Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Thừa Thiên Huế - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng học viên Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác
Thừa Thiên Huế, tháng 12 năm 2017
Học viên Phạm Thị Hải Thanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận văn này, học viên đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ quý quý báu của các thầy Cô và đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc học viên xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
Ban Giám đốc Học viện, Cơ sở Học viện Hành chính Khu vực Miền Trung; Khoa sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ cho học viên trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn
PGS.TS Định Thị Minh Tuyết, Khoa Quản lý nhà nước về Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn
và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong quá trình thực hiện luận văn
Nhân dịp này tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nội vụ tỉnh Quảng Bình đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Bằng tất cả năng lực và nỗ lực hoàn thiện Luận văn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, học viên mong được nhận được những đóng góp của quý thầy, cô và các bạn để hoàn thiện luận văn
Học viên Phạm Thị Hải Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 9
1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu 9
1.1.1 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 9
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 16
1.1.3 Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 19
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 23
1.2.1 Quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 23
1.2.2 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 25
1.2.3 Tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 26
1.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 29
1.2.5 Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 30
1.2.6 Hỗ trợ và thu hút các nguồn lực phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 31
1.2.7 Thanh tra, kiểm tra và đánh giá phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 32
1.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 34
1.3.1 Định hướng và điều chỉnh phát triển nguồn nhân lực khoc học và công nghệ 34
Trang 61.3.2 Hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ 36
1.3.3 Phát huy được vai trò của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 37
1.3.4 Góp phần thực hiện mục tiêu hoạt động của các ngành 38
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 39
1.4.1 Thể chế, chính sách 39
1.4.2 Nguồn lực tài chính 40
1.4.3 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý 40
1.4.4 Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế 42
Tiểu kết chương 1 43
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG BÌNH 44
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên – xã hội và kinh tế tỉnh Quảng Bình 44
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 44
2.1.2 Điều kiện xã hội 45
2.1.3 Điều kiện kinh tế 46
2.2 Thực trạng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình 47 2.2.1 Thực trạng chung nguồn nhân lực KH&CN 47
2.2.2 Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN về giới tính và độ tuổi 48
2.2.3 Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN về trình độ và lĩnh vực đào tạo 53
2.2.4 Sự phân bố nguồn nhân lực KH&CN theo đơn vị hành chính 57
2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình 59
2.3.1 Thực trạng quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 59
Trang 72.3.2 Thực trạng xây dựng chiến lược và chương trình phát triển nguồn
nhân lực khoa học và công nghệ 61
2.3.3 Thực trạng tuyển dụng và sử dụng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 65
2.3.4 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 68
2.3.5 Thực trạng xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 71
2.3.6 Thực trạng hỗ trợ và thu hút các nguồn lực phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 75
2.3.7 Thanh tra, kiểm tra và đánh giá phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 76
2.4 Đánh giá kết quả và hạn chế công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình 80
2.4.1 Những kết quả đạt được 80
2.4.2 Những hạn chế 81
2.4.3 Nguyên nhân hạn chế 82
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁPQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG BÌNH 85
3.1 Phương hướng quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 85
3.1.1 Quan điểm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ 85
3.1.2 Phương hướng và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực 95
3.2 Giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nhân lực khoa học và công nghệ 100
Trang 83.2.1 Quy hoạch và kế hoạch hóa nguồn nhân lực KH&CN phù hợp với thực tiễn và yêu cầu phát triển của ngành 100 3.2.2 Tuyển dụng nguồn nhân lực KH&CN đúng nguyên tắc và tiêu chuẩn vị trí việc làm 102 3.2.3 Sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn nhân lực KH&CN 103 3.2.4 Tổ chức thực hiện đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN 105 3.2.5 Cụ thể hoá và tổ chức thực hiện kịp thời các chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN 107 3.2.6 Hỗ trợ và thu hút các nguồn lực đảm bảo cho yêu cầu phát triển nguồn nhân lực KH&CN 108 3.2.7 Thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những vi phạm hoạt động quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN 110 Hoạt động thanh tra, kiểm tra sẽ giúp các đối tượng được thanh tra, kiểm tra nhận thức một cách đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, nhận thức được vai trò quan trọng của chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, từ
đó sẽ hình thành ý thức tuân thủ qui định của pháp luật, và những qui định của tỉnh 110 Tiểu kết chương 3 112 KẾT LUẬN 113 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 9DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
FDI: Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ILO: International Labour Organization
Tổ chức Lao động Quốc tế KH&CN: Khoa học và Công nghệ
Tổ chức phi chính phủ OECD: The Organisantin and for Economic
Co-operation and Development
Tổ chức hợp tác và phát triển ODA: Official Development Assistance
Nguồn vốn vay ưu đãi từ nước ngoài, gọi là vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức’’ R&D: Research & development
Nghiên cứu và phát triển
UNESSCO: United Nations Educational Scientific
Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
UNIDO: UN Industrial Development Organization
Tổ chức công nghiệp Liên Hiệp Quốc
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Quy mô nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình từ năm 2011-2015 Error! Bookmark not defined.Biểu đồ 2.2: Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình theo độ tuổi từ năm 2011-2015Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình theo giới tính từ năm 2011-2015 Error! Bookmark not defined
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân bố nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình từ năm 2011-2015 Error! Bookmark not defined.Bảng 2.2: Trình độ nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình từ năm 2011-2015 Error! Bookmark not defined
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, có vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển kinh tế - xã hội của mỗi đất nước Xuất phát từ thực tế đất nước trước và sau đổi mới cũng như nắm bắt được xu hướng đầu tư phát triển của các nước trên thế giới đặc biệt là về phát triển khoa học – công nghệ, kỹ thuật cao, phát triển nền kinh tế tri thức, phát triển tiềm năng con người ở mỗi quốc gia; do vậy, từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ngày một đầy đủ hơn vai trò của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, Đảng ta luôn coi trọng yếu tố con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, cùng với sự phát triển của xã hội thì phát triển của khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò then chốt đối với mỗi quốc gia Chính sự quan trọng của KH&CN mà mỗi quốc gia đều có những chiến lược phát triển riêng cho mình Tận dụng những thế mạnh sẵn có
để phát triển tiềm lực KH&CN, phát triển đất nước
Ở nước ta, trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, việc quan tâm phát triển KH&CN là quốc sách, có vị trí rất quan trọng trong đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Đảng, của Nhà nước Quá trình đổi mới đất nước đã tạo ra những tiền đề mới cho sự phát triển KH&CN của nước ta trong thời gian tới Nền kinh tế nước ta có tốc
độ tăng trưởng cao, liên tục trong thời gian qua là điều kiện thuận lợi để tăng cường đầu tư cho phát triển KH&CN, đồng thời thúc đẩy đổi mới công nghệ
và ứng dụng thành tựu KH&CN, nhất là trước sức ép về cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế Thách thức lớn nhất đối với sự phát triển KH&CN nước ta hiện nay là phải nhanh chóng nâng cao năng lực KH&CN
Trang 132
để thực hiện rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước trong điều kiện nước ta còn nghèo, vốn đầu tư hạn hẹp, trình độ phát triển kinh tế và KH&CN còn khoảng cách khá xa so với nhiều nước trên thế giới và trong khu vực Tiềm lực KH&CN của chúng ta chưa phát triển mạnh Và bước vào thế kỷ 21 - thế
kỷ của nền kinh tế tri thức, không phải các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà nguồn lực con người mới là chìa khóa quyết định phát triển kinh tế - xã hội
Vì vậy, để đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì Đảng và Nhà nước, các địa phương cần xác định nguồn nhân lực, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì vai trò, vị trí của nguồn lực con người ngày càng quan trọng hơn, là khâu đột phá cho quá trình phát triển
Trong thời gian qua việc phát triển KH&CN tỉnh Quảng Bình chủ yếu tập trung đẩy mạnh việc nghiên cứu chuyển giao, ứng dụng các thành tựu về công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới; đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ trong các ngành sản xuất và dịch vụ; huy động các thành phần kinh tế tham gia đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo nguồn nhân lực Hình thành đội ngũ cán bộ KH&CN có đủ điều kiện tổ chức nghiên cứu
và giải quyết những nhiệm vụ KH&CN của tỉnh
Chính vì vậy tiềm lực KH&CN của tỉnh, trong đó có nguồn nhân lực KH&CN đã có bước phát triển mạnh mẽ Lực lượng cán bộ KH&CN của tỉnh thông qua quá trình tự đào tạo và đào tạo lại đã phát triển nhanh về số lượng, trưởng thành một bước về chất lượng, thích nghi dần với nền kinh tế thị trường và có những đóng góp đáng kể trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và KH&CN của tỉnh Một số lượng đáng kể cán bộ KH&CN có trình độ chuyên môn, công nghệ và ngoại ngữ tương đối tốt đã được thu hút về Quảng Bình
Bên cạnh đó, bằng cơ chế, chính sách tỉnh Quảng Bình đã thu hút chất xám của một lực lượng tương đối lớn các nhà KH&CN của các cơ quan trung
Trang 143
ương về nghiên cứu Lực lượng cán bộ KH&CN này đã tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Đây là nguồn nhân lực KH&CN rất quan trọng đối với tỉnh Quảng Bình
Tuy nhiên, dù đã có bước tiến tích cực, nhưng đội ngũ cán bộ KH&CN của tỉnh còn nhiều mặt hạn chế Một bộ phận cán bộ KH&CN bất cập về kiến thức, năng lực và trình độ trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của sự nghiệp CNH, HĐH Thiếu cán bộ đầu đàn ở nhiều lĩnh vực KH&CN, thiếu cán bộ giỏi về khoa học quản lý và chuyên gia công nghệ có trình độ cao Có
sự mất cân đối về ngành nghề đào tạo Đội ngũ công nhân kỹ thuật thiếu cả về chất lượng và số lượng Thiếu sự liên kết hữu cơ giữa công tác nghiên cứu khoa học, giáo dục đào tạo với thực tế sản xuất kinh doanh Việc quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN chưa chú trọng đúng mức Khả năng tham mưu cho lãnh đạo địa phương chưa hiệu quả dẫn đến việc thực hiện chính sách và các quy định về phát triển nguồn nhân lực KH&CN chưa nghiêm túc, chưa thống nhất Sử dụng nguồn nhân lực KH&CN thiếu quy hoạch, kế hoạch, đặc biệt là cân đối nguồn nhân lực KH&CN chưa được quan tâm dẫn đến lãng phí nguồn lực và chưa hiệu quả, năng suất lao động xã hội chậm được cải thiện Do đó, học viên chọn đề tài “Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình” để nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về phát triển nhân lực KH&CN trên thực tế đã có không ít các tác giả, các công trình nghiên cứu Ở nhiều địa phương cũng đã đưa ra những chính sách phát triển nguồn nhân lực Bản thân UBND tỉnh Quảng Bình cũng đã ban hành chính sách thu hút, đào tạo nhân tài giai đoạn 2011-
2015, được chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình ký ngày 10/11/2011, Quyết định
số 1136/QĐ-UBND về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh
Trang 15Sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” của Học viện Hành chính, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội năm 2009 Cuốn sách bàn đến nguồn nhân lực xã hội nói chung và ở tầm vĩ mô, bàn đến phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sách “Nguồn lực và động lực cho phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn năm 2011-2020” của tác giả Ngô Doãn Vịnh (chủ biên), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội năm 2011 Cuốn sách đã trình bày những lý luận và những thực tế khách quan làm rõ cả hai vấn đề: Thứ nhất, quan niệm về nguồn lực, làm thế nào để huy động được nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lực Thứ hai là, thế nào là động lực, làm thế nào để tạo ra động lực và phát huy được động lực tốt nhất
Nguyễn Tiến Thành, Cử nhân, 2010, Đề tài: Xây dựng hệ thống cơ sỡ
dữ liệu tiềm lực khoa học, công nghệ phục vụ công tác nghiên cứu khoa học
và phát triển công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Bình Đề tài thực hiện điều tra về tiềm lực KH&CN tỉnh Quảng Bình Tác giả tổng hợp và xây dựng một hệ thống CSDL bảo đảm cập nhật, đầy đủ, chính xác, tập trung thống nhất về tiềm lực khoa học, công nghệ (nhân lực, vật lực, tin lực)
Trang 165
Nguyễn Chí Thắng, Thạc sĩ, 2013, Luận văn: "Giải pháp tăng cường thu hút nhân lực khoa học và công nghệ nhằm phục vụ Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Quảng Bình theo định hướng nhu cầu”, Đại học Khoa học xã hội
và nhân văn Đưa ra bức bức tranh hiện trạng về thu hút nhân lực khoa học và công nghệ của tỉnh Quảng Bình hiện nay và các giải pháp tăng cường thu hút nhân lực khoa học và công nghệ theo định hướng nhu cầu
Phạm Thị Bảo Thoa,Thạc sĩ, 2013, Luận văn: “Phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay”, từ việc tìm hiểu thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ở Việt Nam, luận văn đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế theo hướng hiện đại ở nước
ta
Nhìn chung những công trình trên đã khẳng định được tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ hiện nay Đó là nguồn tài liệu và tư liệu quý giá để luận văn kế thừa và phát triển Tuy nhiên, các công trình đó chỉ mới đề cập từng khía cạnh cụ thể của sự phát triển nhân lực KHCN mà chưa sự quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN
Để có cái nhìn toàn diện và hệ thống trên cả ba phương diện: lý luận, thực trạng, giải pháp Đặc biệt, còn rất ít công trình đề cập đến sự phát triển NNL KHCN ở Quảng Bình như một quá trình để thấy được sự thay đổi số lượng và chất lượng của nhân lực KH&CN theo thời gian, và nó đã đóng góp được yêu cầu của nền kinh tế phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
3.1 Mục đích
Luận văn nghiên, đánh giá về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình Qua đó, đề xuất những giải pháp góp phần hoàn
Trang 174 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài luận văn là
Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình
- Phạm vi không gian: Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Bình có trình độ Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ, thạc sĩ, Đại học, Cao đẳng và công nhân kỹ t huật trình độ cao
- Phạm vi thời gian: Nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình đến tháng 12/2016 và đề xuất giải pháp cho thời gian tới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở những phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nguồn nhân lực
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 187
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp (desk-study) Phương pháp này chủ yếu tập trung nghiên cứu, tham khảo, phân tích các văn bản, tài liệu, công trình khoa học, các số liệu khoa học đã được công bố ở trong nước và nước ngoài có liên quan đến luận văn để hình thành cơ sở lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Để đảm bảo tính khoa học, khách quan, trung thực trong đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN và tính khả thi của giải pháp, học viên đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu xã hội học sau đây:
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp: thống kê, xác định số lượng nguồn nhân lực KH&CN thông qua thống kê số liệu từ báo cáo số lượng công chức của Sở Nội vụ Quảng Bình
+ Phương pháp phân tích: từ những số liệu đã được thống kê, tổng hợp tiến hành phân tích
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Luận văn đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện nội dung quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình
Trang 198
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Bình
Trang 209
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu
1.1.1 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
1.1.1.1 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển: các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau
Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc: “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”[37]
Theo quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam: “Nguồn lực con người
là quý báu, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “nguồn lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng
và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn với một nền khoa học hiện đại [7]
Theo GS.TS Phạm Minh Hạc: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn lao động được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc lao động nào đó, tức là những người lao động có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH”[23]
Theo TS Nguyễn Hữu Dũng: “Nguồn nhân lực được xem xét dưới hai góc độ năng lực xã hội và tính năng động xã hội Ở góc độ thứ nhất, nguồn
Trang 2110
nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, là bộ phận quan trọng nhất của dân số, có khả năng tạo ra giá trị vật chất và tinh thần cho xã hội Xem xét nguồn nhân lực dưới dạng tiềm năng giúp định hướng phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo không ngừng nâng cao năng lực xã hội của nguồn nhân lực thông qua giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khoẻ Tuy nhiên nếu chỉ dừng lại ở dạng tiềm năng thì chưa đủ Muốn phát huy tiềm năng đó phải chuyển nguồn nhân lực sang trạng thái động thành vốn nhân lực, tức là nâng cao tính năng động xã hội của con người thông qua các chính sách, thể chế và giải phóng triệt để tiềm năng con người Con người với tiềm năng vô tận nếu được tự do phát triển, tự do sáng tạo và cống hiến, được trả đúng giá trị lao động thì tiềm năng vô tận đó được khai thác phát huy trở thành nguồn vốn vô cùng to lớn’’[15]
Ngoài ra một số tác giả khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đưa ra nhiều quan điểm khác nhau
về nguồn nhân lực một cách ngắn gọn là nguồn lực con người Điêu đó, cũng
có nghĩa là khái niệm nguồn lực tập trung ba vấn đề sau:
- Xem xét nguồn nhân lực dưới gốc độ nguồn lực con người – yếu tố quyết định phát triển xã hội;
- Nguồn nhân lực bao gồm chất lượng và số lượng, trong đó về mặt chất lượng thể hiện ở mặt trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và
Trang 2211
Từ phân tích ở trên, có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa rộng: “Nguồn nhân lực là bộ phận dân số trong độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật có khả năng tham gia lao động Nguồn nhân lực là tổng hợp những năng lực cả về thể lực và trí lực của nhóm người, một tổ chức, một địa phương hay một quốc gia”
Độ tuổi lao động được quy định cụ thể ở mỗi quốc gia có khác nhau Ở Việt Nam hiện nay, theo quy định của Bộ Luật Lao động, tuổi lao động của nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi và của nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi
Nguồn nhân lực của tổ chức là một bộ phận cấu thành nguồn nhân lực của xã hội hay nói cách khác, nguồn nhân lực của tổ chức là một hệ con của
hệ thống nguồn nhân lực xã hội Đó là tất cả những ai làm việc trong tổ chức,
từ thủ trưởng cao nhất đến nhân viên bình thường nhất, thấp nhất, làm việc chân tay, đơn giản Đó cũng là người đang chờ đợi để có thể vào làm việc trong tổ chức, tức là nguồn dự trữ của tổ chức [9]
Nguồn nhân lực của mỗi tổ chức có những đòi hỏi, yêu cầu riêng tùy theo chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc của tổ chức đó Đây chính vì sao mỗi tổ chức phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, tạo nguồn nhân lực cho chính mình một cách hợp lý Mặt khác, khi nguồn nhân lực xã hội có thể đáp ứng được yêu cầu của tổ chức, thì tổ chức có thể sử dụng chúng Cạnh tranh để có nguồn nhân lực xã hội phù hợp với yêu cầu của tổ chức là xu thế chung của thế giới trong nhiều năm qua và tiếp tục thúc đẩy cạnh tranh trong thời gian tới, dưới nhiều dạng khác nhau: cạnh tranh nhân tài, cạnh tranh lao động có tay nghề cao, cạnh tranh lao động có chi phí rẻ
Từ những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực cho thấy nguồn nhân lực của mỗi quốc gia hay mỗi tổ chức có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản nhất, nó có tính quyết định;
Trang 23- Chất lượng nguồn nhân lực là những yếu tố cấu thành nên những năng lực, giá trị của nguồn lực lao động ở con người trong quá trình sản xuất thường được xem xét qua các yếu tố như sau: trình độ, kinh nghiệm, kỹ năng, sức khỏe, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, động lực làm việc; khả năng phát triển của người lao động;
- Cơ cấu nguồn nhân lực là cách tổ chức, phân bố lực lượng lao động trong nền sản xuất xã hội Cơ cấu nguồn nhân lực thường được xem xét dưới các tiêu chí: Cơ cấu theo trình độ chuyên môn, học vấn; cơ cấu theo ngành nghề; cơ cấu theo cấp bậc; cơ cấu theo độ tuổi; cơ cấu theo giới tính
Như vậy, nói đến nguồn nhân lực là nói đến số lượng, chất lượng cơ cấu nguồn nhân lực Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực quá ít sẽ gây khó khăn cho phân công lao động xã hội và do vậy chất lượng lao động cũng hạn chế Chất lượng nguồn nhân lực nâng cao sẽ góp phần làm giảm lượng người hoạt động trong một đơn vị sản xuất, kinh doanh hay giảm số người hoạt động trong một tổ chức xã hội, đồng thời cũng tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động của một tập thể người trong lao động sản xuất, lao động xã hội
Trang 2413
1.1.1.2 Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Theo nghĩa rộng, nhân lực KH&CN bao gồm những người sở hữu trí thức, những người này tham gia trực tiếp trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học cơ bản, ứng dụng công nghệ Hàm lượng trí thức tích lũy trong nhân lực KH&CN có thể được thông qua đào tạo chính thức hoặc thông qua tích lũy kinh nghiệm và các công việc liên quan đến đổi mới
Theo UNESCO, nhân lực KH&CN là “những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ…” Hoạt động KH&CN là những hoạt động có tính chất hệ thống và liên quan chặt chẽ đến việc tạo ra, phát triển, phổ biến, áp dụng kiến thức KH&CN trong mọi lĩnh vực KH&CN Hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu triển khai, giáo dục và đào tạo KH&CN và các dịch vụ KH&CN Dịch vụ KH&CN bao gồm các hoạt động KH&CN của thư viện và bảo tàng, dịch và hiệu đính tài liệu KH&CN; điều tra, thăm dò, thu thập số liệu về các hiện tượng kinh tế xã hội; tiêu chuẩn, chất lượng, dịch vụ tư vấn
và lấy ý kiến khách hàng, các hoạt động patent và bản quyền của các cơ quan công cộng
Như vậy UNESCO định nghĩa nhân lực KH&CN không theo bằng cấp
mà theo công việc hiện đang đảm nhận
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), nguồn nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo); Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc
Trang 2514
Từ hai điều kiện trên, nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm:
- Những người có bằng cấp trình độ tay nghề trở lên và làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN, ví dụ: giáo sư đại học, tiến sĩ về kinh
tế, bác sĩ nha khoa làm việc tại phòng khám, chuyên gia đang thất nghiệp, nữ vận động viên chuyên nghiệp và có bằng y học…
- Những người được coi là có trình độ tay nghề làm việc trong lĩnh vực KH&CN nhưng không có bằng cấp, ví dụ: nhân viên lập trình máy tính, hoặc cán bộ quản lý quầy hàng nhưng không có bằng cấp
- Những người làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển nhưng không đòi hỏi trình độ cao, ví dụ: thư ký của cơ quan nghiên cứu và phát triển, văn thư trong các cơ quan, trường đại học
- Những người có trình độ, có bằng cấp làm việc trong các ngành KH&CN
Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OECD được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm cả nhân lực tiềm ẩn (tiềm năng/tiềm tàng) chứ không chỉ là những người đang tham gia hoạt động KH&CN, để khi cần thiết có thể huy động nguồn nhân lực tiềm ẩn này tham gia trực tiếp vào hoạt động KH&CN
So với định nghĩa của OECD, định nghĩa của UNESCO có chỗ rộng hơn nhưng lại có chỗ hẹp hơn UNESCO đưa ra định nghĩa chỉ dựa vào hoạt động hiện tại để xác định nhân lực KH&CN mà không dựa vào trình độ, trong khi
đó OECD đưa ra định nghĩa dựa trên cả hai Điểm rộng hơn trong định nghĩa của UNESCO là ở chỗ nhân lực KH&CN còn bao hàm cả đội ngũ nhân lực phù trợ, trong khi OECD không tính bộ phận này là nhân lực KH&CN, trừ trường hợp họ có bằng cấp Còn điểm hẹp hơn là ở chỗ, UNESCO không tính những người có bằng cấp mà không hoạt động trong lĩnh vực KH&CN vào nhân lực KH&CN
Trang 2615
Từ những phân tích trên, nhiệm vụ nghiên cứu chọn nhân lực KH&CN hiểu theo định nghĩa của OECD, đó là “tập hợp những nhóm người tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các chức năng: nghiên cứu sáng tạo, giảng dạy, quản lý, khai thác sử dụng và tác nghiệp, góp phần tạo ra tiến bộ của KH&CN, của sự phát triển sản xuất và
xã hội” bởi vì định nghĩa này phù hợp với thực tế nguồn nhân lực KH&CN ở tỉnh Quảng Bình
Theo định nghĩa trên, nhân lực KH&CN bao gồm: Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp, lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao, lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học, lực lượng tham gia sản xuất tạo ra sự phát triển sản xuất và xã hội Cụ thể:
- Lực lượng nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp: Với chức năng nghiên cứu sáng tạo, họ là những người có trình độ tương đối cao (tốt nghiệp đại học trở lên) Họ khác nhau về trình độ, chức danh, chuyên môn và thường làm việc ở các tổ chức nghiên cứu khoa học
- Lực lượng giảng dạy được đào tạo bậc cao: Là những người có trình độ
từ đại học trở lên, làm công tác giảng dạy ở các học viện, nhà trường (cao đẳng, đại học) Ngoài chuyên môn dạy học (nhà giáo chuyên nghiệp, các giáo
sư, phó giáo sư, giảng viên đại học), họ còn tham gia nghiên cứu khoa học, hướng dẫn sinh viên, nghiên cứu sinh tham gia nghiên cứu khoa học
- Lực lượng quản lý khoa học ở các loại hình cơ quan khoa học: Bao gồm các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành các hoạt động KH&CN ở các cơ quan quản lý từ các Bộ, ban, ngành, sở, viện nghiên cứu, các phòng - ban khoa học ở trường, học viện và các trung tâm dịch vụ KH&CN
- Lực lượng tham gia nghiên cứu và sản xuất ở các doanh nghiệp: Bao gồm: các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu làm công tác quản lý, điều hành
Trang 2716
các hoạt động KH&CN ở các cơ doanh nghiệp từ Trung ương đến các địa phương; lực lượng lao động sản xuất có trình độ tay nghề tạo ra hàng hoá cho
xã hội
1.1.2 Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
1.1.2.1 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một “tài nguyên đặc biệt”, một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy, việc phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong
hệ thống phát triển các nguồn lực Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực
Theo UNESCO, phát triển nguồn nhân lực được đặc trưng bởi sự lành nghề của dân cư luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của đất nước, hay phát triển nguồn nhân lực là sự phát triển về chất lượng của lực lượng lao động một quốc gia Như vậy quan niệm này mới đề cập đến mặt chất lượng mà chưa đề cập đến mặt số lượng trong phát triển nguồn nhân lực Phát triển là sự tăng lên, có chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng Theo
đó, phát triển nguồn nhân lực cũng thể hiện sự tăng lên không những về chất lượng mà cả số lượng nhân lực
Theo ILO, phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có được việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp của cuộc sống cá nhân Cũng giống với UNESCO, quan điểm do Tổ chức Lao động quốc tế đưa ra cũng chưa thấy rõ được sự tăng lên về số lượng nhân lực trong phát triển nguồn nhân lực
Theo GS.TSKH Nguyễn Minh Đường, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt trí tuệ, kỹ năng lao động,
Trang 2817
thể lực, đạo đức, tâm hồn để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, làm giàu cho đất nước, góp phần cải tạo xã hội, cũng như phát huy truyền thống của dân tộc và góp phần tô điểm thêm bức tranh muôn màu của nhân loại Do vậy, phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển sinh thể, đồng thời tạo ra môi trường xã hội thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển [14] Mặc dù đã nêu cụ thể ba mặt cần được tiến hành trong phát triển nguồn nhân lực, nhưng quan niệm này vẫn chỉ tập trung vào sự phát triển nguồn nhân lực trên phương diện chất lượng nhân lực của một quốc gia
Theo Tổ chức công nghiệp Liên Hợp quốc (UNIDO), phát triển nguồn nhân lực là phát triển con người một cách hệ thống, vừa là mục tiêu vừa là đối tượng cho sự phát triển của một quốc gia Có thể thấy khái niệm này không chỉ hướng tới chất lượng của nguồn nhân lực như những khái niệm trên Phát triển con người một cách hệ thống cũng có thể hiểu là gồm phát triển con người về kỹ năng, về phẩm chất hay về chất lượng lao động và phát triển về số lượng người lao động Tuy nhiên quan niệm này còn khái quát, chưa thực sự làm rõ bản chất của phát triển nguồn nhân lực
Các quan niệm trên tuy đã đề cập đến nội dung cốt lõi của phát triển nguồn nhân lực: là sự tăng lên về các mặt thể chất, kỷ năng của người lao động, nhưng chưa đề cập đến sự thay đổi về số lượng và cơ cấu của đội ngũ lao động đó
Vậy có thể hiểu: phát triển nguồn nhân lực là sự biến đổi về số lượng
và chất lượng nguồn nhân lực bao gồm cả thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức, tinh thần, quy mô và cơ cấu nguồn nhân lực đó
Theo đó có thể hiểu phát triển nguồn nhân lực thực chất là đề cập đến vấn đề chất lượng, số lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của một quốc gia Nói một cách khác, phát triển nguồn nhân lực
Trang 29có văn hóa nghề nghiệp Nhân lực KH&CN chỉ thực sự phát triển khi có những chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ phù hợp, tạo điều kiện để người lao động phát triển hài hòa cả thể chất lẫn tinh thần
Phát triển nguồn nhân lực KH&CN được định nghĩa và hiểu theo các cách khác nhau tùy theo từng điều kiện cụ thể Theo nghĩa rộng, phát triển nguồn nhân lực là tối đa hóa và khuyến khích sự dụng, phát huy tiềm lực con người phục vụ tiến bộ kinh tế và xã hội
Trang 30Vậy phát triển nhân lực KH&CN là sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng nhân lực trong lĩnh vực KH&CN Cụ thể, đó là sự tăng lên về số lượng, trình độ chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ cán bộ nghiên cứu trong các Viện, trường Đại học; cán bộ kỹ thuật, công nghệ làm việc trong các doanh nghiệp; các cá nhân khác có sáng kiến, cải tiến kỹ thuật và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; cán bộ quản lý các cấp tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ hoạch định các quyết sách, quyết định quan trọng trong thẩm quyền của mình; trí thức người Việt ở nước ngoài và các chuyên gia nước ngoài làm việc tại Việt Nam và sự thay đổi cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN theo hướng tiến bộ
1.1.3 Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học
và công nghệ
1.1.3.1 Quản lý nhà nước về nguồn nhân lực
Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình của xã hội và hành vi của con người, nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định Quản lý bao gồm các yếu tố cấu thành: Chủ thể quản lý (cá nhân, tổ chức), đối tượng quản lý (tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý), khách thể quản lý (chịu sự tác động hay
sự điều chỉnh của chủ thể quản lý), mục tiêu quản lý (là cái đích cần đạt tới một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước), môi trường quản lý
Trang 3120
(môi trường tự nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị) Trong quản lý phải có những nguyên tắc và phương pháp nhất định phù hợp với đối tượng và môi trường quản lý
Quản lý xã hội đã được xác định vừa là khoa học vừa là nghệ thuật vì liên quan trực tiếp đến hoạt động của con người Quản lý xã hội là sự tác động tích cực, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể của quản lý xã hội lên các khách thể có liên quan nhằm duy trì và phát triển xã hội theo các đặc trưng và các mục tiêu của chủ thể quản lý đặt ra phù hợp với xu thế phát triển khách quan của lịch sử Quản lý xã hội bao gồm quản lý nhà nước và các thiết chế xã hội khác
Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước đó Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước – bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội Quản lý nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan nhà nước thực thi quyền lực nhà nước Quản lý nhà nước là sự tác động tổ chức mang tính quyền lực – pháp lý của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền, hoặc các tổ chức khi được nhà nước trao quyền tới ý thức, hành vi, xử sự của cá nhân, tổ chức, cơ quan, tới các quá trình xã hội hướng chúng vận động, phát triển nhằm đạt được mục tiêu nhất định của Quản lý nhà nước và xã hội Mục tiêu của Quản lý nhà nước phải phù hợp với mục tiêu phát triển của xã hội
Quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực là dạng quản lý xã hội, quản
lý con người Quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động sắp xếp, tổ chức, điều hành, hướng dẫn, kiểm tra các quá trình tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người lao động, phát huy cao nhất tiềm năng của cá nhân trong việc đáp ứng nhu cầu, mục tiêu định trước của tổ chức
Trang 3221
nhằm thực hiện các mục tiêu đã đặt ra và chi phí thấp nhất
1.1.3.2 Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ
Trong bất kỳ một thể chế xã hội nào cũng cần có sự quản lý, đó là hoạt động bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động là một hoạt động khách quan nảy sinh cần có sự nỗ lực tập thể thực hiện mục tiêu chung
Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực là quá trình đánh giá, hoạch định và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn lực con người thông qua tổng thể các tác động về luật pháp, chính sách, phương pháp và hình thức nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng sức lao động xã hội về mọi mặt (phẩm chất đạo đức, trí tuệ, sức khỏe, năng lực, tâm lý, hiểu biết xã hội); nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển
Là quá trình tác động, điều chỉnh thường xuyên của nhà nước bằng quyền lực nhà nước đối với hoạt động phát triển nguồn nhân lực KH&CN một cách có hiệu quả tổng thể các biện pháp và khâu quản lý (lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, phối hợp điều hành và kiểm tra giám sát nhằm tạo ra nguồn nhân lực KH&CN cho xã hội vừa có chuyên môn vừa có kiến thức và thái độ tích cực trong lao động
Như vậy, quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN là quá trình tác động và điều chỉnh của nhà nước đến việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN nhằm:
- Đưa ra các cơ sở pháp lý cho việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN
- Đảm bảo cho việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN thực hiện một cách thống nhất, quy củ, đúng quy định qua đó góp phần cho việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN được bình đẳng, lành mạnh, công khai, minh bạch, đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tế
Trang 3322
- Giám sát chặt chẽ khâu đầu vào tuyển dụng, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực KH&CN và xử lý các vi phạm phát sinh nhằm hạn chế ngăn chặn các tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Có thể thấy rằng, con người là trọng tâm của tất cả các hoạt động, mỗi hoạt động diễn ra cũng là nhờ con người Để tồn tại và phát triển không có con đường nào khác là duy trì và phát triển tài nguyên nhân lực một cách hiệu quả nhất Nhân lực sẽ quyết định sự tồn tại và phát triển của nhà nước, của xã hội và của quốc gia Đặc biệt, trong xu thế ngày càng phát triển và hội nhập quốc tế, sự cạnh tranh diễn ra gay gắt và khốc liệt các cơ quan nhà nước để phát triển bền vững cũng là do có đội ngũ nguồn nhân lực mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng, cả về thể lực và trí lực
Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN là một bộ phận cấu thành hoạt động quản lý nhà nước đầy đủ có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức rất cao và tính mệnh lệnh đơn phương của cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước đối với nguồn nhân lực KH&CN Ngoài ra, quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN
có mục tiêu, chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu Để thực hiện được mục tiêu này cần thiết phải lập một hệ thống các chương trình, kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn
Thứ hai, quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN mang tính chủ động, sáng tạo, liên tục và chuyên môn hóa nghề nghiệp cao, linh hoạt trong điều hành, phối hợp, huy động mọi lực lượng để đạt được mục tiêu,
kế thừa những thành tựu và tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa trong hoạt động quản lý để áp dụng cho nguồn nhân KH&CN một cách phù hợp
Thứ ba, quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN mang
Trang 34Quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực KH&CN được xây dựng trên cơ sở dự báo nhu cầu nguồn nhân lực KH&CN để thích ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Đây là định hướng để nhà nước thực hiện xây dựng kế hoạch hóa sự phát triển của các ngành nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực KH&CN phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Bằng chức năng hoạch định quy hoạch và thực hiện kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực KH&CN mà nhà nước thực hiện vai trò của người tổ chức chuẩn bị, cung cấp nguồn nhân lực cho mỗi giai đoạn phát triển của đất nước, qua đó Đảng và Nhà nước ta xây dựng được những mục tiêu cơ bản của các quy hoạch, kế hoạch chiến lược phát triển nguồn nhân lực KH&CN
Quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực KH&CN phải xác định được các mục tiêu phù hợp với nhiệm vụ tổng quát và cụ thể trong từng thời kỳ, đồng thời các chỉ tiêu chính đó phải được lượng hóa Quy hoạch
Trang 3524
và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực KH&CN đúng đắn sẽ phát huy tối
đa nguồn lực con người, đồng thời phản ánh được nguồn nhân lực là động lực,
là phương tiện, là đối tượng, đồng thời là mục tiêu cuối cùng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Bình nói chung và nguồn nhân lực KH&CN nói riêng là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý nhà nước nhằm định hướng cho tỉnh phát triển phù hợp với mục tiêu chung của phát triển kinh tế - xã hội
Quy hoạch và kế hoạch hóa phát triển nguồn nhân lực KH&CN tỉnh Quảng Bình cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Bám sát yêu cầu, mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh giai đoạn tới;
- Kiểm kê, đánh giá nhận dạng thực trạng phát triển nguồn nhân lực KH&CN về số lượng, chất lượng, cơ cấu; xác định rõ những thế mạnh và yếu kém của nhân lực KH&CN so với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội;
- Phân tích, làm rõ thực trạng những điều kiện phát triển nguồn nhân lực KH&CN trên địa bàn tỉnh (trình độ phát triển kinh tế-xã hội, mạng lưới các cơ sở đào tạo, hệ thống các cơ chế, chính sách phát triển đào tạo, sử dụng nhân lực, đãi ngộ, thu hút nhân tài), đúc kết những tác động tích cực, hạn chế, bài học kinh nghiệm và hướng khắc phục;
- Dự báo nhu cầu nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh cho những năm tiếp theo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và trình độ; và đáp ứng yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực Nêu rõ quan điểm, mục tiêu, phương hướng phát triển nhân lực, coi trọng đúng mức nhân lực trình độ cao, nhân lực trong các ngành kinh tế mũi nhọn/chủ yếu đáp ứng yêu cầu của tỉnh trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế
Trang 3625
1.2.2 Chiến lược phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Chiến lược phát triển nguồn nhân lực giữ vị trí hết sức quan trọng, nó là một bộ phận của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chỉ có nhà nước là có khả năng duy nhất hoạch định chiến lược nguồn nhân lực và thực hiện kế hoạch hóa sự phát triển nguồn nhân lực trên phạm vi quốc gia
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực được xây dựng dựa trên cơ sở dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cần để có thể thích ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội Đây là cơ sở định hướng để nhà nước thực hiện kế hoạch hóa phát triển của các ngành nhằm chuẩn bị nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu trong từng giai đoạn CNH, HĐH
Bằng chức năng hoạch định chiến lược và thực hiện kế hoạch hóa nguồn nhân lực mà nhà nước thực hiện vai trò của người tổ chức trong chuẩn
bị, cung cấp nguồn nhân lực cho mỗi giai đoạn của quá trình phát triển đất nước, qua đó Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã xây dựng được những mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020
Chiến lược nguồn nhân lực phải xác định được các chỉ tiêu phù hợp với nhiệm vụ tổng quát và cụ thể trong từng thời kỳ, đồng thời các chỉ tiêu đó phải được lượng hóa Chiến lược nguồn nhân lực đúng đắn sẽ phát huy tối đa nguồn lực con người, đồng thời phản ánh được nguồn nhân lực là động lực, là phương tiện, là đối tượng, đồng thời là mục tiêu cuối cùng của CNH, HĐN
Việc xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực của cả nước nói chung và nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh Quảng Bình nói riêng là một trong nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước nhằm định hướng cho tỉnh phát triển phù hợp với mục tiêu chung của phát triển kinh - tế xã hội
Trang 37- Nguyên tắc tuyển dụng:
+ Xuất phát từ yêu cầu công việc mà tuyển dụng người phù hợp
+ Bảo đảm tiêu chuẩn theo chức danh nghề nghiệp
+ Bảo đảm công khai, bình đẳng và công minh
- Quy chế tuyển dụng:
+ Xác định yêu cầu tuyển dụng: đây là khâu đầu tiên của quá trình tuyển dụng Nếu không các định được nhu cầu nguồn nhân lực KH&CN cần tuyển dụng, khó có thể đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực KH&CN
+ Nguyên tắc tuyển dụng: tuyển dụng bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật; bảo đảm tính cạnh tranh; tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm
+ Hình thức tuyển dụng: hình thức tuyển dụng có thể là thi tuyển hoặc xét tuyển, trong đó thi tuyển là hình thức được áp dụng nhiều hơn cả
+ Xác định kế hoạch tuyển dụng: là các hoạt động cần tiến hành; các nguồn lực để tổ chức thực hiện; thời gian thực hiện
- Quy trình tuyển dụng thường gồm các bước:
+ Bước 1: thông báo tuyển dụng và tiếp nhận hồ sơ dự tuyển
Trang 3827
+ Bước 2: tổ chức tuyển dụng
+ Bước 3: thông báo kết quả tuyển dụng
+ Bước 4: thời hạn ra quyết định tuyển dụng và nhận việc
ˆ Các nguyên tắc cơ bản
Quản lý và sử dụng nguồn nhân lực KH&CN cần đảm bảo các nguyên tắc như nguyên tắc khách quan, tập trung dân chủ, tương xứng với từng loại công việc và phải cơ cấu nhân lực theo chuyên môn, theo giới tính, theo độ tuổi, theo bộ phận, theo dân tộc
Sử dụng nguồn nhân lực KH&CN còn phải dựa trên cơ sở quy hoạch nhân lực Điều này được xem như là một nguyên tắc tổ chức Quy hoạch là hoạt động tạo nguồn nhân lực KH&CN, đặc biệt là nhân lực làm chức năng lãnh đạo, quản lý Thực hiện công tác quy hoạch nhân sự thật sự khách quan, khoa học và thường xuyên sẽ giúp cho công tác sử dụng nguồn nhân lực KH&CN được chủ động; các hoạt động điều phối, tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển và đào tạo, bồi dưỡng nhân lực được nhịp nhàng, không bị hụt hẫng, mất cân đối
ˆ Quy trình sử dụng
Trang 3928
Xuất phát từ bản chất của việc sử dụng nguồn nhân lực KH&CN trong một tổ chức cho thấy: sử dụng nhân lực KH&CN thực chất là việc bố trí nhân lực vào một vị trí thích hợp với năng lực chuyên môn và phẩm chất tâm sinh
lý của họ nhằm làm cho họ phát huy hết mọi năng lực vốn có của bản thân cho công việc Từ phương diện này, quy trình sử dụng nhân lực KH&CN sẽ bao gồm các hoạt động gắn liền, nối tiếp nhau, như sau: xây dựng tiêu chuẩn chức danh – đánh giá – bố trí, sắp xếp – khuyến khích, động viên, đãi ngộ và kiểm tra
Xây dựng tiêu chuẩn: là việc đưa ra những quy định khách quan cho từng vị trí, chức danh nguồn nhân lực KH&CN và là công việc rất cần thiết của hoạt động sử dụng nguồn nhân lực KH&CN một cách khoa học trong tổ chức
Đánh giá nguồn nhân lực KH&CN: là một yêu cầu là một khâu quan trọng trong quản lý, sử dụng nguồn nhân lực KH&CN Việc đánh giá chính xác các hoạt động, các mức độ hoàn thành công việc của nguồn nhân lực KH&CN trong tổ chức giúp nhà quản lý, lãnh đạo đưa ra được phương thức
sử dụng, đãi ngộ, bổ nhiệm, đề bạt, khen thưởng, kỹ luật một cách kịp thời và đúng đắn với nguồn nhân lực KH&CN của tổ chức Nhận thức rõ tầm quan trọng việc đánh giá nguồn nhân lực KH&CN, Đảng ta khẳng định: “Đây là vấn đề quan trọng, là cơ sở để sắp xếp, bố trí, đề bạt cán bộ Vì vậy, phải được tiến hành theo một quy trình chặt chẽ, khách quan và công tâm [10]
Bố trí, sắp xếp nguồn nhân lực KH&CN: đây là khâu quan trọng nhất,
nó quyết định trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả của công tác sử dụng nguồn nhân lực KH&CN và hoạt động của tổ chức Bố trí, sắp xếp nguồn nhân lực KH&CN là dựa vào các vị trí phù hợp, tạo điều kiện phát huy được mọi khả năng, năng lực chuyên môn, sở trường và những tố chất khác nhau
Trang 4029
của cá nhân, làm cho hoạt động của cá nhân và hoạt động chung của tổ chức đạt hiệu quả cao
Khuyến khích, động viên, đãi ngộ và kiểm tra: là một nội dung đòi hỏi
kỹ năng quản lý cao của người lãnh đạo trong tổ chức Bất cứ nhân viên nào cũng cần phải khuyến khích, động viên về vật chất lẫn tinh thần Công tác kiểm tra phải có kế hoạch, có phương pháp, đảm bảo sự công bằng, khách quan và xử lý kịp thời những hạn chế, sai lầm của nhân viên
1.2.4 Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực KH&CN vững vàng về chính trị, thông thạo chuyên môn, nghiệp vụ, đạt chuẩn chức danh theo ngạch công chức, viên chức Đảm bảo công chức, viên chức ở các ngạch, các vị trí công tác được đào tạo, bồi dưỡng các kỹ năng theo yêu cầu từng chức danh, được trang bị kiến thức về văn hóa công sở, trách nhiệm và đạo đức công vụ, nghề nghiệp Cán bộ, công chức, viên chức trong quy hoạch phải được đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng các kỹ năng lãnh đạo, quản lý trước khi đề bạt bổ nhiệm
Tập trung xây dựng và phát triển nguồn nhân lực KH&CN theo hướng chuyên nghiệp hóa, có trình độ chuyên môn cao, sử dụng tốt ngoại ngữ, tin học; năng lực quản lý nhà nước theo pháp luật, năng lực dự báo, hoạch định
và tham mưu tổng hợp đáp ứng nhu cầu công việc
Phát huy hơn nữa hiệu quả hoạt động của bộ máy và chất lượng nguồn nhân lực KH&CN của các cơ quan để có đủ năng lực tham mưu chỉ đạo, điều hành và tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Cần có những biện pháp hữu hiệu nhằm ổn định và kiện toàn bộ máy phù hợp với tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực KH&CN của tỉnh