1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khủng bố sử dụng công nghệ cao và các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật việt nam trong đấu tranh chống khủng bố

94 253 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song trên thực tế, hiện nay tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, hành lang pháp lý để làm cơ sở phòng, chống và xử lý các hoạt động khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐỨC MINH

Khủng bố sử dụng công nghệ cao và các quy

định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam

trong đấu tranh chống khủng bố

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN ĐỨC MINH

Khủng bố sử dụng công nghệ cao và các quy

định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam

trong đấu tranh chống khủng bố

Chuyờn ngành : Luật quốc tế

Mó số : 60 38 01 08

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Lan Nguyờn

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét

để cho tôi có thể bảo vệ luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Đức Minh

Trang 4

1.1.2 Đặc điểm, nguyên nhân và hậu quả của khủng bố nói chung

và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng

Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP

LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ

Trang 5

2.2 Các quy định của pháp luật Việt Nam về chống khủng bố 46 2.3 Mối quan hệ giữa pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về

chống khủng bố

52

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT

NAM VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ, KHỦNG BỐ CÔNG NGHỆ CAO

3.3.1 Mở rộng hợp tác quốc tế và tăng cường ký kết, gia nhập các

Điều ước quốc tế về phòng, chống khủng bố

68

3.3.2 Rà soát việc thực thi pháp luật về phòng, chống khủng bố 69 3.3.3 Nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng chuyên trách

chống khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng công nghệ

cao nói riêng

70

3.3.4 Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật và khoa học - công

nghệ cao nhằm nâng cao chất lượng công tác chống khủng bố

71

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự ĐƯQT : Điều ước quốc tế

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Từ sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ, tình hình khủng bố quốc

tế ngày càng diễn biến phức tạp, lan rộng khắp các châu lục, trở thành nguy

cơ toàn cầu, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và gây hậu quả nặng nề cho nhiều quốc gia Hậu quả mà khủng bố gây ra không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng về người, gây ra những thiệt hại về tài sản mà nguy hại lớn hơn

là gây tâm lý lo sợ, hoang mang thường trực cho cả cộng đồng quốc tế Đáng chú ý, khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đang dần trở thành "điểm nóng" về hoạt động khủng bố, và là mục tiêu mà các tổ chức, cá nhân khủng bố quốc tế hướng tới; nhất là khủng bố sử dụng công nghệ cao hoạt động trên nền tảng mạng internet; khủng bố sử dụng công nghệ cao đang tiếp tục diễn biến càng khó lường và khó nhận diện do chúng luôn thay đổi về hình thức, phương pháp tiến hành; đồng thời, triệt để ứng dụng, khai thác những bước phát triển công nghệ tiên tiến của khoa học, lợi dụng kẽ hở của của an ninh mạng để hoạt động

Trong những năm qua, tại Việt Nam đã xuất hiện những nguy cơ mà các tổ chức, cá nhân khủng bố có thể lợi dụng tiến hành hoạt động khủng bố, phá hoại, nhất là thông qua các phương tiện công nghệ cao Chỉ tính riêng địa bàn Hà Nội từ năm 2005 đến nay, đã xảy ra hàng chục vụ, việc có liên quan đến khủng bố sử dụng công nghệ cao như: vụ đối tượng gọi điện đến trực ban Công an quận Ba Đình đe dọa đánh bom trong khu vực Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 02/9/2005; ngày 10/10/2006, một đối tượng gọi điện đến Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đe dọa đánh bom khủng bố; năm 2009, tổ chức "Những con hổ giải phóng Tamil" đã cử một số thành viên cốt cán đến

Hà Nội dưới danh nghĩa thương gia để khảo sát, quay phim, chụp ảnh địa bàn phục vụ hoạt động

Trang 8

Song trên thực tế, hiện nay tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, hành lang pháp lý để làm cơ sở phòng, chống và xử lý các hoạt động khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng vẫn còn thiếu và chưa có hệ thống; một số trường hợp có hành lang pháp lý nhưng việc áp dụng lại thiếu thống nhất nên gây rất nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống khủng bố của các lực lượng chuyên trách, đơn vị chức năng của các nước

Trước thực trạng trên, học viên thấy vấn đề chống khủng bố nói chung

và chống khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng cần phải nghiên cứu toàn diện hơn nữa về cả lý luận và thực tiễn; trong đó, luận văn hướng tới phân tích thực trạng và chỉ ra các khó khăn trong thực tiễn liên quan tới hoạt động phòng, chống khủng bố sử dụng công nghệ cao; nghiên cứu làm rõ hơn pháp luật của một số quốc gia và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố quốc tế; qua đó, đề xuất những giải pháp đồng bộ nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống khủng bố giữa Việt Nam với các nước trên thế giới

Từ những lý do trên, học viên mạnh dạn chọn và nghiên cứu đề tài: "Khủng

bố sử dụng công nghệ cao và các quy định của pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam trong đấu tranh chống khủng bố" làm luận văn Thạc sĩ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài luận văn

Việc nghiên cứu về các hoạt động khủng bố, tổ chức khủng bố và pháp luật quốc tế về chống khủng bố là đề tài khá phổ biến, thu hút nhiều cá nhân, tập thể tham gia và đến nay, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu trên những khía cạnh nhất định, như:

- Ở cấp độ đề tài khoa học cấp Bộ và luận án tiến sĩ có đề tài: "Khủng

bố và giải pháp phòng chống khủng bố ở nước ta hiện nay" do PGS.TS Hoàng

Kông Tư làm chủ nhiệm; "Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hợp tác

quốc tế về phòng chống khủng bố" do TS Nguyễn Đắc Tuấn làm Chủ nhiệm;

Luận án tiến sĩ Luật học: "Giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống khủng

Trang 9

bố trong tình hình hiện nay của lực lượng Công an" của Tạ Văn Roan, Học

viện Cảnh sát nhân dân;…

- Ở cấp độ luận văn có một số đề tài như: "Pháp luật quốc tế về chống

khủng bố - một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Luận văn thạc sĩ Luật học, của

Nguyễn Long, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Hợp tác quốc tế về

chống khủng bố và liên hệ thực tiễn Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, của

Bùi Mạnh Hùng Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Pháp luật quốc tế với

vấn đề khủng bố quốc tế: Lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, của

Trần Minh Thu, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Pháp luật quốc tế về

chống khủng bố và việc hoàn thiện Bộ luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc

sĩ Luật học, của Vũ Ngọc Dương, Khoa luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

- Bên cạnh đó, còn một số sách tham khảo, các bài viết, các cuộc Hội

thảo về phòng chống khủng bố và giới thiệu các Công ước quốc tế về chống

khủng bố như: "Tổng quan hợp tác quốc tế về chống khủng bố", Tài liệu Hội

thảo khung pháp lý phòng chống khủng bố, ngày 25/3/2010 của tác giả

Nguyễn Thị Hoàng Anh; "Công ước ASEAN về chống khủng bố và sự ra nhập

của Việt Nam", của tác giả Nguyễn Duy Chiến tại Tạp chí Nghiên cứu lập

pháp, số 6 năm 2009; "Một số vấn đề về xây dựng Luật phòng, chống khủng

bố", Tài liệu Hội thảo khung pháp lý phòng chống khủng bố, ngày 25/3/2010

của tác giả Nguyễn Ngọc Anh; "Pháp luật về chống khủng bố của một số

nước trên thế giới", của TS Phạm Văn Lợi - Viện Khoa học pháp lý; các bài

báo, thông tin liên quan đến công tác phòng, chống khủng bố đã được đăng trên Tạp chí Công an nhân dân của Bộ Công an, Tạp chí Khoa học và Chiến lược của Viện Chiến lược và Khoa học Công an, Bản tin phòng chống khủng

bố của Ban chỉ đạo phòng chống khủng bố - Bộ Công an, Văn phòng Ban chỉ đạo phòng, chống khủng bố quốc gia

Ngoài ra, trên thế giới cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả, chuyên gia về hoạt động khủng bố như: Alex Schmid (1983), Political -

Trang 10

terrorism, Transaction Publishers, U.S 1983; Nations And Regional Organizations

in the Fight Against Terrorism, Ashgate Publishing, Cronin (2004), Attacking

Terrorism: Elements of a Grands Stratery, Washington, EX: Georgettown University Press, Boaz Ganor (2005), The counter - terrorism puzzle: a guide for decision makers, New Brunswick - London: Transaction, Moghadam (2006),

The Roots of Terrorism, New York: Infobase Publishes, Nesi, Giuseppe

(2006), International Cooperation in Counter - terrorism: The U.N And Regional Organizations in the Fight Against Terrorism, Ashgate Publishers

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu đi sâu nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của hoạt động khủng bố quốc tế mà chưa có

đề tài nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về hoạt động khủng bố sử dụng công nghệ cao, sự nguy hại, hậu quả khó lường của loại tội phạm này cũng như cơ sở pháp lý để phục vụ công tác đấu tranh Vì vậy, đây

là lần đầu tiên đề tài: "Khủng bố sử dụng công nghệ cao và các quy định của

pháp luật quốc tế, pháp luật Việt Nam trong đấu tranh chống khủng bố" được

nghiên cứu dưới góc độ là một đề tài khoa học

3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài luận văn

* Mục tiêu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn là làm rõ thêm một số vấn đề

lí luận cơ bản về khủng bố sử dụng công nghệ cao cũng như thực trạng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao; kinh nghiệm thực thi các quy định về pháp luật quốc tế của một số nước trên thế giới và việc thực thi cam kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác chống khủng bố sử dụng công nghệ cao; qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hợp tác đấu tranh chống khủng bố giữa Việt Nam với các quốc gia

và các tổ chức quốc tế

* Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu đó, đề tài có các nhiệm vụ sau:

Trang 11

- Phân tích làm rõ khái niệm và xu hướng phát triển của hoạt động khủng bố sử dụng công nghệ cao, lịch sử hình thành phát triển của chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố

- Phân tích, đánh giá thực trạng nội dung của pháp luật quốc tế về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao và kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao của một số quốc gia trên thế giới

- Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao và vấn đề thực thi các cam kết quốc tế của Việt Nam về vấn đề này; trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế tại Việt Nam về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn

- Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng khủng bố quốc tế sử dụng công nghệ cao và các vấn đề pháp lý xung quanh vấn đề chống khủng bố với nguồn chủ yếu là Điều ước quốc tế (ĐƯQT), các quy định pháp luật của một

số quốc gia trên thế giới và pháp luật Việt Nam về vấn đề đấu tranh chống khủng bố

Luận văn tập trung làm rõ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về khủng

bố quốc tế, khủng bố sử dụng công nghệ cao và pháp luật quốc tế về chống khủng bố; tập trung tìm hiểu thực trạng các quy định pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về chống khủng bố; kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế của một quốc gia; việc thực thi cam kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác chống khủng bố

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn

Trang 12

* Phương pháp nghiên cứu

Bám sát phương pháp luận, đề tài luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

Phương pháp tổng kết thực tiễn: Thu thập và phân tích chuyên sâu các

kết quả nghiên cứu khoa học; hồ sơ nghiệp vụ; các báo cáo sơ kết, tổng kết về phòng, chống khủng bố của các cơ quan chức năng

Phương pháp chuyên gia: Trực tiếp trao đổi, thảo luận với các đồng

chí lãnh đạo đơn vị, các giáo viên trong Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

để tranh thủ ý kiến góp ý trực tiếp vào một số nội dung còn băn khoăn, vướng mắc như: trong phần dự báo và các giải pháp thực hiện

Phương pháp thống kê, so sánh: trên cơ sở so sánh, phân tích đánh giá

thực trạng pháp luật quốc tế về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao và kinh nghiệm thực thi các quy định của pháp luật quốc tế về chống khủng bố

sử dụng công nghệ cao của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra các bài học kinh nghiệm, làm cơ sở đưa ra các giải pháp

Phương pháp nghiên cứu dự báo: Trên cơ sở kết hợp với tư duy hệ

thống và quan điểm phát triển; đề tài phác thảo về xu hướng phát triển của hoạt động khủng bố sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam cũng như thế giới thời gian tới; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật để nâng cao hiệu quả thực thi các cam kết quốc tế tại Việt Nam về chống khủng

bố sử dụng công nghệ cao

6 Những đóng góp mới của đề tài luận văn

Góp phần làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lí luận cơ bản về khủng bố

sử dụng công nghệ cao và pháp luật quốc tế về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao; thực trạng các quy định pháp luật quốc tế về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao và kinh nghiệm thực thi ở một số nước cũng như thực trạng pháp luật Việt Nam về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao và việc thực thi, cam kết quốc tế của Việt Nam trong hợp tác đấu tranh chống khủng

bố quốc tế sử dụng công nghệ cao

Trang 13

7 Kết cấu của đề tài của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về khủng bố, khủng bố công nghệ cao và pháp

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ KHỦNG BỐ, KHỦNG BỐ CÔNG NGHỆ CAO

1.1.1.1 Khái niệm khủng bố, hoạt động khủng bố

Khủng bố là một vấn đề xã hội có từ rất lâu, xuất hiện từ khi loài người phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp Quan niệm về khủng bố được

đề cập từ trước Công nguyên: "Khi một người dùng vũ lực điều khiển cưỡng

ép những người khác, thâm tâm những người bị ép buộc không tuân phục (anh ta) một cách tự nguyện Họ chấp nhận vì chưa đủ mạnh để kháng cự lại" (Menccus 372-298) [Dẫn theo 33, tr 18]

Việc sử dụng thuật ngữ "khủng bố", "kẻ khủng bố" được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1795, liên quan đến chính quyền Terreur (chính quyền cách mạng Pháp giai đoạn cách mạng Pháp diễn ra từ tháng 9/1793 đến tháng 7/1794) Tuy nhiên, thuật ngữ "kẻ khủng bố" theo nghĩa là kẻ chống chính quyền chỉ được sử dụng từ năm 1878 - 1881 bắt đầu từ nước Nga - Sa hoàng rồi lan ra châu Âu và Mỹ Khái niệm này được người ta dùng để chỉ những kẻ chống chính quyền với triết lý và lý tưởng vô chính phủ, phủ nhận nhà nước, các đạo luật do nhà nước ban hành và tài sản của công dân

Như vậy, có thể thấy ban đầu thuật ngữ "khủng bố" được sử dụng để chỉ hành vi đàn áp của chính quyền, của chế độ thực dân hay xâm lược Sau này, người ta còn sử dụng nó để chỉ cả các hành vi của các nhóm đối lập chống chính quyền

Sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ, hàng loạt khái niệm gắn với thuật ngữ "khủng bố" thường xuyên được nhắc đến như: khủng bố quốc tế, chủ

Trang 15

nghĩa khủng bố, tổ chức khủng bố, cuộc chiến chống khủng bố, khủng bố sử dụng công nghệ cao Hiện nay, có khoảng hơn 100 định nghĩa, khái niệm về khủng bố; tuy nhiên những khái niệm này còn chung chung, chưa nhận được sự đồng thuận của các nước thành viên Liên hợp quốc do vẫn có sự bất đồng về quan điểm chính trị - xã hội Hiện nay, trên cơ sở lợi ích quốc gia và chính sách đối ngoại, mỗi nước đưa ra khái niệm khác nhau theo quan điểm của mình

Theo Bộ Quốc phòng Mỹ định nghĩa khủng bố là: "việc sử dụng hoặc

đe dọa sử dụng bạo lực bất hợp pháp nhằm khắc sâu sự sợ hãi, có ý định cưỡng chế hoặc để đe dọa chỉnh phủ hoặc xã hội trong việc theo đuổi các mục tiêu mà nói chung là chỉnh trị, tư tưởng hay tôn giáo" [Dẫn theo 17, tr 1]

Luật chống khủng bố năm 2000 của Anh đưa ra khái niệm khủng bố:

Là việc sử dụng hay đe dọa sử dụng bạo lực nhằm vào con người hay gây thiệt hại nghiêm trọng đối với tài sản hay gây nguy hiểm đối với tính mạng của người khác ngoài người thực hiện hành động đó hay gây nguy hại đối với sức khỏe hay an toàn của công chúng; sử dụng hoặc đe dọa sử dụng nhằm gây ảnh hưởng với một chính quyền hay để hăm dọa công chúng hoặc một bộ phận công chúng; và sử dụng hoặc đe dọa sử dụng nhằm mục đích thúc đẩy mục tiêu tư tưởng hay tôn giáo hay chính trị [Dẫn theo 17, tr 1] Tháng 12/2001, Bộ trưởng Tư pháp các nước thuộc Liên minh Châu

Âu đưa ra quan niệm: "Khủng bố là hành vi nhằm gây mất ổn định hoặc phá hoại nền tảng xã hội, kinh tế, hiến pháp hay chính trị cơ bản của quốc gia"

- Nhóm hoạch định chính sách của Liên hợp quốc về chống khủng bố

đã đưa ra khái niệm: "Khủng bố là thực hiện hoặc có ý đồ thực hiện hành vi xâm phạm các nguyên tắc pháp luật, trật tự quyền con người và các nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế vốn là nền tảng tạo lập nên thế giới"

Ở Việt Nam, khái niệm khủng bố cũng được đề cập ở nhiều tài liệu khác nhau

Trang 16

Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2002 đưa ra khái niệm:

Khủng bố là hoạt động bạo lực của cá nhân, tổ chức, nhà nước hoặc liên minh nhà nước để đe dọa hoặc cưỡng bức đối phương khiến họ khiếp sợ mà phải khuất phục Các hình thức khủng bố thường là bắt cóc, ám sát, đánh bom, tàn sát man rợ Khủng bố được giới cầm quyền một số nước đế quốc và các thế lực phản động coi như một quốc sách hoặc một chiến lược để chống lại các quốc gia tiến bộ và phong trào đòi độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Khủng bố bị nhân dân thế giới lên án và là một tội ác có tính chất quốc tế Chống khủng bố đã trở thành mục tiêu chung của các

quốc gia tiến bộ [7, tr 23]

Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam nêu khái niệm:

"Khủng bố là hoạt động bạo lực của cá nhân, tổ chức, nhà nước hoặc liên minh nhà nước để đe dọa hoặc cưỡng bức đối phương khiến họ vì khiếp sợ

mà phải chịu khuất phục Các hình thức khủng bố thường là bắt cóc, ám sát,

đánh bom, tàn sát man rợ" [7]

Ở Việt Nam, tội khủng bố là một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia, được quy định tại Điều 84, Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009: (1) Người nào nhằm chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; (2) Phạm tội trong trường hợp xâm phạm tự do thân thể, sức khỏe, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 15 năm; (3) Phạm tội trong trường hợp đe dọa xâm phạm tính mạng hoặc có những hành

vi khác uy hiếp tinh thần, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm; (4) Khủng bố người nước ngoài nhằm gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cũng bị xử phạt theo điều này Theo đó, cấu thành tội khủng bố chỉ bao gồm những hành vi xâm hại tự do thân thể, sức khỏe, tính mạng, uy hiếp tinh thần con người vì động cơ, mục đích chống

Trang 17

chính quyền nhân dân hoặc gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tuy nhiên, khái niệm này đã có những bất cập nhất định về mặt pháp lý

Chỉ thị số 25/2007/CT-TTg ngày 15/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về công tác phòng chống khủng bố trong tình hình mới đã giải thích rộng

và rõ hơn về khủng bố:

Khủng bố là hoạt động có tổ chức do cơ quan tình báo nước ngoài chỉ đạo hoặc do tổ chức khủng bố quốc tế, tổ chức "tôn giáo cực đoan", lực lượng phản động lưu vong người Việt ở nước ngoài, bọn phản động trong nước hoặc bọn tội phạm hình sự có tổ chức sử dụng vũ khí, chất nổ, chất độc hại, lợi dụng công nghệ thông tin, tấn công vào các cơ quan nhà nước, cơ quan nước ngoài tại Việt Nam, nơi công cộng, ám sát, bắt cóc con tin, khống chế người hoặc phương tiện giao thông, phá hủy các công trình công cộng, công trình quan trọng về an ninh quốc gia, xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tính mạng, tài sản, uy hiếp tinh thần cán

bộ, công chức, công dân, lợi ích của nước ngoài ở Việt Nam, nhằm chống lại chính quyền nhân dân, gây nguy hại cho an ninh quốc gia, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [9, tr 1]

Ngày 12/6/2013, kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật Phòng, chống khủng bố, có hiệu lực từ ngày 01/10/2013 Tại Điều 3, Chương I, thuật ngữ khủng bố được giải thích như sau:

Khủng bố là một, một số hoặc tất cả hành vi sau đây của tổ

chức, cá nhân nhằm chống chính quyền nhân dân, ép buộc chính quyền nhân dân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế, gây khó khăn cho quan hệ quốc tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc gây ra tình trạng hoảng loạn trong công chúng [25]

Trang 18

Theo Luật Phòng, chống khủng bố thì khủng bố là tập hợp các hành vi sau:

- Xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do thân thể hoặc đe dọa xâm phạm tính mạng, uy hiếp tinh thần của người khác;

- Chiếm giữ, làm hư hại, phá hủy hoặc đe dọa phá hủy tài sản; tấn công, xâm hại, cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet, thiết bị số của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Hướng dẫn chế tạo, sản xuất, sử dụng hoặc chế tạo, sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán vũ khí, vật liệu nổ, chất phóng xạ, chất độc, chất cháy và các công cụ, phương tiện khác nhằm phục vụ cho việc thực hiện hành

Theo cách giải thích trên thì khủng bố không chỉ gồm những hành vi

có mục đích chống chính quyền nhân dân mà bao gồm tất cả các hành vi chuẩn bị và tiến hành khủng bố dưới mọi hình thức nhằm xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm tự do thân thể, tính mạng con người, tài sản của nhà nước và nhân dân, cũng như gây cản trở cho việc thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của một quốc gia độc lập, có chủ quyền

Từ các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về vấn đề khủng bố, có thể khái quát về khủng bố và hoạt động khủng bố như sau:

- Khủng bố là hành động của cá nhân, tổ chức, Nhà nước hay liên

minh Nhà nước sử dụng, đe dọa sử dụng bạo lực hoặc bằng các hình thức, thủ đoạn khác để trả thù, uy hiếp, khuất phục, cưỡng bức chính quyền Nhà nước phải đáp ứng yêu cầu, thỏa mãn yêu sách của bọn chúng

Trang 19

- Các hình thức của hoạt động khủng bố: khủng bố sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt như: súng, bom, mìn; khủng bố bằng vũ khí sinh học như: đạn hơi cay, súng sử dụng chất độc hóa học; khủng bố hạ tầng thông tin mạng như: phá hủy hệ thống máy tính chủ, phát tán virut máy tính; khủng bố về trong lĩnh vực vận tải hàng không, đường bộ, đường thủy…

- Hoạt động khủng bố bao gồm tất cả các hành vi chuẩn bị và tiến hành

khủng bố dưới mọi hình thức nhằm xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm tự do thân thể, tính mạng con người, tài sản Nhà nước

và của nhân dân cũng như gây cản trở việc thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của một quốc gia độc lập, có chủ quyền

1.1.1.2 Khái niệm khủng bố sử dụng công nghệ cao

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia:

Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển côngnghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, trị giá gia tăng cao và thân thiện với môi trường; đóng một vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa, công nghiệp hóa các ngành sản xuất, dịch vụ hiện có [44]

Khủng bố sử dụng công nghệ cao mang đầy đủ các yếu tố của khủng

bố và hoạt động khủng bố Tuy nhiên, khủng bố sử dụng công nghệ cao thường gắn liền với sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật và triệt để khai thác, ứng dụng các thành tựu của khoa học - kỹ thuật và nền tảng mạng internet vào các hoạt động tấn công, phá hoại Hoạt động khủng bố sử dụng công nghệ cao có thể nhìn nhận là những hoạt động khủng bố trong lĩnh vực: công nghệ thông tin, tự động hóa, hàng không, vũ trụ, sinh học Về cơ bản các hoạt động khủng bố sử dụng công nghệ cao đều hoạt động trên nền tảng mạng nhằm mục đích khủng bố; hoạt động của các tổ chức, cá nhân

Trang 20

khủng bố trên không gian mạng và hoạt động tán phát thông tin nhằm mục đích khủng bố tinh thần Hoạt động tấn công khủng bố trên mạng có thể được thực hiện bởi một đối tượng, một nhóm đối tượng hoặc một tổ chức với mục đích xâm nhập đánh cắp thông tin nhằm gây sức ép với chính quyền để thỏa hiệp hoặc đạt một yêu cầu nào đó hoặc tấn công phá hoại cơ sở hạ tầng không gian mạng và các cơ sở vật chất - kỹ thuật có liên quan

Đáng chú ý, khủng bố sử dụng công nghệ cao có những thay đổi và khác biệt khá lớn với khủng bố đơn thuần cả về hình thức, phương tiện, thành phần khủng bố, tốc độ và chu kì hoạt động của hành động khủng bố Điển hình như trước đây, các phần tử khủng bố thường dùng các phương thức như

ám sát, đánh bom tự sát, nhưng đến nay, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ đã xuất hiện khủng bố sử dụng công nghệ cao như vũ khí sinh học, hóa học, vũ khí hạt nhân với mức độ tàn sát lớn và để lại hậu quả lâu dài Chúng có các chuyên gia máy tính, sinh hóa và các chuyên gia vũ khí gây nổ, được đào tạo huấn luyện khủng bố chuyên nghiệp, sử dụng thành thạo các loại vũ khí kể cả loại vũ khí hiện đại nhất

Bên cạnh đó, các tổ chức khủng bố sử dụng công nghệ còn triệt để khai thác khoa học tiên tiến và mạng internet để tạo thành một mạng lưới tổ chức mang tính toàn cầu, rộng khắp Mạng lưới này do nhiều tổ chức nhỏ ở khắp nơi trên thế giới kết hợp thành, chúng không còn tập trung mà phân chia rải rác, thường phân bố rộng, quân số đồng và hành động rất linh hoạt Chúng hoạt động độc lập với nhau đồng thời cũng liên hệ mật thiết với nhau Hàng loạt các vụ khủng bố được tiến hành đa phần là do các tổ chức quy mô nhỏ thực hiện, thậm chí do một số cá nhân không thuộc tổ chức nào thực hiện nhưng mức độ tinh vi lại tăng lên rất nhanh và mang đậm "dấu ấn cá nhân" Nhiều vụ khủng bố diễn ra bất ngờ khiến các quốc gia không kịp trở tay Khiến cho việc đề phòng và ngăn chặn hoạt động khủng bố sử dụng công nghệ cao đã và đang gặp nhiều khó khăn

Trang 21

Trên thực tế, ở Việt Nam, mỗi năm có hàng nghìn cổng thông tin điện

tử, trang thông tin điện tử bị tin tặc tấn công, chiếm quyền quản trị, thay đổi giao diện… trong đó có nhiều trang của các cơ quan chính quyền từ Trung ương đến địa phương, một số tập đoàn kinh tế quan trọng Cá biệt, các cơ quan chức năng của Việt Nam đã phát hiện một số trường hợp đối tượng nhận chỉ đạo của tổ chức phản động lưu vong để tấn công Cổng thông tin điện tử của Chính phủ Trên thế giới, đã diễn ra nhiều hoạt động khủng bố mạng quy

mô lớn, điển hình là hoạt động của các nhóm tin tặc quốc tế như: Anonymous, Luzlsec,… với nhiều hoạt động tấn công gây thiệt hại lớn nhằm vào các cơ quan chính phủ Mỹ, EU, Nga, Đức, Pháp,… và các tập đoàn lớn như: Visa, Paypal, Master, Google,… Không chỉ gây đình trị hệ thống, tiết lộ các thông tin nhạy cảm, mà số đối tượng khủng bố mạng còn công khai nhiều tài liệu bí mật của các quốc gia, gây nên các tổn thất khó lường về chính trị, ngoại giao

Ở dạng thứ hai, không gian mạng và các phương tiện công nghệ cao

đã trở thành môi trường cũng như công cụ cho các tổ chức khủng bố quốc tế hoạt động tuyên truyền, tuyển lựa, huấn luyện và chỉ đạo các hoạt động của các mạng lưới Các tổ chức khủng bố hoạt động nổi lên hiện nay như: Nhà nước Hồi giáo tự xưng Iraq và Cận đông (IS), Al-Qaeda,… đều có các hoạt động này, trong đó hoạt động tuyển lựa qua mạng xã hội của IS đã gây ra mối

lo ngại sâu sắc cho cộng đồng quốc tế Ở Việt Nam, cũng xuất hiện các hoạt động móc nối, chỉ đạo qua không gian mạng để thực hiện các hoạt động móc nối, chỉ đạo qua không gian mạng để thực hiện các nhiệm vụ phá hoại, gần đây có thể kể đến như hoạt động của đối tượng Pháp luân công ý đồ kéo đổ tượng đài V.I Lênin tại Hà Nội, đối tượng Đinh Nguyên Kha nhận chỉ đạo của tổ chức phản động lưu vong "Việt Nam quốc dân đảng" ý đồ đặt chất nổ tại tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Ở dạng thứ ba, nhiều cá nhân (trong đó có cả những người được các thế lực thù địch, phản động, các tổ chức khủng bố quốc tế lôi kéo, kích động,

Trang 22

chỉ đạo) lợi dụng tự do, dân chủ để sử dụng các trang web, mạng xã hội, blog, video clip tung thông tin riêng tư, bịa đặt, xuyên tạc lên mạng nhằm khủng bố tinh thần và tạo dư luận xã hội trên cộng đồng mạng nhằm phục vụ các ý đồ đen tối, gây phương hại đến ổn định chính trị và trật tự, an toàn xã hội

Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về khủng bố sử

dụng công nghệ cao như sau: khủng bố sử dụng công nghệ cao là những đối

tượng khủng bố sử dụng những thành tựu công nghệ cao làm công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi nhằm xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, xâm phạm tự do thân thể, tính mạng con người, tài sản Nhà nước

và của nhân dân cũng như gây cản trở việc thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại của một quốc gia độc lập, có chủ quyền

1.1.2 Đặc điểm, nguyên nhân và hậu quả của khủng bố nói chung

và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng

1.1.2.1 Về tính chất, đặc điểm của tội phạm khủng bố nói chung và tội phạm khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng

- Về tính chất của tội phạm khủng bố, bao gồm:

+ Tính chất chính trị: Tội phạm khủng bố xâm hại trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội bằng các hình thức vũ trang, bạo lực cực đoan Tội phạm khủng bố dễ bị các thế lực phản động quốc tế và thế lực thù địch khác âm mưu núp dưới chiêu bài chống khủng bố để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta

+ Tính chất kinh tế: Tội phạm khủng bố không chỉ nhằm đe dọa tính mạng con người mà còn nhằm phá hoại cơ sở vật chất của Nhà nước, của nhân dân, lợi ích của các nước khác trên lãnh thổ Việt Nam, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế

+ Tính chất xã hội: Với các hành vi như trên, tội phạm khủng bố không chỉ đe dọa nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của con người mà còn gây ra tình trạng hoảng sợ trong công chúng, xâm hại trực tiếp đến an ninh xã hội, tác động sâu sắc đến đời sống xã hội, cộng đồng

Trang 23

+ Tính chất quốc tế: Từ thực tiễn đấu tranh phòng chống khủng bố

cho thấy, tổ chức khủng bố thường mang tính chất xuyên quốc gia, mọi nơi đều có thể trở thành mục tiêu khủng bố, mọi lúc đều có thể xảy ra khủng bố, không một quốc gia, tổ chức nào có thể đơn phương chống khủng bố thành công Do vậy hợp tác quốc tế chống khủng bố càng trở nên quan trọng và trở thành một vấn đề thiết yếu liên quan đến sự thành bại cho cuộc đấu tranh chống khủng bố của chúng ta

- Về đặc điểm của khủng bố:

+ Về hành vi: Trên thực tế, hành vi khủng bố rất đa dạng, bao gồm các

loại hành vi như xâm hại tính mạng, thân thể con người, tài sản hay tổng hợp các loại hành vi đó Phần lớn các hành vi khủng bố là các hành vi sử dụng vũ lực đe dọa sử dụng vũ lực hoặc không mang tính vũ lực như chống phá bằng công nghệ thông tin (tin tặc); làm ô nhiễm nguồn nước, phát tán mầm bệnh Hiện nay, theo quy định của các Công ước quốc tế về chống khủng bố, hành

vi khủng bố bao gồm các hành vi: chống lại an toàn hàng không dân dụng; chống lại an toàn hành trình hàng hải và những công trình cố định trên thềm lục địa; tài trợ khủng bố; xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người, tài sản bằng các thiết bị gây nổ; chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế bao gồm viên chức ngoại giao; bắt cóc con tin; xâm phạm an toàn sức khỏe, tính mạng, tài sản con người bằng thiết bị hạt nhân

+ Về mục đích: Thực tiễn cho thấy, các vụ khủng bố thường gây ra tâm lý hoang mang, hoảng loạn, gieo rắc sự sợ hãi, nỗi kinh hoàng bao trùm lên cộng đồng dân cư dần dần làm mất niềm tin của người dân đối với chính quyền gây ra ảnh hưởng xấu đến ổn định xã hội, đến phát triển kinh tế của quốc gia, qua đó thực hiện cho được mục đích cuối cùng mà chúng nhắm tới chính là mục tiêu chính trị Trong một số Công ước quốc tế về chống khủng

bố thì mục đích chính trị cũng đã được nhắc đến, ví dụ Công ước Nerw York

1979 về chống bắt cóc con tin quy định hành vi thuộc phạm vi điều chỉnh

Trang 24

công ước phải là hành vi bắt giữ, giam giữ, đe dọa sẽ giết chết, sẽ làm bị thương nhằm cưỡng ép bên thứ ba, cụ thể là quốc gia, tổ chức quốc tế liên chính phủ, pháp nhân hoặc thể nhân, nhóm người nào đó phải thực hiện hay không được thực hiện bất kì hành vi nào như một điều kiện rõ ràng hoặc điều kiện ngầm cho việc phóng thích con tin

+ Về chủ thể: Hiện nay, có một số quan điểm cho rằng chủ thể thực

hiện hành vi khủng bố bao gồm cả quốc gia nhà nước khủng bố Tuy nhiên, phần lớn các Công ước quốc tế về phòng, chống khủng bố xác định cá nhân hoặc tổ chức là chủ thể của tội phạm khủng bố Cụ thể:

Công ước quốc tế về trấn áp khủng bố bằng bom năm 1997 tại Điều 2 quy định:

1 Một người bị coi là thực hiện một tội phạm nếu người đó ném, đặt, làm nổ hoặc kích nổ một cách bất hợp pháp và cố ý một thiết bị gây nổ hoặc gây chết người khác tại, vào hoặc chống lại một địa điểm công cộng, một trang thiết bị của Nhà nước hoặc Chính phủ, một hệ thống giao thông công cộng hoặc một cơ sở hạ tầng

2 Một người bị coi là thực hiện tội phạm nếu người đó có ý đồ thực hiện tội phạm quy định tại khoản 1 Điều này 3 Một người cũng bị coi là thực hiện tội phạm nếu người đó: (a) Tham gia với tư cách đồng phạm trong tội phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này; hoặc (b) Tổ chức hoặc chỉ đạo những người khác thực hiện tội phạm quy định tại khoản 1 và khoản 2 của Điều này; hoặc (c) Đóng góp bằng bất kỳ cách nào khác cho việc thực hiện một hoặc nhiều tội phạm quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 của Điều này do một nhóm người có cùng mục đích chung thực hiện, việc đóng góp này phải là cố ý và được thực hiện để trợ giúp hoạt động phạm tội chung hoặc mục đích chung của nhóm đó, hoặc được thực hiện khi đã nhận thức được ý đồ thực hiện tội phạm của nhóm đó [35]

Trang 25

Như vậy, chủ thể của tội phạm khủng bố theo quy định của Công ước quốc tế về trừng trị việc khủng bố bằng bom có thể là cá nhân hoặc tổ chức (nhóm người)

Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay và Công ước về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng, Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin, Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải, Nghị định thư

về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của những công trình

cố định trên thềm lục địa cũng ghi nhận cá nhân là chủ thể thực hiện tội phạm Một số Công ước quốc tế khác chỉ đề cập tới tội phạm khủng bố nhưng không nêu rõ chủ thể của tội phạm Ví dụ: Công ước về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được hưởng bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao không đề cập tới chủ thể thực hiện tội phạm mà tại Điều 2 chỉ quy định các hành vi bị coi là tội phạm và một số công ước xác định hành động quân sự của quốc gia không thuộc phạm vi điều chỉnh của Công ước

Dưới góc độ pháp luật quốc tế, cần phân biệt giữa hành vi vi phạm pháp luật quốc tế của chủ thể luật quốc tế với hành vi vi phạm được xác định là tội phạm có tính chất quốc tế Tội phạm có tính chất quốc tế là tội phạm hình sự do các cá nhân thực hiện xâm phạm tới trật tự pháp lí quốc tế hoặc quốc gia và có tính nguy hiểm trên phạm vi quốc tế mà tội khủng bố nằm trong nhóm này Các hành vi xâm phạm luật quốc tế của quốc gia sẽ được giải quyết theo chế định trách nhiệm pháp lí quốc tế bao gồm hai loại là: tội ác quốc tế và các vi phạm pháp lí thông thường khác Chính vì lẽ đó mà chủ thể của tội phạm khủng bố chỉ có thể là cá nhân và các tổ chức tội phạm (các băng, nhóm phạm tội)

Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả những hành động mang tính chất khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng do các quốc gia thực hiện cũng cần được xem xét, nghiên cứu để xây dựng các quy phạm pháp luật quốc tế điều chỉnh nhằm ngăn ngừa, trừng trị kịp thời những hành bất hợp pháp do quốc gia tiến hành

Trang 26

+ Về khách thể: Khách thể của tội phạm khủng bố nói chung và khủng

bố sử dụng công nghệ cao nói riêng là các quan hệ xã hội được các ĐƯQT đa phương về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố quốc tế bảo vệ và bị tội phạm khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng xâm hại Tội khủng bố xâm hại đến nhiều quan hệ xã hội do vậy khách thể của tội phạm này rất đa dạng bao gồm: quyền tự do cơ bản của con người, trật tự an toàn công cộng, hòa bình và an ninh quốc tế, mối quan hệ tốt đẹp giữa các quốc gia Tuy nhiên, không phải việc tấn công vào con người, tài sản trong trường hợp nào cũng bị coi là khủng bố Các Công ước quốc tế về chống khủng bố đều loại trừ các đối tượng bị tấn công là tàu bay, tàu biển được sử dụng phục vụ quân đội, hải quan, cảnh sát ra khỏi phạm vi điều chỉnh của công ước (như theo quy định tại Điều 1 khoản 4 Công ước về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay, Điều 3 khoản 2 Công ước về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay )

Một số công ước còn quy định cụ thể đối tượng chịu sự tác động của hành vi cấu thành tội khủng bố bao gồm dân thường hoặc bất kì người nào khác không tham gia chiến sự trong bối cảnh xung đột vũ trang (điểm b khoản 1 Điều 2 Công ước quốc tế về trừng trị hành vi tài trợ khủng bố), Công ước về trừng trị khủng bố bằng bom quy định đối tượng tác động của các hành vi cấu thành tội khủng bố gồm: địa điểm công cộng, hệ thống giao thông công cộng,

cơ sở hạ tầng, các trang thiết bị của nhà nước hoặc chính phủ

Có thể nhận thấy, đối tượng tác động của hành vi cấu thành tội khủng

bố là các mục tiêu dân sự, cộng đồng dân cư hoặc những người không trực tiếp tham gia chiến sự, những người được hưởng bảo hộ quốc tế

Trong thực tế có trường hợp sự tấn công nhằm vào mục tiêu hỗn hợp,

có cả quân sự và dân sự, ví dụ tòa nhà có cả cơ quan quân sự, Tội phạm khủng bố là tội phạm có "tính quốc tế" nên khách thể của tội phạm khủng bố không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà trên phạm vi toàn cầu, đó là hòa bình, an ninh quốc tế, lợi ích của nhân loại, là quan hệ bình thường ổn

Trang 27

định giữa các quốc gia hoặc là tính mạng, tài sản, sức khỏe, tự do, danh dự và các quyền con người cơ bản của các công dân thuộc quốc gia đó

1.1.2.2 Nguyên nhân gây ra khủng bố và hậu quả, tác hại của khủng

bố nói chung và tội phạm khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng đối với đời sống, xã hội

- Hoạt động khủng bố đa dạng và xuất hiện ở nhiều vùng khác nhau, với những điều kiện địa chính trị, xã hội khác nhau do đó nguyên nhân phát sinh và bùng phát chủ nghĩa khủng bố cũng rất đa dạng, đa phần đó là sự kết hợp của nhiều nguyên nhân chứ không phải do một hay hai nguyên nhân đơn

lẻ Tuy nhiên, có thể coi nguyên nhân gây ra chủ nghĩa khủng bố gồm hai nguyên nhân chính sau:

+ Về kinh tế: Trong khi toàn cầu hóa mang lại cho các nước phát triển

những lợi ích to lớn, những cơ hội phát triển mạnh mẽ thì nó mang lại cho các nước đang phát triển đầy những thách thức và rất nhiều khó khăn Hệ quả của

sự kiện này là khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng, tình trạng bất đình đẳng về kinh tế giữa các quốc gia cũng như giữa các tầng lớp xã hội trong cùng một quốc gia, mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với tình trạng phân phối không công bằng ngày một tăng

Sự bần cùng về kinh tế, nghèo đói, thất nghiệp đã gạt một bộ phận không nhỏ dân chúng ra bên lề của tiến trình phát triển, khiến họ mong muốn phải có sự thay đổi chính quyền, thay đổi sự áp đặt, chèn ép của các nước giàu lên các nước nghèo góp phần tạo ra khoảng trống về đạo đức, tư tưởng,

để chủ nghĩa khủng bố có điều kiện xâm nhập, gieo rắc tư tưởng phản kháng, thù hận, thúc đẩy một bộ phận của xã hội gia nhập lực lượng khủng bố Không ít thành viên hoạt động trong những mạng lưới khủng bố toàn cầu là những thanh niên trong độ tuổi 20 đến từ châu Phi, Đông Nam Á, khu vực Viễn Đông, Trung Đông và cả từ các nước phát triển

Có thể nói, bên cạnh những tác động tích cực của toàn cầu hóa như sự bùng nổ khoa học kỹ thuật, phương thức vận chuyển và thông tin xuyên biên

Trang 28

giới thì các hệ quả tiêu cực mà nó gây ra như nghèo đói, thất nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo trong xã hội quốc gia nói chung hay cộng đồng quốc tế nói riêng là những nguyên nhân quan trọng đưa tới sự phản kháng, đưa tới tình trạng bạo lực - môi trường thuận lợi, mầm mống tiềm tàng cho sự phát triển của chủ nghĩa khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng

+ Về chính trị: Các mâu thuẫn dân tộc và xung đột sắc tộc, tôn giáo là nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hành động khủng bố Có một số học giả và cả chính khách trên thế giới cho rằng tôn giáo là vườn ươm để chủ nghĩa khủng bố sinh sôi Có người còn đánh đồng Hồi giáo với chủ nghĩa khủng

bố, cho rằng Hồi giáo là nguyên nhân sinh ra chủ nghĩa khủng bố, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi các hình thức tôn giáo đi tới chủ nghĩa cực đoan

Chúng ta không thể đánh đồng chủ nghĩa khủng bố với Hồi giáo, nhưng cũng không thể phủ định một thực tế là không ít hoạt động khủng bố

có nguồn gốc từ mâu thuẫn tôn giáo Trong đó, điển hình là các cuộc khủng

bố của các tổ chức Al-Qaeda kích động phong trào Jihad (Thánh chiến) trên toàn cầu nhằm lật đổ các chế độ mà Al-Qaeda cho là thối nát và phản Hồi giáo tại các quốc gia Ả Rập và các nước Hồi giáo khác Al-Qaeda muốn thay thế các chế độ nói trên bằng một nhà nước Hồi giáo duy nhất hoặc một đế chế được quản lý chặt chẽ bằng cái gọi là sharia (Luật Hồi giáo) hay IS với tư tưởng chiến đấu là thiết lập một Nhà nước Hồi Giáo thống nhất toàn Trung Đông, tại đó những giá trị thiêng liêng của Hồi Giáo sẽ được khôi phục như những ngày đầu của Hồi giáo, khi Đấng tiên tri Muhammed còn tại thế

Có thể thấy, mọi thứ tư tưởng hệ nuôi dưỡng chủ nghĩa khủng bố về mặt thế giới quan đều có thể quy về chủ nghĩa cực đoan (cực đoan dân tộc, cực đoan tôn giáo) Chủ nghĩa dân tộc cực đoan bảo thủ có thể dẫn đến chủ nghĩa bài ngoại, hoặc chủ nghĩa ly khai Đây được coi là một trong những nguồn gốc dai dẳng nhất, mạnh mẽ nhất và nguy hiểm nhất khiến phát sinh chủ nghĩa khủng bố Trong khi đó, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan khiến các tín

Trang 29

đồ tôn thờ Đấng tối cao một cách mù quáng, lợi dụng đức tin để kêu gọi

"Thánh chiến"

Bên cạnh đó, nguyên nhân bế tắc về tư tưởng, mất niềm tin vào cuộc sống cũng là một trong những nguyên nhân chính của hoạt động khủng bố Điều này giải thích tại sao tại các nước phát triển tại châu Âu, mặc dù nhiều người có cuộc sống đầy đủ vật chất và các điều kiện sinh hoạt cá nhân nhưng

họ vẫn sẵn sàng tự nguyện gia nhập các tổ chức khủng bố quốc tế; một bộ phận không nhỏ cho rằng các tổ chức khủng bố chính là nơi tạo cho họ vị trí, niềm tin vào cuộc sống, lý tưởng sống Sự thiếu vắng hệ tư tưởng cách mạng cùng với toàn cầu hóa nếu không biết khai thác thì dễ làm xóa mờ bản sắc văn hóa dân tộc đã tạo ra một khoảng trống, mà chủ nghĩa khủng bố có thể lợi dụng để xâm nhập, kích động tâm lý, tuyên truyền trong dân chúng, tạo nên những hành động phản kháng chính quyền

- Về hậu quả, tác hại của khủng bố nói chung và tội phạm khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng đối với đời sống, xã hội:

+ Hàng năm, những vụ khủng bố đã cướp đi không biết bao nhiêu sinh mạng con người, gây nên cảnh đổ máu tàn khốc, người thân li tán Những người may mắn sống sót có thể mang theo di chứng suốt đời Khủng bố còn làm tiêu tốn biết bao nhiêu công sức, của cải của con người Tài sản, nhà cửa, các công trình kiến trúc mà bao người phải nỗ lục trong nhiều năm tháng mới tạo dựng lên được chỉ trong một tích tắc đã bị hủy hoại hoàn toàn Nhiều người bị đày vào cảnh không nhà, không cửa, tay trắng chỉ trong giây phút Kèm theo đó, nguy hiểm hơn là môi trường sống của trái đất bị đặt trong nguy

cơ bị hủy diệt bất cứ lúc nào Đây là những hậu quả tức thời trước mắt mà ai cũng có thể nhìn thấy

Hàng loạt vụ khủng bố tại Pháp vào tháng 11/2015 minh chứng cho sự tàn sát đẫm máu và hậu quả để lại rất lớn cho không chỉ nước Pháp: Một loạt các vụ nổ súng và các vụ nổ kinh hoàng đã xảy ra tại các quận 10 và 11 của

Trang 30

thủ đô Paris, tại sân vận động Stade de France ở Saint-Denis, phía bắc thủ đô,

và các nơi khác trong vùng Île-de-France bắt đầu từ lúc 21:16 thứ sáu, ngày

13 tháng 11 năm 2015 cho đến 00:58 ngày 14 tháng 11 năm 2015 Có ít nhất

3 vụ nổ riêng biệt và 6 vụ nổ súng đã được báo cáo xung quanh thủ đô, trong

đó có một vụ đánh bom gần Stade de France ở vùng ngoại ô Saint-Denis phía bắc Cuộc tấn công đẫm máu xảy ra tại nhà hát Bataclan nơi bọn tấn công đã bắt con tin trước khi bị cảnh sát tràn vào khống chế vào lúc 00:58 Hơn 132 người đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công bằng súng và bom, riêng tại phòng hòa nhạc Bataclan ở trung tâm Paris là 89 người Có 352 người bị thương trong các vụ tấn công Một báo cáo cho rằng đã có khoảng 8 tên khủng bố, 7 người đã chết Sau cuộc tấn công, Tổng thống Pháp François Hollande tuyên bố tình trạng khẩn cấp và đóng cửa biên giới toàn bộ nước Pháp trên đài truyền hình Đây là lần đầu tiên Pháp tuyên bố tình trạng khẩn cấp kể từ năm 1961 và chiến tranh Algeria Lệnh giới nghiêm cũng lần đầu tiên được đưa ra kể từ năm 1944 Ngày 14/11/2015 Nhà nước Hồi giáo (IS) thừa nhận trách nhiệm về vụ tấn công Tổng thống Hollande cũng nói rằng

"vụ tấn công được phối hợp, lên kế hoạch và tổ chức từ bên ngoài, với sự hỗ trợ từ bên trong và mô tả đây là "một hành động chiến tranh" Cuộc tấn công được xem đẫm máu nhất tại Pháp kể từ thế chiến 2 Đây cũng là cuộc tấn công đẫm máu trong Liên minh châu Âu kể từ vụ đánh bom tại Madrid năm

2004 Trước đó ngày 12 tháng 11 năm 2015 đã xảy ra cuộc tấn công của IS tại Lebanon làm thiệt mạng 43 người và 14 ngày trước đó là vụ tai nạn máy bay Metrojet 9268 của Nga làm 217 hành khách và 7 nhân viên thiệt mạng, chi nhánh Sinai của IS tuyên bố nhận trách nhiệm cuộc tấn công

+ Không chỉ có vậy, nạn khủng bố lan tràn khiến tất cả mọi người mất

đi cảm giác an toàn, cảm giác yên tâm trong cuộc sống trong cuộc sống Nỗi

ám ảnh về khủng bố len lỏi vào cuộc sống bình yên của mọi người và đang mài mòn, thách thức sức chịu đựng của tất cả Chưa bao giờ trong lịch sử

Trang 31

nhân loại hình thức khủng bố lại tàn bạo đến thế Chúng hành quyết, chặt đầu nhiều người và bêu thi thể của họ tại quảng trường, nơi công cộng Điển hình như, IS đã tung video chặt đầu con tin người Mỹ Peter Kassig và công khai hình ảnh ghi lại cảnh hành hình các phi công và sĩ quan trung thành với chính phủ tổng thống Bashar al-Assad cùng lời đe dọa với Anh và Mỹ Khả năng hủy hoại thần kinh loài người của nó còn lớn và tai hại gấp nhiều lần khả năng làm đổ máu hay phá hủy tài sản

+ Bên cạnh những hậu quả có liên quan đến con người, còn tồn tại những hậu quả lâu dài cho tương lai loài người Khủng bố nói chung và khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng còn khiến cho mâu thuẫn, xung đột trên thế giới ngày càng trờ nên gay gắt quyết liệt Khối thống nhất, nền hòa bình mà nhân loại nỗ lực xây dựng đã bị xâm hại và lung lay thực sự gây thiệt hại nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của một chính phủ, hệ thống giao thông công cộng, hệ thống liên lạc hay cơ sở hạ tầng, làm mất ổn định nghiêm trọng hoặc hủy hoại cơ cấu xã hội, kinh tế, thể chế và chính trị căn bản của một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế Khủng bố chưa phải là một cuộc chiến tranh công khai trên một phạm vi rộng nhưng tiến hành khủng bố là cách để nuôi dưỡng mầm mống và làm bùng phát chiến tranh trên toàn thế giới

1.2 Quá trình phát triển của chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố

1.2.1 Giai đoạn trước cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001

Ban đầu hợp tác quốc tế về chống khủng bố hình thành ở cấp độ song phương giữa các quốc gia thông qua các tập quán, các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự trong đó có quy định trách nhiệm của các bên tham gia ký kết trong việc trao đổi thông tin, tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm trong đó

có tội phạm khủng bố

Ở cấp độ đa phương, có thể nói ĐƯQT đa phương đầu tiên đề cập tới khủng bố là Công ước Giơnevơ năm 1937 về ngăn ngừa và trừng trị khủng bố

Trang 32

quốc tế Tuy nhiên, do không hội đủ số lượng thư phê chuẩn nên Công ước đã

không phát sinh hiệu lực Đây đánh dấu nỗ lực đầu tiên của cộng đồng quốc tế trong hợp tác chống khủng bố, đặt cơ sở nền móng cho các nỗ lực tiếp theo của cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực này

Từ sau Công ước Giơnevơ năm 1937 cộng đồng quốc tế đã ngày càng chú ý và tập trung xây dựng nhiều hơn các văn bản quy phạm pháp luật quốc

tế về chống khủng bố và đã có nhiều công ước về chống khủng bố trong các lĩnh vực bảo an ninh hàng không quốc tế, hàng hải, ngoại giao, chống bắt cóc con tin, đảm bảo an toàn vật liệu hạt nhân, an toàn hàng hải, công trình cố định trên biển và thềm lục địa, đánh dấu chất nổ dẻo, chống khủng bố bằng bom được thông qua Cụ thể:

Trong lĩnh vực đảm bảo an ninh hàng không quốc tế, dưới sự bảo trợ và chủ trì của Liên hợp quốc và Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế - ICAO, nhiều ĐƯQT về chống khủng bố hàng không quốc tế đã được ra đời, như: Công ước Tokyo năm 1963 về các tội phạm và một số hành vi khác thực hiện trên tàu bay; Công ước Lahaye 1970 về trừng trị việc chiếm giữ bất hợp pháp tàu bay; Công ước Montreal năm 1971 về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng không dân dụng; Nghị định thư Montreal năm

1988 về trừng trị các hành vi bạo lực bất hợp pháp tại các cảng hàng không phục vụ hàng không dân dụng quốc tế

Trong lĩnh vực hàng hải, Liên hợp quốc và Tổ chức Hàng hải quốc tế IMO đã soạn thảo và thông qua một số Công ước quốc tế như: Công ước về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hành trình hàng hải năm 1988; Nghị định thư Rome năm 1988 về trừng trị các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn của các công trình cố định trên thềm lục địa

-Cùng với đó là các công ước về các lĩnh vực khác, cụ thể: Công ước New York 1973 về ngăn ngừa và trừng trị các tội phạm chống lại những người được bảo hộ quốc tế, bao gồm viên chức ngoại giao; New York năm

Trang 33

1979 về chống bắt cóc con tin; Công ước Viên 1979 về bảo vệ an toàn vật liệu

hạt nhân; Công ước về đánh dấu chất nổ dẻo để nhận biết năm 1991; Công

ước New York năm 1997 về trừng trị khủng bố bằng bom, Công ước New York năm 1999 về trừng trị hành vi tài trợ cho khủng bố

Có thể nói, dù chưa đạt được sự thống nhất về quan điểm để cùng nhau xây dựng một ĐƯQT chung có tính toàn cầu về chống khủng bố quốc tế nhưng các quốc gia đã thành công trong việc xây dựng các quy phạm quốc tế liên quan đến phòng, chống khủng bố trong những lĩnh vực riêng biệt

Bên cạnh các Công ước quốc tế về chống khủng bố được thông qua trong khuôn khổ Đại hội đồng Liên hợp quốc và các tổ chức thành viên, Hội đồng bảo an Liên hợp quốc với vai trò quan trọng trong việc gìn giữ hòa bình nói chung và ngăn ngừa những hành vi khủng bố đe dọa đến hòa bình quốc tế nói riêng đã cho ban hành nhiều nghị quyết về chống khủng bố như: Nghị quyết

số 1267 năm 1999 về tình hình khủng bố ở Afghanistan, Nghị quyết số 1333 (2000), Nghị quyết số 1363 (30/7/2001), Nghị quyết số 1373 về phong tỏa, tịch thu tài sản của các phần tử khủng bố và tài trợ cho khủng bố ngày 28/9/2001

Ở cấp độ khu vực, đã có một số điều ước về chống khủng bố được ký kết, như: Công ước về phòng ngừa và trừng trị khủng bố năm 1971 của Tổ chức các quốc gia châu Mỹ; Công ước châu Âu về chống khủng bố năm 1977; Công ước về chống khủng bố năm 1987 của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á; Công ước Arập về chống khủng bố năm 1998 của Liên đoàn các quốc gia Arập; Hiệp định hợp tác chống khủng bố năm 1999 của Cộng đồng các quốc gia độc lập (SNG); Công ước về chống khủng bố quốc tế năm 1999 của Tổ chức hội nghị Hồi giáo; Công ước về phòng ngừa và chống khủng

bố năm 1999 của Liên minh châu Phi (AU), Hiệp ước về hợp tác giữa các quốc gia thành viên của Khối thịnh vượng chung của các quốc gia độc lập trong cuộc chiến chống khủng bố, năm 1999 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)

Trang 34

1.2.2 Giai đoạn từ sau cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 đến nay

Kể từ sau cuộc khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 trước sự phát triển mạnh mẽ và mở rộng không ngừng về phạm vi, lĩnh vực hoạt động của tội phạm khủng bố, đứng trước nguy cơ hòa bình và an ninh quốc tế bị đe dọa nghiêm trọng các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã xích lại gần nhau, hợp tác chặt chẽ hom trong đấu tranh chống khủng bố

Trên bình diện hợp tác giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế trong cuộc chiến chống khủng bố sau sự kiện ngày 11/9 tại Mỹ, vai trò của Liên hợp quốc trong cuộc chiến chống khủng bố cũng ngày càng rõ nét Hội đồng bảo an Liên hợp quốc ngày càng khẳng định vị trí của mình trong tiến trình chống khủng bố nói riêng và duy trì hòa bình, an ninh quốc tế nói chung

Minh chứng cụ thể cho sự phát triển mạnh của hợp tác chống khủng bố

là năm 2006 tại kỳ họp lần thứ 60, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Chiến lược toàn cầu về chống khủng bố Chiến lược toàn cầu chống khủng bố

có phạm vi bao trùm các khía cạnh của hoạt động chống khủng bố, là cơ sở

pháp lý quan trọng cho hợp tác đấu tranh chống khủng bố giữa các quốc gia

Rất nhiều nghị quyết chống khủng bố tiếp tục được Hội đồng bảo an thông qua: Nghị quyết số 1390 (2002); Nghị quyết số 1452 (2002); Nghị quyết 1456 (2003); Nghị quyết 1455, Nghị quyết 1465 và 1516; Nghị quyết

số 1624 (2005) về các biện pháp bổ sung chống các hành vi kích động khủng bố Cùng với các nghị quyết của Đại hội đồng và Hội đồng bảo an là các cơ chế giám sát việc thực hiện Nghị quyết và các biện pháp thực thi cụ thể trong

đó có việc thành lập các Ủy ban và thiết lập cơ chế báo cáo quốc gia

Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều các ĐƯQT đa phương, song phương

và các ĐƯQT và khu vực cùng các thỏa thuận song phương về hợp tác chống khủng bố được thông qua tạo nền tảng nền tảng các chế định pháp lý vững chắc trong cuộc chiến chống khủng bố Cụ thể:

Công ước Viên năm 2005 (sửa đổi Công ước Viên năm 1980) về bảo

vệ an toàn vật liệu hạt nhân, Công ước New York năm 2005 về ngăn ngừa

Trang 35

các hành vi khủng bố bằng hạt nhân, Nghị định thư năm 2005 bổ sung Công ước về ngăn chặn các hành vi phi pháp chống lại an toàn hàng hải, Nghị định thư năm 2005 bổ sung Nghị định thư về trừng trị những hành vi bất hợp pháp chống lại những công trình trên thềm lục địa; Công ước về ngăn ngừa những hành vi trái pháp luật liên quan đến hàng không dân dụng quốc tế năm 2010; Ở cấp độ hợp tác song phương, có một số hiệp định chống khủng bố được các quốc gia ký kết như: Thỏa thuận giữa Thổ Nhĩ Kỳ

và Iran về chống khủng bố năm 2007; Bản ghi nhớ về hợp tác chống khủng

bố quốc tế giữa Bangladesh và Australia 2008, Hiệp định Hợp tác và Đối tác (PCA) giữa Indonesia và Liên minh châu Âu (EU) năm 2009, Thỏa thuận chống khủng bố Mỹ - Ấn Độ năm 2010; Thỏa thuận hợp tác chống khủng bố

Mỹ - Nga năm 2011

Ở cấp độ khu vực, Công ước chung về chống khủng bố (ASEAN Convention on Counter Terrorism 2007, Công ước chống khủng bố của Tổ chức hợp tác Thượng Hải năm 2009; Kế hoạch hành động của EU về chống khủng bố 2011) đã được các quốc gia trong khu vực cùng nhau kí kết

Như vậy cùng với sự phát triển của khủng bố, quá trình hợp tác chống khủng bố giữa các quốc gia và cộng đồng quốc tế đã ngày càng đi vào thực chất và có chiều sâu hơn, các chế định pháp lý từ cấp độ song phương đến khu vực, liên khu vực và toàn cầu ngày càng bao trùm

Tiểu kết Chương 1

Như vậy, việc nghiên cứu, bổ sung lý luận về khủng bố, khủng bố sử dụng công nghệ cao là hết sức cần thiết, góp phần giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ về khủng bố cũng như các hình thức khủng bố; những khó khăn vướng mắc trong nhận định cũng như đấu tranh với các hành vi khủng bố trong thời

kỳ khoa học công nghệ ngày càng phát triển

Những quy định, chế định pháp lý quốc tế về chống khủng bố qua lịch sử hình thành ngày càng được hoàn thiện Tuy nhiên hệ thống văn bản

Trang 36

pháp luật quốc tế về chống khủng bố nói chung và chống khủng bố sử dụng công nghệ cao nói riêng vẫn chưa có một định nghĩa chung hoàn chỉnh, thống nhất Do đó, việc xây dựng một định nghĩa chung về khủng bố là hết sức cần thiết để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả đối với các hành vi khủng bố Bởi lẽ, chúng ta muốn chống khủng bố tốt, trước hết chúng ta phải nhận thức được đầy đủ, rõ ràng về nội hàm, ngoại diên của nó Cũng trên cơ sở của việc nhận thức, xây dựng định nghĩa chung về khủng bố sẽ thúc đẩy quá trình hợp tác chống khủng bố giữa các quốc gia ngày càng phát huy hiệu quả, nhất là trong đấu tranh với các hành vi khủng bố sử dụng công nghệ cao Bởi vì, sự thống nhất cũng như mối quan hệ gắn bó giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế có ý nghĩa hết sức quan trọng trong cuộc đấu tranh chống khủng bố; mặt trận mà cả nhân loại cùng lên án và muốn loại bỏ

ra khỏi đời sống xã hội

Trang 37

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ CHỐNG KHỦNG BỐ

2.1 Các quy định của pháp luật quốc tế về chống khủng bố

2.1.1 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế trong hoạt động chống khủng bố

Nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố được hiểu là những tư tưởng chính trị, pháp lý mang tính chỉ đạo, bao trùm có giá trị bất buộc chung được ghi nhận ở các ĐƯQT và tập quán quốc tế làm cơ

sở cho các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế trong tiến trình hợp tác đấu tranh chống khủng bố

Là một bộ phận của luật quốc tế nên pháp luật quốc tế về chống khủng

bố trước hết phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế bên cạnh

đó do còn có những đặc thù riêng nên pháp luật quốc tế về chống khủng bố sử dụng công nghệ cao cũng có những nguyên tắc đặc thù điều chỉnh Vì vậy, có thể phân chia nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về đấu tranh chống khủng bố làm nhóm các nguyên tắc chung và nhóm các nguyên tắc đặc thù Trong phạm vi luận văn sẽ chỉ đi sâu nghiên cứu nhóm các nguyên tắc đặc thù

2.1.1.1 Nhóm nguyên tắc chung

- Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia;

- Nguyên tắc không sử dụng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực;

- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;

- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác;

- Nguyên tắc tận tâm, thiện chí thực hiện cam kết quốc tế;

- Nguyên tắc dân tộc tự quyết;

- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác

Đây là những nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của toàn bộ các hệ thống các nguyên tắc của luật quốc tế hiện đại Nó được ghi nhận trong các

Trang 38

điều lệ của các tổ chức thuộc hệ thống Liên hợp quốc, của tuyệt đại đa số các

tổ chức quốc tế phổ cập và các tổ chức quốc tế khu vực, trong nhiều ĐƯQT

đa phương và song phương và trong nhiều văn bản quốc tế quan trọng của các hội nghị và tổ chức quốc tế

Vì vậy, đây là nguyên tắc quan trọng nhằm tránh lợi dụng việc chống khủng

bố để can thiệp trái phép, xâm phạm chủ quyền quốc gia khác, đảm bảo hoà bình và an ninh quốc tế Nội dung của nguyên tắc là các quốc gia không lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ hoặc đơn phương tiến hành các hành

vi thuộc quyền tài phán hoặc các chức năng thuộc thẩm quyền của cơ quan hữu quan của mình trên lãnh thổ của quốc gia khác khi không được sự cho phép của quốc gia đó

Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại một số điều ước song phương, điều ước đa phương Điển hình như tại Điều 20 và Điều 22 Công ước quốc tế

về chống tài trợ khủng bố quy định như sau: "Các quốc gia thành viên sẽ thực

hiện các nghĩa vụ của mình theo quy định của Công ước này theo phương thức phù hợp với nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc

gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác" và "không một

quy định nào trong Công ước này cho phép quốc gia thành viên thực hiện trên lãnh thổ quốc gia thành viên khác quyền tài phán hoặc các chức năng dành riêng cho các cơ quan có thầm quyền của quốc gia"

Trang 39

Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ khi cho phép các quốc gia

và Hội đồng bảo an sử dụng vũ lực hợp pháp theo quy định tại các điều từ 42 đến 47 và Điều 51 Hiến chương Liên hợp quốc

- Pháp luật chống khủng bố và các biện pháp chống khủng bố không được vi phạm các quyền con người cơ bản

Quyền con người được hiểu là: "phẩm giá năng lực, nhu cầu và lợi ích hợp pháp của con người được thể chế, bảo vệ bởi pháp luật quốc gia, pháp

luật quốc tế" Mục đích cơ bản và quan trọng nhất trong hợp tác quốc tế về

chống khủng bố là để bảo vệ các quyền con người được pháp luật quốc tế thừa nhận, đảm bảo cho nhân loại được tồn tại và phát triển trong hoà bình thừah vì vậy, bảo vệ quyền con người là nguyên tắc cơ bản trong pháp luật chống khủng bố quốc tế

Nguyên tắc này được thể hiện thông qua việc các quyền của người bị tình nghi là phạm tội được bảo đảm Trong quá trình thực thi quyền tài phán, thực hiện các thủ tục tố tụng (tạm giam, điều tra, truy nã người bị tình nghi) của mình, các quốc gia có nghĩa vụ; đảm bảo quyền hợp pháp và được đối xử công bằng đối với người bị tình nghi phạm tội trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng (Điều 13 Công ước Tokyo năm 1963, Điều 8 Công ước New York năm 1979, Điều 12 Công ước Viên năm 1980, Điều 14 Công ước New York năm 1997 ) thực hiện các biện pháp cần thiết để đảm bảo quyền của người bị giam giữ như: hỗ trợ người đó trong việc liên lạc ngay với đại diện thích hợp gần nhất của quốc gia mà người đó là công dân, thông báo cho quốc gia đó hoặc cho bất kỳ quốc gia nào khác có liên quan về việc giam giữ đó, lý

do, hoàn cảnh giam giữ

Theo các quy định về thủ tục tố tụng của các Công ước quốc tế về chống khủng bố, người bị tình nghi phạm tội được hưởng đầy đủ các quyền của mình trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng và dẫn độ mà không

có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào

Trang 40

Ví dụ: Điều 12 Công ước về bảo vệ an toàn vật liệu hạt nhân quy định

"Trong quá trình tiến hành các thủ tục tố tụng đổi với một người liên quan đến bất tội phạm nào được quy định tại Điều 7, người đó sẽ được đảm bảo đối

xử công bằng trong tất cả các giai đoạn của tiến trình tổ tụng" Khoản 3 Điều 6 Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin quy định các quyền của người phạm tội, bao gồm: "Liên lạc ngay với đại diện thích hợp ở gần nhất của quốc gia

mà người đó mang quốc tịch hoặc quốc gia có quyền liên lạc như vậy hoặc quốc gia nơi người đó thường trú nếu người này không có quốc tịch; được đại

diện của quốc gia đó đến thăm; được thông báo về các quyền của mình" và

"bất kỳ người nào đang bị thực hiện các thủ tục tố tụng có liên quan đến bất

kỳ tội phạm nào được nêu tại Điều 1 sẽ được đảm bảo sự đối xử công bằng trong tất cả các giai đoạn tố tụng, bao gồm cả việc được hưởng tất cả các quyền và các bảo đảm được quy định trong pháp luật quốc gia nơi người đó

có quốc tịch" (Khoản 2 Điều 8)

Ngoài ra, các Công ước quốc tế về chống khủng bố đều quy định việc không được dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý nếu một quốc gia thành viên công ước có đầy đủ cơ sở tin rằng yêu cầu dẫn độ hoặc tương trợ pháp lý nhằm mục đích phương hại đến người khác vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nguồn gốc sắc tộc hoặc chính kiến của họ

Bên cạnh đó, pháp luật quốc tế về chống khủng bố còn có các quy định bảo vệ quyền của những nạn nhân của khủng bố Công ước quốc tế về chống bắt cóc con tin năm 1979 nhằm mục đích bảo vệ một trong những quyền con người cơ bản nhất - quyền tự do thân thể, đã thừa nhận rằng "mọi

người đều có quyền sống, quyền tự do và quyền được an toàn về thân thể" và

quốc gia nơi con tin bị bắt giữ có nghĩa vụ "thực hiện tất cả các biện pháp mà

quốc gia đó cho là thích hợp để giảm nhẹ tình trạng của con tin, đặc biệt là đảm bảo phóng thích con tin và trợ giúp con tin rời đi sau khi được phóng thích, khi thích hợp"

Ngày đăng: 08/03/2018, 08:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w