm này thực sự không còn phù hợp vớiđiều kiện ngày nay Kết quả sản xuất có thể tăng lên do tăng chi phí, mở rộng sửdụng các nguồn sản xuất (đầu vào của quá trình sản xuất) Trường hợp hai doanhnghiệp có cùng một kết quả sản xuất tuy có hai mức chi phí khác nhau, theo quanđiểm này thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của chúng là như nhau Điều này thậtkhó chấp nhận
Quan điểm 2: “Hiệu quả được xác định bằng nhịp độ tăng tổng sản phẩm
xã hội hoặc thu nhập quốc dân” Theo quan điểm này, khi xét trên phạm vi củadoanh nghiệp, hiệu quả sản xuất kinh doanh và nhịp độ tăng giá trị tổng sản lượng
là một Ở một góc độ nào đó thì quan điểm này cũng gần giống với quan điểm 1
Nó cũng không đề cập tới chi phí bỏ ra để đạt được giá trị tổng sản lượng đó Nếutốc độ tăng chi phí sản xuất các nguồn lực được huy động tăng nhanh hơn nhịp độtăng giá trị tổng sản lượng thì sao Hơn nữa, việc chọn năm gốc có ảnh hưởngrất lớn đến kết quả so sánh Với mỗi năm gốc khác nhau chúng ta lại có mứchiệu quả khác nhau của cùng một năm nghiên cứu
Quan điểm 3: Đây là quan điểm về hiệu quả được trình bày trong giáo trình
kinh tế học của P.Samueleson và W.Nordhmas (Viện quan hệ quốc tế - Bộ Ngoạigiao xuất bản, bản dịch tiếng Việt năm 1991) Quan điểm này cho rằng “Hiệu quảsản xuất diễn ra khi sản xuất không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa màkhông cắt giảm sản xuất của một loại hàng hóa khác Một nền kinh tế có hiệu quả
Trang 13nằm trên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó Nhìn nhận quan điểm nàydưới góc độ doanh nghiệp thì tình hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả khi nằmtrên đường giới hạn khả năng sản xuất của nó Giới hạn khả năng sản xuất củadoanh nghiệp được xác định bằng giá trị tổng sản lượng tiềm năng, là giá trị tổngsản lượng cao nhất có thể đạt được ứng với tình hình công nghệ và nhân công nhấtđịnh” Theo quan điểm này thì hiệu quả thể hiện ở sự so sánh giữa mức thực tế vàmức “tối đa” về sản lượng Tỷ lệ so sánh càng gần 1 thì càng có hiệu quả Mặtkhác ta thấy quan điểm này tuy đã đề cập đến các yếu tố đầu vào nhưng lại đề cậpkhông đầy đủ.
Tóm lại quan điểm này là chính xác, độc đáo nhưng nó mang tính chất
lý thuyết thuần tuý, lý tưởng, thực tế rất khó đạt được
Quan điểm 4: “Hiệu quả kinh tế nền sản xuất xã hội là mức độ hữu ích của
sản phẩm được sản xuất ra, tức là giá trị sử dụng của nó chứ không phải là giá trị”.Theo tác giả của quan điểm này, mức độ thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào các tácdụng vật chất cụ thể chứ không phải giá trị trừu tượng nào đó Tuy nhiên quanđiểm này gặp phải trở ngại là khó (nếu không muốn nói là không thể) tínhđược tính hữu ích của sản phẩm được sản xuất ra Và nếu vậy thì chúng ta khôngthể so sánh được tính hữu ích giữa các sản phẩm, do đó cũng không đánh giáđược tính hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh
Quan điểm 5: “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi quan hệ tỷ lệ giữa sự tăng
lên của đại lượng kết quả và chi phí” Công thức biểu diễn phạm trù này:
ΔCTrong đó: H là hiệu quả sản xuất kinh doanh;
ΔK là phần gia tăng của kết quả sản xuất;
ΔC là phần gia tăng của chi phí sản xuất
Quan điểm này phản ánh hiệu quả chưa đầy đủ và trọn vẹn Nó mới chỉ
đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng củakinh doanh sản xuất và phần gia tăng của chi phí sản xuất chứ chưa đề cập đếntoàn bộ phần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Xét trên quan điểm
Trang 14triết học Mác Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ mật thiết,hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập Sản xuất kinh doanhkhông nằm ngoài quy luật này, các yếu tố “tăng thêm” “giảm đi” có liên hệ vớicác yếu tố sẵn có Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới kết quả sản xuấtkinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là kết quả tổng hợp của toàn bộphần tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Quan điểm này chỉ đề cập đếnphần tăng thêm trong khái niệm hiệu quả là chưa đầy đủ, thiếu chính xác.
Quan điểm 6: Theo quan điểm này “Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số
giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả” Từ khái niệm trên
ta có công thức để biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh:
CTrong đó: H là hiệu quả sản xuất kinh doanh;
K là kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh;
C là chi phí của quá trình sản xuất kinh doanh (chi phí bỏ ra
để đạt được kết quả K)
Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phản ánh chất lượnghoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Còn kết quả của quá trìnhsản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận) thì phản ánh số lượng của hoạt độngsản xuất kinh doanh Vậy khi xem xét, đánh giá hoạt động của một doanh nghiệpthì phải quan tâm cả kết quả cũng như hiệu quả của doanh nghiệp đó
Quan điểm này đã đánh giá được tốt nhất trình độ lợi dụng các nguồn lực
ở mọi điều kiện “động” của hoạt động sản xuất kinh doanh
Việc tính toán hiệu quả hoàn toàn có thể thực hiện được trong sự vận động vàbiến đổi không ngừng của hoạt động sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vàoquy mô và tốc độ biến động khác nhau của chúng (dẫn theo [13])
1.1.2.2. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh đã cho thấy bản chất của hiệu quảsản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất
Trang 15đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Tuy nhiên để hiểu rõ và ứng dụng đượcphạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh vào việc thành lập các chỉ tiêu, công thức
cụ thể nhằm đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp chúng ta cần:
- Thứ nhất, phải hiểu rằng phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh thực chất là mốiquan hệ so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để sử dụng các yếu tố đầuvào và có tính đến các mục tiêu của doanh nghiệp Mối quan hệ so sánh ở đây cóthể là so sánh tuyệt đối và cũng có thể là so sánh tương đối
- Thứ hai, phải phân biệt hiệu quả xã hội, hiệu quả kinh tế xã hội với hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp;
- Thứ ba, phải phân biệt hiệu quả trước mắt với hiệu quả lâu dài Chỉ tiêuhiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào mục tiêu củadoanh nghiệp nên tính chất hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở các giai đoạnkhác nhau là khác nhau
Xét về tính lâu dài, các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của toàn bộ hoạt độngsản xuất kinh doanh trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp là lợi nhuận
và các chỉ tiêu về doanh lợi
Xét về tính hiệu quả trước mắt (hiện tại), phụ thuộc vào mục tiêu hiện tại màdoanh nghiệp đang theo đuổi Trên thực tế để thực hiện mục tiêu lâu dài là tối đahoá lợi nhuận, có rất nhiều doanh nghiệp hiện tại đang thực hiện các mục tiêu vềnâng cao năng suất và chất lượng của sản phẩm, nâng cao uy tín danh tiếng của
Trang 16doanh nghiệp, mở rộng thị trường cả về chiều sâu lẫn chiều rộng… Các chỉ tiêuhiệu quả về lợi nhuận ở đây không cao nhưng các chỉ tiêu có liên quan đếnmục tiêu đã đề ra lại cao thì không thể kết luận là doanh nghiệp đang hoạt độngkhông có hiệu quả, mà phải kết luận là doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả.Như vậy, chỉ tiêu hiệu quả và tính hiệu quả trước mắt có thể trái với các chỉ tiêuhiệu quả lâu dài, nhưng mục đích của nó lại là nhằm thực hiện chỉ tiêu hiệu quảlâu dài.
1.1.3 Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trịdoanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh
Khi tiến hành bất kỳ một hoạt động sản xuất kinh doanh nào thì doanh nghiệpđều phải huy động và sử dụng các nguồn lực mà doanh nghiệp có khả năng tạo rakết quả phù hợp với mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra Ở mỗi giai đoạn phát triển,doanh nghiệp có nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng mục tiêu cuối cùng bao trùmtoàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh là tối đa hoá lợi nhuận trên cơ sở sử dụngtối ưu các nguồn lực Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như cácmục tiêu khác, doanh nghiệp phải sử dụng nhiều phương pháp, nhiều công cụkhác nhau Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong những công cụhữu hiệu nhất để các nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị của mình.Thông qua việc tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không những cho phépkiểm tra đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh (hoạt động
có hiệu quả hay không và hiệu quả đạt ở mức độ nào), mà còn phân tích tìm ra cácyếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa
ra được các biện pháp điều chỉnh thích hợp trên cả hai phương diện giảm thiểuchi phí, tăng kết quả nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Là một công cụquản trị kinh doanh, hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng đểkiểm tra, đánh giá và phân tích trình độ sử dụng tổng hợp nguồn lực đầu vào trongphạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để kiểm tra đánh giá trình độ
sử dụng từng yếu tố đầu vào trong phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như ở từng
Trang 17bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Xét trên phương diện lý luận và thực tiễn thìhiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng và không thể thiếu đượctrong việc kiểm tra đánh giá và phân tích nhằm đưa ra các biện pháp tối ưu nhất,lựa chọn được phương pháp hợp lý nhất để thực hiện các mục tiêu doanh nghiệp đã
đề ra
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp phải luôn gắn mình với thị trường,nhất là trong một nền kinh tế mở Do vậy, để thấy được vai trò của việc nâng caohiệu quả sản xuất kinh doanh đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế trước hếtchúng ta cần nghiên cứu cơ chế thị trường và hoạt động của các doanh nghiệptrong thị trường
Thị trường là nơi diễn ra quá trình trao đổi hàng hóa Nó tồn tại một cáchkhách quan không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan nào Bởi vì, thị trường ra đời vàphát triển gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa Ngoài ra,thị trường còn có một vai trò quan trọng trong việc điều tiết và lưu thông hàng hóa.Thông qua đó các doanh nghiệp có thể nhận biết được sự phân phối các nguồn lựcthông qua hệ thống giá cả trên thị trường
Trên thị trường luôn luôn tồn tại các quy luật vận động của hàng hóa, giá cả,tiền tệ… như các quy luật thặng dư, quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh… Cácquy luật này tạo thành một hệ thống thống nhất và hệ thống này chính là linh hồn,
là cha đẻ của cơ chế thị trường Như vậy, cơ chế thị trường được hình thành bởi sựtác động tổng hợp của các quy luật trong sản xuất, trong lưu thông trên thị trường.Thông qua các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường, cơ chếthị trường tác động đến việc điều tiết sản xuất, tiêu dùng, đầu tư và làm thay đổi
cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành… Nói cách khác, cơ chế thị trường điều tiếtquá trình phân phối, phân phối lại các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh nhằmđáp ứng nhu cầu xã hội một cách tối ưu
Tóm lại, sự vận động đa dạng, phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sựbiểu hiện gần đúng nhu cầu thị trường của xã hội Song, doanh nghiệp không đượcđánh giá quá cao hoặc tuyệt đối hóa vai trò của thị trường, coi cơ chế thị trường là
Trang 18hoàn hảo Bởi lẽ thị trường luôn chứa đựng những khuyết tật của nó như đầu cơ,lừa lọc, độc quyền… Bởi vậy mỗi một doanh nghiệp phải xác định được cho mìnhmột phương thức hoạt động riêng phù hợp Cụ thể doanh nghiệp phải xác địnhcho mình cơ chế hoạt động trên hai thị trường đầu vào và đầu ra để đạt đượckết quả cao nhất và kết quả này không ngừng phát triển nâng cao hiệu quả vềmặt chất cũng như về mặt lượng.
Như vậy, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò vô cùngquan trọng với doanh nghiệp
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả kinh tế trong kinh doanh là mục tiêu phát triến nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần
Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII nêu rõ: “Một thành tựu khác vềđổi mới kinh tế là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước”
Phát triển kinh tế nhiều thành phần phải đảm bảo cho tổng sản phẩm xã hộic+v+m và thu nhập quốc dân m+v đủ để thỏa mãn 02 (hai) yêu cầu sau:
- Một là, bù đắp đầy đủ, kịp thời chi phí về tư liệu sản xuất và chi phí lao động
đã hao phí (c+v) trong quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần;
- Hai là, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân có được một sự tích lũy quan trọng
để tái sản xuất mở rộng và đáp ứng những nhu cầu của xã hội
Thứ hai, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là cơ sở cơ bản để đảm bảo
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt của doanh nghiệptrên thị trường, trong khi đó lại là yếu tố trực tiếp đảm bảo sự có mặt này, đồngthời là mục tiêu của tất cả các doanh nghiệp luôn tồn tại, phát triển một cách vữngchắc
Do vậy, thu nhập của doanh nghiệp phải không ngừng nâng lên Nhưngtrong điều kiện vốn và các kỹ thuật chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì đểtăng lợi nhuận bắt buộc các doanh nghiệp phải tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh
Trang 19Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong việcđảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Một cách nhìn khác, sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự tạo rahàng hóa, của cải vật chất và các dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội đồng thờitạo ra tích lũy cho xã hội Để thực hiện được điều đó thì mỗi doanh nghiệpđều phải vươn lên đảm bảo thu nhập, bù đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trìnhsản xuất kinh doanh Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu tái sản xuất trongnền kinh tế Do đó chúng ta buộc phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhnhư là một điều tất yếu
Tuy nhiên, sự tồn tại mới chỉ là một yêu cầu mang tính chất giản đơn, còn
sự phát triển và mở rộng doanh nghiệp lại là một yếu tố quan trọng Bởi vì sựphát triển, mở rộng của doanh nghiệp không những đòi hỏi sự tồn tại củadoanh nghiệp mà còn đòi hỏi sự tích lũy đảm bảo cho quá trình tái sản xuất
mở rộng theo đúng quy luật phát triển Như vậy, để phát triển và mở rộngdoanh nghiệp, mục tiêu lúc này không còn là đủ bù đắp chi phí bỏ ra để phát triểnquá trình tái sản xuất giản đơn mà phải đảm bảo có tích lũy đáp ứng nhu cầutái sản xuất mở rộng và một lần nữa nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanhđược nhấn mạnh
Thứ ba, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là yếu tố thúc đẩy cạnh tranh
và sự tiến bộ trong kinh doanh
Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Trong khi thị trườngngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng khốc liệthơn Sự cạnh tranh lúc này không chỉ là các mặt hàng mà cạnh tranh cả chất lượng,giá cả… Trong khi mục tiêu chung của các doanh nghiệp đều là phát triển thìcạnh tranh là yếu tố làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể bóp chếtdoanh nghiệp trên thị trường Vì vậy, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệpđều phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Để đạt được điều này thì cácdoanh nghiệp phải có hàng hóa, dịch vụ có chất lượng tốt, giá cả hợp lý
Trang 20Mặt khác, hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm giá thành,tăng khối lượng hàng hóa bán ra, chất lượng không ngừng được nâng cao…Như vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là hiệu quả, chính làhạt nhân cơ bản của thắng lợi trong cạnh tranh Và các doanh nghiệp cạnh tranhvới nhau tức là không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình.Chính sự nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là con đường để doanh nghiệpnâng cao sức cạnh tranh của mình.
Tóm lại, có thể nói hiệu quả sản xuất kinh doanh vừa có vai trò là công cụ đểthực hiện nhiệm vụ quản trị kinh doanh, vừa là mục tiêu để quản trị kinh doanh(dẫn theo [13])
1.2 Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh 1.2.1 Các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp
1.2.1.1. Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu (ROE)
Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu phản ánh một đơn vị vốn chủ sở hữu đem lạimấy đơn vị lợi nhuận sau thuế, là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất hiệu quả lượng tiền màchủ sở hữu đã bỏ ra đầu tư
Vốn chủ đầu tư
1.2.1.2. Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp mong muốn mở rộng quy môsản xuất, thị trường tiêu thụ, do vậy nhà quản trị thường đánh giá hiệu quả sử dụngcác tài sản đã đầu tư
Ý nghĩa: Đây là chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận được tạo ra trên một đồng vốntham gia vào quá trình sản xuất
Tổng tài sản
1.2.1.3. Tỷ suất sinh lời của doanh thu (ROS)
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ doanh nghiệp bỏ ra 100 đồngdoanh thu hoặc doanh thu thuần thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế,
Trang 21Đây là yếu tố giúp nhà quản trị mở rộng thị trường, tăng doanh thu.
Tổng doanh thu (Doanh thu thuần)
1.2.1.4. Doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, một đồng vốntạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận Nó phản ánh trình độ lợi dụng yếu tố vốncủa doanh nghiệp
Doanh lợi vốn kinh doanh được xác định theo công thức:
VKD
Trong đó: DVKD (%) là doanh lợi của toàn bộ vốn kinh doanh một kỳ;
ΠR là lãi ròng thu được của kỳ tính toán;
TLVV là lãi trả vốn vay của thời kỳ đó;
VKD là tổng vốn kinh doanh bình quân của kỳ tính toán
1.2.1.5. Doanh lợi của vốn tự có
TR là doanh thu bán hàng của kỳ tính toán đó
1.2.1.7. Hiệu quả kinh doanh tiềm năng
HTN (%) = CP
KD tt
CPKD kh
Trong đó: HTN là hiệu quả kinh doanh tiềm năng;
Trang 221.2.1.8. Sức sản xuất của một đồng vốn kinh doanh
SSX
VKD
Trong đó: SSX
VKD là sức sản xuất của một đồng vốn kinh doanh
1.2.1.9. Sức sản xuất của một đồng chi phí kinh doanh
SSX
CPKD
Trong đó: SSX
CPKD là sức sản xuất của một đồng chi phí kinh doanh;
CPKD là chi phí kinh doanh
1.2.2 Một số chỉ tiêu hiệu quả từng lĩnh vực
1.2.2.1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng lao động
a) Sức sinh lời bình quân của lao động
ΠBQ
LBQ
Trong đó: ΠBQ
LD là lợi nhuận bình quân một lao động tạo ra trong kỳ;
LBQ là số lao động bình quân của kỳ tính theo phương phápbình quân gia quyền
b) Năng suất lao động
NSBQ
LBQ
Trong đó: NSBQ
LD là năng suất lao động bình quân của kỳ tính toán;
K là kết quả của kỳ tính bằng đơn vị hiện vật hay giá trị
c) Hiệu suất tiền lương
SSX
∑TLTrong đó: SSX
TL là hiệu suất tiền lương của kỳ tính toán;
∑TL là tổng quỹ tiền lương và tiền thưởng có tính chấtnhư lương trong kỳ
Trang 231.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định và tài sản cố định
a) Sức sản xuất của tài sản cố định (TSCĐ)
Sức sản xuất TSCĐ = Tổng doanh thu năm (1.16)
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị bình quân TSCĐ bỏ rakinh doanh đem lại bao nhiêu đồng doanh thu
b) Suất hao phí của tài sản cố định
Suất hao phí TSCĐ = Nguyên giá bình quân TSCĐ (1.17)
Tổng doanh thu năm
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho thấy để có một đồng doanh thu thì cần bỏ vàosản xuất kinh doanh bao nhiêu đồng nguyên giá TSCĐ
c) Sức sinh lợi của tài sản cố định
Sức sinh lợi TSCĐ = Lợi nhuận trong năm (1.18)
Nguyên giá bình quân TSCĐ
Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguyên giá bình quân TSCĐ sử dụngtrong năm đem lại mấy đồng lợi nhuận
1.2.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được sau khi đẩy nhanh tốc độluân chuyển vốn lưu động qua các giai đoạn của quá trình sản xuất Tốc độ nàycàng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng lớn và ngược lại Hiệu quả
sử dụng vốn lưu động cao nhất khi số vốn lưu động cần cho một đồng luân chuyển
là ít nhất Quan niệm này thiên về chiều hướng càng tiết kiệm được bao nhiêu vốnlưu động cho một đồng luân chuyển thì càng tốt Nhưng nếu hàng hóa sản xuất rakhông tiêu thụ được thì hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng không cao
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả phản ánh số lợi nhuận thu đượckhi bỏ ra một đồng vốn lưu động
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là hiệu quả thu được khi đầu tư thêm vốnlưu động một cách hợp lý nhằm mở rộng quy mô sản xuất để tăng doanh sốtiêu thụ với yêu cầu đảm bảo tốc độ tăng lợi nhuận phải lớn hơn tốc độ tăng vốnlưu động
Trang 24Nói tóm lại, cho dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau về hiệu quả sử dụng vốnlưu động, song khi nói đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động, chúng ta phải có mộtquan niệm toàn diện hơn và không thể tách rời nó khỏi một chu kỳ sản xuấtkinh doanh hợp lý (chu kỳ sản xuất kinh doanh càng ngắn, hiệu quả sử dụng vốncàng cao), một định mức sử dụng đầu vào hợp lý, công tác tổ chức quản lýsản xuất, tiêu thụ và thu hồi công nợ chặt chẽ Do vậy cần thiết phải đề cập tới cácchỉ tiêu về hiệu quả sử dụng vốn lưu động [2, tr.32-40].
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Như đã nói ở trên, để tiến hành bất cứ hoạt động sản xuất kinh doanh nàođiều kiện không thể thiếu là vốn Khi đã có đồng vốn trong tay thì một câu hỏi nữađặt ra là phải sử dụng đồng vốn đó như thế nào để vốn đó sinh lời, vốn phảisinh lời là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Lợi íchkinh doanh đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý, sử dụng hợp lý, có hiệu quảđồng vốn, tiết kiệm được vốn, tăng tích lũy để thực hiện tái sản xuất và mở rộngquy mô sản xuất ngày càng lớn hơn
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng đểđánh giá chất lượng công tác quản lý và sử dụng vốn kinh doanh nói chung củadoanh nghiệp Thông qua chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu độngcho phép các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp có cái nhìn chính xác, toàn diện
về tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động của đơn vị mình, từ đó đề ra cácbiện pháp, chính sách, quyết định đúng đắn, phù hợp để việc quản lý và sử dụngđồng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng ngày càng có hiệu quả trongtương lai Suy cho cùng việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là nhằm vàoviệc nâng cao lợi nhuận Có lợi nhuận mới có tích luỹ để tái sản xuất ngày càng
mở rộng Để tính hiệu quả sử dụng vốn lưu động ta sử dụng các công thức tính sau:
- Vòng quay vốn lưu động
Số vòng quay vốn lưu động = Doanh thu thuần (1.19)
Vốn lưu động bình quân
Trang 25- Kỳ luân chuyển vốn lưu động
- Khả năng thanh toán hiện có
Khả năng thanh toán hiện có = Vốn lưu động (1.21)
VLD là sức sinh lời của một đồng vốn lưu động;
VLD là vốn lưu động bình quân của kỳ tính toán
- Vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm
VLD
Trong đó: SVVLD là số vòng luân chuyển vốn lưu động trong năm
- Vòng luân chuyển nguyên vật liệu
SVNVL = CP
KD NVL
(1.24)NVLDT
Trong đó: SVNVL là số vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong kỳ (năm);
CPKD NVL là chi phí kinh doanh sử dụng nguyên vật liệu trong kỳ;NVLDT là giá trị nguyên vật liệu dự trữ của kỳ tính toán
- Vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong sản phẩm dở dang
SVNVL
HHCB
(1.25)NVLDT
Trong đó: SVNVL
SPDD là số vòng luân chuyển nguyên vật liệu trong sản phẩm
dở dang; ZHHCB là tổng giá thành hàng hoá đã chế biến
1.2.3 Tiêu chuẩn hiệu quả sản xuất kinh doanh
Đảm bảo ba lợi ích: cá nhân, tập thể và nhà nước
Hiệu quả của doanh nghiệp phải gắn liền hiệu quả của xã hội
Hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo hệ thống pháp luật hiện hành
Trang 261.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Trong điều kiện kinh tế thị trường với cơ chế lấy thu bù chi, cạnh tranh trongkinh doanh ngày càng tăng, các doanh nghiệp phải chịu sức ép từ nhiều phía.Đặc biệt, đối với doanh nghiệp Việt Nam khi bước vào nền kinh tế thị trường đãgặp phải không ít những khó khăn, sản xuất kinh doanh trì trệ, hoạt động kémhiệu quả là do chịu tác động của nhiều yếu tố Song nhìn một cách tổng quát cóhai nhóm yếu tố chính tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp là nhóm yếu tố chủ quan và nhóm yếu tố khách quan
1.3.1 Nhóm yếu tố chủ quan
Mỗi biến động của một yếu tố thuộc về nội tại doanh nghiệp đều có thểảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh, làm cho mức độ hiệu quả củaquá trình sản xuất của doanh nghiệp thay đổi theo cùng xu hướng của yếu tố đó.Trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp ta thấy nổi lên támyếu tố cơ bản ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh, mức độ hoạt động,hiệu quả kinh doanh cao hay thấp là tùy thuộc vào tác động của tám yếu tố này
1.3.1.1. Nguồn nhân lực và cơ cấu lao động
Lao động là một trong những nguồn lực quan trọng cho quá trình sản xuấtkinh doanh, là tổng hợp các kỹ năng, mức độ đào tạo, trình độ giáo dục có sẵntạo cho một cá nhân có khả năng làm việc và đảm bảo năng suất lao động.Như vậy, nguồn nhân lực của doanh nghiệp là lượng lao động hiện có, cùng với đó
là kỹ năng, tay nghề, trình độ đào tạo, tính sáng tạo và khả năng khai thác củangười lao động Nguồn nhân lực không phải là cái sẽ có mà là cái đã có sẵn tạidoanh nghiệp, thuộc sự quản lý và sử dụng của doanh nghiệp Do đó, để đảm bảohiệu quả sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải hết sức lưu tâm đến yếu tố này
Vì đây là chất xám, là yếu tố trực tiếp tác động lên đối tượng lao động, tạo rasản phẩm và kết quả sản xuất kinh doanh, có ảnh hưởng mang tính quyết địnhđối với sự tồn tại và hưng thịnh của doanh nghiệp
Trong đó, trình độ tay nghề của người lao động trực tiếp ảnh hưởng tớichất lượng sản phẩm, cùng với ý thức trách nhiệm trong công việc sẽ giúp
Trang 27nâng cao năng suất lao động, đồng thời tiết kiệm và giảm được định mức tiêu haonguyên vật liệu, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trình độ tổ chức quản lý của cán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ tại đây yêu cầu mỗicán bộ lãnh đạo, nghiệp vụ phải có kiến thức, có năng lực và năng động trong
cơ chế thị trường Cần tổ chức phân công lao động hợp lý giữa các bộ phận,
cá nhân trong doanh nghiệp; sử dụng đúng người, đúng việc sao cho tận dụng đượcnăng lực, sở trường, tính sáng tạo của đội ngũ cán bộ, nhân viên nhằm tạo ra sựthống nhất, hợp lý trong tiến trình thực hiện nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.Tuy nhiên, doanh nghiệp cũng cần áp dụng các hình thức trách nhiệmvật chất, sử dụng các đòn bẩy kinh tế, thưởng phạt nghiêm minh nhằm tạo độnglực thúc đẩy người lao động nỗ lực hơn trong phạm vi trách nhiệm của mình, tạo rađược sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện một cách tốt nhất kế hoạch đã đề ra từ đógóp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
1.3.1.2. Công tác tổ chức quản lý
Đây là yếu tố liên quan tới việc tổ chức, sắp xếp các bộ phận, đơn vịthành viên trong doanh nghiệp Để đạt hiệu quả kinh tế cao trong sản xuấtkinh doanh thì yêu cầu mỗi doanh nghiệp phải có một cơ cấu tổ chức quản lýphù hợp với chức năng cũng như quy mô của doanh nghiệp trong từng thời kỳ.Qua đó, phát huy tính năng động tự chủ trong sản xuất kinh doanh và nâng caochế độ trách nhiệm đối với nhiệm vụ được giao của từng bộ phận, từng đơn vịthành viên trong doanh nghiệp
Công tác quản lý phải sát thực tế sản xuất kinh doanh, nhằm tránh tình trạng
“khập khiễng”, không nhất quán giữa kế hoạch và thực hiện Hơn nữa, sự gọn nhẹ
và tinh giảm của cơ cấu tổ chức quản lý có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quảsản xuất kinh doanh
1.3.1.3. Quản lý và sử dụng nguyên liệu, hàng hóa
Nếu dự trữ nguyên liệu, hàng hoá quá nhiều hay quá ít đều có ảnh hưởngkhông tốt tới hoạt động sản xuất kinh doanh Vấn đề đặt ra là phải dự trữmột lượng nguyên liệu hợp lý sao cho quá trình sản xuất kinh doanh không bị
Trang 28gián đoạn Bởi vì, khi thu mua hay dự trữ quá nhiều nguyên liệu, hàng hoá sẽ gây
ứ đọng vốn và thủ tiêu tính năng động của vốn lưu động trong kinh doanh Còn
dự trữ quá ít thì không đảm bảo sự liên tục của quá trình sản xuất và thích ứng vớinhu cầu của thị trường Điều này, dĩ nhiên ảnh hưởng không tốt đến sản xuất cũngnhư công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Hơn nữa, về bản chất thì nguyên liệu là một bộ phận của tài sản lưu động,vậy nên tính năng động và tính linh hoạt trong sản xuất kinh doanh là rất cao.Tính hợp lý khi sử dụng nguyên liệu ở đây được thể hiện qua khối lượng dự trữphải nằm trong mức dự trữ cao nhất và thấp nhất nhằm đảm bảo cho quá trìnhsản xuất cũng như lưu thông hàng hoá được thông suốt, cơ cấu dự trữ hàng hoáphải phù hợp với cơ cấu lưu chuyển hàng hoá, tốc độ tăng của sản xuất phảigắn liền với tốc độ tăng của mức lưu chuyển hàng hoá
Ngoài ra, yêu cầu về tiết kiệm chi phí nguyên liệu trong sản xuất kinh doanhcũng cần được đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp Qua đó, nhằm giảm bớt chi phícung ứng trong giá thành sản phẩm, mà chi phí về nguyên liệu thường rất lớn,chiếm 60-70% (đối với các doanh nghiệp sản xuất) Như vậy, việc tiết kiệmnguyên liệu trong quá trình sản xuất là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọngtrong việc nâng cao hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh
1.3.1.4. Nguồn vốn và trình độ quản lý, sử dụng vốn
Nguồn vốn là một yếu tố biểu thị tiềm năng, khả năng tài chính hiện có củadoanh nghiệp Do vậy, việc huy động vốn, sử dụng và bảo toàn vốn giữ một vai tròquan trọng đối với mỗi doanh nghiệp Đây là một yếu tố hoàn toàn nằm trong tầmkiểm soát của doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp cần phải chú trọng ngay từ việchoạch định nhu cầu về vốn làm cơ sở cho việc lựa chọn phương án kinh doanh,huy động các nguồn vốn hợp lý trên cơ sở khai thác tối đa mọi nguồn lực sẵn cócủa mình Từ đó, tổ chức chu chuyển, tái tạo nguồn vốn ban đầu, bảo toàn vàphát triển nguồn vốn hiện có tại doanh nghiệp
Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường với sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thìviệc bảo toàn và phát triển vốn trong các doanh nghiệp là hết sức quan trọng
Trang 29Đây là yêu cầu tự thân của mỗi doanh nghiệp, vì đó là điều kiện cần thiết cho việcduy trì, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh Bởi vì,muốn đạt hiệu quả kinh tế và phát triển nguồn vốn hiện có thì trước hết cácdoanh nghiệp phải bảo toàn được vốn của mình.
Xét về mặt tài chính thì bảo toàn vốn của doanh nghiệp là bảo toàn sức muacủa vốn vào thời điểm đánh giá, mức độ bảo toàn vốn so với thời điểm cơ sở(thời điểm gốc) được chọn Còn khi xét về mặt kinh tế, tức là bảo đảm khả nănghoạt động của doanh nghiệp so với thời điểm cơ sở, về khía cạnh pháp lý phảibảo đảm tư cách kinh doanh của doanh nghiệp
Từ việc huy động, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn được thực hiện cóhiệu quả sẽ góp phần tăng khả năng và sức mạnh tài chính của doanh nghiệp,thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và đảm bảo hiệu quả kinh tế củadoanh nghiệp
1.3.1.5. Yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật
Thực tế cơ sở vật chất kỹ thuật thể hiện quy mô và là yếu tố cơ bản đảm bảocho sự hoạt động của doanh nghiệp Đó là toàn bộ nhà xưởng, kho tàng,phương tiện vật chất kỹ thuật và máy móc thiết bị… nhằm phục vụ cho quá trìnhsản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp Yếu tố này cũng có ảnh hưởng đến hiệu quảkinh tế trong sản xuất kinh doanh, vì đó là yếu tố vật chất ban đầu của quá trìnhsản xuất kinh doanh Tại đây, yêu cầu đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để cơ sởvật chất đã có, còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu bổ, sữa chữa vàtiến tới hiện đại hoá, đổi mới công nghệ của máy móc thiết bị Từ đó, nâng cao sảnlượng, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế
1.3.1.6. Hiểu biết về thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ có thể kinh doanh hànghoá của mình thông qua thị trường Thị trường thừa nhận hàng hoá đó chính làngười mua chấp nhận nó phù hợp với nhu cầu của xã hội Ngược lại, nếu ngườimua không chấp nhận tức là sản phẩm của doanh nghiệp chưa đáp ứng đúng nhucầu của người mua về chất lượng, thị hiếu, giá cả… Bởi vậy, để hoạt động tốt
Trang 30hơn, tiêu thụ được nhiều hàng hoá, tăng lợi nhuận thì các doanh nghiệp hoạtđộng kinh doanh bắt buộc phải nghiên cứu thị trường, nghiên cứu cung cầu của thịtrường về hàng hoá bao gồm cơ cấu, chất lượng, chủng loại Tác dụng của việcnghiên cứu thị trường là cơ sở để dự đoán, cho phép doanh nghiệp đề ra hướngphát triển, cạnh tranh đối với các đối thủ, sử dụng tốt các nguồn lực của doanhnghiệp, giúp doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu của mình và biết được thếđứng trong xã hội, tìm ra và khắc phục những nhược điểm còn tồn tại nhằm nângcao hiệu quả trong sản xuất kinh doanh.
1.3.1.7. Trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ
Ngày nay, mọi người, mọi ngành, mọi cấp đều thấy ảnh hưởng của khoa học
kỹ thuật đối với tất cả các lĩnh vực (nhất là lĩnh vực kinh tế) Trước thực trạng đó
để tránh tụt hậu, một trong sự quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp là nhanh chóngnắm bắt được và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm đạthiệu quả chính trị - xã hội cao Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp muốn thắngthế trong cạnh tranh thì một yếu tố cơ bản là phải có trình độ khoa học công nghệcao, thỏa mãn nhu cầu của thị trường cả về số lượng, chất lượng, thời gian Đểđạt được mục tiêu này yêu cầu cần đặt ra là ngoài việc khai thác triệt để cơ sở vậtchất đã có (toàn bộ nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vật chất kỹ thuật, máy mócthiết bị) còn phải không ngừng tiến hành nâng cấp, tu sửa, sửa chữa và tiến tớihiện đại hoá công nghệ, máy móc, thiết bị, từ đó nâng cao sản lượng, năng suấtlao động và đảm bảo hiệu quả ngày càng cao
1.3.2 Nhóm yếu tố khách quan
1.3.2.1. Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế, của ngành
Đây là một yếu tố có những ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả kinh tế Mỗidoanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế Do vậy, doanh nghiệp muốn tồn tại,phát triển và đạt hiệu quả kinh tế cao thì nhất thiết phải có một môi trường kinh doanhlành mạnh
Tuy nhiên, trong một nền sản xuất công nghiệp có trình độ phân công vàhiệp tác lao động cao thì mỗi ngành, mỗi doanh nghiệp chỉ là một mắt xích trong
Trang 31một hệ thống nhất Vì lẽ đó, khi chỉ có sự thay đổi về lượng và chất ở bất kỳmắt xích nào trong hệ thống cũng đòi hỏi và kéo theo sự thay đổi của các mắt xíchkhác, đó là sự ảnh hưởng giữa các ngành, các doanh nghiệp có liên quan đếnhiệu quả kinh tế chung Thực chất, một doanh nghiệp, một ngành muốn phát triển
và đạt hiệu quả kinh tế đơn lẻ một mình là một điều không tưởng Bởi vì, quá trìnhsản xuất kinh doanh từ việc đầu tư - sản xuất - tiêu thụ là liên tục và có mốiquan hệ tương ứng giữa các ngành cung cấp tư liệu lao động, đối tượng lao động
và các ngành tiêu thụ sản phẩm Do vậy, để đạt hiệu quả cao cần gắn với sự pháttriển của nền kinh tế và các ngành có liên quan
1.3.2.2. Mức sống và thu nhập của dân cư, khách hàng
Thực chất, yếu tố này xét về một khía cạnh nào đó cũng thể hiện sự phát triển
và tăng trưởng của nền kinh tế Tuy nhiên, do mức độ quan trọng và tính đặc thùcủa yếu tố này nên ta có thể tách ra và xem xét kỹ hơn Đó là sản phẩm hay dịch vụtạo ra phải được tiêu thụ, từ đó doanh nghiệp mới có thu nhập và tích luỹ Nếu nhưthu nhập của khách hàng cao thì có thể tốc độ tiêu thụ sản phẩm hay thực hiệndịch vụ của doanh nghiệp là cao và ngược lại
Đây là mối quan hệ tỷ lệ thuận, tuy nhiên mối quan hệ này lại phụ thuộc vào
ý muốn tự thân của khách hàng, hay giá cả cũng như chính sách tiêu thụ cụ thể củadoanh nghiệp Hơn nữa, việc tiêu thụ sản phẩm và thực hiện dịch vụ là công đoạncuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh mang lại thu nhập cho doanh nghiệp
và trực tiếp tác động lên hiệu quả sản xuất kinh doanh Do vậy, khi phân tích vàquản lý kinh tế, các doanh nghiệp phải hết sức lưu ý đến yếu tố này
1.3.2.3. Cơ chế quản lý và các chính sách của Nhà nước
Tại mỗi quốc gia đều có một cơ chế chính trị nhất định, gắn với nó là cơ chếquản lý và các chính sách của bộ máy Nhà nước áp đặt lên quốc gia đó Ảnh hưởngcủa yếu tố này rất rộng, mang tính bao quát, không những tác động đến sựphát triển của nền kinh tế quốc dân mà còn ảnh hưởng (thông qua sự quản lýgián tiếp của Nhà nước) tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Trang 32Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp được tự chủ trong sản xuấtkinh doanh dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước thì hiệu quả kinh tế được đánh giáthông qua mối tương quan giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra, với mục tiêu làcực đại các khoản thu nhập và giảm tổi thiểu mức chi phí đầu tư, chứ không chỉđơn thuần là hoàn thành hay vượt mức kế hoạch đã đề ra.
Gắn với từng cơ chế quản lý thì có từng chính sách kinh tế vĩ mô nhất định.Các chính sách kinh tế của Nhà nước có tác động trực tiếp tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của các doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng nhất định đến hiệu quảsản xuất kinh doanh Ngoài ra, Nhà nước còn tác động tới hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp thông qua một loạt các công cụ quản lý kinh tế
1.3.2.4. Nguồn cung ứng và giá cả của nguyên vật liệu
Nguyên liệu có vai trò tham gia cấu thành nên thực thể của sản phẩm, do đónguyên vật liệu trong sản xuất kinh doanh thường chiếm tỷ trọng lớn, mà hầu hếtnguyên liệu chính đều có nguồn gốc do mua ngoài Trong khi tính sẵn có củanguồn cung ứng nguyên vật liệu thường ảnh hưởng phần nào lên kế hoạch vàtiến độ sản xuất của doanh nghiệp, giá cả nguyên liệu chính có tác động rất lớn đếngiá thành sản phẩm Vì vậy, sự quan tâm tới giá cả và nguồn cung ứng nguyên liệu
có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá và phân tích hiệu quảkinh tế Đây là một yếu tố khách quan và nằm ngoài tầm kiểm soát củadoanh nghiệp
1.3.2.5. Môi trường cạnh tranh và quan hệ cung cầu
Ngày nay, trong cơ chế thị trường, sự cạnh tranh là rất gay gắt và quyết liệt,mang tích chắt lọc và đào thải cao Do vậy, đòi hỏi mỗi một doanh nghiệp phảikhông ngừng nỗ lực nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, qua đótăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và đứng vững trên thương trường Điềunày, buộc các doanh nghiệp phải tìm mọi phương án nhằm giảm bớt chi phí, nângcao chất lượng của sản phẩm nếu không muốn đi đến bờ vực của sự phá sản và giảithể Dù muốn hay không, mỗi doanh nghiệp đều bị cuốn vào sự vận động của môi
Trang 33trường cạnh tranh Do vậy, để không bị cuốn trôi thì doanh nghiệp phải nâng caohiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh.
Bên cạnh đó, mối quan hệ cung cầu trên thị trường cũng có ảnh hưởng đối với
cả “đầu vào” và “đầu ra” của quá trình sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp, mà
cụ thể là giá cả trên thị trường Nếu sự lên xuống của giá cả nguyên liệu đầu vàokhông đồng nhất với sản phẩm bán ra của quá trình sản xuất kinh doanh sẽ gây nênnhiều bất lợi cho doanh nghiệp Khi đó thu nhập của doanh nghiệp không đượcđảm bảo tương ứng sẽ làm giảm sút hiệu quả sản xuất kinh doanh
Dù đây là những yếu tố khách quan nhưng các doanh nghiệp cũng cần phảitheo dõi và nghiên cứu kỹ lưỡng để có những sách lược phù hợp
1.3.3 Phương hướng chung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.3.3.1. Tăng cường quản trị chiến lược kinh doanh
Kinh tế thị trường luôn biến động, muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi cácdoanh nghiệp phải thích ứng với sự biến động đó Quản trị kinh doanh hiện đạicho rằng không thể chống đỡ được với những thay đổi thị trường nếu doanh nghiệpkhông có chiến lược kinh doanh và phát triển thể hiện tính chất động và tấn công.Chỉ có trên cơ sở đó, doanh nghiệp mới phát hiện được những thời cơ cần tận dụnghoặc những đe dọa có thể xảy ra để có đối sách thích hợp Chất lượng củahoạch định và quản trị chiến lược tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển củadoanh nghiệp, vị thế cạnh tranh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Do đó, chiến lược kinh doanh phải được xây dựng theo quy trình khoa học, phảithể hiện tính linh hoạt cao [12, tr.22]
1.3.3.2. Lựa chọn quyết định sản xuất kinh doanh có hiệu quả
a) Quyết định mức sản xuất và sự tham gia của các yếu tố đầu vào
Khi tiến hành một quyết định sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đềuquan tâm đến lợi nhuận mà họ có thể đạt được từ hoạt động đó và đều quyết địnhtiến hành sản xuất theo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Quy tắc chung tối đa hóalợi nhuận là doanh nghiệp sẽ tăng sản lượng cho tới chừng nào doanh thu cận biên
Trang 34(MR) còn vượt quá chi phí cận biên (MC) Trong đó, chi phí cận biên (MC) làchi phí tăng thêm khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Doanh thu cận biên(MR) là doanh thu tăng thêm khi bán thêm một đơn vị sản phẩm Để đạt đượcmục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, trong mọi thời kỳ kinh doanh, doanh nghiệp phảiquyết định mức sản xuất thoả mãn điều kiện doanh thu biên thu được từ đơn vịsản phẩm thứ i phải bằng với chi phí kinh doanh biên để sản xuất ra đơn vịsản phẩm thứ i đó:
Mặt khác, để sử dụng các nguồn lực đầu vào có hiệu quả nhất, doanh nghiệpquyết định sử dụng khối lượng mỗi nguồn lực sao cho mức chi phí sản xuấtkinh doanh để có đơn vị yếu tố đầu vào thứ j nào đó phải bằng với sản phẩmdoanh thu biên (MRP) mà yếu tố đầu vào đó tạo ra:
MRPj = MCKD
b) Xác định và phân tích điểm hoà vốn
Để sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp phải tính toán, xây dựngmối quan hệ tối ưu giữa chi phí và thu nhập Sản xuất bao nhiêu sản phẩm vàbán với giá nào thì đảm bảo hòa vốn bỏ ra, và bao nhiêu sản phẩm tiêu thụ trênmức đó để mang lại lợi nhuận Điều đó đặt ra yêu cầu nghiên cứu điểm hòa vốn vàphân tích hòa vốn
Điểm hoà vốn là điểm mà tại đó tổng doanh thu bằng với tổng chi phí bỏ ra.Tại điểm hoà vốn, kết quả kinh doanh loại sản phẩm đó bằng không Đây chính làranh giới giữa âm hoặc dương của mức doanh lợi [12, tr.31-40]
Phân tích điểm hoà vốn chính là xác lập và phân tích mối quan hệ tối ưu giữachi phí kinh doanh, doanh thu, sản lượng và giá cả Điểm mấu chốt để xác địnhchính xác điểm hoà vốn là phải phân chia chi phí kinh doanh thành chi phí cố định
và chi phí biến đổi, đồng thời xác định được chi phí cố định cho từng loạisản phẩm Công thức để xác định điểm hòa vốn:
KD
(1.28)
P - AVCKD
Trang 35Trong đó: QHV là mức sản lượng hoà vốn;
1.3.3.3. Phát triển và tạo động lực cho đội ngũ lao động
Trong doanh nghiệp, động lực cho tập thể và cá nhân người lao động chính làlợi ích, là lợi nhuận thu được từ sản xuất có hiệu quả hơn
Các doanh nghiệp cần phân phối lợi nhuận thỏa đáng, đảm bảo công bằng,hợp lý, thưởng phạt nghiêm minh Đặc biệt cần có chế độ đãi ngộ thỏa đáng vớinhững nhân viên giỏi, trình độ tay nghề cao hoặc có thành tích, có sáng kiến…Đồng thời cũng cần nghiêm khắc xử lý những trường hợp vi phạm Trongkinh doanh hiện đại, ở nhiều doanh nghiệp, hình thức bán cổ phần cho ngườilao động và người lao động sẽ nhận được ngoài tiền lương và thưởng là số lãichia theo cổ phần cũng là một trong những biện pháp gắn người lao động vớidoanh nghiệp bởi lẽ cùng với việc mua cổ phần người lao động không chỉ có thêmnguồn thu nhập từ doanh nghiệp mà còn có quyền nhiều hơn trong việc tham giavào các công việc của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải xây dựng cơ cấu lao động tối ưu, đảm bảo đủ việc làmtrên cơ sở phân công và bố trí lao động hợp lý, phù hợp với năng lực, sở trường vànguyện vọng của mỗi người Khi giao việc phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn, trách nhiệm, phải đảm bảo cung cấp đầy đủ các điều kiện cần thiết củaquá trình sản xuất, đảm bảo sự cân đối thường xuyên trong sự biến động củamôi trường và phải chú trọng công tác vệ sinh công nghiệp và điều kiện an toànlao động [4, tr.117]
1.3.3.4. Hoàn thiện hoạt động quản trị
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản trị doanh nghiệp phải thích ứng với sự biến độngcủa môi trường kinh doanh, phải xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn,
Trang 36chế độ trách nhiệm, mối quan hệ giữa các bộ phận, cá nhân trong bộ máy quản trị
và phải được quy định rõ ràng trong điều lệ cũng như hệ thống nội quy củadoanh nghiệp Doanh nghiệp phải thường xuyên duy trì và đảm bảo sự cân đốităng cường quan hệ giữa các khâu, các bộ phận trong quá trình sản xuất… từ đónâng cao tinh thần trách nhiệm của mỗi người, nâng cao tính chủ động sáng tạotrong sản xuất [4, tr.127-128]
1.3.3.5. Phát triển công nghệ kỹ thuật
Trong giai đoạn hiện nay, khi tốc độ phát triển khoa học và công nghệ diễn rangày càng nhanh và hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế tất yếu, cácnhà kinh tế đều cho rằng, đổi mới đã thật sự trở thành yếu tố có tính quyết địnhđối với sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Sự đổi mới liên tục vềcông nghệ và tổ chức trong các ngành kinh tế đã trở thành yếu tố then chốt đểduy trì sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhu cầu đổi mới kỹ thuật công nghệ là rấtchính đáng song phát triển kỹ thuật công nghệ luôn đòi hỏi phải đầu tư lớn, đầu tưđúng hay sai sẽ tác động tới hiệu quả lâu dài trong tương lai Đổi mới công nghệphải đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tốt công tác kiểm tra
kỹ thuật và nghiệm thu sản phẩm, tránh để những sản phẩm chất lượng kémtiêu thụ trên thị trường [3, tr.155]
1.3.3.6. Tăng cường và mở rộng quan hệ cầu nối giữa doanh nghiệp và xã hội
Bất cứ một doanh nghiệp nào biết sử dụng mối quan hệ sẽ khai thác đượcnhiều đơn hàng, tiêu thụ tốt Hoạt động kinh doanh muốn đạt hiệu quả cao cầntranh thủ tận dụng các lợi thế, hạn chế khó khăn của môi trường kinh doanhbên ngoài Cùng với sự phát triển và mở rộng thị trường, sự phụ thuộc giữa cácdoanh nghiệp với thị trường cũng như giữa các doanh nghiệp với nhau càngchặt chẽ, doanh nghiệp nào biết khai thác tốt thị trường cũng như các quan hệbạn hàng, doanh nghiệp đó có cơ hội phát triển kinh doanh Muốn hoạt động kinhdoanh có hiệu quả cao, doanh nghiệp phải biết tận dụng cơ hội, hạn chế khókhăn, tránh các cạm bẫy [2, tr.69]
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN BAO BÌ BIA - RƯỢU - NƯỚC GIẢI KHÁT 2.1 Giới thiệu về Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát
- Tên công ty: Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát;
- Tên giao dịch quốc tế: Beer - Alcohol - Beverage Packaging Joint Stock Company;
- Tên viết tắt: BALPAC;
- Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0203001481 do Sở Kế hoạch và Đầu tưthành phố Hải Phòng cấp, đăng ký lần đầu cấp ngày 16/05/2005, đăng ký thay đổilần thứ nhất cấp ngày 08/07/2008 và đăng ký thay đổi lần thứ hai cấp ngày18/08/2015 với mã số doanh nghiệp 0200159453;
- Vốn điều lệ: 20.000.000.000 đồng (Hai mươi tỷ đồng);
Trong đó: Nhà nước nắm giữ 68,95% - giá trị là 13.790.000.000 đồng;
- Địa chỉ trụ sở chính: Số 38 đường Ngô Quyền, phường Máy Chai, quận NgôQuyền, thành phố Hải Phòng, Việt Nam
tổ chức sản xuất kinh doanh sản phẩm thủy tinh, kinh doanh dịch vụ nguyên nhiênvật liệu phục vụ cho ngành thủy tinh
Trang 38Công ty Thủy tinh Hải Phòng là doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tổng công tyRượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam, hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhânđầy đủ, có tài khoản tại ngân hàng và có dấu riêng để giao dịch theo quy định củaNhà nước.
Tuy nhiên, tại thời điểm đó, khi Công ty TNHH thủy tinh SanmiguelYamamura Hải Phòng đi vào hoạt động với ưu thế lớn về trình độ công nghệ vàquy mô sản xuất đã làm thay đổi về cơ bản môi trường kinh doanh của Công tyThủy tinh Hải Phòng Nếu Công ty tiếp tục sản xuất sản phẩm thủy tinh bao bìcùng loại thì đương nhiên chịu sự tác động tất yếu của quy luật cạnh tranh.Xác định rõ điều này, trên cơ sở phân tích thị trường mục tiêu, công nghệ vànăng lực sản xuất, Công ty Thủy tinh Hải Phòng chủ yếu tập trung khai thác cácthị trường nhỏ lẻ mà quy mô sản xuất lớn của liên doanh không tương thích Đểđáp ứng được yêu cầu về chất lượng sản phẩm thủy tinh bao bì ngày một cao củathị trường, Công ty cần phải đầu tư chiều sâu Song, trong những năm này, Công tychưa xác định được phương hướng dài hạn khiến cho hoạt động sản xuấtkinh doanh của Công ty rất khó khăn
Căn cứ theo Quyết định 125/QĐ-TTg ngày 28/01/2003 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt đề án tổng thể sắp xếp, đổi mới Tổng công tyNhà nước và Công ty Nhà nước thuộc Bộ Công nghiệp giai đoạn 2003-2005, Tổngcông ty Rượu - Bia - Nước giải khát Việt Nam được tách ra thành 02 Tổng công
ty là Tổng công ty Bia - Rượu - Nước giải khát Hà Nội (Habeco) và Tổng công tyBia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) Trong đó, Công ty Thủy tinh HảiPhòng là đơn vị thành viên của Habeco Lãnh đạo Habeco đã kiến nghị với BộCông nghiệp cho phép Công ty Thủy tinh Hải Phòng được chuyển đổi hướng sảnxuất kinh doanh và tổ chức sắp xếp lại mô hình hoạt động Ngày 11/08/2003, Hộiđồng quản trị Habeco đã có Nghị quyết số 02/HĐQT yêu cầu Công ty Thủytinh Hải Phòng ngừng sản xuất thủy tinh và triển khai các bước công việc cần thiếtcủa tiến trình cổ phần hóa
Trang 39Ngày 12/05/2004, Bộ Công nghiệp ra Quyết định số 1034/QĐ-TCCB về việc
cổ phần hóa Công ty Thủy tinh Hải Phòng Công ty Thủy tinh Hải Phòng chuyểnthành Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát căn cứ theo Quyết định
số 166/2004/QĐ-BCN ngày 08/12/2004 của Bộ Công nghiệp
Ngày 19/04/2005, Công ty đã tiến hành Đại hội đồng cổ đông thành lậpCông ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát Đại hội đồng cổ đông
đã thông qua Điều lệ tổ chức và hoạt động của Công ty cổ phần, thông quaphương hướng sản xuất kinh doanh và bầu ra Hội đồng quản trị Công ty, Ban kiểmsoát Công ty Hội đồng quản trị Công ty đã chỉ đạo Công ty thực hiện việc đăng kýkinh doanh tại Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng, nộp con dấu củadoanh nghiệp nhà nước và xin khắc dấu của công ty cổ phần
Ngày 16/05/2005, Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hải Phòng đã cấpgiấy phép kinh doanh số 0203001481 cho Công ty cổ phần
Công ty cổ phần Bao bì Bia - Rượu - Nước giải khát chính thức đi vàohoạt động theo Luật doanh nghiệp từ 01/06/2005
Cùng với việc sắp xếp, quy hoạch lại cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần,việc xác định mục tiêu xây dựng ngành bia - rượu - nước giải khát Việt Nam thànhmột ngành kinh tế mạnh, sử dụng tối đa nguồn nguyên liệu trong nước đểphát triển sản xuất các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
đã được quán triệt bằng hành động thiết thực như đưa ra chương trình, kế hoạchhoạt động và những nhiệm vụ cụ thể mà Công ty cần thực hiện trong quá trìnhhoạt động của mình:
- Đầu tư mới về công nghệ thiết bị đảm bảo tiên tiến hiện đại, sản phẩm có chấtlượng cao, có khả năng cạnh tranh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và đảm bảocác tiêu chuẩn bảo vệ môi trường;
- Chấm dứt sản xuất chai thủy tinh, chuyển hướng sang sản xuất nút khoén phục vụcho việc sản xuất bia đóng chai, nước giải khát đóng chai trên toàn quốc
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực hoạt động
2.1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ
Trang 40Trong bối cảnh thị trường đồ uống ngày càng nhiều và đa dạng thì việcsản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm có chất lượng cao với giá thành cạnh tranh
là điều vô cùng cần thiết Đặc biệt là đối với các loại đồ uống đóng chai thì nắpchai là yếu tố vô cùng quan trọng Qua nghiên cứu thị trường, Công ty nhận thấyrằng rất nhiều sản phẩm đóng chai sau một thời gian tham gia vào quá trình phânphối, lưu thông đã bị mất phẩm chất, nhưng không do lỗi công nghệ trong quá trìnhsản xuất, mà do các tác động trong quá trình bảo quản, đã bị xì gaz, lọt khí hoặc gỉsét ở nút chai - một tác nhân tuy nhỏ, nằm ngoài tầm quản lý của nhà sản xuất,nhưng lại gây tác hại trực tiếp tới chất lượng sản phẩm, làm giảm uy tín của nhàsản xuất, ảnh hưởng tới thương hiệu mà nhà sản xuất đã dày công xây dựng và gìngiữ Do đó, Công ty đã không ngừng nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm nắp chaiphù hợp với từng loại chai và đồ uống khác nhau, đảm bảo giữ gìn hương vị đồuống Việt
2.1.2.2. Lĩnh vực hoạt động
Ngành nghề theo đăng ký kinh doanh:
- Sản xuất kinh doanh bao bì cho ngành bia, rượu, nước giải khát;
- Sản xuất kinh doanh các loại vật tư chuyên dùng cho ngành thủy tinh;
- Kinh doanh các sản phẩm bia, rượu, nước giải khát, nguyên vật liệu, vật tư thiết bịcho ngành bia, rượu, nước giải khát;
- Dịch vụ cho thuê kho bãi, bốc xếp cầu cảng