1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng

78 143 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 6,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống thoát nước mưaCũng như hệ thống thoát nước các đô thị lớn ở Việt Nam, hệ thống thoátnước Hải Phòng đã được xây dựng từ nhiều thập kỷ nay, mạng lưới đường cốngthoát nước trong th

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài

Hiện nay việc nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thoát nước và nướcthải đang là mối quan tâm hàng đầu của thành phố Hải Phòng nhằm giải quyết cácvấn đề ngập úng và vệ sinh môi trường Mưa nhiều kết hợp với triều cường vànhiều yếu tố khác thường xuyên gây lụt lội, bên cạnh đó tốc độ đô thị hóa cao làmtăng nhanh lượng nước thải của thành phố Việc nghiên cứu quy hoạch hệ thốngthoát nước, triển khai dự án đầu tư các công trình thoát nước ngay từ khi thiết kếđến khi thi công và đưa vào khai thác sử dụng phải luôn đáp ứng các yêu cầu ngàycàng cao về chất lượng và hiệu quả Tuy nhiên, hiện nay vẫn tồn tại những bất cập,chưa đáp ứng được nhu cầu về thoát nước thải và thoát nước mưa của thành phốHải Phòng Vì vậy việc nghiên cứu tổng thể hệ thống thoát nước Hải Phòng để đưa

ra các yêu cầu cụ thể, sát thực với thực tế nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của

hệ thống thoát nước thành phố Hải Phòng là cần thiết

2 Mục tiêu của đề tài

Luận văn tiến hành khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng

hệ thống thoát nước ở Hải Phòng Nghiên cứu, đánh giá về tất cả các lĩnh vực nhưpháp lý, con người, kỹ thuật, tài chính có tác động đến lĩnh vực thoát nước và

đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống thoát nước Hải Phòng

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Hệ thống thoát nước của thành phố Hải Phòng

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp kế thừa: Phương pháp này được áp dụng trong quá trình thuthập thông tin về các phương pháp, thực tiễn đã đạt được ở các đô thị trong vàngoài nước Trên cơ sở này sẽ tiến hành phân tích một cách có kế thừa những

Trang 2

ưu điểm, khắc phục những nhược điểm khi đề xuất phương án nâng cao hiệu quảhoạt động hệ thống thoát nước cho phù hợp với điều kiện đặc thù ở Hải Phòng.

- Phương pháp phân tích số liệu, kiểm nghiệm thực tế: Khảo sát, thu thập

số liệu nhằm nắm được thực trạng vấn đề thoát nước của Hải Phòng: vấn đề nghiên cứu quy hoạch thoát nước; về chất lượng, hiệu quả các công trình thoátnước; về thu gom, xử lý, môi trường, cách quản lý, đặc điểm hệ thống thoát nước,hiệu quả thu phí thoát nước từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thoát nước Hải Phòng

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn ra đời trong bối cảnh việc giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ hoàn toànhiện tượng ngập úng sau mưa đang là vấn đề được ưu tiên hàng đầu của các đô thị

ở Việt Nam nói chung và thành phố Hải Phòng nói riêng Luận văn là tài liệu thamkhảo đưa ra những giải pháp trong hầu hết các lĩnh vực liên quan, từ đó góp phầnnâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thoát nước của thành phố Hải Phòng

Trang 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ TÌNH HÌNH THOÁT NƯỚC CỦA

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG.

1.1 Tổng quan về hệ thống thoát nước một số nước trên thế giới

1.1.1 Quy hoạch và quản lý thoát nước ở Mỹ

Tiếp cận mới trong quy hoạch thu gom và xử lý nước thải ở Mỹ với cáccông trình xử lý nước thải tại chỗ và phân tán, lấy hộ gia đình làm trung tâm làvòng đầu tiên trong dịch vụ quản lý vệ sinh Vòng tiếp theo là nhóm hộ hoặc cụmdân cư nơi có liên hệ với nhau trong dịch vụ vệ sinh hàng ngày Với những ý tưởnglồng ghép thống nhất hệ thống quản lý Nhà nước về thu gom và xử lý nước thảiriêng biệt của các khu chức năng trong đô thị (khu nhà ở, khu công nghiệp) Thuhồi chất hữu cơ để sử dụng lại trong cải tạo đất nước (phân ủ, khí sinh học, phânbón…) Nước thải trong các hộ gia đình được thu gom theo 4 dạng riêng: (1) Nướcthải có chứa phân (nước đen); (2) Nước tiểu; (3) Nước từ nhà bếp; (4) Nước từ tắmgiặt (nước xám) Đối với TP lớn đã được đô thị hoá có thể áp dụng công nghệ này

là chưa thích hợp, nhưng nếu sử dụng cho các đô thị mới, quy mô nhỏ, thưa dân

cư, hoặc tiêu chuẩn dùng nước thấp thì rất thích hợp Đối với nước mưa được thu

từ mái nhà được dẫn nước vào hệ thống thu và tái sử dụng hoặc cho thấm vào đất,

bổ cập cho nước ngầm Đây là yếu tố đáng quan tâm, lại có tính khả thi cao, rấtthích hợp với các đô thị vùng nhiệt đới, cần đề ra trong chiến lược xây dựng vàphát triển đô thị tại tất cả các thành phố

Nước Mỹ đã xây dựng hoàn chỉnh hệ thống thoát nước và xử lý nước thải ởcác đô thị nhất là các vùng đô thị lớn như New York, California, Washington Mỹ

là nước đã áp dụng CNTT sớm nhất vào việc thiết kế, tính toán hệ thống cấp thoátnước với các chương trình tính thuỷ lực mạng lưới đường ống thoát nước như:EPANET, PCSWNN, MAUS Trong HTNT, Mỹ cũng nghiên cứu khá sâu về hệ sốthấm nước thải Theo nghiên cứu về kỹ thuật thoát nước và xử lý nước thải do GS.George Tchobanoglous trường Đại học California thì nước thấm vào HTNT quacác nắp giếng thăm, giếng kiểm tra, qua mối nối, dao động từ 10% đến 15%.[12]

Trang 4

1.1.2 Hệ thống thoát nước ở thành phố Hamburg - CHLB Đức

Đức là một nước có nền công nghiệp phát triển sớm, đã gây ra ô nhiễm môitrường trầm trọng Thành phố Hamburg có trên 1.75 triệu dân, có dòng sông, Elbechảy qua thành phố với bề rộng 300 - 500m, dài 90km, thành phố nằm trong vùngảnh hưởng của thuỷ triều Công tác xây dựng công trình thoát nước đã bắt đầu từnhững năm 1840 với hệ thống cống chung Sau này xây dựng hệ thống cống riêngcho khu vực mới phát triển Hệ thống thoát nước được xây dựng đầy đủ với chiềudài 4.400km đường cống Hệ thống bao gồm 5 trạm xử lý nước thải, 87 trạm bơm,

72 km cống áp lực, 52 km2 hồ điều hoà Nước thải được xử lý sinh học theo kiểuphân tán [13]

Hình1.1: Thành phố Hamburg - CHLB Đức

1.1.3 Thoát nước và quản lý thoát nước ở Trung Quốc

Trước năm 1949, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống thoát nước tại các thànhphố như Thượng Hải, Hồng Kông, Macao theo kiểu HTTN và XLNT của Châu

Âu, còn các thành phố Bắc Kinh, Nam Kinh, Vũ Hán, Tòng Châu, Nam Ninh

Trang 5

chỉ có hệ thống thoát nước chung, chủ yếu thoát nước mưa Sau năm 1949 nướcCộng hoà nhân dân Trung Hoa thành lập thì các thành phố được xây dựng hệ thốngthoát nước theo kiểu của Liên Xô cũ (các thành phố Hồng Kông, Macao vẫn theocông nghệ Châu Âu còn thành phố Đài Bắc thì xây dựng theo công nghệ Mỹ) Cáctiêu chuẩn, tài liệu về thiết kế hệ thống thoát nước chủ yếu tham khảo tài liệu củaLiên Xô.

Hiện nay các thành phố, các vùng trọng điểm kinh tế của Trung Quốc có quy mô dân số khoảng 20 triệu đến 30 triệu người đã xây dựng HTTN và XLNTtương đổi hoàn chỉnh

Vùng thủ đô Bắc Kinh là vùng khan hiếm nguồn nước, ở đây không có consông lớn đáng kể nào chảy qua Để đáp ứng các tiêu chí về phát triển bền vữngTrung Quốc đã xây dựng các HTXLNT ở Bắc Kinh theo mô hình thí điểm sử dụnglại nước thải đã được xử lý để tưới cây xanh thành phố nhằm mục đích tiết kiệmnước Nhà máy nước Bắc Kinh có công suất thiết kế là 2.269.000m3/ngày, tuy tổng

số nước thải được xử lý khoảng 1.000.000m3/ngày Đây là đặc điểm chung của cácnước như Trung Quốc, ASEAN vì tỷ lệ nước thải được xử lý chỉ đạt 70%

Thoát nước TP Thượng Hải - Với dân số gần 20 triệu người, nhà máy nướccông suất thiết kế là 5.600.000m3/ngày Hướng thoát nước chính của thành phốThượng Hải chảy vào lưu vực sông Hoàng Phố Tốc độ phát triển của Thượng Hảikhá nhanh nên các nhà máy XLN đã quy hoạch trước nay nằm rải rác trong thànhphố, vì vậy Thượng Hải đặc biệt quan tâm đến vành đai bảo vệ môi trường của cácHTXLNT Các khu công nghiệp ở Thượng Hải chiếm vị trí quan trọng trong nềnkinh tế quốc dân nên toàn bộ nước thải công nghiệp đều được xử lý đạt tiêu chuẩn

xả ra nguồn nước tiếp nhận theo tiêu chuẩn Trung Quốc [14]

1.1.4 Thoát nước ở thủ đô Tokyo - Nhật Bản

Hệ thống thoát nước dưới lòng Tokyo Nhật Bản là hệ thống cống ngầm lớnnhất thế giới với những giếng đứng khổng lồ và hơn 70 máy bơm công suất lớn.Điểm nhấn ấn tượng nhất của hệ thống là bể chứa nước điều áp được mệnh danh là

Trang 6

"Cung điện dưới lòng đất", công trình được xây dựng sâu 22m dưới lòng đất vớikích thước khổng lồ: dài 177m, rộng 78m, cao 25,4m: gồm 59 trụ BTCT, mỗi trụ

có thể đỡ được 500 tấn trọng lượng trần nhà

Hình 1.2 Hệ thống thoát nước được xây dựng dưới một sân bóng đá và côngviên ở ngoại ô Tokyo; được khởi công năm 1992, hoàn thành năm 2009

Trang 7

Hình 1.3 Sơ đồ hoạt động của hệ thống cống ngầm Tokyo

Hệ thống cống ngầm gồm 5 giếng đứng bê tông lớn, cao 65m, đường kính32m, nối với nhau bằng hệ thống đường hầm dài 64km

Sau các trận bão lớn, các giếng đứng như những vòi hút khổng lồ, thu nước

từ hệ thống cống thoát nước và các dòng sông chính ở Tokyo qua hệ thống đườnghầm trước khi xả ra sông Edo nhờ 78 máy bơm công suất lớn có khả năng bơm200.000 lít nước 1 giây

Hệ thống thoát nước này bảo vệ Tokyo khỏi các trận lụt Đây cũng trở thànhđiểm tham quan thú vị thu hút khách du lịch đến Tokyo.[15]

1.1.5 Thoát nước và quản lý thoát nước ở Bangkok - Thái Lan

Thoát nước và xử lý nước thải ở Thái Lan có tính chất vùng chủ yếu là vùngthủ đô Bangkok, còn các thành phố khác có quy mô nhỏ tương tự như Việt Nam.Bangkok - Thủ đô của Thái Lan - nằm ở đồng bằng sông Chao Prây và kéo dài tớivịnh Thái Lan với tổng diện tích 1.569km2 Năm 1999, số dân của Bangkok là 7,5triệu người HTTN của thành phố này được quy hoạch và thiết kế trên cơ sở hệ

Trang 8

thống kênh đào Các con kênh dẫn nước ra sông Chao Prây Bangkok có 1.145 kênhvới tổng chiều dài xấp xỉ 2.316 km Kênh có chiều rộng từ 3 - 50m, trong đó có 54kênh có chiều rộng lớn hơn 20m Do có địa hình thấp nên nhiều khu vực củaBangkok dễ bị ngập lụt.

Bangkok có 7 nhà máy XLNT tập trung với tổng công suất 992.000m3/ngàytrên tổng diện tích lưu vực 191,17km2 Toàn thành phố có khoảng 1.000 km cống

Hệ thống cấp thoát nước của vùng thủ đô Bangkok được xây dựng và phát triểnmạnh nhất là năm 1975 do đầu tư của Mỹ, các nước Tây Âu và Nhật Bản Vì vậycông nghiệp cấp thoát nước và xử lý nước thải cũng là công nghệ Mỹ, Nhật [16]

1.2 Tổng quan hệ thống thoát nước của một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam

1.2.1 Hiện trạng hệ thống thoát nước ở Hà Nội

Hệ thống thoát nước của thành phố Hà Nội là hệ thống thoát nước chung baogồm: Cống ngầm, mương hở, kết hợp cống ngầm với mương hở

+ Hệ thống cống ngầm: Nội thị cũ trước 1954 có chiều dài 74km cống ngầmvới kích thước từ 400 đến 1500mm, đạt 69m/ha Sau 1954 đến nay đã xây dựngthêm 134km kích thước từ 400 đến 2000mm và cống bản

+ Hệ thống mương hở kết hợp cống ngầm: Khu Kim Liên, Trung Tự, Giảng

Hiện nay Công ty thoát nước Hà Nội quản lý 318km mương cống, trong đó

có 178,28 km cống thuộc gói thầu CP2 và 24,7 km cống từ các dự án khác [17]

Trang 9

1.2.2 Hiện trạng HTTN và công tác quản lý HTTN thành phố Hải Dương

- Hiện trạng hệ thống thoát nước

Thành phố Hải Dương sử dụng hệ thống thoát nước chung, kết cấu cốngngầm, mương xây hở với tổng chiều dài khoảng 40km (trong đó gần 5km đi ngầmxây dựng từ thời Pháp thuộc với kích thước D500mm đến D1500mm; gần 35kmcống D300mm - D400mm được xây dựng sau này

Cao độ thành phố Hải Dương thấp hơn mực nước sông về mùa mưa vì vậymùa mưa phải bơm cưỡng bức ra các sông Sặt, sông Thái Bình Các hồ điều hòa vàcác trạm bơm tiêu đóng vai trò quan trọng cho công tác thoát nước của Hải Dương.Khi mực nước sông Sặt và sông Thái Bình, nước thoát tự chảy ra còn khi mựcnước sông Thái Bình cao về mùa mưa, nước thoát tập trung vào các hồ trong thànhphố và được bơm ra sông Thái Bình nhờ trạm bơm Ngọc Châu có công suất 40.000

m3/giờ

Với việc được cải tạo và nâng cấp trạm bơm Ngọc Châu, công tác thoátnước cho Hải Dương tương đối tốt chỉ cần bổ sung đủ chiều dài cống và bảo dưỡngđịnh kỳ toàn hệ thống là có thể đảm bảo tiêu thoát nước

Tỷ lệ dân được sử dụng hệ thống thoát nước 50%, tương đương tỷ lệ cốngmới đạt 0,23 km cống/ l km đường

TP Hải Dương có dự án thoát nước đang chuẩn bị triển khai, tổng vốn đầu tưhàng triệu EUR Dự án sẽ xây dựng 50km cống, 1 trạm xử lý nước thải15.000m3/ngày đêm [18]

1.3 Tổng quan về tình hình thoát nước của thành phố Hải Phòng.

1.3.1 Điều kiện tự nhiên của thành phố Hải Phòng

Hải Phòng còn được gọi là Thành phố Hoa phượng đỏ, là một thành phốcảng lớn nhất phía Bắc và công nghiệp ở ền Bắc Việt Nam nằm trong vùng duyênhải Bắc bộ Hải Phòng là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam sau thành phố Hồ ChíMinh và Hà Nội

Trang 10

Thành phố có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng củavùng Bắc Bộ và cả nước, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế ViệtNam - Trung Quốc.

Hải Phòng là đầu mối giao thông đường biển phía Bắc Với lợi thế cảng nướcsâu nên vận tải biển rất phát triển, đồng thời là một trong những động lực tăngtrưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩthuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong 2 trung tâm phát triểncủa vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ

Hải Phòng có nhiều khu công nghiệp, thương mại lớn và trung tâm dịch vụ,

du lịch, giáo dục, y tế và thủy sản của vùng duyên hải Bắc bộ Việt Nam HảiPhòng là một cực tăng trưởng của tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc gồm HàNội, Hải Phòng và Quảng Ninh, nằm ngoài Quy hoạch vùng thủ đô Hà Nội HảiPhòng còn giữ vị trí tiền trạm của miền Bắc, nơi đặt trụ sở của bộ tư lệnh quân khu

3 và Bộ tư lệnh Hải quân Việt Nam

(Nguồn: UBND thành phố Hải Phòng)

a) Vị trí địa lý

Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông TháiBình thuộc đồng bằng sông Hồng, phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh,phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phíaĐông là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa sông lớn là BạchĐằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và Thái Bình

Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, tính đến tháng 12/2011, dân số HảiPhòng tính đến tháng 12 năm 2011 là 1.907.705 người, trong đó dân cư thành thịchiếm 46,1% và dân cư nông thôn chiếm 53,9%, là thành phố đông dân thứ 3 ởViệt Nam, sau Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh

Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - đô thị loại 1 trungtâm cấp quốc gia gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, ĐồSơn, Kiến An và Hải An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão,

Trang 11

Kiến Thụy, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với

223 xã, phường và thị trấn

Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầumối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàngkhông trong nước và quốc tế, là cửa ngõ chính ra biển của thủ đô Hà Nội và cáctỉnh phía Bắc; là đầu mối giao thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc

Bộ, trên hai hành lang - một vành đai hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc.Chính vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội vùng châu thổ sôngHồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lựcphía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh tế - khoa học - kĩthuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung tâm pháttriển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước

b) Sông ngòi

Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8

km trên 1km2 Phía Bắc là ranh giới với tỉnh Quảng Ninh có sông Đá Bạc nốithông với sông Bạch Đằng ở phía Đông đổ ra biển ở cửa Bạch Đằng Sông Giá,một nhánh rẽ của sông Đá Bạc ở phía Tây Bắc huyện Thủy Nguyên, chảy theohướng Tây Bắc - Đông Nam ra sông Bạch Đằng Sông Kinh Thầy (sông Hàn) vàsông Kinh Môn ở Hải Dương đổ về họp nhau tại phía Tây Nam của huyện ThủyNguyên thành sông Cấm đổ ra cửa Cấm Sông Lạch Tray tách ra từ sông TháiBình ở phía Tây Bắc của huyện An Lão, chảy quanh co qua các quận huyện phíaNam thành phố rồi ra biển ở cửa Lạch Tray Sông Văn Úc cũng là chi lưu của sôngThái Bình chảy phía Nam sông Lạch Tray, ra cửa Văn Úc Sông Thái Bình chảygiữa hai Vĩnh Bảo và Tiên Lãng, ra biển ở cửa Thái Bình Nhìn chung, sông ngòiHải Phòng đều là các chi lưu của sông Thái Bình, chảy theo hướng Tây Bắc - ĐôngNam và đổ ra Vịnh Bắc Bộ

Trang 12

1.3.2 Hệ thống thoát nước mưa

Cũng như hệ thống thoát nước các đô thị lớn ở Việt Nam, hệ thống thoátnước Hải Phòng đã được xây dựng từ nhiều thập kỷ nay, mạng lưới đường cốngthoát nước trong thành phố phục vụ chung cho hai mục đích là thoát nước mưa vànước thải Đây chính là hệ thống thoát nước chung Nước mưa và nước thải được

xả trực tiếp ra sông hoặc ra hồ điều hòa sau đó ra sông qua các kênh dẫn và cốngngăn triều Một số xí nghiệp và bệnh viện có hệ thống xử lý cục bộ nhưng hầu nhưkhông hoạt động Tình trạng ô nhiễm môi trường do thải nước bẩn ra ao hồ, sôngngòi đang ở mức báo động Việc xả nước thải trực tiếp vào trong hồ, kênh gây bồi lắng cũng như việc người dân xây dựng nhà cửa, cầu tạm, đổ rác làm lấn chiếmlòng kênh, giảm tiết diện thiết kế dẫn đến tình trạng ngập lụt trong khu vực và gây

ô nhiễm môi trường trầm trọng

Hiện trạng hệ thống thoát nước thành phố Hải Phòng bao gồm:

- Hệ thống kênh, hồ điều hòa

- Mạng lưới cống chính cấp 1

- Mạng lưới cống chính cấp 2, 3

- Các công trình khác: Cống ngăn triều, trạm bơm, TXLNT…

a) Các lưu vực thoát nước hiện trạng

Hiện nay Hải Phòng chỉ có mạng lưới thoát nước trong khu vực các Quậnnội thành (Lê Chân, Hồng Bàng, Ngô Quyền, Hải An) còn các quận Kiến An, Hải An, Dương Kinh hay Thị xã Đồ Sơn tuy có một số tuyến thoát nước nhưngkhối lượng chưa đáng kể Vì vậy nói đến hiện trạng thoát nước chính của hệ thốngthoát nước trong khu vực 4 quận nội thành thành phố đã hình thành bao gồm lưuvực thành phố cũ (Bắc đường tàu) thuộc quận Hồng Bàng, lưu vực Đông Bắcthuộc quận Ngô Quyền, lưu vực Đông Nam thuộc quận Hải An và một phần Ngô Quyền, Lưu vực Tây Nam thuộc quận Lê Chân Ngoài ba lưu vực chính, còn

Trang 13

có một số lưu vực nhỏ riêng biệt do bị chia cắt bởi các sông trong nội thành thuộcquận Hồng Bàng như Thượng Lý, Hạ Lý, Trại Chuối.

- Lưu vực Bắc đường tàu: Đây là khu vực thuộc thành phố cũ, có diện tíchkhoảng 240ha, hệ thống thoát nước bắt đầu được hình thành từ đầu thế kỷ 20 Cao độ địa hình trong khu vực dao động trong khoảng 4,2 – 4,7m Hiện vẫn đang

sử dụng hệ thống cống chung, các tuyến cống xả trực tiếp ra sông Tam Bạc vàsông Cấm Tuy nhiên trong những ngày triều cao cực đại trong tháng, nước sông

có thể chảy ngược vào cống và tràn lên mặt đường một số nơi như Bưu điện,đường Minh Khai… Hệ thống thoát nước lưu vực này đang được cải tạo theo dự án

vệ tinh ba thành phố - tiểu dự án thành phố Hải Phòng

- Lưu vực Đông Bắc: Lưu vực này hình thành muộn hơn lưu vực Bắc đườngtàu, diện tích khoảng 950ha, được giới hạn bởi đường sắt, đường Lạch Tray, đườngNguyễn Bỉnh Khiêm Hướng thoát nước trong lưu vực này vào các hồ điều hòa vàkênh Đông Bắc, sau đó xả ra sông Cấm qua cống ngăn triều Máy đèn Hệ thốngthoát nước lưu vực sông này là hệ thống thoát nước chung, đang được cải tạo theo

dự án vệ sinh ba thành phố - tiểu dự an thành phố Hải Phòng và dự án hai trạmbơm Hải Phòng

- Lưu vực Tây Nam: diện tích khoảng 1.300ha cũng được hình thành muộn,nước mưa và nước thải chảy qua hồ điều hòa, kênh thoát nước Tây Nam và sau đóđược dẫn xả ra sông Lạch Tray qua cửa cống ngăn triều Vĩnh Niệm, chỉ một phầnnhỏ lưu vực thuộc khu vực Tô Hiệu, Trần Nguyên Hãn xả trực tiếp ra sông

Hệ thống thoát nước lưu vực này cũng đang được cải tạo theo dự án vệ sinh bathành phố - tiểu dự án thành phố Hải Phòng, dự án hai trạm bơm Hải Phòng và

Trang 14

thành (quận Hải An) và quy hoạch chi tiết đang được thực hiện Một số công trìnhthoát nước đầu mối đã và được thành phố quan tâm chuẩn bị để có thể đầu tư xây dựng như kênh thoát nước An Kim Hải, kênh thuộc đường quy hoạch “100m”dẫn ra cống Nam Đông mới và hồ Đông tương lai.

- Các lưu vực độc lập: Lưu vực Thượng Lý nằm giữa sông Cấm, sôngThượng Lý và đường quốc lộ 5, lưu vực Trại Chuối kẹp giữa sông Lạch Tray vàsông Thượng Lý Các lưu vực này có mạng lưới cống thoát nước độc lập, nướcmưa và nước thải cũng được dẫn vào hồ và xả ra sông qua các cống ngăn triều.Một số hạng mục cống thoát nước sẽ được cải tạo theo dự án vệ sinh ba thành phố

- tiểu dự án thành phố Hải Phòng.[20]

b) Mạng lưới cống thoát nước hiện trạng

Mạng lưới cống thoát nước nội thành Hải Phòng là mạng lưới cống chungđược xây dựng và mở rộng từ những năm đầu thế kỷ 20 đến nay Bao gồm cáctuyến cống thoát nước chính và các tuyến cống nhánh thoát nước mưa, nước thảicấp 2, 3 từ các lưu vực nhỏ Toàn bộ mạng luới có khoảng 69,6 km cống trục chínhđường kính cống từ 400 – 600mm, độ sâu đặt cống trung bình là 1,2 – 2 m

Theo số liệu của dự án 1B toàn bộ mạng lưới có gần 4.200 ga Các tuyếncống hộp trong khu vực thành phố cũ chủ yếu được xây dựng trước năm 1954 và

có kết cấu bằng gạch hoặc đá xẻ, nắp cống bằng bê tông, qua khảo sát sơ bộ phầnlớn các cống loại này vẫn hoạt động, một số cống trên các trục đường Lý TựTrọng, Lạch Tray, Đà Nẵng bị hư hỏng nặng, lớp vữa trát mặt trong cống bị bong,nhiều đoạn thành cống bị ăn mòn mục nát Một phần còn lại của mạng luới thoátnước được xây dựng từ các năm 1968- 1982 và trong những năm gần đây một sốtuyến cống mới được xây dựng, chủ yếu để giải quyết công tác thoát nước trụcđường Cầu Đất – Lãn Ông Φ2000, trục đường Nguyễn Bỉnh Khiêm 2xΦ1000, bổsung một số tuyến cống mới Φ800, Φ1000 trên trục đường Lê Lợi xả hồ Mắm Tôm

và hồ Tiên Nga Trục đường Tô Hiệu đặt mới tuyến Φ1200 xả thẳng ra sông LạchTray Đặt mới tuyến cống trên đường Văn Cao có đuờng kính Φ1000 Cống hoá

Trang 15

kênh thoát nuớc Cát Bi trên trục đường Ngô Gia Tự bằng cống hộp BxH = 1600x

1000 Hầu hết các tuyến cống lắp đặt sau năm 1954 là cống tròn bằng bê tông cốtthép, có mối nối bằng gạch xây vữa xi măng

Hiện nay công việc cải tạo mạng lưới cống đã hoàn thành theo gói thầu C1A

do nhà thầu PAA Đan Mạch thực hiện trong Tiểu dự án vệ sinh Hải Phòng – giaiđoạn 1B, vốn Ngân hàng thế giới (Dự án vệ sinh 1B Hải Phòng) Mạng lưới cống

đã được thau rửa, nạo vét, khảo sát và đánh giá hệ thống bằng các thiết bị hiện đại(bơm áp lực cao, CCTV), các số liệu thu được chuẩn xác về tình trạng hoạt độngcủa cống cũng như khả năng thủy lực để khẳng định bản đồ mạng lưới thoát nước,đặc biệt là cao độ đáy cống, độ dốc, hướng chảy của từng tuyến cống (lúc triềuxuống), độ bền kết cấu của từng công trình Dự kiến sau khi các gói thầu C1B vàC1D của dự án vệ sinh 1B Hải Phòng hoàn thành, mạng lưới cống thoát nước sẽđược cải thiện nhằm giải quyết cơ bản hiện tượng ngập lụt cho khu vực trung tâmthành phố

c) Hệ thống hồ điều hòa

Hầu hết các hồ nước tồn tại trong thành phố đều được sử dụng để điều hòalưu lượng nước mưa, chứa nước thải Tổng diện tích hệ thống điều hòa khoảng50ha, tuy nhiên, theo số liệu đo thực tế năm 2004 diện tích của các hồ đã lại giảmnhiều do bị lấn chiếm nghiêm trọng (hiện nay diện tích còn khoảng 40- 45ha).Phần lớn các hồ có độ sâu trung bình từ 1.0 – 1.5 m

Hiện nay trên địa bàn thành phố các hồ như: Hồ Sen, Hồ Tiên Nga, Hồ LâmTường và Hồ Dư Hàng, Hồ Cát Bi Trong đó 3 hồ (Hồ Sen, Hồ Tiên Nga, Hồ LâmTường, Dư Hàng) đã được cải tạo (nạo vét, kè bờ, xây dựng đường quản lý xungquanh) để nâng cao công suất chứa, hệ thống thu gom quanh hồ và các trạm bơmcũng được xây dựng theo gói thầu CIC của Dự án vệ sinh 1B Hải Phòng

Trang 16

d) Các tuyến kênh trục tiêu thoát nước chính và cống ngăn triều

- Tuyến kênh Tây Nam (Vĩnh Niệm): Thuộc lưu vực thoát nước Tây Namthành phố Đoạn từ Hồ Sen ra hồ Dư Hàng dài 1.077 m bề rộng trung bình 6 – 12

m Đoạn từ hồ Dư Hàng ra cống Vĩnh Niệm dài 1.552 m, rộng trung bình 25m(phần cuối hạ lưu)

Tuyến kênh An Kim Hải: nằm trong lưu vực kênh Đông Bắc và Tây Nam.Toàn tuyến kênh đào khoảng 10km, đầu tuyến tại cống Luồn nối với sông đàoThượng Lý, cuối tuyến tại cống ngăn triều Nam Đông nối với sông Cấm Theo đặcđiểm địa hình tuyến kênh có thể chia thành 5 đoạn sau:

- Đoạn 1 – Từ cống Luồn đến cống Xi phông (hồ Dư Hàng): chiều dài2.377m, chiều rộng trung bình mặt kênh 7m

- Đoạn 2 – Từ cống Xi phông (Hồ Dư Hàng) đế đường Lạch Tray: chiều dài2.541m, chiều rộng trung bình mặt kênh 10m

- Đoạn 3 – từ đường Lạch Tray đến cống Kiều Sơn: Chiều dài 1.598m,chiều rộng trung bình mặt kênh 15m

- Đoạn 4 – từ cống Kiều Sơn đến ngã ba Hạ Đoạn: chiều dài 3.104m chiềurộng trung bình mặt kênh 15m

- Đoạn 5 – từ ngã ba Hạ đoạn đến cống Nam Đông: chiều dài 586m, chiềurộng trung bình mặt kênh 19m

Trang 17

Trên toàn tuyến có 24 cầu dân sinh bắc qua kênh, trong đó có 5 cầu tạm,ngoài ra còn có nhiều cầu do dân tự bắc qua bằng gỗ.

Tuyến kênh này trước đây là kênh thủy lợi, nhưng hiện nay chỉ còn chứcnăng tiêu thoát nước do sự phát triển đô thị hóa và quy hoạch Tuy nhiên khả năngtiêu thoát nước khá hạn chế do sự lấn chiếm bởi các công trình xây dựng trái phép,đặc biệt là đoạn 2, 3 làm cho tiết diện dòng chảy bị thu hẹp và lòng kênh bị bồi lấpbởi bùn khá dày, trung bình 0.6 – 1m Lần nạo vét bùn kênh gần nhất là năm 1993,được thược hiện bởi công trình kỹ thuật thủy nông huyện An Hải

Kênh An Kim Hải đã được dự kiến đầu tư thành kênh thoát nước chính, mànhiệm vụ quan trọng nhất là kết nối với các hệ thống kênh Đông Bắc, Tây Namthành một hệ thống thoát nước liên hoàn cho toàn bộ khu vực phía Nam đường sắtcủa thành phố Hải Phòng

Các hướng xả chính của kênh này gồm có: xả ra sông đào Thượng Lý, sôngCấm, hồ Dư Hàng, cống Ba Tổng, hồ Phương Lưu

Ngoài ra, trong khu vực phía nam thành phố còn có một số kênh chính thoátnước gồm: kênh Ba Tổng để xả nước ra sông Lạch Tray, kênh nối kênh Tây Nam

và kênh An Kim Hải Các tuyến kênh này tùy thuộc mạng lưới thoát nước cấp 1nhưng khả năng thoát nước rất kém và chưa có dự án nâng cấp cải tạo

tự động mới đưa vào hoạt động nối tuyến Φ2000mm mới lắp đặt trên đường LãnÔng ra sông Tam Bạc

Trang 18

Các cống ngăn triều hoạt động theo chế độ thủy triều và phụ thuộc mựcnước trong hệ thống thoát nước Trừ cống mới xây dựng trên đường Lãn Ông, cáccống còn lại do người điều khiển, khi triều xuống mở các cửa triều để nước từ ao

hồ kênh rạch chảy ra sông, khi triều cường đóng lại, nước thải trong thời gian triềucường được lưu lại trong hệ thống hồ điều hòa và kênh dẫn nước

BẢNG 1.1 KÍCH THƯỚC CÁC CỬA CỐNG NGĂN TRIỀU

độ cao đáy-+ 0.00m

Vận hành cơ khí(19715)

Chế độ thủy triều, khả năng pha loãng và tự làm sạch nước thải của các hồ

và kênh gắn liền với chế độ đóng mở các cống ngăn triều Công ty thoát nước HảiPhòng quản lý vận hành 9 cửa ngăn triều này (Cống ngăn triều Ba Tổng là do Sở

Trang 19

Thủy lợi quản lý điều hòa dòng chảy từ các ao hồ và kênh rạch vào sông xungquanh thành phố Hải Phòng Trong cả thời gian đóng và mở cống ngăn triều ở các

hồ, kênh đều diễn ra quá trình tự làm sạch nước thải

Đến nay 3 cống ngăn triều là Máy Đèn, Vĩnh Niệm, Cát Bi đã được cải tạotrong gói thầu C1C của Dự án vệ sinh 1B Hải Phòng.[10]

1.3.3 Hệ thống thoát nước thải

a) Hiện trạng hệ thống thoát nước thải

Dự báo nhu cầu cấp nước cho thành phố Hải Phòng vào năm 2020 là544.000m3/ngày đêm Phần lớn lượng nước này sẽ trở thành nước thải, nếu không

có giải pháp xử lý sẽ dẫn đến tình trạng ô nhiễm mặt nước và nước ngầm nghiêmtrọng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng

Hiện nay, Hải Phòng chưa có hệ thống thoát nước thải thích hợp Các khuvực đô thị được phục vụ bởi một mạng lưới cống chung Mạng lưới này thu gomvận chuyển phần chảy tràn ra từ các bể phốt, toàn bộ phần nước xám và nước mưa,sau đó xả ra các nguồn nước mặt gây ô nhiễm nghiêm trọng

Có một số trạm xử lý nước thải cục bộ như: Nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện(Bệnh viện Lao, Bệnh viện Nhi, Bệnh viện Việt Tiệp) Hiện có một trạm bơm nhỏtại làng Bông Sen là hoạt động tốt và trạm xử lý nước thải của khu công nghiệpNOMURA

b) Lưu lượng nước thải hiện trạng

Hiện nay hệ thống cấp nước Hải Phòng phục vụ cho 102.650 hộ tiêu thụkhoảng 70% số dân được phục vụ bởi hệ thống thu gom Lưu lượng nước thải đượctính theo lượng nước sinh hoạt và công nghiệp cũng như dịch vụ khác, ước tínhbằng khoảng 80% lượng nước cấp

Trang 20

BẢNG 1.2 NHU CẦU DÙNG NƯỚC VÀ LƯỢNG NƯỚC THẢI

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG NĂM 2012

Nhu cầu sử dụng nước và lưu lượng thải tại

Thành phố Hải Phòng (m 3 /ngđ)

Năm 2012

Lưu lượng nước thải trung bình 182.000 (ước tính)Nước thải của các bệnh viện nội thành khoảng 1.000 m3/ngđ

c) Nước thải của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp.

Theo các số liệu của sở KHCN&MT thì trước khi có Luật Bảo vệ môi trường, các nhà máy xí nghiệp này đều không có trạm xử lý nước thải

Sở đang có kế hoạch chọn các nhà máy gây ô nhiễm nhất như NM chế biến hải sản, NM giấy, NM bia, NM ắc qui buộc phải xây dựng trạm xử lý nước thải

Theo các hợp đồng của Công ty Cấp nước Hải Phòng thì tổng khối lượngtiêu thụ nước hiện nay của các khách hàng công nghiệp, kinh doanh, cơ quan, côngcộng tại thành phố Hải Phòng, Kiến An, Đồ Sơn, Vật Cách khoảng 43.000 m3/ngđ.Lượng nước thải công nghiệp xả vào sông hồ và hệ thống cống thoát nước Hải Phòng ước tính 18.000 – 20.000 m3/ngđ Trong đó các xí nghiệp sau đây lượngnước thải trên 200 m3/ngđ

Trang 21

BẢNG 1.3 LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA

Khu công nghiệp Vĩnh Niệm

Quận Ngô Quyền

1.600500350250200

2.0002001.500210Thành phần và tính chất nước thải các xí nghiệp công nghiệp rất đa dạng,chế độ chất thải nước không điều hòa theo các giờ trong ngày

d) Hiện trạng chất lượng nước thải

Trang 22

Ô nhiễm nước mặt nghiêm trọng nhất xảy ra tại 3 quận nội thành cũ Hàmlượng BOD tại các hồ và kênh mương rất cao, lên tới 150 mg/l lớn hơn tiêu chuẩnViệt Nam là 30mg/l Hàm lượng a-mô-ni-ắc tại các hồ cao và chủ yếu là do ônhiễm hữu cơ từ nước thải.

Không sẵn có các số liệu thống kê về các bệnh từ ô nhiễm đường nước tạiHải Phòng nhưng căn cứ vào các số liệu quốc gia, ước tính số trường hợp mắcbệnh đến khám bác sĩ hoặc đến bệnh viện dao động trong khoảng từ 10.000 đến15.000 mỗi năm Ước tính này căn cứ vào các trường hợp được đăng ký Tuynhiên, theo đánh giá số lượng các trường hợp không đăng ký còn nhiều hơn

e) Hiện trạng xử lý nước thải

Hiện nay ở Hải Phòng chưa có một công trình xử lý nước thải chung củathành phố Ngoại trừ trạm xử lý nhỏ ở làng Bông Sen là hoạt động tốt, còn một sốtrạm xử lý nước thải cục bộ ở các nhà máy, xí nghiệp, bệnh viện tuy được xâydựng nhưng đến nay không còn hoạt động nữa (hai trạm xử lý xây dựng tại bệnhviện trẻ em và bệnh viện hữu nghị Việt - Tiệp), một số khác chỉ hoạt động với chứcnăng là bể trung hòa nước thải có hóa chất từ các dây chuyền sản xuất trong nhàmáy Ngoài ra hệ thống mương hồ điều hòa có nhiệm vụ lưu giữ nước thải tựnhiên, tuy nhiên các hồ này đều bị quá tải và xử lý sinh học không có hiệu quả

Hiện tại thông tin về bể phốt còn hạn chế: vị trí, kích cỡ, số lượng bể phốt,v.v … không được kiểm soát, ước tính sơ bộ cho thấy số lượng bể phốt là khoảng50.000, thực tế thu gom phân bắc hiện nay không đảm bảo vệ sinh Việc thu gomđược thực hiện từ 11h đêm đến 4h sáng Nhân viên của URENCO thu gom phân

Trang 23

một cách thủ công và cung cấp cho nông dân các khu vực ngoại thành vì có mộttruyền thống lâu đời và một nhu cầu lớn về việc sử dụng phân bắc làm phân bón.Hiện ở Hải Phòng chưa có hệ thống xử lý phân bắc Có 5 xe bồn được xử dụng đểthu gom phân bắc, dung tích mỗi xe 3m3 hay 5 tấn Tần suất thu gom hiện nay là 2ngày một lần từ mỗi hố xí thùng do URENCO phụ trách.

Các bể phốt tư nhân nói chung được đặt trực tiếp bên dưới nhà vệ sinh ởphía sau nhà Tại những vị trí như thế chúng thường ở cách xa điểm gần nhất mà

có xe có thể đi vào được, thậm chí nếu xe bồn có thể tới được phía trước nhà.Trong trường hợp không thể thực hiện việc hút dọn, nhân viên của URENCO sẽđược yêu cầu tiến hành hút dọn bể phốt theo phương pháp thủ công

Xét khó khăn của việc tiếp cận, FINNIDA đã cung cấp 3 xe hút chân không

có gắn toa móc Tuy nhiên, bề rộng của các xe này đã là 1,5m quá rộng đối vớiphần lớn các ngõ hẻm chật hẹp Kết quả là SADCO không thể sử dụng các xe này.Hoạt động thu gom chất thải bể phốt được tóm tắt dưới đây

BẢNG 1.4 CÔNG TÁC THU GOM CHẤT THẢI BỂ PHỐT CỦA SADCO

Trong khuôn khổ dự án 1B do Ngân hàng Thế giới tài trợ, một trạm xử lý

chất thải bể phốt được đề xuất tại bãi chôn lấp Tràng Cát với diện tích trạm là 17hađất, công suất xử lý là 260.000m3/năm

Như đã nêu ở trên, 88% dân số ở khu vực trung tâm Kiến An sử dụng bểphốt Phần lớn các bể phốt được nối với các đường ống cống Vì công ty công trình

Trang 24

công cộng Kiến An không có phương tiện nên SADCO được đề nghị thực hiện thugom chất thải bể phốt.

Tại thị xã Đồ Sơn tất cả các bể phốt được nối liền với một ga lọc hay tựthấm Đây là điều có tính chất bắt buộc vì không có đường ống cống ở khu vực ĐồSơn Ngoài 5% hộ gia đình, toàn bộ các hộ dân và khách sạn đều có bể phốt VìCông ty công trình công cộng Đồ Sơn không có phương tiện, nên SADCO đượcyêu cầu thu gom chất thải bể phốt Thông thường các khách sạn có các bể phốtnhiều ngăn lớn Theo số liệu tham khảo thực tế, với khách sạn có 150 phòng thìkích cỡ của bể phốt là khoảng từ 40 đến 50m3

( Nguồn: Công ty MTV thoát nước Hải Phòng)

1.3.4 Thực trạng các dự án thoát nước tại Hải Phòng đã thực hiện

a) Dự án thoát nước 1B (Dự án thoát nước và vệ sinh thành phố Hải Phòng)

* Khối lượng công việc đã thực hiện được sau dự án:

- Các hạng mục được cải tạo:

+ Thông rửa khoảng 130 km/528km hệ thống thoát nước chung của nội thành.+ Cải tạo khoảng 9.000/25.039 hố ga

+ Cải tạo 6,2 km/51,9km mương thoát nước (bao gồm làm kè, nạo vét bùn, xâydựng trạm bơm chuyển tiếp và làm đường quản lý cho mương thoát nước ĐôngBắc, Tây Nam)

+ Cải tạo 3 cống ngăn triều/13 cống ngăn triều

+ Cải tạo 4hồ/10 hồ điều hòa (bao gồm xây dựng đường ống thu gom, làm kè mới,nạo vét bùn các hồ điều hòa Tiên Nga, Mắm Tôm, Cát Bi và Hồ Sen)

- Các hạng mục được xây dựng mới:

+ Xây dựng 6 km đường ống thoát nước chung ở những vùng có nguy cơ ngập úngnhiều

+ Xây dựng bãi đổ và xử lý phân bùn rộng 17 ha tại bãi Tràng Cát

Trang 25

+ Cải tạo thoát nước thải với cống chính cho 37 phường, với cống xóm ngõ cho 17phường.

+ Mua sắm thiết bị chuyên dùng để bảo dưỡng mương, thông cống, hút phốt, bãithải

+ Xây dựng mới hồ Phương Lưu rộng 22 ha

* Đánh giá chung vể dự án 1B:

- Dự án đã cải thiện đáng kể năng lực thoát nước của hệ thống thoát nước, và

ô nhiễm môi trường, đặc biệt là 2 tuyến kênh Đông Bắc, Tây Nam; các hồ LâmTường, hồ Sen, Dư Hàng, Tiên Nga góp phần chỉnh trang cảnh quan đô thị

- Dự án 1B mới chỉ cải tao được 1/3 các công trình thoát nước của Thànhphố

b) Dự án JICA

- Dự án thoát nước mưa, nước thải và quản lý chất thải rắn Hải Phòng giaiđoạn 1 (2004-2010)

- Tổng mức đầu tư cho toàn bộ dự án khoảng 155.218 triệu USD

- Nội dung đầu tư của dự án: chia làm 3 hợp phần: Thoát nước mưa, thoátnước thải và quản lý chất thải rắn

Tuy nhiên, khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng chỉ bao phủ được 50%diện tích thành phố

c) Dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng khu dân cư thu nhập thấp

Trang 26

Các hạng mục tập trung đầu tư cải tạo là các tổ dân cư có thu nhập thấp.Hạng mục đầu tư cho thoát nước đáng kể nhất là cải tạo kênh An Kim Hải từ cốngLuồn đến cầu vượt Lạch Tray.

Dự án đã phát huy tốt tác dụng tuy nhiên phạm vi dự án hạn chế là các khuvực có thu nhập thấp nên không có tính tổng thể về lưu vực thoát nước Việc cảitạo mương An Kim Hải không tính đến việc tách nước thải chảy vào mương nênmặc dù đã hoàn thành vẫn gây ô nhiễm nghiêm trọng tại các đoạn mương hở đã cảitạo

- Đánh giá: Các hạng mục công việc của dự án ODA sau khi hoàn thành, đặcbiệt là dự án 1B đã góp phần tăng khả năng tiêu thoát nước cho một số lưu vực củathành phố Hải Phòng Tuy nhiên các dự án trên mới chỉ bao phủ khoảng 30-40%diện tích của Hài Phòng, trong đó có các dự án như dự án JICA hiện nay đã triểnkhai thi công tuy nhiên vẫn chưa có một công trình nào của dự án trên phát huyhiệu quả của nó Đồng thời trong quá trình thi công các dự án trên đã gây ngập lụtcho khu vực thi công và một số khu vực lân cận

d) Các dự án khác bằng nguồn vốn địa phương

- Dự án cải tạo mương An Kim Hải (đoạn từ cầu vượt Lạch Tray đến cốngNam Đông) do Ban QLDA Cải thiện điều kiện Vệ sinh Môi trường (JICA) chậmtriển khai thi công, hiện tại tuyến mương này đang bị các hộ dân sống xung quanh

đô đất lấn chiếm, xây dựng các công trình làm thu hẹp dòng chảy gây ngập lụt chocác khu vực Lạch Tray, và một số phường tại quận Hải An (phường Đông Hải I;phường Đông Hải II )

- Dự án cải tạo mương tại ngõ 40 An Đà: Đã thi công được 41m/400m dogặp khó khăn trong việc giải phóng mặt bằng nên chưa thể thi công tiếp Hiện naytại Khu vực này đã bị lấn chiếm xây nhà, lòng mương trước kia rộng 5m, nay bịthu hẹp còn 0,5m gây ngập lụt cho khu vực đường An Đà và phường Đang Giang

- Dự án nối ngã 4 Quán Mau về đường Hồ Sen cầu Rào 2: đã san lấp đầmĐông Xuân nhưng chưa giải phóng được mặt bằng và lắp đặt hệ thống thoát nước

Trang 27

nên là một trong những nguyên nhân gây ngập lụt cho 1/2 phường Đông Hảiphường Hàng Kênh khu vực Đình Đông, Bốt Tròn

- Dự án cải tạo thoát nước khu vực đường Thuyết: Do UBND quận Lê Chânlàm chủ đầu tư đã đặt tuyến cống D1000 cao hơn cao độ cống đường Chợ Hàng0,5m gây ngập lụt cho khu vực Đình Đông, Bốt Tròn

- Dự án thoát nước đường Trung Lực: hoàn thành từ năm 2010 nhưng chưabàn giao cho công ty TNHH MTV Thoát nước quản lý Tuyến cống này do UBNDphường Đằng Lâm tiến hành cải tạo đường Trung Lực và lắp đặt tuyến cống thoátnước D1200 cao hơn cao độ các ngõ đường Trung Lực là 0,5m đã gây ngập lụt chokhu vực các ngõ của đường Trung Lực.[10]

Trang 28

Kết luận chương 1

Hệ thống thoát nước của các nước trên thế giới hầu hết đã được quy hoạchgắn với quy hoạch phát triển tổng thể và đầu tư xây dựng đồng bộ trên ở các thànhphố và đã áp dụng nhiều công nghệ, kỹ thuật hiện đại

Một số nước đã thể hiện rõ nhận thức nước là nguồn tài nguyên vô giá vàhữu hạn, đã nghiên cứu và áp dụng nhiều giải pháp thoát nước bền vững: làm chậmquá trình xả nước ra nguồn tiếp nhận, kết hợp hệ thống thu và tái sử dụng nướchoặc cho thấm vào đất, bổ cập cho nguồn nước ngầm… Hải Phòng là đô thị vùngnhiệt đới nên cần đề ra chiến lược phát triển bền vững, phát triển các ao, hồ dự trữnước, tăng cường khả năng pha loãng và tự làm sạch để điều hoà không khí đồngthời giữ ổn định mực nước ngầm

Hiện nay, ở Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng, quy hoạch thoátnước và VSMT thường chưa được lồng nghép vào quy hoạch phát triển đô thị,chính vì vậy chưa chủ động bố trí quỹ đất cho các dự án đầu tư phát triển hạ tầngnói chung và đầu tư xây dựng hệ thống thoát nước nói riêng

Trong thời gian gần đây, hệ thống thoát nước Hải Phòng đã được quan tâmđầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp và đã mang lại những hiệu quả rõ rệt, nhữngđiểm nóng ngập lụt đã dần được cải thiện Song vẫn còn tồn tại nhiều bất cập,nhiều dự án thực hiện dở dang do khâu giải phóng mặt bằng, chậm vốn, thiếuvốn…dẫn đến chậm tiến độ, gây ngập lụt kéo dài Ngoài ra có rất nhiều dự án dochính quyền địa phương như quận, phường làm chủ đầu tư không tuân thủ đúngqui hoạch, không tuân thủ cốt nền, không đảm bảo các yêu cầu về tiêu chuẩn thoátnước …ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả và năng lực thoát nước của cả hệthống

Những vấn đề trên sẽ được giải quyết trong chương 3 của Luận văn

Trang 29

CHƯƠNG 2 : CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG HỆ

THỐNG THOÁT NƯỚC THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2.1 Những khái niệm về thoát nước và xử lý nước thải

1 Hoạt động thoát nước và xử lý nước thải là các hoạt động về quy hoạch, thiết kế,đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống thoát nước

2 Dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải (gọi tắt là dịch vụ thoát nước) là các hoạtđộng về quản lý, vận hành hệ thống thoát nước nhằm đáp ứng yêu cầu thoát nướcmưa, nước thải và xử lýnước thải theo các quy định của pháp luật

3 Chi phí dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải (gọi tắt là chi phí dịch

vụ thoát nước) là các chi phí để thực hiện các nhiệm vụ thu gom, tiêu thoát nướcmưa và thu gom, xử lý nước thải tại khu vực có dịch vụ thoát nước

4 Giá dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải (gọi tắt là giá dịch vụ thoát nước) làtoàn bộ chi phí sản xuất được tính đúng, tính đủ và mức lợi nhuận hợp lý cho mộtmét khối nước thải (1m3) để thực hiện các nhiệm vụ thoát nước và xử lý nước thải

5 Đơn vị thoát nước là tổ chức cung ứng dịch vụ quản lý, vận hành hệthống thoát nước theo hợp đồng quản lý vận hành

6 Hộ thoát nước là các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong nước, nước ngoài sinhsống và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam xả nước thải vào hệ thống thoát nước

7 Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạtđộng của con người xả vào hệ thốngthoátnước hoặc ra môi trường

8 Nước thải sinh hoạt là nước thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người như

ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân

9 Nước thải khác là nước đã qua sử dụng mà không phải là nước thải sinh hoạt

10 Hệ thốngthoátnước gồm mạng lướithoátnước (đường ống, cống, kênh,mương, hồ điều hòa ), các trạm bơmthoátnước mưa, nước thải, các công trình xử

lý nước thải và các công trình phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom, chuyển tải,

Trang 30

tiêuthoátnước mưa, nước thải, chống ngập úng và xử lý nước thải.Hệthốngthoátnước được chia làm các loại sau đây:

- Hệ thốngthoátnước chung là hệ thống trong đó nước thải, nước mưa đượcthu gom trong cùng một hệ thống;

- Hệ thốngthoátnước riêng là hệ thốngthoátnước mưa và nước thải riêngbiệt;

- Hệ thốngthoátnước nửa riêng là hệ thốngthoátnước chung có tuyến cốngbao để tách nước thải đưa về nhà máy xử lý

11 Hệ thốngthoátnước mưa bao gồm mạng lưới cống, kênh mương thu gom vàchuyển tải, hồ điều hòa, các trạm bơm nước mưa, cửa thu, giếng thu nước mưa,cửa xả và các công trình phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom và tiêuthoátnướcmưa

12 Hệ thốngthoátnước thải bao gồm mạng lưới cống, giếng tách dòng, đường ốngthu gom và chuyển tải nước thải, trạm bơm nước thải, nhà máy xử lý nước thải,cửa xả, và các công trình phụ trợ khác nhằm mục đích thu gom, tiêuthoátvà xử

lý nước thải

13 Cống bao là tuyến cống chuyển tải nước thải từ các giếng tách nước thải để thugom toàn bộ nước thải khi không có mưa và một phần nước thải đã được hòa trộnkhi có mưa trong hệ thống thoátnước chung từ các lưu vực khác nhau và chuyểntải đến trạm bơm hoặc nhà máy xử lý nước thải

14 Hồ điều hòa là các hồ tự nhiên hoặc nhân tạo có chức năng tiếp nhận nước mưa

và điều hòa tiêuthoátnước cho hệ thốngthoátnước

15 Điểm đấu nối là các điểm xả nước của các hộthoátnước vào hệthốngthoátnước

16 Điểm xả là nơi xả nước từ hệ thốngthoátnước ra nguồn tiếp nhận

17 Lưu vựcthoátnước là một khu vực nhất định mà nước mưa hoặc nước thảiđược thu gom vào mạng lướithoátnước chuyển tải về nhà máy xử lý nước thảihoặc xả ra nguồn tiếp nhận

Trang 31

18 Nguồn tiếp nhận là các nguồn nước chảy thường xuyên hoặc định kỳ như sôngsuối, kênh rạch, ao hồ, đầm phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất.

19 Quy hoạch chuyên ngành thoát nước và xử lý nước thải (gọi tắt là quy hoạch thoát nước) là việc xác định các lưu vực thoát nước (nước mưa, nướcthải), phân vùng thoát nước thải; dự báo tổng lượng nước mưa, nước thải; xác địnhnguồn tiếp nhận; xác định vị trí, quy mô của mạng lưới thoát nước, các công trìnhđầu mối thoát nước và xử lý nước thải (như trạm bơm, nhà máy xử lý nước thải,cửa xả)

20 COD (Viết tắt của cụm từ Chemical Oxygen Demand) là lượng oxy cần thiết

để oxy hóa các hợp chất hóa học trong nước bao gồm cả vô cơ và hữu cơ

21 Bùn thải là bùn hữu cơ hoặc vô cơ được nạo vét, thu gom từ các bể tự hoại,mạng lưới thu gom và chuyển tải, hồ điều hòa, kênh mương, cửa thu, giếng thunước mưa, trạm bơm nước mưa, nước thải, cửa xả và nhà máy xử lý nước thải.[4]

2.2 Vấn đề về quản lý hệ thống thoát nước

Trong quan niệm truyền thống của chính quyền đô thị, hệ thống thoát nước đôthị bao gồm các tuyến cống rãnh, ao hồ và kênh mương mà việc quản lý tương đốiđơn giản, không cần nhiều kiến thức kỹ thuật Thế nhưng ngày nay khi diện tích đôthị ngày càng lớn, tỷ lệ bao phủ dịch vụ ngày càng tăng, nhu cầu tiếp cận dịch vụcủa người nghèo cần được đáp ứng, yêu cầu bảo vệ môi trường ngày càng chặt chẽ,nhiều công nghệ phức tạp hơn được áp dụng, chi phí ngân sách cho thoát nướcngày càng cao, thì cách quản lý truyền thống theo phương thức quản trị tài sản củachính quyền đô thị đối với lĩnh vực thoát nước không còn thích hợp nữa, cần đượcđổi mới và chuyển sang phương thức cung ứng dịch vụ thoát nước dựa trên cácnguyên tắc thương mại

Quản lý thoát nước theo phương thức quản trị tài sản:

Hệ thống thoát nước đô thị Việt Nam hình thành từ thời kỳ thuộc địa, bị chiếntranh phá hoại nhiều, và được khôi phục lại sau khi cả nước tái thống nhất năm

1975, nhưng chỉ mới phát triển đáng kể trong 2 thập kỷ vừa qua, khi đất nước

Trang 32

chuyển sang nền kinh tế thị trường Đặc điểm của hệ thống này là thoát nước tậptrung toàn đô thị, dùng đường cống chung cho cả nước mưa và nước thải, và dodoanh nghiệp nhà nước quản lý Nước thải sinh hoạt phần lớn được lắng lọc sơ bộtại các bể xí tự hoại rồi xả thẳng không qua xử lý vào nơi tiếp nhận (sông suối, hồ,biển).

Phương thức quản lý thoát nước đô thị vẫn không khác biệt nhiều kể từ thờithuộc địa Sự thay đổi lớn nhất là bộ máy quản lý chuyển từ đơn vị sự nghiệp thànhdoanh nghiệp Tại các thành phố lớn, doanh nghiệp thoát nước do UBND Tỉnhthành lập và trực thuộc Sở Xây dựng Tỉnh, còn các đô thị khác thì do UBND Thị

xã thành lập và quản lý Tỷ lệ các hộ đấu nối vào hệ thống còn thấp, chỉ khoảng60~70% Chi phí đấu nối do người sử dụng dịch vụ chi trả Dịch vụ thoát nước đôthị được cung ứng miễn phí, trừ thoát nước công nghiệp Chỉ từ năm 2004 mới bắtđầu thu phí nước thải sinh hoạt nhưng với mức phí rất thấp Dịch vụ hút bùn các bể

xí tự hoại phải trả tiền và phần lớn do khu vực tư nhân cung ứng

Quản lý hệ thống thoát nước đô thị ngày nay có nội dung bao quát từ quyhoạch phát triển, đầu tư, thiết kế, xây dựng đến làm sạch đường cống, quét dọn cácrãnh nước mưa, nạo vét kênh mương, sửa chữa định kỳ và không định kỳ Hầu hếtchi phí cho quản lý thoát nước đều do ngân sách tỉnh hoặc ngân sách đô thị cấp.Mục tiêu quản lý chủ yếu nhằm bảo đảm tuổi thọ thiết kế của công trình và duy trìtrạng thái thông suốt không bị tắc nghẽn của các tuyến đường cống và các kênhmương Phương thức quản lý này đã bộc lộ những nhược điểm như sau:

- Do không thu phí nước thải sinh hoạt trực tiếp từ người sử dụng dịch vụ nênkhông ý thức hết được trách nhiệm của họ, nên cũng không quan tâm đến sự vậnhành của hệ thống thoát nước và bảo vệ giữ gìn nó, ngoại trừ khi xảy ra lụt lội lúc

có mưa to hay khi các nơi tiếp nhận nước thải (kênh mương, hồ, sông suối, dảinước ven bờ biển) và tầng nước ngầm bị ô nhiễm

- Vì nguồn thu từ phí nước thải không đáng kể nên việc vận hành hệ thốngthoát nước chủ yếu phải dựa vào nguồn vốn ngân sách địa phương, song ngân sáchđịa phương lại luôn thiếu hụt vì chỉ riêng trong lĩnh vực dịch vụ hạ tầng thôi thì

Trang 33

còn phải trợ cấp cho cấp nước và giao thông công cộng do phí các dịch vụ nàycũng rất thấp, ngoài ra phải chi cho các loại hình dich vụ công cộng không thu phí,như hè đường, chiếu sáng công cộng, công viên cây xanh v.v Do không đủ kinhphí vận hành và bảo trì không được thực hiện đúng quy trình nên hệ thống thoátnước bị xuống cấp nhanh chóng.

- Các khu vực đô thị chưa phát triển thường có đường xá quanh co chật hẹp, không có hệ thống thoát nước, nên nước mưa và nước thải xả thẳng vào ao hồ vàkênh mương lân cận Chính quyền đô thị có xu hướng xóa bỏ các khu “ổ chuột” đểthay thế bằng khu đô thị hiện đại, nhưng trong khi chưa có dự án tái phát triển thìcông ty thoát nước lại không quan tâm đến các khu vực này vì ở đó chưa có hệthống thoát nước để quản lý Mấy năm gần đây, nhiều thành phố, thị xã với sự tàitrợ của Ngân hàng Thế giới đã thực hiện chương trình nâng cấp đô thị bằng cáchkhuyến khích các hộ dân hiến đất để nắn thẳng và mở rộng đường cho xe cứu hỏa

có thể đi vào, đặt đèn đường và xây dựng hệ thống hạ tầng và cống rãnh thoát nướchai bên đường Chương trình rất thành công nhưng kinh nghiệm của nó lại chưađược nhân rộng cũng vì thiếu tiền

- Do đô thị phát triển nhanh, lượng nước thải cũng tăng nhanh nhưng xả thẳngvào nơi tiếp nhận mà không qua xử lý, nên không những môi trường nước của đôthị sở tại mà cả khu vực hạ lưu sông cũng bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng

- Hệ thống thoát nước thường phát triển chậm hơn hệ thống cấp nước và cấpđiện, tỷ lệ bao phủ dịch vụ cũng thấp hơn nhiều Nguyên nhân là do chính quyền

đô thị và cả người dân cho rằng thoát nước còn có thể đợi nhưng cấp điện và cấpnước thì không, mà quên mất rằng sự phát triển lệch pha của hệ thống hạ tầng sẽgây tốn kém hơn nhiều khi phát triển đồng bộ

Phương thức quản lý hệ thống thoát nước đô thị hiện hành ở nước ta có thể gọi

là “quản trị tài sản” vì lấy tài sản thực, tức là cơ sở vật chất của hệ thống thoátnước, làm đối tượng quản lý, tiến hành đăng ký tài sản, khai thác và bảo trì tài sảntheo các tiêu chuẩn kỹ thuật, thu thập thông tin, chỉ có hiệu quả trong phạm vi kinhphí được cấp, và đạt được các chỉ tiêu phục vụ được giao Phương thức quản lý đó

Trang 34

rõ ràng đã trở nên lạc hậu, không phù hợp với tư duy phát triển đô thị hiện đại coitrọng tính bền vững và công bằng xã hội, gây trở ngại cho sự phát triển thoát nước

đô thị nước ta trong tương lai theo các xu hướng tiên tiến trên thế giới

Các quan niệm và xu hướng mới trong quản lý nước thải đô thị:

- Nước tự nhiên là hữu hạn và dễ hư tổn

- Quản lý và phát triển nước phải dựa trên cách tiếp cận tham dự của cộngđồng

- Nước có giá trị kinh tế và phải được xem như hàng hóa

Nhiều cách tiếp cận đổi mới trong quản lý nước thải đô thị đã được hình thànhdựa trên các nguyên tắc sau:

- Coi trọng phẩm giá con người, chất lượng cuộc sống và an toàn môitrường

- Nhạy bén đối với nhu cầu tại địa phương, quản lý nước thải theo nhu cầu

- Khi ra quyết định, phải thu hút sự tham dự của mọi bên hữu quan nhất làngười tiêu dùng và bên cung ứng dịch vụ

- Nước thải cũng phải được coi là tài nguyên và được quản lý từ nguồn Hạnchế việc dùng nước để vận chuyển chất thải Hết sức tái sử dụng nước thải.Trên cơ sở các quan niệm kể trên, hiện nay đang hình thành ba xu hướng quốc

tế mới trong quản lý nước thải đô thị là:

1) Quản lý nước thải phân tán

2) Tái sử dụng nước thải

3) Trở lại áp dụng hệ thống thoát nước mưa và nước thải hỗn hợp

Trừ xu hướng sau cùng, việc phát triển thoát nước đô thị theo hai xu hướngtrước đòi hỏi phải thay đổi khuôn khổ thể chế hiện hành

Chuyển quản lý thoát nước sang phương thức cung ứng dịch vụ:

Trong khi phương thức quản trị tài sản đặt trọng tâm vào các hoạt động xâydựng, vận hành và bảo trì cơ sở vật chất của hệ thống thoát nước thì phương thức

Trang 35

cung ứng dịch vụ lại quan tâm đến việc quản lý hệ thống thoát nước theo cácnguyên tắc thương mại với bốn đặc trưng cơ bản như sau:

- Có mục tiêu rõ ràng và nhất quán tập trung vào cung ứng dịch vụ

- Quan tâm đến tuổi thọ thực tế của công trình, bao gồm tuổi thọ kinh tế,được giới hạn bởi hiệu quả kinh tế khi vận hành, và tuổi thọ dịch vụ kéo dàiđến khi vận hành khai thác không còn đạt được các chỉ tiêu kỹ thuật

- Quản lý tự chủ với trách nhiệm giải trình về kết quả

2) Có chính sách định giá dịch vụ đảm bảo độc lập tài chính cho doanh nghiệp.3) Chính quyền đô thị ký hợp đồng đặt hàng cung ứng dịch vụ với doanhnghiệp

Các thách thức nói trên thực ra gắn chặt với nhau: có định giá dịch vụ đúng thìmới có điều kiện ký kết hợp đồng cung ứng dịch vụ, mà có ký được hợp đồng nàythì doanh nghiệp mới có thể hoạt động theo nguyên tắc thương mại Như vậy khâukhởi đầu và then chốt là định giá dịch vụ

Giá dịch vụ bao gồm hai phần chính: Phần A cho khấu hao cơ bản để thu hồivốn đầu tư, và phần B cho chi phí vận hành và bảo trì hệ thống cộng với lợi nhuậnđịnh mức Trên nguyên tắc thì người tiêu dùng phải chi trả đầy đủ cho bên cungứng dịch vụ cả hai phần A và B như tại phần lớn các nước phát triển, thế nhưngviệc áp dụng nguyên tắc đó tại các nước đang phát triển như Việt Nam thì rất khóthực hiện vì phải xét đến khả năng chi trả (ability to pay) và nguyện vọng chi trả(willingness to pay) rất thấp của người tiêu dùng sử dụng dịch vụ Xu hướng chung

Trang 36

hiện nay là người tiêu dùng chỉ trả phần B còn ngân sách đô thị gánh chịu toàn bộphần A.

Người tiêu dùng chi trả phí dịch vụ thoát nước theo nguyên tắc “người gây ônhiễm chi trả” (polluter pays principle), còn người tiêu dùng nước thải đã qua xử lýthì chi trả theo nguyên tắc “người hưởng lợi chi trả” (beneficiary pays principle).Doanh nghiệp tự hạch toán kinh doanh phần thu này

Do có quan hệ trực tiếp với người tiêu dùng nên quản lý thoát nước đô thị theophương thức cung ứng dịch vụ nên sẽ nhạy bén với nhu cầu của họ, lại thuận lợicho việc tổ chức thoát nước phân tán tại những khu đô thị mới ở rải rác ven nội đô

và quan tâm xử lý nước thải cũng như tồn trữ nước mưa để tái sử dụng

Quản lý theo phương thức cung ứng dịch vụ mở đường cho việc áp dụng Hợptác Nhà nước - tư nhân PPP trong ngành thoát nước đô thị Căn cứ vào Hợp đồngPPP Nguồn tài chính để chính quyền chi trợ cấp phần A cho người tiêu dùng lấy

từ ngân sách địa phương và có thể một phần cả từ nguồn trợ cấp của Chính phủ.Hàn Quốc từ năm 1992 thực hiện Chương trình trợ cấp địa phương, dùng nguồnthu thuế đồ uống (liquor tax) để tài trợ cho một số loại dự án đầu tư hạ tầng của địaphương, trong có dự án xử lý nước thải đô thị Đó là kinh nghiệm hay cho nước tatham khảo

Có thể nói Việt nam đã vượt qua ngưỡng nước nghèo và trở thành nước có thunhập trung bình thấp Để đáp ứng nhu cầu phát triển thoát nước đô thị trong quátrình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh, các nhà hoạch định chính sách tập trungmọi cố gắng vào tìm nguồn vốn cho đầu tư phát triển công trình đường cống và cáctrạm xử lý nước thải rất tốn kém, nhưng chưa chú ý đúng mức đến cải cách thể chếquản lý hệ thống nước thải

Hiện nay nước ta đang thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

2011-2020 theo hướng vừa mở rộng quy mô của nền kinh tế vừa chú trọng nâng cao chấtlượng, hiệu quả và tính bền vững, xem xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng quốc gia

và các đô thị là một trong các đột phá lớn Quản lý nước thải đô thị đang ở vào thờiđiểm cấp bách, một bộ phận quan trọng cư dân đô thị vẫn chưa tiếp cận được dịch

Trang 37

vụ thoát nước trong khi sự tăng trưởng dân số, đô thị hóa và công nghiệp hóa đangtiếp tục gây ô nhiễm nguồn nước Trong bối cảnh đó, phương thức quản lý nướcthải phải thay đổi để đáp ứng sự phát triển bền vững của đô thị, chuyển từ quản lýtài sản sang cung ứng dịch vụ Muốn như vậy, cần tạo được sự đồng thuận giữaChính phủ, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và ngườitiêu dùng.[10]

Cũng như nhiều đô thị khác ở Việt Nam việc quản lý hệ thống thoát nước đôthị do Công ty TNHH MTV Thoát nước – là doanh nghiệp Tuy đã thực hiện việcthu phí thoát nước thải đô thị, tiến hành tổ chức hút bùn các bể xí tự hoại miễn phí

ở một số phường trên địa bàn thành phố Tuy nhiên Công ty vẫn chưa doanhnghiệp hóa triệt để tổ chức sự nghiệp, vẫn mang tính chất quản trị tài sản vì vậy màvẫn bộc lộ những yếu kém, chưa thực sự mang lại hiệu quả hoạt động hệ thốngthoát nước của thành phố: tình trạng ngập lụt trong khi mưa và sau mưa vẫn xảy ratại nhiều khu vực trên thành phố, mạng lưới thoát nước nhiều nơi xuống cấp, tìnhtrạng ô nhiễm môi trường sông, hồ, kênh, mương vẫn chưa được giải quyết triệtđể…

2.3 Vấn đề về nguồn nhân lực

2.3.1 Những nhận thức chung về nguồn nhân lực

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triểnkinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người …Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chấtquyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đếnnay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiệnđại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác cácnguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong côngcuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, conngười Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá,

Trang 38

giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quantrọng nhất - nguồn năng lực nội sinh.

Vậy nguồn nhân lực là gì?

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực Theo Liên HợpQuốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, nănglực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân vàcủa đất nước”

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người baogồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân Như vậy, ở đâynguồn lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chấtkhác: vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên

Theo tổ chức lao động quốc tế thì: nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn

bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực

là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con ngườicho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triểnbình thường Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, lànguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổilao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cánhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trílực của họ được huy động vào quá trình lao động

Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độtuổi quy định có khả năng tham gia lao động nguồn nhân lực được biểu hiện trênhai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việctheo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; vềchất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghềcủa người lao động Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi lao độngquy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm Nguồn lao

Trang 39

động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng Như vậy theo khái niệmnày, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải là nguồn laođộng, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực tìm kiếm việclàm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những người trong độ tuổilao động quy định nhưng đang đi học…

Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thểhiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượnglao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệmlao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra củacải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước

Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một ''tài nguyên đặc biệt'',một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, pháttriển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống pháttriển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắnnhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu

tư có tinh chiến lược, là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững

Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiềucách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực Theo quan niệm củaLiên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụngtiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chấtlượng cuộc sống nguồn nhân lực

Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho conngười, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghềnghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩmchất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sựphát triển kinh tế - xã hội

Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lựccủa con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng,

Ngày đăng: 08/03/2018, 10:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Nguồn: http://www.baomoi.com/He-thong-cong-khong-lo-duoi-long-Tokyo/c/16776481.epi Link
1. Luật Xây Dựng số 16/2003/QH11 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 26 tháng 11 năm 2003 Khác
2. Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 23 tháng 6 năm 2014 Khác
3. Nghị định số 88/2007/NĐ- CP ngày 28/5/2007 của Chính Phủ về Thoát nước đô thị và khu công nghiệp Khác
4. Nghị định số 80/2014/NĐ- CP ngày 06/8/2014 của Chính Phủ về Thoát nước và xử lý nước thải Khác
5. Bộ Xây dựng (2002), Yêu cầu chung về môi trường đối với các trạm xử lý nước thải tập trung - TCVN 7222 : 2002 Khác
6. Bộ Xây dựng (2008), Thoát nước – Mạng lưới và công trình bên ngoài - Tiêu chuẩn thiết kế - TCXDVN 51 : 2008 Khác
7. Bộ Tài nguyên Môi trường (2008), Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về Chất lượng nước mặt - QCVN 08 : 2008/BTNMT Khác
8. Bộ Tài nguyên Môi trường (2008), Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về Nước thải sinh hoạt - QCVN 14 : 2008/BTNMT Khác
9. Bộ Tài nguyên Môi trường (2009), Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về Nước thải công nghiệp - QCVN 24 : 2009/BTNMT Khác
10. Công ty TNHH MTV thoát nước Hải Phòng (2012), Báo cáo tổng thể hệ thống thoát nước Hải Phòng Khác
11. PGS,TS Đức Vượng (2012), Thực trạng và giải pháp về phát triển nhân lực Việt Nam Khác
12. Nguồn: vietnamese.vietnam.usembassy.gov13. Nguồn: www.bmu.de Khác
16. Nguồn: www.nationmultimedia.com 17. Nguồn: www.doko.vn Khác
20. VIWESE (2005), Quy hoạch tổng thể hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và quản lý chất thải rắn đô thị Hải Phòng giai đoạn đến năm 2020 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Hệ thống thoát nước được xây dựng dưới một sân bóng đá và công viên ở ngoại ô Tokyo; được khởi công năm 1992, hoàn thành năm 2009 - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
Hình 1.2. Hệ thống thoát nước được xây dựng dưới một sân bóng đá và công viên ở ngoại ô Tokyo; được khởi công năm 1992, hoàn thành năm 2009 (Trang 6)
Hình 1.3. Sơ đồ hoạt động của hệ thống cống ngầm Tokyo - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
Hình 1.3. Sơ đồ hoạt động của hệ thống cống ngầm Tokyo (Trang 7)
BẢNG 1.3. LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA CÁC NHÀ MÁY, XÍ NGHIỆP - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
BẢNG 1.3. LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA CÁC NHÀ MÁY, XÍ NGHIỆP (Trang 21)
BẢNG 1.4. CÔNG TÁC THU GOM CHẤT THẢI BỂ PHỐT CỦA SADCO - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
BẢNG 1.4. CÔNG TÁC THU GOM CHẤT THẢI BỂ PHỐT CỦA SADCO (Trang 23)
Hình 2.1: Thi công dự án thoát nước mặt - nước thải trên đường Lán Bè - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
Hình 2.1 Thi công dự án thoát nước mặt - nước thải trên đường Lán Bè (Trang 49)
Hình 2.2: Chiến dịch nạo vét các ga hàm ếch trên địa bàn thành phố - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
Hình 2.2 Chiến dịch nạo vét các ga hàm ếch trên địa bàn thành phố (Trang 50)
Hình 2.3: Công nhân Công ty TNHH MTV thoát nước Hải Phòng vớt rác mương - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
Hình 2.3 Công nhân Công ty TNHH MTV thoát nước Hải Phòng vớt rác mương (Trang 50)
Hình 2.4: Công ty TNHH MTV thoát nước Hải Phòng thực hiện hút bùn nhiều - Khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu các vấn đề về hiện trạng
Hình 2.4 Công ty TNHH MTV thoát nước Hải Phòng thực hiện hút bùn nhiều (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w