1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)

143 258 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

./ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐÀO HỮU TUẤN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

./ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

ĐÀO HỮU TUẤN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ CÔNG

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Văn Chức, Học viện Hành chính Quốc gia

Tư liệu và kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Thừa Thiên Huế, tháng 12 năm 2017

Học viên Đào Hữu Tuấn

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các Thầy, Cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia và Cơ sở Đào tạo của Học viện Hành chính Quốc gia tại miền Trung đã cung cấp cho tôi những tri thức quý báu trong quá trình học tập, nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó Giáo sư - Tiến sĩ Hoàng Văn Chức, Học viện Hành chính Quốc gia, người đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Chân thành cảm ơn Văn phòng Tỉnh ủy, Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh,

Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch - Đầu tư tỉnh Quảng Bình, các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã hết lòng giúp đỡ, động viên, khích lệ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi có được kết quả ngày hôm nay

Mặc dù rất tâm huyết với đề tài và đã có rất nhiều cố gắng nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, kính mong quý thầy, cô tiếp tục chỉ dẫn; bạn bè, đồng nghiệp góp ý để luận văn được hoàn thiện hơn

Thừa Thiên Huế, tháng 12 năm 2017

Học viên

Đào Hữu Tuấn

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI 12

1.1 Những khái niệm liên quan đến đề tài 12

1.1.1 Quan niệm của Việt Nam về tổ chức phi chính phủ 12

1.1.2 Quan niệm của thế giới về tổ chức phi chính phủ 14

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam 20

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam 25

1.2.1 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam 25

1.2.2 Thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 27

1.2.3 Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế 30

1.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 31

1.3.1 Nội dung quản lý 31

1.3.2 Chủ thể quản lý 39

1.3.3 Đối tượng quản lý 40

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 41

1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước 41

1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Quảng Bình 45

Trang 6

Chương 2:THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚICÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH 49 2.1 Khái quát về kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình có ảnh hưởng đến

quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài 49

2.1.1 Đặc điểm địa lý, tự nhiên 49

2.1.2 Về phát triển kinh tế 50

2.1.3 Về dân cư, dân tộc, tôn giáo 53

2.2 Hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 55

2.2.1 Về số lượng 55

2.2.2 Về phạm vi và lĩnh vực hoạt động 56

2.2.3 Nhận xét hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 58

2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 62

2.3.1 Tổ chức thực hiện và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn Tỉnh 62

2.3.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn Tỉnh 66

2.3.3 Hoạt động vận động viện trợ và sử dụng nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn Tỉnh 71

2.3.4 Quản lý thông tin liên quan đến hoạt động của các tổ phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn Tỉnh 74 2.3.5 Giám sát, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và tổng kết về quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng

Trang 7

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ

nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 78

2.4.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 78

2.4.2 Kết quả đạt được 80

2.4.3 Hạn chế 82

2.4.4 Nguyên nhân 87

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH 92

3.1 Quan điểm của Đảng và phương hướng, mục tiêu quản lý tổ chức phi chính phủ nước ngoài 92

3.1.1 Dự báo xu hướng phát triển của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại tỉnh Quảng Bình 92

3.1.2 Quan điểm của Đảng 93

3.1.3 Mục tiêu quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài của tỉnh Quảng Bình 96

3.2 Giải pháp quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 97

3.2.1 Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý hoạt động các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 97

3.2.2 Hoàn thiện bộ máy quản lý và xây dựng cơ chế phối hợp quản lý tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 100

3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý hoạt động của tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Quảng Bình 102

3.2.4 Vận động thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn viện trợ phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn Tỉnh 106

Trang 8

3.2.5 Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về công tác

phi chính phủ nước ngoài 108

3.2.6 Nâng cao hiệu quả hoạt động tổng kết, đánh giá 110

3.2.7 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 111

3.3 Một số khuyến nghị 114

3.3.1 Đối với Trung ương 114

3.3.2 Đối với các Bộ, Ngành 116

KẾT LUẬN 120 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 9

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

IMF : International Monetary Fund

(Quỹ tiền tệ quốc tế) KT-XH : Kinh tế - xã hội LHQ : Liên hiệp quốc ODA : Oficial Development Assistance

(Viện trợ phát triển chính thức) PCP : Phi chính phủ

PCPNN : Phi chính phủ nước ngoài QLNN : Quản lý nhà nước

Sở KH-ĐT : Sở Kế hoạch - Đầu tư TCPCP : Tổ chức phi chính phủ TCPCPNN : Tổ chức phi chính phủ nước ngoài UBND : Ủy ban Nhân dân

VH-XH : Văn hóa - xã hội

WB : World Bank (Ngân hàng thế giới) XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Các tổ chức phi chính phủ là một hiện tượng có tính toàn cầu đến mức

mà ngày nay người ta đã nói tới một Cộng đồng phi chính phủ có mặt ở khắp mọi nơi trên thế giới Trong quá trình phát triển xã hội, bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ thì các tổ chức phi chính phủ đã góp phần không nhỏ vào quá trình cải thiện cuộc sống của những người nghèo, những người bị thiệt thòi trong xã hội, các nạn nhân bị thiên tai và chiến tranh, giúp các quốc gia, dân tộc tự phát triển một cách bền vững Trong lịch sử nhân loại, đặc biệt là từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, các tổ chức phi chính phủ ngày càng nổi lên như một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển xã hội

Quảng Bình là một tỉnh sớm có nhiều hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có 45

tổ chức PCPNN đăng ký hoạt động, trong đó: có 43 tổ chức đã được cấp giấy phép theo Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ, 02 tổ chức còn lại đang được Bộ Ngoại giao tiến hành cấp giấy phép Trong đó, có 02 tổ chức có Văn phòng dự án tại Quảng Bình là tổ chức Mines Advisory Group và tổ chức Plan International Trong năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đề nghị Ủy ban Công tác về các tổ chức PCPNN tiến hành các thủ tục cấp mới Giấy Đăng ký lập Văn phòng Đại diện cho tổ chức Australian Volunteers International (Australia), Giấy Đăng ký hoạt động cho tổ chức Aide à l’enfance du Viet-Nam (Hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam - Pháp), gia hạn Giấy Đăng ký lập Văn phòng Dự án tại Việt Nam cho tổ chức Save the Children International (Quốc tế), bổ sung tỉnh Quảng Bình vào địa bàn hoạt động của tổ chức Give2Asia (Mỹ), Oxfam Great Britain (Anh), Norwegian People’s Aid (Na Uy)

Trang 12

Nhìn chung, các tổ chức PCPNN hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đều có giấy phép hoạt động do Bộ Ngoại giao cấp, tôn trọng pháp luật của Việt Nam cũng như truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của địa phương, hoạt động đúng với lĩnh vực đã đăng ký, phối hợp tốt với đối tác địa phương để thực hiện đầy đủ các thủ tục về phê duyệt, tiếp nhận dự án và thực hiện các chương trình, dự án theo các nội dung, kế hoạch đã được phê duyệt Trong 10 năm gần đây (2007 - 2016), đã tiếp nhận nguồn viện trợ từ các tổ chức quốc tế, tổ chức PCPNN với số tiền trên 30 triệu USD cho khoảng 300

dự án Nguồn viện trợ này đã tập trung vào các lĩnh vực xã hội đang quan tâm, giải quyết được phần nào nhu cầu bức thiết cho nhân dân các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người

Với số lượng lớn các tổ chức phi chính phủ nước ngoài đang hoạt động tại tỉnh Quảng Bình và hoạt động của các tổ chức này đa dạng trên nhiều lĩnh vực khác nhau, công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức này đòi hỏi được hoàn thiện và thống nhất toàn diện Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như thực tiễn còn tồn tại nhiều vấn đề cần nghiên cứu, hoàn thiện như thể chế quản lý nhà nước chưa đầy đủ, chưa thống nhất, đồng bộ, chưa phù hợp với thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các tổ chức PCPNN chưa được kiện toàn; nhân

sự chưa đảm bảo tính chuyên môn nghiệp vụ; cơ chế quản lý chưa thống nhất

từ trung ương đến địa phương…

Qua tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về hiệu quả, vai trò, lĩnh vực hoạt động của các tổ chức PCPNN Hiện tại, chưa có tài liệu nghiên cứu chính thức nào nghiên cứu về thực trạng hoạt động và công tác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Chính vì vậy, việc cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý nhà

Trang 13

quản lý hoạt động các tổ chức PCPNN tại Quảng Bình hiện nay và từ đó đề ra biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Quảng Bình là rất cần thiết và mang tính thời sự

Từ những lý do trên, tác giả chọn “Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Ở Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ được nhiều tác giả xếp vào phạm trù xã hội công dân (xã hội dân sự) gồm một dải rộng các tổ chức: Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội thuộc hệ thống chính trị; các tổ chức xã hội - nghề nghiệp; các hiệp hội kinh tế; các hợp tác xã; các tổ chức của các giới; các tổ chức từ thiện, nhân đạo, hữu nghị; các tổ chức phi chính phủ Nhiều tác giả đã có những nghiên cứu xã hội dân sự về thể chế xã hội và vai trò của tổ chức này trong phát triển kinh tế xã hội như các tác giả Hoàng Chí Bảo, Thang Văn Phúc, Nguyễn Viết Vượng, Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh Dinh, Đào Trí Úc

Trong các nghiên cứu xã hội dân sự, nổi bật là tác phẩm: “Xã hội dân

sự ở Việt Nam: Di chuyển từ lợi nhuận sang chủ đạo” của tác giả Thân Thị Thiên Hương và Gita Sabharwal, tháng 7 năm 2005 Bài báo này trình bày một cách nhìn tổng quan về xã hội dân sự tại Việt Nam và bắt đầu bằng cách định nghĩa xã hội dân sự

Nhằm tìm hiểu vai trò, tính chất, loại hình hoạt động, lĩnh vực hoạt động, công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN, tôi đã nghiên cứu một số tài liệu, báo cáo, công trình nghiên cứu về các tổ chức phi chính phủ ví dụ như:

Trang 14

- Giáo trình quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ: Đào tạo Đại học hành chính, Nhà xuất bản Giáo dục - năm 2004 của tác giả Hoàng Văn Chức, Phạm Kiên Cường, Đinh Thị Minh Tuyết, Học viện Hành chính quốc gia.[41]

- Đề tài “Nâng cao hiệu quả Quản lý Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, do học viên Nguyễn Thị Thanh Loan thuộc Học viện Hành chính - Chính trị Quốc gia, khóa học 1999-2002, thực hiện với sự hướng dẫn của TS Thang Văn Phúc Đề tài đã nêu rõ: Hoạt động của các tổ chức PCP tại Việt Nam đã đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ hội nhập, tuy nhiên công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCP còn nhiều bất cập, cần có sự quản lý đồng bộ, đề tài cũng đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức PCP tại Việt Nam.[47]

- “Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội”, luận án tiến sĩ quản lý hành chính công, do học viên Cấn Việt Anh thuộc Học viện Hành chính - Chính trị Quốc gia, khóa học 2005-2008 thực hiện Đề tài đã nêu rõ thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN trên địa bàn thành phố Hà Nội và đề xuất một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn thành phố

- “Công tác vận động viện trợ và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài”, báo cáo 5 năm, do Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Bình thực hiện từ năm 2012 đến năm 2016 Báo cáo đã khái quát về tình hình thu hút

và vận động tổ chức PCPNN giai đoạn 2012 - 2016; dự báo triển vọng và khả năng hợp tác đầu tư nhằm vận động và thu hút nguồn vốn PCPNN; nhận định

Trang 15

chung về công tác vận động, thu hút vốn PCPNN của tỉnh Quảng Bình trong thời gia tiếp theo.[27]

- “Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế của tỉnh Quảng Bình”, báo cáo 10 năm, do Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Bình thực hiện năm 2016 đánh giá hiệu quả công tác quản lý và hiệu quả hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn và những định hướng trong giai đoạn 2016 - 2020

- “Công tác vận động, quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2005-2010”, báo cáo đánh giá, do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Bình thực hiện năm 2010 Báo cáo nêu rõ hiệu quả từ công tác vận động, quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tỉnh, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, địa bàn khó khăn

- Hiệu quả từ các dự án phi chính phủ, Báo Quảng Bình 07/5/2015 nêu các hoạt động các dự án phi chính phủ được triển khai trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm qua chủ yếu tập trung vào vấn đề an sinh xã hội như:

hỗ trợ vay vốn, xây dựng nhà tình thương, trường học, cấp học bổng cho học sinh nghèo, khám chữa bệnh, nuôi dạy trẻ mồ côi Các dự án phi chính phủ

đã góp phần giúp trẻ mồ côi, khuyết tật cải thiện điều kiện sống, giảm bớt mặc cảm để hòa nhập cộng đồng; cải thiện cơ sở vật chất ngành giáo dục; giúp người nghèo, hộ nghèo có điều kiện vươn lên trong cuộc sống

- Bàn về thể chế quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ của một số nước trên thế giới, Tiến sĩ Lưu Văn Minh, Tạp chí quản lý nhà nước số 183 (4-2011) với nội dung: Hệ thống về thể chế quản lý các hội, tổ chức phi chính phủ của các nước trên thế giới khá đa dạng, phong phú về nội dung quản lý và hình thức thể hiện, tùy thuộc vào thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử, văn hóa, tôn giáo của mỗi nước, tuy nhiên, việc tham khảo kinh nghiệm quản lý các hội, tổ chức phi

Trang 16

chính phủ các nước trong việc xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật

về tổ chức và hoạt động của các hội ở nước ta hiện nay là rất cần thiết

- Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo (tiểu luận tại Website: www.kilobooks.com) nhìn nhận

tổ chức phi chính phủ là một lực lượng quan trọng trong lĩnh vực cứu trợ nhân đạo và phát triển xã hội nhằm cải thiện cuộc sống của những người nghèo, những người bị thiệt thòi trong xã hội, các nạn nhân bị thiên tai và chiến tranh giúp tự phát triển một cách bền vững

- Tăng cường hiệu quả của tổ chức Phi chính phủ Việt Nam (trang thông tin điện tử Đảng Cộng Sản 02/11/2010) với nội dung đánh giá các tổ chức phi chính phủ quốc tế đều được xem như là mũi nhọn để đưa văn hóa của quốc gia đến khắp khu vực và ra toàn cầu, đằng sau đó là các lợi ích kinh

tế kèm theo Vậy ở Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ đã được phát triển như thế nào và đang có vai trò như thế nào? Làm thế nào để tăng hiệu quả hoạt động của những tổ chức đó đang là vấn đề được quan tâm

Xã hội đang biến đổi sâu sắc và nhanh chóng, xác định vai trò của các tổ chức phi chính phủ như thế nào cho phù hợp và hiệu quả Sức hút của tổ chức phi chính phủ đối với cá nhân? Tại sao người ta tham gia vào các tổ chức phi chính phủ tất cả đã được đặt lên bàn thảo luận Và đó cũng là một trong những nội dung mà “Dự án tăng cường năng lực cho các tổ chức phi chính phủ Việt Nam” đặt ra

- Hiệu quả từ các dự án phi chính phủ, Báo Bình Dương 24/6/2015 nêu các hoạt động các dự án phi chính phủ được triển khai trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong những năm qua chủ yếu tập trung vào vấn đề an sinh xã hội như:

hỗ trợ vay vốn, xây dựng nhà tình thương, trường học, cấp học bổng cho học sinh nghèo, khám chữa bệnh, nuôi dạy trẻ mồ côi Các dự án phi chính phủ

Trang 17

mặc cảm để hòa nhập cộng đồng; cải thiện cơ sở vật chất ngành giáo dục; giúp người nghèo, hộ nghèo có điều kiện vươn lên trong cuộc sống

- Đa dạng hóa công tác vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài, Báo Lào Cai 25/4/2016 đánh giá nguồn lực viện trợ của các tổ chức PCPNN

đã góp phần thực hiện các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển KT - XH của tỉnh Nhận thức rõ vai trò, hiệu quả tác động của các nguồn vốn này, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Lào Cai đã đẩy mạnh công tác vận động, thu hút các nguồn viện trợ PCPNN….Để tiếp tục thu hút nhiều hơn nữa nguồn viện trợ từ công tác PCPNN, trong thời gian tới, ngành Ngoại vụ tỉnh sẽ phối hợp với các ngành hữu quan tham mưu cho tỉnh tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chương trình xúc tiến vận động viện trợ, tăng cường trao đổi, liên lạc với các

cá nhân, TCPCP trong và ngoài nước, đẩy mạnh giao lưu, hợp tác với Đại sứ quán các nước và các tổ chức đã có nhiều năm hoạt động tại Lào Cai, tạo điều kiện thuận lợi cho các TCPCP chung vai cùng chính quyền địa phương hỗ trợ các địa bàn khó khăn của tỉnh, thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và các lĩnh vực khác như hỗ trợ về xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn, giáo dục, y tế, nông, lâm nghiệp, chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam…, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội, nâng cao năng lực cộng đồng đóng góp vào sự phát triển KT-XH của tỉnh

- Tổ chức phi chính phủ nước ngoài với hoạt động vì giảm nghèo ở Việt Nam (1996-2008), tác giả ThS Chử Thu Hà, khoa Văn hóa dân tộc, Đại học Văn hóa Hà Nội với nội dung đánh giá hoạt động các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam cho công việc giảm nghèo và phát triển bền vững trong các mảng hoạt động lớn như nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, phát triển cộng đồng cho đến những hoạt động có quy mô nhỏ như viện trợ trực tiếp tiền và nhu yếu phẩm cũng đều nhằm mục tiêu xóa đói giảm nghèo

Trang 18

- Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế Tác giả Phạm Bình Minh, tạp chí thông tin đối ngoại số 2/2010 với nội dung: Nhằm thực hiện đường lối đối ngoại độc lập dân chủ, chính sách đối ngoại mở rộng đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, kết hợp công tác đối ngoại chặt chẽ của Đảng, ngoại giao của nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong những năm qua Việt Nam đã ngày càng mở rộng quan hệ với các tổ chức PCPNN Mối quan hệ này đã góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu biết sâu sắc hơn về đất nước, con người Việt Nam, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta, qua đó thúc đẩy quan

hệ hợp tác với các chính phủ và nhân dân thế giới, đồng thời góp phần giải quyết một số vấn đề kinh tế - xã hội, nhất là thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa còn đang gặp khó khăn

- Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam, Trung tâm bồi dưỡng đại biểu dân cử, Ủy ban Thường vụ quốc hội - Ban công tác đại biểu, 21/1/2014 đánh giá trong những năm qua, Việt Nam đã tranh thủ được nguồn tài trợ phi chính phủ, tuy chỉ mới ở mức bình quân đầu người rất thấp nhưng đã góp phần giải quyết một số khó khăn về kinh tế, xã hội ở cơ sở và địa phương Trong tình hình có những khó khăn mới về nguồn tài trợ quốc tế trong những năm đầu của thế kỷ XXI, số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam và giá trị viện trợ sẽ khó có thể tăng hơn Việc có duy trì hoặc nâng lên phần nào mức viện trợ hiện tại hay không tùy thuộc chủ yếu vào công tác vận động và quản lý viện trợ phi chính phủ

Hiện tại chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đánh giá hoạt động quản lý của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Tác giả mong muốn được tìm hiểu công tác quản lý nhà nước (QLNN) với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng

Trang 19

Bình nhằm đưa ra các khuyến nghị và đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện QLNN đối với các tổ chức này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với TCPCP nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; vận dụng trong nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN đang hoạt động tại tỉnh Quảng Bình; từ đó đề xuất các giải pháp để tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài có những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản như sau:

- Tổng quan cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với hoạt động của các

tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động tại Việt Nam

- Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước đối với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình hiện nay

- Đề xuất những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với các tổ chức PCPNN trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: tỉnh Quảng Bình

- Về thời gian: từ năm 2012 đến năm 2016 (Quá trình tổng kết, đánh

Trang 20

giá hoạt động của các tổ chức PCPNN trên địa bàn Quảng Bình được thực hiện 5 năm/lần: ;2007 - 2011; 2012 - 2016; 2017 - 2021; )

- Về nội dung: đề tài chỉ tập trung vào nội dung QLNN đối với các tổ chức PCPNN được cấp phép hoặc có dự án đã được phê duyệt thực hiện trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

- Phương pháp thu thập tài liệu;

Trang 21

- Đề tài nghiên cứu thực trạng hoạt động của các TCPCP nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Phân tích đánh giá thực trạng QLNN đối với các TCPCP nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình thời gian qua

- Phân tích định hướng và đề xuất giải pháp QLNN đối với TCPCP nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo có nội dung liên quan và các bộ phận nghiệp vụ thực tiễn quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cấu trúc làm ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý Nhà nước đối với các

tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn tỉnh Quảng Bình

Trang 22

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ NƯỚC NGOÀI

1.1 Những khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Quan niệm của Việt Nam về tổ chức phi chính phủ

1.1.1.1 Hội, Hiệp hội và Liên Hiệp hội

Tại Điều 2, Nghị định số 45/2010/NĐ-CP, ngày 21/4/2010 của Chính

phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý Hội ghi rõ: Hội được hiểu là tổ

chức tự nguyện của công dân, tổ chức Việt Nam cùng ngành nghề, cùng sở

thích, cùng giới, có chung mục đích tập hợp, đoàn kết hội viên, hoạt động

thường xuyên, không vụ lợi nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội, hội

viên, của cộng đồng; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần vào việc

phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, được tổ chức và hoạt động theo Nghị

định này và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan

Hội có các tên gọi khác nhau: hội, liên hiệp hội, tổng hội, liên đoàn,

hiệp hội, câu lạc bộ có tư cách pháp nhân và các tên gọi khác theo quy định

của pháp luật

1.1.1.2 Đoàn thể nhân dân

Đoàn thể nhân dân là một khái niệm chung chỉ tất cả các tổ chức nhân

dân với các tên gọi khác nhau, tập hợp nhân dân có cùng một đặc điểm hoặc

một số đặc điểm nhất định, hoạt động tự nguyện, đáp ứng yêu cầu, nguyện

vọng chính đáng của mình theo đúng pháp luật [19, tr.11]

Theo quan niệm như trên thì đoàn thể nhân dân bao gồm hầu hết các

tập hợp tổ chức đoàn thể nhân dân như: Hội, Hiệp hội, Liên hiệp hội, Câu lạc

Trang 23

thiện, các quỹ, các trung tâm, v.v… Hội là tên gọi phổ biến và cũng là dạng phổ biến nhất của đoàn thể nhân dân Khi đề cập tới đoàn thể nhân dân là bao hàm trong đó có Hội

1.1.1.3 Quỹ

Tại Điều 3, Nghị định 30/2012/NĐ-CP, ngày 12/4/2012 của Chính phủ

về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện nêu rõ:

“Quỹ” là tổ chức phi chính phủ do cá nhân, tổ chức tự nguyện dành một khoản tài sản nhất định để thành lập hoặc thành lập thông qua hợp đồng, hiến tặng, di chúc; có mục đích tổ chức, hoạt động theo quy định, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập, công nhận điều lệ Quỹ được tổ chức và hoạt động nhằm mục đích hỗ trợ và khuyến khích phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, khoa học, từ thiện, nhân đạo và các mục đích phát triển cộng đồng, không vì mục đích lợi nhuận

1.1.1.4 Tổ chức phi chính phủ

Thuật ngữ “Tổ chức phi chính phủ “ xuất hiện ở Việt Nam, đầu tiên dùng trong Luật Tổ chức Chính phủ năm 1992 Sau đó là Luật Hợp tác xã năm 1996 và một số văn bản pháp qui gần đây: Tổ chức phi chính phủ là một

tổ chức được hình thành mang tính độc lập tương đối với Chính phủ; được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập hoặc công nhận, có sự quản lý Nhà nước; được lập ra do sự tự nguyện của nhân dân; Hoạt động phi lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật

Căn cứ theo Nghị định số 12/2012/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN tại Việt Nam có thể định nghĩa khái niệm tổ chức PCPNN là:

Tổ chức phi lợi nhuận, các quỹ xã hội, quỹ tư nhân hoặc các hình thức

tổ chức xã hội phi lợi nhuận khác được thành lập theo luật pháp nước ngoài

Trang 24

có hoạt động hỗ trợ phát triển, viện trợ nhân đạo không vì mục đích lợi nhuận hoặc các mục đích khác tại Việt Nam

1.1.2 Quan niệm của thế giới về tổ chức phi chính phủ

1.1.2.1 Quan niệm của thế giới về TCPCP

Nguồn gốc xa xưa của tổ chức phi chính phủ vốn là những nhóm nhỏ làm từ thiện Khi tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội ở quốc gia, dân tộc nào đó hoặc ở những khu vực nhất định trên thế giới có những biến động lớn, gây ảnh hưởng trầm trọng tới đời sống con người như: chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường…thì trong bối cảnh đó, một số người đã tự nguyện tập hợp nhau lại tự bỏ tiền của, vật chất của mình hoặc vận động, kêu gọi người khác cùng quyên góp giúp đỡ, cứu trợ những người nghèo khó ở quốc gia, dân tộc mình hoặc quốc gia, dân tộc khác

Ngày nay, người ta thường gọi các tổ chức từ thiện xã hội này bằng một cái tên chung là Tổ chức phi chính phủ - NGO (viết tắt tiếng Anh của từ Non - Govermental Organization) hay ONG (viết tắt tiếng Pháp của từ Organisation Non - Gouvernementale) Tuy nhiên, tên gọi “Tổ chức phi chính phủ” không phải là một thuật ngữ thống nhất mang tính pháp lý, mỗi nước có thể sử dụng khác nhau tùy theo tính chất cần nhấn mạnh

Ngân hàng thế giới, Liên hợp quốc và một số quốc gia hoặc cơ quan quốc gia, đa quốc gia khi đề cập đến những thực thể phi chính phủ, hoạt động không vì lợi nhuận, tham gia vào các hoạt động phát triển hay hoạt động vận động thường đưa ra khái niệm như sau:

“Tổ chức phi chính phủ là thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức, hiệp hội, quỹ văn hóa xã hội, ủy hội từ thiện, tập đoàn phi lợi nhuận hoặc các pháp nhân khác mà theo pháp luật không phụ thuộc khu vực nhà nước và không hoạt động vì lợi nhuận- nghĩa là khoản lợi nhuận nếu có, không thể phân phối

Trang 25

theo kiểu chia lợi nhuận Loại tổ chức này không bao gồm các nghiệp đoàn, đảng phái chính trị, hợp tác xã phân chia lợi nhuận hay nhà thờ” [19,tr.2]

1.1.2.2 Phân loại TCPCP

Tổ chức PCP được chia làm 2 loại: Các TCPCP mang tính quốc gia và các TCPCP mang tính quốc tế

- TCPCP mang tính quốc gia

Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc gia (National Non Governmental Organization- NNGO): là tổ chức và các thành viên đều mang một quốc tịch Tại Việt Nam, các NNGO bao gồm một số loại hình như Hội, Hiệp hội và Liên hiệp Hội, đoàn thể nhân dân, quỹ, các cơ sở bảo trợ xã hội, các câu lạc bộ, các nhóm từ thiện…

- TCPCP mang tính quốc tế

Tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế (International Non- Governmental Organization - INGO): là tổ chức mà các thành viên của nó mang nhiều quốc tịch khác nhau sáng lập nên

Các TCPCP mang tính quốc tế xuất hiện khá sớm (năm 1070) Phạm vi hoạt động rộng khắp trên thế giới Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ mang tính chất quốc tế phải tuân theo luật pháp của nước nhận sự hợp tác

Khi các TCPCP quốc gia hay quốc tế hoạt động ở các nước khác thì ở các nước đối tác người ta gọi bằng tên chung là TCPCP nước ngoài

Tại Việt Nam, TCPCP nước ngoài được hiểu là những tổ chức được thành lập ở các quốc gia khác nhau tham gia hoạt động cứu trợ và phát triển tại nước ta, trên cơ sở tự nguyện và không vì mục đích lợi nhuận

Các TCPCP nước ngoài đã vào Việt Nam từ nhiều thập kỷ qua, gắn liền với những giai đoạn lịch sử cụ thể của Việt Nam trong quan hệ quốc tế với nhiều hình thức hoạt động và phương thức viện trợ khác nhau như:

+ Hình thức hoạt động:

Trang 26

Các TCPCP nước ngoài hoạt động tại Việt Nam thông qua các quỹ văn hóa xã hội hoặc các tổ chức từ thiện tôn giáo

Các quỹ văn hóa xã hội: thường được gọi là Foundation (tiếng Anh) Đây là loại hình TCPCP thường không trực tiếp triển khai các dự án viện trợ nhân đạo hoặc các dự án phát triển mà chủ yếu là hỗ trợ tài chính cho hoạt động trong lĩnh vực kiến trúc thượng tầng về chính trị, văn hóa, giáo dục, thúc đẩy cải cách về thể chế và đào tạo, phát triển con người, thúc đẩy tư nhân hóa

Các tổ chức từ thiện tôn giáo: các tổ chức từ thiện phi chính phủ có nguồn gốc tôn giáo ra đời rất sớm và thường gắn với công việc truyền giáo Tuy nhiên sau đó, hoạt động của các tổ chức này không chỉ mục đích truyền giáo đơn thuần như trước mà bao gồm cả hoạt động chăm lo đời sống của giáo dân Các TCPCP từ thiện tôn giáo chiếm khoảng một phần ba số TCPCP nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam hiện nay

+ Quyên góp vật chất: Thường là quyên góp các trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh, đồ chơi trẻ em, chân tay giả và xe lăn cho người khuyết tật Hình thức viện trợ này đã góp phần khắc phục tình trạng quá thiếu thốn dụng

cụ y tế, thuốc chữa bệnh, lương thực, thực phẩm cho những vùng nghèo hoặc

bị thiên tai tàn phá nặng nề

Trang 27

+ Tăng cường năng lực: Đây là phương thức viện trợ nhằm giúp các cơ quan, tổ chức và cán bộ của Việt Nam tăng cường khả năng tổ chức, quản lý điều hành và phát triển

+ Người tình nguyện: bao gồm những người được TCPCP tuyển chọn

từ các quốc gia trên cơ sở tình nguyện sang giúp Việt Nam

1.1.2.3 Nhiệm vụ, tính chất, hình thức hoạt động của TCPCP

a Nhiệm vụ

Nhìn chung các tổ chức phi chính phủ đều quan tâm đến việc thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

+ Chăm lo bảo vệ lợi ích của các thành viên, đây là chức năng cơ bản

và dễ nhận biết nhất, vì đây là điều mà tổ chức nào cũng phải quan tâm chăm

lo cho các hội viên của mình trước tiên

+Chức năng của tổ chức phi chính phủ là việc kết hợp lợi ích của các hội viên với lợi ích của tổ chức và của toàn xã hội

+ Thu hút các thành viên tham gia giải quyết các vấn đề xã hội Mọi TCPCP thành lập trước hết là chăm lo lợi ích của thành viên nhưng mục đích bao trùm của các tổ chức này là hoạt động vì xã hội tốt đẹp hơn

+ Tổ chức cung ứng dịch vụ: Dịch vụ là một ngành kinh tế đang có tốc

độ phát triển mạnh, hơn nữa đây là ngành đa dạng và rộng lớn, do đó nhà nước không thể quản lý hay cùng với các doanh nghiệp cung cấp tất cả các dịch vụ cần thiết cho cuộc sống con người Không chỉ có thế cũng có ngành

mà nhà nước cảm thấy không cần thiết phải trực tiếp quản lý thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, hội đảm nhận việc cung cấp các dịch vụ này, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày một tăng trong xã hội

b Tính chất

Tổ chức phi chính phủ mang tính xã hội: TCPCP là tổ chức có tính xã hội bởi lẽ nó chỉ xuất hiện từ khi con người có ý thức được về sức mạnh tập

Trang 28

thể, sức mạnh của sự hợp tác với nhau giữa các nhóm người, giữa các cộng đồng người Nhu cầu của con người đa dạng, phong phú theo trình độ phát triển của xã hội, trình độ văn minh chung của nhân loại Xã hội càng phát triển, dân chủ trong xã hội càng mở rộng, đời sống con người càng được nâng cao, thì tính năng động tích cực của con người càng được thúc đẩy, nhu cầu

và nguyện vọng gắn bó với nhau trong một tổ chức hoà hợp tâm lý, hoà hợp lợi ích càng xuất hiện

Tổ chức phi chính phủ mang tính tự nguyện: Bất kỳ tổ chức nào được lập ra đều xuất phát từ sự tự nguyện của quần chúng Lúc đầu có thể do một nhóm người có uy tín, có trình độ chuyên sâu, khả năng chuyên sâu liên quan đến mục tiêu hoạt động của hội khởi xướng, rồi sau đó quần chúng tự nguyện xin vào và cũng tự nguyện xin ra Đây chính là một trong những sự khác biệt giữa tổ chức này với các tổ chức nhà nước

Tính tự nguyện của tổ chức phi chính phủ được biểu hiện trong việc lựa chọn mục tiêu, nội dung hoạt động theo nguyện vọng, sở thích, sở trường của tập thể nhân dân Tính tự nguyện của tổ chức phi chính phủ chính là biểu hiện tính tích cực xã hội của các thành viên trong xã hội nhằm thực hiện thoả mãn những nhu cầu và lợi ích của mình

Tổ chức phi chính phủ mang tính nghề nghiệp, cộng đồng, giới và sở thích, nhân đạo: Trên cơ sở xem xét, phân tích các lọai hội riêng lẻ, nhiều nhà nghiên cứu đã tổng hợp thêm một tính chất của TCPCP là: Nghề nghiệp, cộng đồng, giới và sở thích Tính chất này có được bởi lẽ xã hội con người, đời sống con người vô cùng phong phú và phát triển Trình độ phát triển của xã hội loài người nói chung, của mỗi nước nói riêng khiến cho công dân của mỗi nước có yêu cầu riêng của mình về sự trao đổi tâm lý, trao đổi bảo vệ lợi ích

và có nhu cầu tập hợp, liên kết với nhau Tính nghề nghiệp, cộng đồng, giới

Trang 29

và sở thích nhân đạo, từ thiện còn là cơ sở để các tổ chức đặt tên, cơ sở để phân chia các loại tổ chức phi chính phủ

Tổ chức phi chính phủ mang tính thời đại: Nhiều nhà nghiên cứu khoa học, nhất là các nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nghiên cứu chính trị còn thống nhất với nhau rằng ngày nay các TCPCP còn mang tính thời đại Lý do

cơ bản để họ khẳng định điều này là: ngày nay lợi ích dân tộc đang gắn chặt với lợi ích nhân loại

Mục tiêu hoạt động của các tổ chức phi chính phủ không đơn thuần ở mục tiêu dân tộc, phạm vi dân tộc mà còn bao hàm cả mục tiêu nhân loại, quốc tế Do đó, phạm vi hoạt động và quan hệ không chỉ bó hẹp trong nước

mà đã mở rộng ra phạm vi quốc tế Mối quan hệ mở rộng không phân biệt chế

độ chính trị

Nhận rõ tính chất này có lợi rất nhiều về mặt quản lý nhà nước, Nhà nước cần có những chế định cụ thể để các hội trong nước hoạt động hoà nhập với quốc tế nhưng không vi phạm các thông ước quốc tế, không đánh mất bản sắc dân tộc và cũng không tổn hại đến độc lập dân tộc, chủ quyền dân tộc, đặc biệt là chủ quyền chính trị, kinh tế, lãnh thổ và văn hoá dân tộc

Tổ chức phi chính phủ mang tính không vụ lợi: Nguyên tắc tổ chức hoạt động của TCPCP là tự nguyện, tự quản, từ trang trải kinh phí hoạt động

Do đó, để tồn tại các TCPCP vẫn có hoạt động sản xuất kinh doanh theo pháp luật và có lợi nhuận song lợi nhuận này phải để duy trì và phát triển

tổ chức theo mục đích tôn chỉ khi thành lập chứ không đem chia cho hội viên,

mà để thực hiện các mục tiêu chung của hội như nhân đạo, cứu trợ, phát triển trí tuệ, hỗ trợ năng lực

Tính chất này là tính chất đặc trưng của TCPCP, nó giúp ta phân biệt được TCPCP và các tổ chức kinh doanh Nó giúp ta có những chính sách phù

Trang 30

hợp để quản lý, đặc biệt là việc xác định quyền và nghĩa vụ nộp thuế, hay không nộp thuế của các TCPCP

- Quy mô hoạt động của các tổ chức này thường nhỏ, hoạt động riêng

rẽ, hay từng địa phương

- Cũng có những trường hợp liên kết với nhau trong một liên hiệp hay một tổng hội phối hợp với nhau hoạt động để đạt mục tiêu chung

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam

1.1.3.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Quản lý nhà nước là sự tác động có chủ đích của nhà nước vào các quan hệ xã hội nhằm làm cho các quan hệ đó diễn ra theo chiều hướng tốt nhất cho sự phát triển đất nước và mỗi con người Nói cách khác QLNN là việc thực thi quyền lực nhà nước nhằm tác động và điều chỉnh mọi quan hệ xã hội nhằm làm cho quốc gia phát triển ổn định và bền vững QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và chứa đựng trong nó nhiều kỹ năng thuộc về quản lý

Ở Việt Nam, QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc

Trang 31

QLNN đối với hoạt động của các tổ chức PCPNN là một bộ phận trong tổng thể hoạt động quản lý của nhà nước đối với nền KT-XH của nước

ta Cụ thể hơn, đó là một bộ phận của QLNN trên lĩnh vực đối ngoại Vì vậy, trước hết nó cũng mang những đặc điểm chung của hoạt động QLNN Bên cạnh đó, quản lý nhà nước về công tác phi chính phủ nước ngoài cũng có những đặc điểm riêng của mình

QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là một dạng quản lý xã hội mang tính chất nhà nước, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam bằng quyền lực nhà nước Nói cách khác QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài là quá trình Nhà nước sử dụng các phương thức quản lý để tác động, điều chỉnh các hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài diễn ra theo quy định

QLNN đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài để một mặt, bảo đảm hoạt động của các tổ chức này theo đúng mục đích nhân đạo từ thiện, phù hợp với luật pháp và yêu cầu phát triển KTXH của Việt Nam, mặt khác, bảo vệ lợi ích chính đáng của các tổ chức PCPNN trong quá trình hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bảo đảm cho mối quan hệ giữa các tổ chức này với các bên đối tác Việt Nam được hài hòa

Quản lý nhà nước đối với hoạt động của các TCPCP nước ngoài là một dạng quản lý xã hội mang tính chất Nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước

để điều chỉnh hoạt động của các TCPCP nước ngoai tại Việt Nam

1.1.3.2 Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ Quản lý nhà nước đối với các TCPCP nói chung, quản lý nhà nước đối với TCPCPNN nói riêng, cần phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:

- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ

Trang 32

Đảng đã xác định đây vừa là nguyên tắc cơ bản vừa là cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội trong đó có quản lý công tác phi chính phủ nước ngoài Nguyên tắc này đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước phải coi trọng vai trò làm chủ của nhân dân, đồng thời khẳng định sự lãnh đạo của Đảng, cũng là khẳng định định hướng XHCN Cụ thể, nguyên tắc này yêu cầu: quản lý các TCPCPNN trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo

sự quản lý thống nhất, ở tầm vĩ mô và chiến lược của Nhà nước; phải đảm bảo sao cho tất cả vì nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân, phải tăng cường sự tham gia của nhân dân vào công tác quản lý, để người dân không chỉ đơn thuần là đối tượng nhận viện trợ mà trở thành một bên đối tác trong cơ chế hợp tác ba bên: chính quyền - nhân dân - các tổ chức PCPNN

- Nguyên tắc tập trung dân chủ

Đây là nguyên tắc quan trọng nhất chỉ đạo mọi hoạt động tổ chức, sinh hoạt nội bộ và phong cách làm việc Tập trung và dân chủ là một thể thống nhất, không đối lập, không hạn chế nhau, theo đó Nhà nước giữ quyền thống nhất quản lý những vấn đề lớn, mang tính chiến lược, cơ bản trao cho Trung ương, đồng thời giao quyền hạn và trách nhiệm giải quyết các vấn đề cụ thể cho các bộ, ngành và địa phương để phát huy tính sáng tạo, chủ động và linh hoạt của các cấp, các ngành, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động Tập trung là để tránh buông lỏng, thả nổi quản lý dẫn đến các hiện tượng tự

do chủ nghĩa, vô chính phủ; dân chủ là để tránh thâu tóm quyền lực dẫn đến độc quyền, độc tài

- Nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương

và vùng lãnh thổ

Nguyên tắc này đòi hỏi các lĩnh vực có sự tham dự của các TCPCPNN

Trang 33

nhau Các bộ ngành và các địa phương có trách nhiệm chung trong việc hoàn thành nhiệm vụ quản lý mà Nhà nước giao cho từng bộ, ngành cũng như cho từng địa phương để đạt được mục đích quản lý chung Giữ vững nguyên tắc này là đảm bảo tính hệ thống thứ bậc trên dưới của bộ máy nhà nước, đảm bảo được sự thống nhất giữa cơ cấu ngành với cơ cấu lãnh thổ

- Nguyên tắc tăng cường pháp chế XHCN

Nguyên tắc này đòi hỏi việc quản lý công tác phi chính phủ nước ngoài phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước, không cho phép các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính, theo ý muốn chủ quan Để thực hiện tốt nguyên tắc này phải đảm bảo 3 điều kiện; thứ nhất, phải xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về phi chính phủ nước ngoài nói riêng; thứ hai, phải giáo dục pháp luật, tăng cường nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật cho cả các TCPCPNN

và người dân; và thứ ba, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm dù là của phía Việt Nam hay của phía nước ngoài theo đúng những quy định của pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế

- Nguyên tắc công khai, minh bạch

Tổ chức hoạt động của Nhà nước phải công khai, minh bạch Các chính sách, quy định của Nhà nước phải được công khai cho dân biết cũng như cho các TCPCPNN biết Nguyên tắc này lại càng đặc biệt quan trọng bởi quản lý các TCPCP có liên quan rất nhiều đến quản lý tiền, hàng viện trợ và một số quyền lợi kinh tế

1.1.3.3 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Có thể thấy quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có một số đặc điểm chính như:

- Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị

Trang 34

Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN trước hết phải đảm bảo đúng đường lối, chính sách chỉ đạo của Đảng về đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng; phải đảm bảo sự quản lý thống nhất, tăng cường sự tham gia của nhân dân trong công tác quản lý, phát huy cơ chế hợp tác ba bên: chính quyền - nhân dân vùng hưởng lợi - tổ chức phi chính phủ nước ngoài

- Tính pháp quyền

Mọi hoạt động quản lý nhà nước phải đảm bảo nằm trong khuôn khổ quy định của pháp luật Việc quản lý hoạt động của các tổ chức PCPNN phải dựa trên cơ sở pháp luật của Nhà nước và pháp luật được sử dụng làm công

cụ chủ yếu để quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

- Tính thống nhất và linh hoạt

Quản lý nhà nước về hoạt động của các tổ chức PCPNN phải dựa trên

cơ sở quy định chung của pháp luật; không cho phép các cơ quan quản lý của Nhà nước thực hiện việc quản lý một cách tùy tiện, theo cảm tính hay theo ý muốn chủ quan Do tính chất đa dạng, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài liên quan đến rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh, quốc phòng, ngoại giao nên quản lý nhà nước trên lĩnh vực này cần có sự thống nhất trong quản lý Bên cạnh đó, trong quá trình quản lý cũng cần có sự linh hoạt, giao một số quyền hạn và trách nhiệm qua đó tạo điều kiện cho các bộ, ngành và địa phương có thể chủ động, linh hoạt giải quyết một số vấn đề cụ thể nào đó Qua đó, phát huy tính sáng tạo, chủ động và quyền làm chủ của các cấp, các ngành

- Tính công khai, minh bạch

Các chính sách, quy định của Nhà nước về quản lý liên quan đến hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài cần phải được công khai,

Trang 35

hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài có liên quan rất nhiều đến quản lý nguồn tiền, hàng viện trợ và một số quyền lợi kinh tế

1.2 Sự cần thiết quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam

1.2.1 Vai trò của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam

Vai trò đóng góp của các tổ chức PCPNN trong quá trình phát triển KT-XH của Việt Nam ngày càng được khẳng định, Cụ thể như sau:

Một là, tạo ra nguồn lực góp phần ổn định và phát triển xã hội Muốn phát triển xã hội cần phải tìm mọi cách thức để huy động được mọi nguồn lực trong xã hội Đặc biệt trong hoàn cảnh nền kinh tế chưa phát triển, nhà nước chưa có đủ điều kiện về mọi mặt, nhất là về tài chính thì vai trò của các tổ chức PCPNN sẽ càng trở nên quan trọng Giá trị nguồn viện trợ của các tổ chức phi chính phủ tuy không lớn nếu so với các nguồn khác, nhưng cũng đã phần nào hỗ trợ Việt Nam giải quyết một số vấn đề khó khăn như chương trình xóa đói giảm nghèo, tăng cường kiến thức, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thu nhập của người dân…Nhiều dự án viện trợ của các tổ chức PCPNN không chỉ giúp giải quyết các vấn đề khó khăn chung mà còn góp phần quan trọng vào quá trình phát triển bền vững của địa phương

Hai là, giúp nâng cao nhận thức, năng lực cho người dân và các thành viên Bên cạnh những đóng góp về vật chất và hiện vật, các tổ chức PCPNN cùng các tình nguyện viên của mình còn có các hỗ trợ khác như hướng dẫn kỹ thuật, đào tạo và chuyển giao kinh nghiệm Từ việc tham gia quản lý và thực hiện các dự án các đối tác Việt Nam đã không chỉ tranh thủ được nguồn vốn,

kỹ thuật mà còn học hỏi được kinh nghiệm tổ chức, điều hành hoạt động và quản lý của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài, nâng cao kỹ năng chuyên môn, trình độ hiểu biết và phương pháp làm việc của mình

Trang 36

Các tổ chức PCPNN còn có vai trò tích cực trong việc phát huy tính năng động, tăng cường kiến thức, khả năng tự quản lý của người dân Có thể nói, việc tham gia các dự án và hoạt động của các tổ chức PCPNN là một môi trường xã hội rèn luyện tính chủ động, sáng tạo cho người dân

Ba là, giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước Các tổ chức PCPNN qua các hoạt động của mình cũng đã tạo điều kiện để người dân phản ánh được những nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mình, qua đó giúp nhà nước có những chủ trương, chính sách và biện pháp quản lý đúng và phù hợp với thực tiễn xã hội

Nhiều chương trình, dự án của các tổ chức phi chính phủ đã có hỗ trợ tích cực trong việc hoạch định các chính sách và hoàn thiện các văn bản quản

lý nhà nước của Việt Nam trên lĩnh vực đó Nhất là các chương trình dự án liên quan đến vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền của phụ nữ, trẻ em

Bốn là, mở rộng quan hệ hợp tác, tham gia hội nhập khu vực và thế giới Các tổ chức phi chính phủ nước ngoài do đặc điểm, tính chất và mục tiêu hoạt động đã tạo ra sự hợp tác đa phương và song phương giúp các nước có điều kiện mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực Ngày nay, nhiều Hội nghị quan trọng của Liên hiệp quốc, hội nghị khu vực, liên khu vực hay các diễn đàn quốc tế khi được tổ chức đều có các diễn đàn song hành của các tổ chức phi chính phủ Do đó, nếu biết cách tranh thủ tốt thì thông qua các hoạt động của mình, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài sẽ góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng quan hệ hữu nghị của nhân dân các nước với Việt Nam, đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, áp đặt chống Việt Nam Đồng thời, giúp chúng ta tuyên truyền một cách hiệu quả, làm cho nước ngoài hiểu đúng hơn và khuyến khích, mời gọi thêm nhiều tổ chức PCPNN khác có các chương trình dự án hỗ trợ Việt Nam phát triển KT-XH

Trang 37

1.2.2 Thực hiện chức năng quản lý của nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Quản lý nhà nước về các tổ chức PCPNN đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển KT-XH của đất nước, vai trò đó thể hiện ở các điểm sau:

Quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các tổ chức phi chính phủ nước ngoài hoạt động theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam

Cùng với việc thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương và

đa dạng hóa các mối quan hệ số lượng các tổ chức PCPNN hoạt động tại Việt Nam ngày càng tăng lên Có thể thấy quan hệ với cộng đồng PCPNN đang trở thành một bộ phận quan trọng trong tổng thể quan hệ đối ngoại của Việt Nam Các tổ chức PCPNN đã và đang góp phần không nhỏ cùng nhà nước khắc phục các tác động tiêu cực của quá trình phát triển Chính vì lẽ đó, cũng như các lĩnh vực khác, nó tất yếu cần có sự quản lý của nhà nước

Mục đích của QLNN đối với các tổ chức PCPNN là nhằm hướng dẫn các tổ chức này hoạt động phù hợp với định hướng của Việt Nam, phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ phát triển KTXH của công cuộc đổi mới và phù hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam QLNN cũng là để đảm bảo cho các tổ chức PCPNN hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và những chính sách hiện hành của Việt Nam, đồng thời không trái với pháp luật quốc

Trang 38

Sự hỗ trợ của các tổ chức PCPNN tuy không lớn so với các nguồn viện trợ khác như viện trợ ODA, song cũng là một nguồn lực quan trọng giúp nhà nước tháo gỡ khó khăn trong giai đoạn khôi phục, xây dựng kinh tế, xóa đói giảm nghèo

Bên cạnh đó, ngoài hình thức viện trợ hàng hóa và trang thiết bị trực tiếp (thường là trong những trường hợp cứu trợ khẩn cấp) các tổ chức PCPNN còn hỗ trợ Việt Nam thực hiện các dự án trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giúp đỡ người khuyết tật, giải quyết các vấn đề xã hội, giáo dục đào tạo, viện trợ y tế; phát triển nông thôn, xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường Quản

lý nhà nước còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các tổ chức PCPNN trong công tác đối ngoại nhân dân Trên thế giới hiện nay các tổ chức phi chính phủ được xem như cầu nối trong quan hệ giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển Trong bối cảnh ngày càng có nhiều tổ chức PCPNN, trong đó có nhiều tổ chức PCP quốc tế có sức mạnh kinh tế và tầm ảnh hưởng lớn, vào hoạt động tại Việt Nam thì lại càng cần phải có sự QLNN để từ đó tranh thủ, tác động để các

tổ chức phi chính phủ nước ngoài này sẽ có đóng góp tích cực trong việc làm cho nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam nhiều hơn cả về kinh tế, chính trị lẫn đối ngoại và chống lại những luận điệu sai lệch bên ngoài về các vấn đề như nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo, tín ngưỡng Qua đó, ngày càng nâng cao

vị trí của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế

Quản lý nhà nước để hạn chế mặt tiêu cực của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài

Do những đặc thù riêng, hoạt động của các tổ chức PCPNN cũng rất cần có sự quan tâm đặc biệt và quản lý sâu sát của nhà nước và chính quyền các cấp bởi đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm, liên quan nhiều đến ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng của quốc gia Nếu không có sự quản lý chặt

Trang 39

chẽ sẽ không loại trừ những tác động xấu cũng như không thể phát huy được hiệu quả của hoạt động này

Quản lý nhà nước về các tổ chức PCPNN nhằm bảo vệ lợi ích dân tộc, độc lập chủ quyền, bí mật quốc gia; ngăn ngừa rò rỉ thông tin và ngăn ngừa phòng chống sự xâm nhập của các yếu tố độc hại từ bên ngoài

Quản lý nhà nước còn nhằm ngăn chặn, hạn chế các tác động tiêu cực trong hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài Đó là: tuyên truyền lối sống, tư tưởng phương Tây; tìm cách tác động đến quá trình cải cách hành chính, cải cách thể chế, xây dựng pháp luật, chính sách của Việt Nam; thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các tổ chức phi chính phủ Việt Nam hay các tổ chức xã hội dân sự hoạt động độc lập tách khỏi sự quản lý của nhà nước… Các hoạt động đó đã gây ra ảnh hưởng phức tạp tại địa phương Nhất

là ở những nơi thiếu sự quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương hoặc ở những nơi chính quyền chưa đủ mạnh

- Nhiều tổ chức PCPNN đang mất dần tính chất phi chính phủ thực sự của mình Trên đà phát triển ngày càng có nhiều tổ chức phi chính phủ nước ngoài lệ thuộc về tài chính vào các cơ quan của chính phủ nên các tổ chức này thường bị tác động bởi ý đồ của cơ quan tài trợ Hoạt động của tổ chức PCPNN thường nhằm vào các đối tượng và mục đích nhất định chứ không còn đơn thuần mang tính chất từ thiện như ban đầu Ngày càng có nhiều tổ chức có gắn bó với các hệ phái tôn giáo lớn, có nguồn gốc tôn giáo hoặc nhận nguồn tài trợ từ các tổ chức tôn giáo đến hoạt động tại Việt Nam Trong quá trình hoạt động nhiều tổ chức trong số này luôn quan tâm và có ý định gây ảnh hưởng về tôn giáo, thậm chí có cả những hành động kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi hay tư tưởng tự do tôn giáo theo kiểu phương tây

Trang 40

1.2.3 Thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế

Thực tế cho thấy rằng, các nước muốn thoát khỏi nguy cơ bị biệt lập, tụt hậu, kém phát triển thì phải tích cực, chủ động tham gia vào qúa trình toàn cầu hoá, đồng thời phải có bản lĩnh cân nhắc một cách cẩn trọng các yếu tố bất lợi để vượt qua Yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam: Sự bao vây, chống phá của các thế lực thù địch đối với Việt Nam từ nữa cuối thập kỷ 1970 của thể kỷ XX tạo nên tình trạng căng thẳng, mất ổn định trong khu vực và gây khó khăn, cản trở cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam, là một trong những nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng khoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng

ở nước ta Mặt khác, do hậu quả nặng nề của chiến tranh và các khuyết điểm chủ quan, nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng khoảng nghiêm trọng Nguy

cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới

là một trong những thách thức lớn đối với cách mạng Việt Nam Vì vậy, nhu cầu chống tụt hậu về kinh tế đặt ra gay gắt Để thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nước ta với các quốc gia khác, ngoài việc phát huy tối đa các nguồn lực trong nước, cần phải tranh thủ các nguồn lực bên ngoài, trong đó việc mở rộng và tăng cường hợp tác kinh tế với các nước và tham gia vào cơ chế hợp tác đa phương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Những đặc điểm, xu thế quốc tế

và yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam nêu trên là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quan điểm và hoạch định chủ trương, chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới Tại báo cáo chính trị trình Đại hội XII của Đảng xác định rõ 4 quan điểm: (1) Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi; (2) Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; (3) Đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối

Ngày đăng: 08/03/2018, 08:50

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban chấp hành Trung ương Đảng (2010), Quy chế về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại ban hành kèm theo Quyết định số 295- QĐ/TW ngày 23/3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chế về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại
Tác giả: Ban chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2010
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2001), Thông tư số 04/2001/TT-BKH ngày 05/06/2001 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 04/2001/TT-BKH ngày 05/06/2001 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 64/2001/QĐ-TTg ngày 26/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Năm: 2001
13. Chính phủ (2009), Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 93/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
14. Chính phủ (2012), Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2012 về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 12/2012/NĐ-CP ngày 01 tháng 3 năm 2012 về đăng ký và quản lý hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài tại Việt Nam
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2012
17. Học viện hành chính, Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên chính) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về Quản lý hành chính nhà nước (chương trình chuyên viên chính)
Tác giả: Học viện hành chính
19. Học viện hành chính, Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý nhà nước đối với tổ chức phi chính phủ
Tác giả: Học viện hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật
Năm: 2012
25. Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (Hà Nội, 2001), Tài liệu công tác hoà bình, đoàn kết và vận động viện trợ chính phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu công tác hoà bình, đoàn kết và vận động viện trợ chính phủ
Tác giả: Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
27. Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Bình (2016), Báo cáo 5 năm đánh giá hiệu quả công tác quản lý và hiệu quả hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn và những định hướng trong giai đoạn 2016 - 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo 5 năm đánh giá hiệu quả công tác quản lý và hiệu quả hoạt động của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trên địa bàn và những định hướng trong giai đoạn 2016 - 2020
Tác giả: Sở Ngoại vụ tỉnh Quảng Bình
Năm: 2016
34. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 286/2006/QĐ-TTg, ngày 27/12/2006 ban hành “Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình quốc gia xúc tiến vận động viện trợ phi chính phủ nước ngoài giai đoạn 2006-2010
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2006
37. UBND tỉnh Quảng Bình (2014), Quyết định số 1139/QĐ- UBND, ngày 08/5/2014 về việc ban hành Chương trình xúc tiến vận động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1139/QĐ- UBND
Tác giả: UBND tỉnh Quảng Bình
Năm: 2014
39. Cấn Việt Anh (2009 ), “Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài”, luận văn tiến sỹ Quản lý công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài
40. Nguyễn Thanh Bình(2004), “ Vai trò của hội, tổ chức phi chính phủ trong đổi mới và phát triển đất nước”, Lý luận chính trị số 4, tr. 33-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của hội, tổ chức phi chính phủ trong đổi mới và phát triển đất nước
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Lý luận chính trị
Năm: 2004
41. Hoàng Văn Chức, Phạm Kiên Cường, Đinh Thị Minh Tuyết, Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức Phi chính phủ, Học viện Hành chính, Nhà Xuất bản Giáo dục (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với các tổ chức Phi chính phủ
Tác giả: Hoàng Văn Chức, Phạm Kiên Cường, Đinh Thị Minh Tuyết
Nhà XB: Học viện Hành chính
Năm: 2004
42. Phạm Kiên Cường (Chủ biên), Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức Phi chính phủ nước ngoài, Học viện hành chính, Nhà Xuất bản Khoa học và Kỹ thuật (2012) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản lý Nhà nước đối với tổ chức Phi chính phủ nước ngoài
Tác giả: Phạm Kiên Cường
Nhà XB: Học viện hành chính
Năm: 2012
43. Vũ Thị Thu Giang (2008), “Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ Mỹ ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay”, Nghiên cứu lịch sử số 7, tr. 49-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ Mỹ ở Việt Nam từ năm 1995 đến nay
Tác giả: Vũ Thị Thu Giang
Nhà XB: Nghiên cứu lịch sử
Năm: 2008
44. Đỗ Sơn Hà (2004), “Thực trạng và giải pháp về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, tổ chức phi Chính phủ ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp về tổ chức, hoạt động và quản lý hội, tổ chức phi Chính phủ ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Đỗ Sơn Hà
Năm: 2004
45. Vũ Xuân Hồng, Viện trợ của các TCPCPNN tại Việt Nam năm 2004, tạp chí Hữu nghị số 18, 3/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện trợ của các TCPCPNN tại Việt Nam năm 2004
Tác giả: Vũ Xuân Hồng
Nhà XB: tạp chí Hữu nghị
Năm: 2005
46. Nguyễn Ngọc Lam(2005), “ Một số vấn đề về quản lý hội và tổ chức phi chính phủ”, Tổ chức nhà nước số 3, tr. 25-26, 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quản lý hội và tổ chức phi chính phủ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lam
Nhà XB: Tổ chức nhà nước
Năm: 2005
47. Nguyễn Thị Thanh Loan (2002), Nâng cao hiệu qủa quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu qủa quản lý nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Loan
Nhà XB: Luận văn Thạc sỹ quản lý hành chính công
Năm: 2002
48. Phạm Bình Minh (2010), “Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế”, Thông tin đối ngoại, số 2, tr. 51-54, 58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hợp tác của Việt Nam với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế
Tác giả: Phạm Bình Minh
Nhà XB: Thông tin đối ngoại
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w