1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Pháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (Luận văn thạc sĩ)

116 226 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên HuếPháp luật về quản lý công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Trang 1

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HỒNG NHẬT

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC CẤP XÃ

TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHONG ĐIỀN,

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích dẫn nguồn rõ ràng Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

Huế, tháng năm 2017

Học viên

Nguyễn Hồng Nhật

Trang 3

Lời Câm Ơn

Với lòng kính trọng và sự tri ån såu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời câm ơn chån thành đến quý Thæy, Cô Học viện Hành chính Quốc gia đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin chån thành câm ơn TS Træn Thị Diệu Oanh hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc định hướng chọn đề tài cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu, thæy luôn động viên và täo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin câm ơn các bän bè, đồng nghiệp đã luôn quan tåm giúp đỡ, cung cçp rçt nhiều số liệu, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế

để giúp tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này

Trån trọng!

Thừa Thiên Huế, tháng năm 2017

Học viên

Nguyễn Hồng Nhật

Trang 4

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về quản lý công chức cấp xã 9

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vị trí vai trò công chức cấp xã 9

1.1.2 Khái niệm pháp luật về quản lý công chức cấp xã 12

1.1.3 Đặc điểm pháp luật về quản lý công chức cấp xã 14

1.2 Nội dung và vai trò pháp luật về quản lý công chức cấp xã 15

1.2.1 Nội dung pháp luật về quản lý công chức cấp xã 15

1.2.2 Vai trò pháp luật về quản lý công chức cấp xã 17

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã 20

1.3.1 Chế độ chính trị 20

1.3.2 Kinh tế - xã hội 21

1.3.3 Yếu tố con người 22

1.3.4 Truyền thống, văn hóa, phong tục và tập quán 22

1.3.5 Hội nhập khu vực và quốc tế 23

1.4 Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật về quản lý công chức cấp xã 25 1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1998 25

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1998 đến trước năm 2008 28

1.4.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay 30

Tiểu kết chương 1 34

Trang 5

PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 35

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 35

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội 35

2.1.2 Những ảnh hưởng của đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 37

2.2 Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 41

2.3 Tình hình pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 48

2.3.1 Pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 48

2.3.2 Pháp luật về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 55

2.3.3 Pháp luật về chính sách đối với công chức cấp xã 60

2.4 Đánh giá chung pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 67

2.4.1 Ưu điểm 67

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 69

Tiểu kết chương 2 71

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 72

3.1 Quan điểm hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã 72

Trang 6

3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã phải dựa trên

năng lực của đội ngũ công chức cấp xã 73

3.1.3 Hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã phải đảm bảo thống nhất, đồng bộ, hợp hiến, hợp pháp và có tính ổn định tương đối 74 3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã phải thường xuyên rà soát để phát hiện những bất cập nhằm sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công chức cấp xã 75

3.1.5 Hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã phải căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương 76

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã - từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 78

3.2.1 Nhóm giải pháp chung 78

3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể để thực hiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế 87

Tiểu kết chương 3 97

KẾT LUẬN 98

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã quy định xã, phường, thị trấn là đơn vị hành chính cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính 4 cấp ở nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cấp xã là gần gũi nhân dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” Cấp xã ổn định thì an ninh, chính trị, xã hội của đất nước ổn định

Cấp xã là nơi nhân dân cư trú, sinh sống; chính quyền cấp xã, Mặt trận

Tổ quốc và các tổ chức Đoàn thể chính trị - xã hội là cầu nối trực tiếp toàn bộ

hệ thống chính trị với dân, là nơi tổ chức vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tăng cường đại đoàn kết toàn dân, khai thác mọi tiềm năng ở địa phương để phát triển kinh tế-xã hội,

tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư

Để hệ thống chính trị ở cấp xã hoạt động có hiệu quả, yếu tố quan trọng

và quyết định là phải có đội ngũ công chức cấp xã có phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn đáp ứng tốt được yêu cầu thực thi công vụ Công chức cấp xã là những người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân và là người trực tiếp tổ chức

để nhân dân thực hiện Trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, các công chức cấp xã có vai trò rất quan trọng Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Công chức cấp xã có trách nhiệm tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác được phân công

Một trong những yếu tố quan trọng trong công tác quản lý công chức cấp xã là pháp luật về quản lý công chức Hệ thống văn bản pháp luật do các

Trang 8

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành đã tạo nên một khuôn khổ pháp luật hoàn chỉnh làm căn cứ cho các cơ quan chức năng và đội ngũ công chức thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong quá trình thực thi công vụ

Trong những năm qua, cùng với việc Nhà nước hoàn thiện pháp luật cán bộ, công chức, thì các quy định pháp luật quản lý công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng cũng đã được sửa đổi, bổ sung, thể hiện trong các văn bản do Quốc hội, Chính phủ, các Bộ ban hành Trong từng giai đoạn, các văn bản quy phạm pháp luật liên tục được sửa đổi, bổ sung đã góp phần hoàn thiện từng bước hệ thống pháp luật về quản lý công chức cấp xã theo tinh thần đổi mới mạnh mẽ của chương trình cải cách hành chính Nhiều văn bản mang tính bản lề quan trọng đã được tập trung xây dựng và hoàn thiện, tạo tiền đề hết sức quan trọng và đồng bộ để có thể có một cơ chế quản lý công chức cấp

xã phù hợp Tuy nhiên, nhìn chung pháp luật về quản lý công chức cấp xã vẫn còn nhiều bất cập chưa tương xứng với vị trí, vai trò của công chức cấp xã, chưa tạo môi trường và động lực thúc đẩy đội ngũ công chức cấp xã đem hết tài năng để phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước

Do vậy, nhận biết được những vấn đề lý luận và thực trạng của pháp luật về quản lý công chức cấp xã là yếu tố cơ bản có tính quyết định góp phần đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc tăng cường pháp luật về quản lý công chức cấp xã nhằm đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nước Đặc biệt, khi gắn với một thực tiễn địa phương cụ thể sẽ góp phần làm sáng tỏ nền tảng lý luận cũng như đáp ứng yêu cầu thực tiễn của cuộc sống khi đưa ra những giải pháp thiết thực

Với huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, mặc dù số lượng công chức cấp xã đã tương đối ổn định nhưng cơ cấu ngạch công chức chưa được xác định hợp lý, cơ cấu công chức giữa các lĩnh vực chưa cân đối Trình độ

Trang 9

chuyên môn của một số công chức đã đạt tiêu chuẩn theo ngạch, bậc nhưng năng lực thực tế lại chưa đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của công việc Công chức phần lớn chưa được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, năng lực cụ thể hoá và tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ chưa đáp ứng yêu cầu, chưa ngang tầm nhiệm vụ được giao Trình độ, năng lực của đội ngũ công chức cấp

xã còn nhiều bất cập, nhất là ở các xã vùng khó khăn Một số khâu trong quản

lý công chức cấp xã chưa có sự thống nhất, quy trình quản lý chưa khép kín

Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài "Pháp luật về quản lý công

chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế" làm

đề tài luận văn chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật hành chính với mong muốn nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã vừa có ý nghĩa

lý luận, vừa có tính thực tiễn góp phần sớm đưa huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế phát triển nhanh và bền vững, sớm đạt chuẩn nông thôn mới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Pháp luật về quản lý

công chức cấp xã – Từ thực tiễn huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế”

Trong những năm qua có khá nhiều các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài báo, luận văn, sách chuyên khảo… đã được công bố liên quan đến đề tài nghiên cứu của luận văn, cụ thể:

- Trần Anh Tuấn (2007), Hoàn thiện thể chế quản lý công chức ở Việt Nam trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế; Luận án Tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân;

- Tạ Đức Hòa (2015), Pháp luật về công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay; Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội;

- Ngô Chí Tuệ (2015), Thể chế quản lý công chức cấp xã – từ thực tiễn huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; Luận văn Thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia;

Trang 10

- TS Vũ Đức Đán với bài "Vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ

chính quyền cơ sở" đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5, 2002;

- TS Nguyễn Hữu Đức với bài "Từ đặc điểm, tính chất đội ngũ cán bộ,

công chức cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách phù hợp" đăng trên Tạp chí Tổ

chức nhà nước, số 8, 2003;

- TS Lê Chi Mai với bài "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở -

vấn đề và giải pháp" đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 20, 2002;

- Nhà xuất bản tư pháp năm 2004: “Công vụ, công chức nhà nước” của PGS.TS Phạm Hồng Thái;

- "Hoàn thiện thể chế công vụ và công chức trong giai đoạn hiện nay"

của ThS Trần Quốc Hải, đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 8, 2004;

- "Quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công chức và thể chế

quản lý công chức ở nước ta từ 1945 đến nay" của TS Nguyễn Minh Phương,

đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 8, 2004;

- Cổng thông tin điện tử Tạp chí tổ chức nhà nước: “Xây dựng thể chế

công vụ hiện đại và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam - tầm nhìn 2035” của TS Thang Văn Phúc – nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ;

năm 2015;

- http://tcdcpl.moj.gov.vn/ Ths Trần Thị Mai – UBND phường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội: Địa vị pháp lý của công chức tư pháp – hộ tịch cấp xã trong quản lý nhà nước về công tác tư pháp của Ủy ban nhân dân cấp

xã giai đoạn hiện nay;

- http://tcnn.vn/ Ths Vũ Thúy Hiền – Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ, công chức, Bộ Nội vụ “Xác định năng lực của công chức cấp xã trong thực thi công vụ”, ngày 29/3/2016;

Trang 11

- http://www.tapchicongsan.org.vn/ ThS Trần Thị Hạnh - Trường Đại

học Nội vụ - Bộ Nội vụ “Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã từ sau

Hội nghị Trung ương 5 khóa IX và một số kiến nghị”;

- http://moj.gov.vn/ TS Nguyễn Văn Cương – Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp “Quan niệm pháp luật và hệ thống pháp luật ở phương Tây”;

- http://truongchinhtri.angiang.gov.vn/ Trần Kim Hoàng – Khoa Nhà nước và Pháp luật;

- Tài liệu bồi dưỡng thi nâng ngạch chuyên viên cao cấp khối Đảng, đoàn thể năm 2011: “chế độ công vụ và quản lý cán bộ, công chức”

Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, các bài báo, luận án, sách chuyên khảo trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng của pháp luật về quản lý công chức cấp xã hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ cơ sở lý luận pháp luật về quản lý công chức cấp xã nói chung từ đó đánh giá được thực trạng pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

để đưa ra các quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về quản lý công chức cấp xã theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam như khái

Trang 12

niệm, đặc điểm, nội dung, các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã

- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về quản lý công chức cấp xã

ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay, từ đó chỉ ra những kết quả, hạn chế và phân tích những nguyên nhân của kết quả và hạn chế đó

- Đưa ra các quan điểm và giải pháp bảo cỏ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về quản lý công chức cấp

xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế ở hai góc độ: các quy định pháp luật của trung ương ban hành về quản lý công chức cấp xã nói chung và những văn bản áp dụng pháp luật, quy phạm pháp luật của địa phương về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Địa bàn nghiên cứu là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

- Thời gian nghiên cứu trong luận văn được xác định từ 01/01/2014 đến 31/12/2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công chức; quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; pháp luật về quản lý công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng theo yêu cầu xây dựng nhà

Trang 13

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, diễn dịch và phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu Kế thừa có chọn lọc và phát huy kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả khác có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu như: Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu, bài viết đăng trên các tạp chí, cổng thông tin điện tử …

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đây là một công trình nghiên cứu mới ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ có những đóng góp trên cả

phương diện lý luận và thực tiễn như sau:

- Trên cơ sở các luận điểm khoa học, luận văn đã xây dựng khái niệm pháp luật về quản lý công chức cấp xã; chỉ ra đặc điểm, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã; xác định nội dung của pháp luật về quản lý công chức cấp xã trong điều kiện phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay

- Luận văn đánh giá khách quan và chỉ ra những thành tựu, tập trung làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành, cũng như những hạn chế, tồn tại trong thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý công chức cấp xã Từ những hạn chế, bất cập của pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện hành, luận văn

đã chỉ ra và phân tích kỹ các nguyên nhân để làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện

Trang 14

- Đưa ra các quan điểm, kiến nghị phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về pháp luật về quản lý công chức cấp xã, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu nhằm tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật

về quản lý công chức cấp xã nói chung và pháp luật về quản lý công chức cấp

xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã và pháp luật về quản

lý công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế

Chương 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về quản lý

công chức cấp xã ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay

Trang 15

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ

CÔNG CHỨC CẤP XÃ

1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật về quản lý công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vị trí vai trò công chức cấp xã

1.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm công chức cấp xã

Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước

Quan niệm về công chức đã được xác định lần đầu tiên tại Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức Việt Nam Điều 1 Sắc lệnh 76

đã đưa ra định nghĩa về công chức như sau: "Những công dân Việt Nam được

chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định" Đây là lần đầu tiên

ở Việt Nam, khái niệm công chức đã được nêu ra trong văn bản chính thức của nhà nước Theo quy chế này, phạm vi công chức còn rất hẹp, chỉ là những người được tuyển dụng giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ

Trước yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; ngày 13/11/2008, Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực chính thức từ ngày 01/01/2010,

tại Khoản 3 Điều 4 quy định: “… Công chức cấp xã là công dân Việt Nam

được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”

Từ khái niệm trên, có thể nhận diện công chức cấp xã qua các đặc điểm sau đây:

Trang 16

Thứ nhất, công chức cấp xã là công dân Việt Nam, là người trực tiếp

làm việc với người dân Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều do đội ngũ công chức cấp xã phổ biến, triển khai

để nhân dân hiểu rõ và thi hành

Thứ hai, con đường hình thành: được tuyển dụng giữ một chức danh

chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một

số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và người hoạt động không chuyên trách cấp xã

Thứ ba, về tính chất công việc: Hoạt động thực thi công vụ của công

chức cấp xã mang tính đa dạng, phức tạp Công chức cấp xã phải giải quyết tất cả các công việc trong đời sống xã hội ở địa phương, mang tính thường xuyên để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của người dân

Thứ tư, về nguồn trả lương: công chức cấp xã là những người trong

biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.1.2 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã

Trong hệ thống chính quyền ở nước ta thì chính quyền cấp cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ công chức cấp xã Công chức cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân hay không, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ công chức cấp xã

Đội ngũ công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng

và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi hành nhiệm vụ, công vụ Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng

Trang 17

lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cấp xã Có thể nói, đây là vấn

đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân đến nay Công chức nói chung có vai trò rất quan trọng, công chức cấp xã nói riêng có vị trí nền tảng

cơ sở Cấp xã mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ công chức cấp xã

Công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước Không có đội ngũ công chức cấp xã vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực Công chức cấp xã vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi,

bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân

Công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ mang tính tự quản theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hành ngày có tính chất quản lý, tự quản mọi mặt ở địa phương Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm

kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và trực tiếp thực hiện quyền tự quản của mình

Tóm lại, vị trí, vai trò của công chức cấp xã được thể hiện qua các mối quan hệ với đường lối, chính sách và pháp luật; với bộ máy chính quyền; với công việc và với quần chúng nhân dân, cụ thể ở các điểm cơ bản sau:

Trang 18

- Đội ngũ công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước, là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và quần chúng nhân dân

- Đội ngũ công chức cấp xã là lực lượng “nòng cốt” trong quản lý và tổ

chức công việc ở cấp xã Năng lực hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã góp phần tạo nên sức mạnh và hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở

- Công chức cấp xã là những người gần dân nhất, có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật

1.1.2 Khái niệm pháp luật về quản lý công chức cấp xã

Để tìm hiểu quan niệm pháp luật về quản lý công chức cấp xã, trước tiên cần phải làm rõ nội hàm hai thuật ngữ: pháp luật và quản lý công chức

Hiện nay, cách tiếp cận về pháp luật cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Theo TS Nguyễn Văn Cương - Phó Viện trưởng Viện Khoa học pháp

lý, Bộ Tư pháp; năm 2012 “Quan niệm về pháp luật và hệ thống pháp luật ở

phương Tây”, đăng trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp: thì pháp luật

được định nghĩa như sau: “Pháp luật (trong xã hội hiện đại) là một “tập hợp các quy tắc điều chỉnh hành vi của con người được áp dụng chung cho tất cả các thành viên trong một cộng đồng hoặc một xã hội xác định, có nguồn gốc

từ một chính quyền chính đáng và được thực thi bởi các cơ quan của chính quyền này thông qua việc áp dụng các chế tài phạt cho các chủ thể có hành vi

vi phạm”

Theo GS.TS Lê Minh Tâm cho rằng “hệ thống pháp luật là tổng thể

các quy phạm pháp luật có mối liên hệ nội tại thống nhất với nhau được phân định thành các chế định pháp luật và các ngành luật, được thể hiện trong các văn bản do Nhà nước ban hành theo trình tự và hình thức nhất định.”

Trang 19

Theo GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, hệ thống

pháp luật là “tổng thể các quy phạm pháp luật được quy định một cách khách

quan bởi các điều kiện kinh tế-xã hội, được phân chia thành các bộ phận cấu thành khác nhau (các ngành luật, phân ngành luật, chế định pháp luật), phù hợp với đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau”

Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là các quy phạm pháp luật Như vậy, pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công chức cấp xã

Quản lý công chức là sự tác động có tổ chức và bằng pháp luật của nhà

nước đối với đội ngũ công chức vì mục tiêu bảo vệ và phát triển xã hội theo định hướng đã định

Với những khái niệm về pháp luật và quản lý công chức, có thể hiểu:

Pháp luật về quản lý công chức cấp xã là hệ thống các quy phạm pháp luật do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng các văn bản pháp luật

để quy định, hướng dẫn, thực hiện các nội dung quản lý công chức cấp xã một cách thống nhất đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu của nền công vụ quốc gia

Với một khái niệm như vậy, nội hàm của pháp luật về quản lý công chức cấp xã bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định chế độ quản lý công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Như vậy pháp luật về quản lý công chức cấp

xã sẽ được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau do nhiều chủ thể ban hành Bên cạnh việc quy định trong các văn bản như Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức 2008 và các nghị đinh, thông tư, quyết định về quản lý công chức cấp xã, pháp luật về quản lý công chức cấp

xã còn chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác như Luật Lao động điều

Trang 20

chỉnh về tiền lương, thời gian làm việc, Luật Hình sự quy định về xử lý hình

sự khi công chức cấp xã vi phạm pháp luật hình sự, Luật Dân sự… Ngoài ra còn rất nhiều văn bản dưới luật khác có tính chất chuyên ngành điều chỉnh bởi

lẽ đội ngũ công chức cấp xã vừa chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dân cấp xã

về công tác tổ chức, biên chế vừa chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên

1.1.3 Đặc điểm pháp luật về quản lý công chức cấp xã

Pháp luật về quản lý công chức cấp xã là một bộ phận của pháp luật về quản lý cán bộ, công chức Pháp luật về quản lý công chức cấp xã có những đặc điểm riêng do đặc trưng của công chức cấp xã chi phối Pháp luật về quản

lý công chức cấp xã xét về mặt hình thức hay nội dung đều có những đặc điểm sau:

- Pháp luật về quản lý công chức cấp xã là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được qui định trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành trong đó chủ yếu là các quy phạm thuộc ngành Luật hành chính

Pháp luật về quản lý công chức cấp xã được qui định trong các văn bản như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các Nghị định của Chính phủ, Thông tư, Quyết định, Thông tư liên tịch của các Bộ hướng dẫn thi hành và Quyết định của UBND tỉnh Bên cạnh đó công chức cấp xã còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như Lao động, dân sự, hình sự… Ngoài ra theo lĩnh vực chuyên môn, công chức cấp xã còn chịu sự điều chỉnh của những Luật chuyên ngành như công chức Địa chính - xây dựng – đô thị - môi trường chịu sự điều chỉnh của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật xây dựng…, công chức Tài chính - kế toán chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân sách, Luật Kế toán Đặc điểm này của pháp luật về quản lý công chức cấp xã đòi hỏi khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã cần phải phân định rành mạch thẩm quyền, phạm vi của từng chủ thể khi ban hành

Trang 21

các văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời phải tránh mâu thuẫn, đảm bảo tính thống nhất

- Nội dung pháp luật về quản lý công chức cấp xã phải phù hợp với các qui phạm điều chỉnh đối với công chức nói chung, đồng thời có sự điều chỉnh đặc thù riêng cho công chức cấp xã

Đặc điểm này xuất phát từ pháp luật về quản lý công chức cấp xã là một bộ phận của pháp luật về quản lý cán bộ, công chức Mặt khác công chức cấp xã là một bộ phận của đội ngũ công chức nói chung nên phải tuân thủ những qui định chung cho đội ngũ công chức, nhưng do có đặc thù riêng của cấp xã nên cần có sự điều chỉnh riêng cho phù hợp Đặc điểm này cần được nhận thức đầy đủ khi điều chỉnh pháp luật về quản lý công chức cấp xã Pháp luật về quản lý công chức cấp xã chỉ điều chỉnh đối với công chức làm việc ở

cơ quan hành chính cấp xã (Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn)

1.2 Nội dung và vai trò pháp luật về quản lý công chức cấp xã

1.2.1 Nội dung pháp luật về quản lý công chức cấp xã

Theo Điều 45 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm

2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn thì nội dung quản lý công chức cấp xã bao gồm 09 nội dung, cụ thể như sau:

- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công chức cấp xã

- Xây dựng quy hoạch công chức cấp xã

- Quy định tiêu chuẩn, chức danh công chức cấp xã

- Quy định số lượng công chức cấp xã; việc quản lý, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ tập sự, chế độ thôi việc, nghỉ hưu, đánh giá công chức cấp xã, việc phân cấp quản lý công chức cấp xã

- Thực hiện khen thưởng, xử lý vi phạm, chế độ tiền lương và các chế

độ, chính sách đãi ngộ đối với công chức cấp xã

Trang 22

- Thực hiện chế độ báo cáo thống kê về công chức cấp xã

- Thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan, tổ chức và đối với công chức cấp

xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức cấp xã

- Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức cấp xã

- Các công tác khác liên quan đến quản lý công chức cấp xã

Như vậy, căn cứ vào quy định của Nghị định số 112/2011/NĐ-CP của Chính phủ thì nội dung quản lý công chức cấp xã bao gồm 9 nội dung, theo

đó pháp luật về quản lý công chức cấp xã sẽ được ban hành để điều chỉnh bởi các văn bản pháp luật: hướng dẫn ban hành và thực hiện văn bản pháp luật về công chức cấp xã; xây dựng quy hoạch công chức cấp xã; Quy định tiêu chuẩn, chức danh công chức cấp xã; Quy định số lượng công chức cấp xã; việc quản lý, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ tập sự, chế độ thôi việc, nghỉ hưu, đánh giá công chức cấp xã, việc phân cấp quản lý công chức cấp xã; Thực hiện khen thưởng, xử lý vi phạm, chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với công chức cấp xã; Thực hiện chế độ báo cáo thống kê về công chức cấp xã; Thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan, tổ chức và đối với công chức cấp xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức cấp xã; Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức cấp xã; Các công tác khác liên quan đến quản lý công chức cấp xã

Ngoài các quy định có tính nguyên tắc, quy định khung về quản lý công chức sẽ được điều chỉnh bởi Luật Cán bộ, công chức năm 2008; các quy định

cụ thể được quy định trong những văn bản có hiệu lực pháp lý thấp hơn để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật về các nội dung quản lý công chức cấp xã Có thể có một văn bản pháp luật quy định nhiều lĩnh vực về quản lý công chức cấp xã như Nghị định số 112/2011/NĐ-CP quy định về: tiêu chuẩn; tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá; thôi việc và thủ tục nghỉ hưu; xử lý kỷ luật; quản lý công chức cấp xã Hoặc có những văn bản

Trang 23

pháp luật quy định chung đối với cán bộ, công chức không xác định phạm vi điều chỉnh riêng đối với công chức cấp xã (ví dụ lĩnh vực thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, quy tắt ứng xử, văn hóa công sở…) Trong quá trình triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công chức cấp xã, theo thẩm quyền của mình, các bộ, ban, ngành Trung ương hoặc Ủy ban nhân dân các cấp cũng cụ thể hóa thành các văn bản hướng dẫn thực hiện hoặc có những quy định chi tiết, phù hợp hơn với đặc điểm, tình hình của từng cơ quan, đơn vị Từ đó tạo thành hệ thống các văn bản pháp luật về quản lý công chức cấp xã

1.2.2 Vai trò pháp luật về quản lý công chức cấp xã

Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Một trong những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền đó là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trong đó Hiến pháp là tối thượng, các văn bản luật, dưới luật không được trái với Hiến pháp Pháp luật

về quản lý về công chức nói chung và pháp luật về quản lý công chức cấp xã nói riêng giữ một vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Vai trò của pháp luật về quản lý công chức cấp xã có thể đánh giá ở một số khía cạnh như sau:

Thứ nhất, pháp luật về quản lý công chức cấp xã là thể chế hóa các

quan điểm của Đảng về tổ chức bộ máy, quản lý con người, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động chính quyền xã

Vai trò này trước hết cũng xuất phát từ vai trò của pháp luật nói chung

Xét trên phương diện chung nhất, pháp luật là công cụ để cụ thể hóa đường lối chủ trương của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng; là phương tiện để nhà nước quản lý mọi mặt đời sống xã hội; là công

cụ để nhân dân phát huy dân chủ và quyền làm chủ, thực hành quyền và trách

nhiệm của mình

Trang 24

Thứ hai, pháp luật về quản lý công chức cấp xã là phương tiện quan

trọng trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước ở cấp cơ sở

Để bộ máy đó hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình; phải xác lập được một cách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa chúng, phải có những phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo thành một cơ chế đồng

bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước Những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật Thực tế Việt Nam những năm qua cho thấy khi chưa có một

hệ thống pháp luật về quản lý công chức cấp xã đầy đủ, đồng bộ, thống nhât

và chính xác để làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, thì dễ dẫn đến tình trạng trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền của chính quyền cơ sở, bộ máy dễ sinh ra cồng kềnh và kém hiệu quả

Quản lý nhà nước là lĩnh vực phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó có quan hệ quản lý nhân sự - một trong những vấn đề trọng yếu của nền hành chính quốc gia Pháp luật về quản

lý công chức cấp xã với hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau để điều chỉnh các quy định về: tiêu chuẩn; tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá; thôi việc và thủ tục nghỉ hưu; xử

lý kỷ luật; các chế độ chính sách đối với công chức cấp xã

Thứ ba, pháp luật về quản lý công chức cấp xã góp phần thống nhất

việc quản lý công chức cấp xã theo một quy định, quy trình thống nhất từ việc tạo nguồn lực, tuyển dụng, sử dụng, bố trí, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… đến chế độ đãi ngộ phù hợp với trình độ, năng lực của từng công chức cấp xã, đồng thời tạo nên một môi trường tốt nhất cho công chức cấp xã làm việc Từ

đó tạo cơ sở và căn cứ pháp lý có giá trị cao cho công tác quản lý công chức

Trang 25

cấp xã góp phần xây dựng đội ngũ công chức cấp xã có đủ phẩm chất, trình

độ, năng lực, phát huy được tính sáng tạo, năng động của họ đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

Thứ tư, pháp luật về quản lý công chức cấp xã chứa đựng các quy

phạm quan trọng để điều chỉnh các hành vi trong quá trình quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ chính sách… đối với công chức cấp xã Pháp luật về quản lý công chức cấp xã xác định rõ quyền và nghĩa vụ của công chức cấp xã trong từng quan hệ nhất định (ví dụ quan hệ tuyển dụng, quan hệ đào tạo, bồi dưỡng…) Vì thế, pháp luật về quản lý công chức cấp xã

là phương tiện để đội ngũ công chức cấp xã thực thi đúng chức trách, nhiệm

vụ và quyền hạn của mình, góp phần bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời là cơ sở pháp lý để công chức cấp xã tự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình

Tóm lại, pháp luật về quản lý công chức cấp xã là phương tiện quan trọng để đảm bảo hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã, đồng thời bảo đảm quyền lực của Nhà nước Chỉ có pháp luật mới tạo ra được các nguyên tắc khách quan, công bằng, công khai, ngăn chặn được các hành vi sai trái, l ợ i í c h n h ó m Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính, trong

đó có ý thức đạo đức Pháp luật càng chặt chẽ, đầy đủ và được thi hành nghiêm chỉnh thì đạo đức càng được đề cao, đồng thời khả năng điều chỉnh và giáo dục của đạo đức càng được mở rộng và ảnh hưởng một cách toàn diện, tích cực đến mọi hành vi, mọi mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng

Trang 26

đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch

sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội Có thể nói, việc xây dựng pháp luật về quản lý công chức nói chung và công chức cấp xã nói riêng chưa đáp yêu cầu trong giai đoạn mới, do đó các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý công chức cấp xã nhằm xây dựng được đội ngũ công chức cấp xã "vừa hồng, vừa chuyên", đảm bảo yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hội nhập khu vực và quốc tế

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã

1.3.1 Chế độ chính trị

Về lý luận, pháp luật và chính trị đều là những hình thái ý thức xã hội

có mối quan hệ với nhau Pháp luật là công cụ điều chỉnh xã hội phải phản ánh được ý chí và quan điểm chính trị của giai cấp cầm quyền (tất nhiên đó phải là những quan điểm tiến bộ vì mục tiêu chung của đất nước)

Chế độ chính trị hay thể chế chính trị thể hiện hệ tư tưởng, phương thức

tổ chức quyền lực và năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với xã hội ở mỗi quốc gia mà nền tảng và khuôn khổ của thể chế chính trị chính là Hiến pháp Mỗi một quốc gia đều định hình cho mình con đường đi riêng phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, với xu thế phát triển của đất nước trong từng giai đoạn

Với đất nước ta, với con đường mà Đảng và Nhân dân ta xác định ngay

từ buồi đầu của quá trình cách mạng, đó là con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội

và Nhà nước này là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Cho nên điều đó cũng có nghĩa là mọi hoạt động của nền công vụ này phải hướng đến Nhân dân mà phục vụ Từ đó, pháp luật về quản lý công chức cấp xã phải được thiết lập dựa vào quan điểm, đường lối của Đảng đã vạch ra và con đường mà Nhà nước ta định hướng đi lên

Trang 27

1.3.2 Kinh tế - xã hội

Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất lớn tới việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về quản lý công chức cấp xã nói riêng Mức độ hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã phản chiếu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển, sẽ thúc đẩy pháp luật về quản lý công chức cấp xã phát triển và ngược lại Pháp luật về quản lý công chức cấp xã suy cho cùng chính là hệ thống văn bản pháp luật về quản lý công chức Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, trong mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì điều kiện kinh tế, các quan hệ kinh tế quyết định trực tiếp đến sự

ra đời của pháp luật, đồng thời quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu

và sự phát triển của nó

Trong tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, có thể nói, đất nước càng đổi mới thì nhận thức về những tác động của nền kinh tế thị trường ngày càng thâm nhập sâu sắc và rõ rệt trong đời sống xã hội nước ta Trong bối cảnh mở cửa và thực hiện nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi một bộ máy Nhà nước năng động, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả là cấp bách và chính đáng của mọi người và mọi tổ chức kinh tế - xã hội Nhưng sự vận hành có hiệu quả của bộ máy Nhà nước trên thực tế lại phụ thuộc vào những con người cụ thể, mọi công việc được giải quyết nhanh hay chậm do chính những quyết định của đội ngũ công chức từ cấp Trung ương cho đến cấp cơ sở, đặc biệt công chức cấp xã Bởi vậy, hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã là hết sức cần thiết, nhằm tạo ra một hệ thống pháp luật từ đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm, quản lý cho đến chế độ, chính sách một cách đồng

bộ, thống nhất, ổn định, làm cơ sở cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức cấp xã ngày càng trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng cao

Trang 28

hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong thời kỳ mới.

1.3.3 Yếu tố con người

Con người luôn được xem là trung tâm của mọi vấn đề, là nguồn lực quan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực Vì lẽ đó khi xây dựng pháp luật phải đặt con người vào trung tâm để đưa ra những chuẩn mực hành vi phù hợp Sự áp đặt cứng nhắc là điều tối kỵ trong một xã hội, trong một tổ chức, đặc biệt là đối với nước ta, một nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Con người ở đây trước hết chính bản thân đội ngũ công chức cấp xã – đối tượng của pháp luật về quản lý công chức cấp xã Pháp luật về quản lý công chức cấp xã được ban hành và điều chỉnh như thế nào phải xuất phát từ đặc điểm về trình độ năng lực, nhận thức của đội ngũ công chức cấp xã trong từng thời kỳ Nếu cao hoặc thấp hơn đều không phù hợp, mặt khác con người ở đây được hiểu là tổ chức và cá nhân có trách nhiệm chính trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý công chức cấp xã Mức độ hoàn thiện của pháp luật, sự phù hợp giữa pháp luật với yêu cầu của thực tiễn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các cơ quan, cá nhân tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật Năng lực lập pháp, lập quy thể hiện ở việc nắm bắt những đòi hỏi của thực tiễn để xây dựng và ban hành hoặc sửa đổi, bổ sung những văn bản pháp luật về quản

lý công chức cho phù hợp

1.3.4 Truyền thống, văn hóa, phong tục và tập quán

Văn hóa truyền thống dân tộc, nơi mà các tổ chức đang tồn tại và hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đối với văn hóa của tổ chức đó Lối suy nghĩ của người Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp, nét văn hóa cộng đồng, vùng miền, văn hóa làng xã đã tạo nên ý thức cộng đồng cao, trọng tập thể Do đó, nó làm cho vai trò của tập thể được đề

Trang 29

cao, cái tôi cá nhân ít được chú trọng, hay cá nhân thường bị chi phối bởi những chuẩn mực của cộng đồng nên thông thường không dám làm điều gì trái ngược với chính kiến của người nhiều, vai trò cá nhân không được đề cao, nhân viên luôn chờ đợi ý kiến chỉ đạo của cấp trên tạo nên tình trạng trì trệ, ỷ lại vào tập thể, thiếu chủ động, sợ trách nhiệm trong công việc Một hiện tượng phổ biến hiện nay là hoạt động công vụ của công chức ít quan tâm đến chất lượng, hiệu quả thực thi, đặc biệt họ sử dụng nguồn lực của tổ chức một

cách tùy tiện, lãng phí theo kiểu “cha chung không ai khóc” là tình trạng khá

có tình, có lý các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư, phù hợp với điều kiện của từng địa phương bảo đảm ổn định trật tự xã hội và do vậy, sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật Đây vừa là nguồn bổ sung, vừa là môi trường đưa pháp luật vào cuộc sống, đồng thời là chất xúc tác để hoàn thiện một nền pháp luật tiên tiến, hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc Việc ghi nhận và bảo vệ phong tục, tập quán tốt đẹp là một tất yếu khách quan trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay

1.3.5 Hội nhập khu vực và quốc tế

Ngày nay hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, khách quan trong quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa Hội nhập quốc tế không những có mối liên hệ

Trang 30

chặt chẽ với tăng trưởng và phát triển kinh tế mà nó còn vừa là kết quả, vừa là yếu tố cực kỳ quan trọng để thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước nâng lên một trình độ mới Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong hội nhập, đã trở thành quốc gia có vị trí cao trong khu vực, đã tham gia vào tất cả các tổ chức quốc tế lớn: Liên Hợp Quốc và các định chế của nó; WTO; ASEAN, ASEM, APEC và tham gia ký kết hàng hoạt các Hiệp định thương mại tự do song phương với các đối tác trong khu vực và trên thế giới Trong quá trình chủ động hội nhập, Việt Nam sẽ phải tận dụng mọi lợi thế do hội nhập tạo ra và hạn chế đến mức thấp nhất các thách thức mà hội nhập quốc tế đặt ra, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên các lĩnh vực hoạt động, đầu tư theo hướng đẩy mạnh cải cách hành chính, pháp lý, tăng cường

sự hợp tác và hỗ trợ giữa chính quyền và doanh nghiệp, nhất là hỗ trợ các doanh nghiệp hoạt động kinh tế đối ngoại Trong xu thế hội nhập, Việt Nam cũng cần tạo thế chủ động, tự tin hội nhập cho tất cả các tầng lớp dân cư và các giới doanh nhân bằng cách tích cực thực hiện các chương trình tuyên truyền hội nhập, tạo sự thích ứng hội nhập của các quan chức chính quyền các cấp, tạo những quy tắc ứng xử phù hợp thông lệ quốc tế trong các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội

Việt Nam chúng ta đang trong quá trình đổi mới, chúng ta đang cải cách, chúng ta đang hội nhập khu vực và quốc tế, tất cả các yếu tố tích cực, tiêu cực đan xen, cơ hội và thách thức cũng đặt ra rất nhiều những khó khăn thử thách Các quốc gia muốn phát triển không thể ở tình trạng “bế quan tỏa cảng” không mở cửa, không quan hệ ngoại giao quốc tế Sự giao lưu hợp tác ngày càng mở rộng trên mọi lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa, chính trị, giáo dục, y tế… càng đòi hỏi mỗi quốc gia cần có sự điều chỉnh các chính sách của mình

để thích ứng Ở Việt Nam, trước đây có chịu ảnh hưởng của mô hình kế hoạch hóa tập trung nhưng hiện nay đã có nhiều thay đổi Bên cạnh đó việc

Trang 31

nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong việc hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức nói chung và pháp luật về quản lý công chức cấp xã nói riêng cũng hết sức cần thiết Hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở Việt Nam hiện nay là sự đòi hỏi khách quan do yêu cầu của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, dân chủ hoá đời sống xã hội, cải cách hành chính cũng như quá trình hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay

1.4 Lịch sử hình thành, phát triển pháp luật về quản lý công chức cấp xã

1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1998

Trước khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 ra đời, quan niệm về công chức được hình thành, phát triển và hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Quan niệm về công chức đã được xác định lần đầu tiên tại Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức Việt Nam

Điều 1 Sắc lệnh 76 đã đưa ra định nghĩa về công chức như sau: "Những công

dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định"

Đây là lần đầu tiên ở Việt Nam, khái niệm công chức đã được nêu ra trong văn bản chính thức của nhà nước

Đối với công chức cấp xã trong thời kỳ này do tính chất non trẻ của Nhà nước cùng với những nhiệm vụ cấp bách để bảo vệ thành quả cách mạng nên vấn đề này không được đề cập một cách riêng biệt mà được đặt trong tổng thể qui định về tổ chức các cấp chính quyền địa phương Theo Điều 1 Sắc lệnh số 63/SL, để thực hiện chính quyền nhân dân địa phương sẽ đặt hai cơ quan: HĐND và UBHC HĐND do nhân dân địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông và trực tiếp, là cơ quan thay mặt cho nhân dân địa phương UBHC do các HĐND bầu ra, là cơ quan hành chính vừa thay mặt cho nhân dân vừa đại diện cho Chính phủ Ở cấp xã và tỉnh có HĐND và

Trang 32

UBHC, ở cấp huyện và kỳ chỉ có UBHC Theo đó, chính quyền cấp xã được xác định là cấp chính quyền cơ sở có cả HĐND và UBHC UBHC xã do HĐND xã bầu trong số các đại biểu HĐND xã UBHC xã gồm: 5 Ủy viên chính thức (1 Chủ tịch, 1 Phó Chủ tịch, 1 Thư ký, 1 Thủ quỹ và 1 Ủy viên) và

2 Ủy viên dự khuyết Nhiệm vụ của UBHC xã là: thi hành các mệnh lệnh của cấp trên, thực hiện nghị quyết của HĐND xã; triệu tập các kỳ họp HĐND xã; giải quyết các công việc trong xã (Điều 70 Sắc lệnh số 63/SL)

Sau đó một thời gian dài (Giai đoạn từ năm 1960 đến cuối năm 1980), do hoàn cảnh chiến tranh, Việt Nam không sử dụng khái niệm công chức mà

thay vào đó là một khái niệm với cụm từ “cán bộ, công nhân, viên chức nhà

nước”, không phân biệt công chức, viên chức với công nhân

Điều này được thể hiện rõ hơn khi Điều 6 Hiến pháp năm 1959 đã quy

định: "Tất cả các nhân viên cơ quan Nhà nước đều phải trung thành với chế

độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân" Điều 8 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Tất cả các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa Nghiêm cấm mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền”

Trong giai đoạn này, chúng ta cũng chưa đưa ra khái niệm công chức xã nói riêng, tất cả những người làm ở địa phương đều gọi là cán bộ xã Vì thế các văn bản pháp luật đều gọi chung là cán bộ xã ví

dụ như: Quyết định số 137/HĐCP ngày 07 tháng 08 năm 1969 của Hội đồng Chính phủ về việc bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã; Quyết định số 130/HĐCP ngày 20 tháng 06 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ bổ sung chính sách, chế độ đãi ngộ đối với cán bộ xã Theo qui định của Quyết định 130/HĐCP, mỗi xã có từ năm đến sáu cán bộ chuyên

Trang 33

trách công tác Đảng, công tác chính quyền xã, đồng thời có từ chín đến mười cán bộ nửa chuyên trách để đảm bảo các công tác khác Các đối tượng này không hưởng lương mà được hưởng phụ cấp, cùng với đó cán bộ y

tế xã và cán bộ của hợp tác xã cũng được hưởng Ngoài ra, Quyết định 130/HĐCP còn đề cập đến các chế độ cho cán bộ xã như chế độ đào tạo bồi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, giúp đỡ khi gia đình gặp khó khăn…

Đến năm 1990, do yêu cầu khách quan thuật ngữ "công chức" được sử dụng trở lại và khái niệm công chức được quy định tại Nghị định số

169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng như sau: “Công dân Việt

Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ở ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do Ngân sách nhà nước cấp, gọi là công chức”

Đối với công chức cấp xã, trong giai đoạn này khái niệm "công chức cấp xã" vẫn chưa được quy định cụ thể trong một văn bản nào Do vậy, công chức cấp xã tại thời điểm này cũng chưa có qui định hoàn chỉnh về tiêu chuẩn, chức danh chuyên môn, nghiệp vụ cũng như chế độ, chính sách; mà chỉ có các qui định pháp luật mang tính chất tạm thời về sinh hoạt phí và trợ cấp cho các đối tượng làm việc tại chính quyền cấp xã như: Thông tư số 74-ĐP/TCCP của Ban Tổ chức của Chính phủ ngày 26/11/1985 hướng dẫn thi hành Nghị định 235-HĐBT ngày 18/09/1985 của Hội đồng Bộ trưởng về chế độ phụ cấp tạm thời sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; Quyết định số 57-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/02/1993 quyết định về việc trợ cấp cho cán bộ xã miền núi và xã có khó khăn; Nghị định số 50-CP ngày 26/7/1995 của Chính phủ qui định về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn; Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23/01/1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP

Trang 34

1.4.2 Giai đoạn từ năm 1998 đến trước năm 2008

Ngày 26 tháng 02 năm 1998, Pháp lệnh Cán bộ, công chức đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Theo đó, Pháp

lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 không sử dụng thuật ngữ "công chức nhà

nước" mà chỉ dùng thuật ngữ cán bộ, công chức nói chung Chính vì vậy, Pháp

lệnh không có định nghĩa cho từng đối tượng "cán bộ", "công chức" mà qui định về cán bộ, công chức nói chung, còn đối với cán bộ, công chức cấp xã chưa có một văn bản pháp lý nào điều chỉnh tại thời điểm này Theo Khoản

2, Điều 5 Pháp lệnh Cán bộ, công chức quy định “Chính phủ quy định cụ

thể việc áp dụng Pháp lệnh này đối với cán bộ xã, phường, thị trấn”

Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức ngày 29/4/2003 quy định tại Khoản 1 Điều 1 như sau:

“Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế, bao gồm: Những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân xã”

Với qui định trên, lần đầu tiên các đối tượng làm việc trong cơ quan chính quyền xã, phường, thị trấn được đề cập đến với tư cách "cán bộ" và "công chức" cấp xã Cùng với Pháp lệnh Cán bộ, công chức, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các Nghị định, Quyết định, Thông tư hướng dẫn về quản lý cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức chính quyền cấp xã nói riêng Ở giai đoạn này, pháp luật về quản lý công chức cấp xã tập trung vào các vấn đề sau:

Một là, Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003

của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn qui định công chức cấp

xã gồm các chức danh sau: Trưởng công an (nơi chưa có lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - Xây dựng; Tài chính - Kế toán; Tư pháp - Hộ tịch; Văn hóa - Xã hội

Trang 35

Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16/01/2004 của Bộ trưởng Bộ Nội

vụ về việc ban hành quy định tiêu chuẩn cụ thể đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Theo quy định của Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV, công chức cấp xã ngoài việc phải đáp ứng các tiêu chuẩn chung của cán bộ, công chức cấp xã còn phải đáp ứng tiêu chuẩn cụ thể đối với công chức cấp xã

Hai là, các văn bản về đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã như:

Quyết định số 161/2003/QĐ-TTg ngày 04/08/2003 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức; Quyết định số 03/2004/QĐ-TTg ngày 07/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt định hướng quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn đến năm 2010; Quyết định số 40/2006/QĐ-TTg ngày 15/02/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010;

Ba là, các văn bản về chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã:

Nghị định số 58/1998/NĐ-CP ngày 13/08/1998 của Chính phủ về chế độ bảo hiểm y tế; Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ngày 23/06/1999 của Chính phủ về Công an xã; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; trong đó đã qui định rõ về số lượng công chức cấp xã (theo tính chất vùng miền có sự khác nhau giữa xã đồng bằng, phường và thị trấn với xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo) cũng như qui định cụ thể về chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chế độ khi công chức cấp xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng Ngoài ra còn có nhiều văn bản hướng dẫn khác của các Bộ, ngành liên quan về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã

Nhìn chung, các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã từng bước hoàn thiện pháp luật về quản lý công chức nói chung và pháp luật về quản lý công chức cấp xã nói riêng, góp phần xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ngày

Trang 36

càng trong sạch, vững mạnh Tuy nhiên, trước yêu cầu của việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền cấp xã trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì các qui định pháp luật về quản lý công chức cấp xã còn nhiều tồn tại, vướng mắc

1.4.3 Giai đoạn từ năm 2008 đến nay

Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008 quy định: “Công chức

cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Theo đó, công chức cấp xã gồm có bảy chức

danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng, đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội

Cụ thể hóa Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Điều 45 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức

xã, phường, thị trấn, đã xác định nội dung quản lý công chức cấp xã bao gồm: Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về công chức cấp xã; Xây dựng quy hoạch công chức cấp xã; Quy định tiêu chuẩn, chức danh công chức cấp xã; Quy định số lượng công chức cấp xã; việc quản lý, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ tập sự, chế độ thôi việc, nghỉ hưu, đánh giá công chức cấp xã, việc phân cấp quản lý công chức cấp xã; Thực hiện khen thưởng, xử lý vi phạm, chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với công chức cấp xã; Thực hiện chế độ báo cáo thống kê về công chức cấp xã; Thanh tra, kiểm tra đối với cơ quan, tổ chức và đối với công chức cấp xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về công chức cấp xã; Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với công chức cấp xã; Các công tác khác liên quan đến quản lý công chức cấp xã

Trang 37

Như vậy, cùng với Luật Cán bộ, công chức 2008 và nhiều văn bản pháp luật được ban hành trực tiếp điều chỉnh các nội dung về quản lý công chức cấp xã như:

- Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ qui định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày

30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn

- Luật Dân quân tự vệ năm 2009, Nghị định số 58/2010/NĐ-CP ngày 01/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Dân quân tự về (đã được thay thế bởi Nghị định số 03/2016/NĐ-CP ngày 05/01/2016 của Chính phủ); Thông tư Liên tịch số 01/2013/TTLT-BNV-BQP ngày 10/4/2013 của Bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng

- Pháp lệnh Công an xã năm 2008, Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 07/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh công an xã

- Bộ Luật lao động năm 2012; Nghị định số 46/2010/NĐ-CP ngày 27/4/2010 của Chính phủ quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức; Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định xử lý kỷ luật đối với công chức;

- Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Thông tư số 03/2011/TT-BNV ngày 25/01/2011 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ; Nghị định số 143/2013/NĐ-

Trang 38

CP ngày 24/10/2013 của Chính phủ quy định về bồi hoàn học bổng và chi phí đào tạo

- Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Nghị định số 76/2009/NĐ-CP ngày 15/9/2009; Nghị định số 14/2012/NĐ-CP ngày 07/3/2012 và Nghị định số 17/2013/NĐ-CP ngày 19/02/2013 của Chính phủ; Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện chế độ nâng lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động

- Luật thi đua khen thưởng năm 2003, sửa đổi, bổ sung năm 2005, 2013;

- Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế; Thông tư liên tịch số 01/2015/TTLT-BNV-BTC ngày 14/4/2015 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế

- Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức

- Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung 2007, 2012; Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng; Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/3/2013 của Tổng Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập

- Nghị định số 158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 150/2013/NĐ-CP ngày 01/11/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số

Trang 39

158/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ quy định danh mục vị trí công tác và thời hạn định kỳ chuyển đổi vị trí công tác đối với cán bộ, công chức, viên chức;

- Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn ngày 20/4/2007; Nghị quyết số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN ngày 17/4/2008 của Chính phủ và Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn thi hành các điều 11, điều 14, điều 16, điều 22 và điều 26 của Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Chỉ thị số 18/2000/CT-TTg ngày 18/4/2000 của Thủ tướng Chính phủ về công tác dân vận chính quyền;

- Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước

và đơn vị sự nghiệp công lập; Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/01/2016 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn một số nội dung của Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập

Có thể nói trong lịch sử hình thành và phát triển pháp luật về quản lý công chức cấp xã chỉ từ năm 2008 đến nay chúng ta có thể thấy một hệ thống văn bản pháp lý tương đối đầy đủ, rõ nét và riêng biệt quy định về công chức cấp xã Đây có thể nói là một bước tiến đáng kể trong lịch sử lập hiến, lập quy của Việt Nam về pháp luật về quản lý công chức cấp xã

Trang 40

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở khoa học, luận văn đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung nhất của pháp luật về quản lý công chức cấp xã như: đưa ra quan niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã; xây dựng được quan niệm pháp luật về quản lý công chức cấp xã Luận văn đã xác định nội dung, vai trò và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về quản lý công chức cấp xã ở Việt Nam

Ngày đăng: 08/03/2018, 09:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm