Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THỦY,
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Thừa Thiên Huế - Năm 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
THỰC THI CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THỦY,
TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN HỮU HẢI
Thừa Thiên Huế - Năm 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” là công trình nghiên cứu của bản thân Học viên và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong đề tài nghiên cứu này là trung thực và đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thừa Thiên Huế, ngày 27 tháng 12 năm 2017
Học viên Nguyễn Bá Minh
Trang 4Lời cảm ơn
Để thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn này tôi đã nhận được nhiều
sự hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, Khoa Sau đại học - Học viện Hành chính Quốc gia cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Hữu Hải - người hướng dẫn khoa học, đã tận tình dành nhiều thời gian trực tiếp chỉnh sửa nội dung, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan trên địa bàn huyện Lệ Thủy: Phòng Lao động Thương binh và Xã hội, BHXH huyện, Phòng KH-TC huyện, Bệnh viện Đa khoa huyện, Ngân hàng chính sách huyện, Chi cục Thống kê huyện đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình khảo sát, thu thập số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Tôi xin cảm ơn tập thể lớp Cao học HC20.T5 - Cơ sở Học viện Hành chính khu vực miền Trung, các đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do hạn chế về thời gian và khả năng nghiên cứu nên trong luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong Quý thầy giáo, cô giáo, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn./
Thừa Thiên Huế, ngày 27 tháng 3 năm 2017
Học viên Nguyễn Bá Minh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI 8
1.1 An sinh xã hội và vai trò của chính sách an sinh xã hội 8
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội 8
1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội 11
1.2 Các hợp phần của chính sách an sinh xã hội 12
1.2.1 Chính sách bảo hiểm y tế 13
1.2.2 Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp 15
1.2.3 Chính sách trợ giúp xã hội 16
1.2.4 Chính sách ưu đãi xã hội 18
1.3 Thực hiện chính sách an sinh xã hội 22
1.3.1 Chủ thể thực hiện 22
1.3.2 Đối tượng tác động 23
1.3.3 Nguồn lực thực hiện 24
1.3.4 Phối hợp thực hiện 25
1.3.5 Kiểm tra đôn đốc thực hiện 28
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội 29
1.4.1 Thể chế nhà nước 29
1.4.2 Nguồn lực tài chính 30
1.4.3 Trình độ nhận thức của người dân 31
1.4.4 Môi trường thực hiện chính sách 31
1.5 Kinh nghiệm thực hiện chính sách an sinh xã hội trong nước và quốc tế 33
1.5.1 Kinh nghiệm từ Thành phố Đà Nẵng 34
1.5.2 Kinh nghiệm từ Nhật Bản: 36
Trang 61.5.3 Bài học kinh nghiệm cho việc thực hiện đảm bảo an sinh xã hội trên
địa bàn huyện Lệ Thủy 40
Chương 2: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH 46
2.1 Khái quát chung về huyện Lệ Thủy 46
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 46
2.1.2 Dân cư và điều kiện kinh tế - xã hội 49
2.2 Triển khai thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình 54
2.2.1 Khái quát các đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh trên địa bàn 54 2.2.2 Tình hình thực thi chính sách BHXH và BHYT 56
2.2.3 Tình hình thực thi chính sách ưu đãi xã hội 61
2.2.4 Thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy giai đoạn 2011-2015 82
2.3 Đánh giá tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội tại địa bàn huyện Lệ Thủy 84
2.3.1 Những kết quả đạt được 85
2.3.2 Những hạn chế, tồn tại 88
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 91
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH 95
3.1 Định hướng thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy giai đoạn 2016-2020 95
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội ở huyện Lệ Thủy 95
3.2.1 Giải pháp về nâng cao năng lực, tình thần phục vụ của công chức thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn 95
Trang 73.2.2 Giải pháp nâng cao nguồn lực để hỗ trợ an sinh xã hội 97
3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển kinh tế 98
3.2.4 Giải pháp về thực hiện chính sách ưu đãi người có công 100
3.2.5 Giải pháp về quản lý cơ chế chính sách an sinh xã hội 102
3.2.6 Nhóm giải pháp nâng cao năng lực, khả năng cho người nghèo, cho người đang hưởng các chính sách an sinh xã hội 104
3.3 Kiến nghị, đề xuất 105
3.3.1 Kiến nghị với Trung ương 105
3.3.2 Kiến nghị với tỉnh Quảng Bình 106
3.3.3 Kiến nghị với huyện Lệ Thủy 107
KẾT LUẬN 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- giải quyết việc làm
LĐTB&XH Lao động Thương binh và Xã hội
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Bản đồ hành chính huyện Lệ Thủy 49
Bảng 2 Một số chỉ tiêu về khí tượng và diễn biến khí tượng huyện Lệ Thủy 548
Bảng 3 Tình hình biến động dân số huyện Lệ Thủy 64
Bảng 4 Tốc độ tăng trưởng kinh tế Lệ Thủy giai đoạn 2011-2015 67
Bảng 5 Tỷ trọng các ngành kinh tế huyện Lệ Thủy giai đoạn 2011-2015
Bảng 6 Tổng hợp số liệu chi từ nguồn Bảo hiểm xã hội 68
Bảng 7 Số liệu công tác BHXH, BHYT huyện Lệ Thủy 72
Bảng 8 Tỷ lệ tham gia BHYT tính đến ngày 31/12/2015 75
Bảng 9 Tổng hợp các đối tượng chính sách hưởng chế độ ưu đãi 77
Bảng 10 Kết quả công tác chính sách ưu đãi giai đoạn 2011-2015 78
Bảng 11 Số liệu các đối tượng hưởng chính sách bảo trợ xã hội 80
Bảng 12 Tỷ lệ hộ nghèo từ năm 2011 đến năm 2015 84
Bảng 13 Tín dụng cho hộ nghèo ở huyện Thủy giai đoạn 2011-2015 86
Bảng 14 Vốn đầu tư các xã nghèo, xã ĐBKK giai đoạn 2011-2015 87
Bảng 15 Số liệu giải quyết việc làm từ 2013 đến 2015 90
Bảng 16 Ngành giáo dục huyện Lệ Thủy giai đoạn 2011-2015 91
Bảng 17 Cơ sở y tế, giường bệnh và cán bộ y tế trên địa bàn 92
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
An sinh xã hội là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển con người, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội
Bản chất của an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân nhằm tạo ra sự an toàn sinh sống cho mọi thành viên trong xã hội An sinh xã hội là trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ đối với các thành viên của mình
Bảo đảm an sinh xã hội là chủ trương nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, là chính sách để giảm nghèo, bảo đảm đời sống của nhân dân, thực hiện công bằng, tạo sự đồng thuận xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội, củng cố và tăng cường quốc phòng, an ninh
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xây dựng các chính sách xã hội vì mục tiêu làm cho “Dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, trong thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản để thực hiện các chính sách an sinh xã hội, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào dân tộc thiếu
số, xóa đói giảm nghèo có hiệu quả
Là huyện nằm phía Nam tỉnh Quảng Bình, trong thời gian qua huyện
Lệ Thủy cũng đã có những nỗ lực trong việc thực hiện chính sách an sinh
xã hội cho người dân, đặc biệt là những đối tượng dễ bị tổn thương trong
xã hội và đã đạt được những kết quả tích cực; tuy nhiên vẫn còn những khó khăn, tồn tại cần tiếp tục được xem xét, đánh giá nhằm rút ra bài học kinh nghiệm để có định hướng và giải pháp tích cực cụ thể trong thời gian đến
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách xã hội, đề xuất những giải pháp khả thi nhằm
Trang 11thực hiện có hiệu quả hơn về chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện
Lệ Thủy vừa có ý nghĩa lý luận, vừa mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay Xuất phát từ những lý do đó, Học viên lựa chọn đề tài: “Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” với mong muốn được mang những kiến thức học tập của mình góp phần nhỏ trong việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong những năm gần đây, an sinh xã hội là một trong những lĩnh vực được các nhà nghiên cứu cả trong và ngoài nước quan tâm Ở nước ta,
đã có nhiều nghiên cứu quan trọng có liên quan tới lĩnh vực này như:
- Đề tài: Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam, do GS-TS Mai Ngọc Cường chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) Đề tài đã khái quát về hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam thời gian qua, với những nội dung về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, trợ cấp xã hội và ưu đãi xã hội Với nhiều số liệu được cập nhật, phân tích cặn kẽ, đặc biệt công trình đã phân tích chỉ rõ những hạn chế yếu kém của hệ thống các chính sách an sinh xã hội cũng như đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội ở nước ta
- Bài viết “Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội” của Phạm Thị Hải Chuyền - Ủy viên Trung ương Đảng khóa XI - Nguyên Bộ Trưởng Bộ Lao đông Thương binh
và Xã hội Bài viết mang tính định hướng cho việc thực hiện cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong thời gian tới sẽ tập trung vào
5 mục tiêu chủ yếu sau: Một là hướng tới việc làm bền vững; Hai là thực hiện tốt các chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách
Trang 12mạng, đời sống người có công được nâng lên Ba là tăng cường trợ giúp xã hội cho người có hoàn cảnh đặc biệt; Bốn là phát triển và thực hiện tốt chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; Năm là hướng tới giảm nghèo toàn diện và bền vững
- Luận văn“Xóa đói giảm nghèo bền vững trên trên địa bàn tỉnh Quảng Bình” của Thạc sĩ Nguyễn Đình Hòa, chuyên ngành Kinh tế chính trị học Luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, trong đó đi sâu phân tích, chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến đói nghèo ở tỉnh Quảng Bình và tình hình thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo trên địa bàn Đồng thời, Luận văn cũng nêu lên những quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp cơ bản để thực hiện xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm tới
- Tạ Thị Hồng, Chính sách an sinh xã hội đối với người khó khăn hiện nay ở tỉnh Thái Nguyên Luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về chính sách an sinh xã hội nói chung và an sinh xã hội cho người có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Trên cơ sở đó, tác giả đã đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra những vấn đề còn bất cập trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với người có hoàn cảnh khó khăn ở tỉnh Thái Nguyên trong thời gian tới
- Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền, Nguyễn Anh Dũng - Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội năm 2009) Cuốn sách trình bày những bất cập, xu hướng vận động, kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống an sinh xã hội, đồng thời
Trang 13phân tích an sinh xã hội nhìn từ đối tượng thụ hưởng và những trụ cột chính trong an sinh xă hội thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai
- Luận văn Thạc sỹ của Lê Anh, Chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về an sinh xã hội và chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam Trên cơ sở đó, đánh giá đúng thực trạng và chỉ ra những bất cập trong thực hiện chính sách an sinh xã hội
ở Thành phố Đà Nẵng, đồng thời đã đề xuất nhiều giải pháp khá hợp lý và
cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh xã hội trong thời gian tới
- Bảo đảm an sinh xã hội (trang 66) Sách chuyên khảo Quản lý công, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia của đồng tác giả chủ biên TS Trần Anh Tuấn - PGS.TS Nguyễn Hữu Hải Tại mục 4.4, đảm bảo an sinh xã hội được nhìn nhận trên bình diện là một lĩnh vực của hoạt động của khu vực công và
an sinh xã hội thể hiện bản chất xã hội và nhân văn sâu sắc Tuy an sinh xã hội không loại trừ được sự nghèo đói, nhưng cũng góp phần đẩy lùi đói nghèo và thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội
- Đề tài: Phát triển hệ thống An sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020 của Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Hương - Viện khoa học Lao động và xã hội Đề tài đưa ra những vấn đề chung của an sinh xã hội, nguyên tắc xây dựng hệ thống an sinh xã hội, nhìn nhận đánh giá tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong thời gian qua Đặc biệt đề tài đã đưa ra các mô hình hệ thống an sinh xã hội của một số nước trên thế giới để từ đó người đọc có thể so sách đối với mô hình an sinh xã hội ở Việt Nam và từ đó có thể nhận thấy những nét đặc thù riêng biệt trong hệ thống ASXH ở nước ta Ngoài ra, đề tài còn đưa ra những nhận định, mục tiêu phương hướng thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở nước ta đến năm 2020, để người đọc có thể “hình dung” quá trình thực hiện ASXH trong thời gian tới, có thêm thế giới quan sinh động về ASXH nói chung và ASXH ở Việt Nam
Trang 14- Đề tài: Đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn Thành phố Hà Nội - Luận án của Tiến sĩ Đông Thị Hồng Luận án có những đặc điểm riêng biệt khi có sự đánh giá mối quan hệ giữa đảm bảo an sinh xã hội với phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội Đồng thời Luận án cũng đã đánh giá khá chi tiết những điều kiện và kinh tế ảnh hưởng đến đảm bảo an sinh xã hội và đưa ra những giải pháp rất thiết thực, phù hợp để nâng cao hiệu quả chính sách an sinh xã hội trong thời giai đoạn 2010 - 2015
Qua các nghiên cứu trên, đã đưa ra được một cách nhìn tổng quát về
an sinh xã hội với các mô hình, chính sách trên thế giới và ở Việt Nam, các giải pháp hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội vv Song chưa có nghiên cứu, bài viết nào đi sâu đến thực thi chính sách an sinh xã hội ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Học viên khẳng định Luận văn “Thực thi chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” là nội dung mới, chưa được nghiên cứu Do vậy, Luận văn có tính áp dụng thực tiễn cao trong thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy trong thời gian tới
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội; đồng thời vận dụng vào thực tiễn để tìm kiếm các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy trong thời gian tới;
Trang 15+ Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn để đưa ra một số kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội tại huyện Lệ Thủy trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình
- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện tại một số cơ quan chức năng tại huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ 2011 đến năm 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên hệ thống các quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và những chủ trương, đường lối cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước về công bằng xã hội, an sinh xã hội nói chung; những chính sách về bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy nói riêng Luận văn kế thừa những quan điểm lý luận của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đối với một số nội dung liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Thực hiện các phương pháp tổng hợp, phân tích thống kê, so sánh và
xử lý số liệu và phương pháp khảo sát thực tế
- Phương pháp tổng hợp: liên kết, sắp xếp các tài liệu, thông tin lý thuyết đã thu thập được để tạo thành hệ thống đầy đủ, toàn diện phục vụ có hiệu quả cho đề tài
- Phương pháp so sánh và xử lý số liệu: thực hiện so sánh và phân tích các số liệu thu thập được trên cơ sở đó tổng hợp khái quát hóa rút ra các kết luận, các nhận định, phục vụ mục đích nghiên cứu
Trang 16- Phương pháp khảo sát thực tế: thực hiện tại Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Lệ Thủy; tại BHXH huyện Lệ Thủy; Chi Cục Thống kê huyện Lệ Thủy; Ngân hàng chính sách huyện Lệ Thủy, Phòng Tài chính Kế hoạch huyện Lệ Thủy và tại một số xã, thị trấn trên địa bàn huyện Lệ Thủy nhằm kiểm tra, đánh giá, thu thập bổ sung các tư liệu,
số liệu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần thực hiện công tác an sinh trên địa bàn huyện Lệ Thủy hiệu quả hơn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo góp phần vào việc nâng cấp chất lượng thực hiện chính sách an sinh xã hội ở huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục, kết cấu luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách an sinh xã hội Chương 2: Tình hình thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách an sinh
xã hội trên địa bàn huyện Lệ Thủy tỉnh Quảng Bình
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI
1.1 An sinh xã hội và vai trò của chính sách an sinh xã hội
1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội
An sinh xã hội luôn được coi là một trong những vấn đề cốt lõi của
sự phát triển xã hội Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn lịch
sử cụ thể có quan niệm khác nhau đối với sự phát triển hệ thống an sinh
xã hội
Thực thi chính sách an sinh xã hội là toàn bộ quá trình chuyển hóa
cách ứng xử của chủ thể thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm
đạt mục tiêu định hướng của an sinh xã hội
An sinh xã hội là khái niệm có nội dung rộng và ngày càng được
hoàn thiện về phạm vi, đối tượng và chức năng trong việc hỗ trợ người dân
đối phó có hiệu quả với các nguy cơ mất việc làm, giảm thu nhập do thiên
tai, tai nạn lao động, ốm đau và tuổi già An sinh xã hội theo quan niệm của
một số tổ chức quốc tế cũng có mức độ rộng, hẹp và đối tượng hướng tới
khác nhau, cụ thể như sau:
- Theo nghĩa của từ Hán - Việt: An - trong chữ “An toàn”, Sinh -
trong chữ “Sinh sống”, “Sinh nhai”, “Sinh tồn”… An sinh có thể hiểu là
“an toàn sinh sống” Xã hội an sinh là xã hội con người được an toàn sinh
sống hay có cuộc sống an toàn ASXH được coi là một tấm lưới, hay một
chiếc ô che chắn cho sự an toàn xã hội và con người Còn theo Ngân hàng
Thế giới (WB): ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các
cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ
tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh
thu nhập
Trang 18- Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đình và cá nhân thông qua cơ chế của nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm sức sống hoặc cải thiện mức sống thấp Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức
- Hiệp hội An sinh quốc tế (ISSA) coi ASXH là thành tố của hệ thống chính sách công liên quan đến sự bảo đảm an toàn cho tất cả các thành viên xã hội chứ không chỉ có công nhân Những vấn đề mà ISSA quan tâm nhiều trong hệ thống ASXH là chăm sóc sức khoẻ thông qua BHYT; hệ thống BHXH, chăm sóc tuổi già; phòng chống tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; trợ giúp xã hội
- Bách khoa toàn thư của Đại học Columbia (Mỹ) cho rằng:ASXH là chương trình Chính phủ nhằm cung cấp sự an toàn kinh tế và phúc lợi cho
cá nhân và những người phụ thuộc vào họ Chương trình được xây dựng khác nhau ở mỗi quốc gia do những quan niệm về ASXH khác nhau của những nước đó, nhưng tất cả đều do luật pháp Chính phủ quy định và đều được thiết kế nhằm cung cấp một số khoản tiền để chi trả cho việc mất hoặc suy giảm thu nhập
Theo Liên hiệp quốc, An sinh xã hội tiếp cận trên quyền của người dân (Điều 25, Hiến chương Liên hiệp quốc năm 1948): “ Mọi người dân
và hộ gia đình đều có quyền có một mức tối thiểu về sức khỏe và các phúc lợi xã hội bao gồm ăn, mặc, chăm sóc y tế, dịch vụ xã hội thiết yếu và được
có quyền được an sinh khi có các biến cố về việc làm, ốm đau, tàn tật, góa phụ, tuổi già hoặc các trường hợp bất khả kháng khác ”
Tại điều 22 của bản Tuyên ngôn về nhân quyền của thế giới có ghi: Với tư cách là một thành viên của xã hội, ai cũng có quyền được hưởng an sinh xa hội, cũng như có quyền đòi được hưởng những quyền về kinh tế, xã
Trang 19hội và văn hóa cần thiết cho nhân phẩm và sự tự do phát huy cá tính của mình, nhờ những nỗ lực quốc gia, sự hợp tác quốc tế, và theo cách tổ chức cùng tài nguyên quốc gia
Hiểu một cách đơn giản hơn, điều này có nghĩa là xã hội có thể giúp mỗi người phát triển và vận dụng tối đa tất cả những lợi thế (văn hóa, việc làm, phúc lợi xã hội) mà họ được cung cấp trong quốc gia đó
Ở nước ta, Cụm từ “an sinh xã hội” được chính thức sử dụng tại Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (4/2001): “Khẩn trương mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” và được sự quan tâm của nhiều học giả và các nhà quản lý nghiên cứu về vấn đề này
- Theo GS Hoàng Chí Bảo - Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng lý luận Trung ương nhận định: ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người,
từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người
và xã hội
- GS.TS Mai Ngọc Cường lại cho rằng, để thấy hết được bản chất, phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này Theo nghĩa rộng: ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được an bình, hạnh phúc, xã hội ổn định, phát triển Theo nghĩa hẹp, ASXH
là sự bảo đảm thu nhập và một số nhu cầu thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập vì lý do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hay mất việc làm; cho những người già
cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị ảnh hưởng bởi thiên tai địch họa…
- Trong bài "Đảm bảo ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn
2011 - 2020” Nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng "ASXH là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và
Trang 20môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân"
Quan điểm về ASXH ở Việt Nam hiện nay, theo các nhà khoa học cũng như những người hoạch định chính sách chưa có một định nghĩa thống nhất, có người ủng hộ quan điểm về ASXH mà ILO công bố, có người lại đưa thêm quan điểm thực hiện ASXH nhất thiết phải thực hiện hình thức ưu đãi xã hội, nhưng cũng có người lại cho rằng ASXH ở Việt Nam phải đặc biệt chú trọng đến công tác cung cấp dịch vụ công và có quan điểm cho rằng xóa đói giảm nghèo cũng là phạm vi của chương trình ASXH Những quan điểm này có thể nhận được sự đồng tình của các chuyên gia quốc tế, nhưng đôi khi quan điểm của các chuyên gia quốc tế cũng trái ngược với quan điểm của các chuyên gia trong nước Theo họ hệ thống ASXH thực chất có vai trò quan trọng trong việc giảm nghèo và cũng
có thể trở thành một phần của chiến lược lớn về giảm nghèo kết hợp với các cơ chế tạo việc làm, đầu tư công phát triển cơ sở hạ tầng, các chính sách giáo dục quốc gia
Qua các tài liệu nghiên cứu có thể hiểu bản chất An sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân nhằm tạo ra sự
an toàn sinh sống cho mọi thành viên trong xã hội An sinh xã hội là trách nhiệm của xã hội trong việc bảo vệ đối với các thành viên của mình, đồng thời đối với Việt Nam trong an sinh xã hội có thêm chính sách ưu đãi người
có công với cách mạng, là sự tri ân những người hy sinh cho độc lập, cho
tự do của dân tộc, đó là tính đặc thù trong an sinh xã hội ở nước ta
1.1.2 Vai trò của chính sách an sinh xã hội
Chính sách An sinh xã hội được hiểu là hệ thống chủ trương, phương hướng và biện pháp đảm bảo thu thập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế xã hội và tự nhiên làm cho họ giảm nhẹ hoặc mất khả năng lao động hoặc mất
Trang 21việc làm, bị ốm đau, bệnh tật hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch họa Đây là hệ thống chính sách nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro thông qua các hoạt động Bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và trợ giúp xã hội
Chính sách An sinh xã hội có nhiều vai trò khác nhau, tuy nhiên có 4 vai trò chính như sau:
Thứ nhất, tăng cường cơ hội có việc làm, bảo đảm thu nhập tối thiểu
và giảm nghèo bền vững cho người lao động yếu thế thông qua hỗ trợ cá nhân và hộ gia đình phát triển sản xuất, hỗ trợ tín dụng, giải quyết việc làm
và kết nối thông tin thị trường lao động
Thứ hai, mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để chủ động đối phó khi thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già
Thứ ba, hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và
hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, động đất, chiến tranh, đói nghèo, ) thông qua các khoản tiền mặt và hiện vật do ngân sách nhà nước bảo đảm
Thứ tư, tăng cường tiếp cận của người dân đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản, như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và vệ sinh môi trường, thông tin
1.2 Các hợp phần của chính sách an sinh xã hội
Về bản chất an sinh xã hội mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc, nên
ở nhiều quốc gia nhiệm vụ an sinh xã hội được đề cao và có sự tham gia tích cực của các cá nhân, tổ chức Trong đó phổ biến là vai trò của Chính phủ và các tổ chức thuộc khu vực công An sinh xã hội đã trở thành các
Trang 22chương trình hành động ở tầm quốc gia ở nhiều nước nhằm thúc đẩy phúc lợi người dân thông qua các biện pháp hỗ trợ đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn lực đầy đủ về lương thực, nhà ở và bảo đảm sức khỏe Các đối tượng được chú ý đặc biệt trong đảm bảo an sinh xã hội thường là trẻ em, người già, người bệnh và người thất nghiệp Trên cơ sở nguyên tắc san sẽ trách nhiệm, nhiều Chính phủ đã đề ra những chính sách ưu đãi đặc biệt cho các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội, đồng thời áp dụng nhiều biện pháp kêu gọi sự chung tay góp sức của cộng đồng bên cạnh vai trò nồng cốt của khu vực công Với hoạt động này, tuy an sinh xã hội không loại trừ được sự nghèo đói, nhưng cũng góp phần đẩy lùi đói nghèo và thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội
Các hoạt động an sinh xã hội tập trung vào ba lĩnh vực chủ yếu: phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro trên cơ sở bốn trụ cột kinh tế là: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và cứu trợ xã hội
1.2.1 Chính sách bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức quản lý nhằm huy động sự đóng góp của các cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khoẻ, khám chữa bệnh cho nhân dân Bảo hiểm y tế là một chính sách an sinh xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện không nhằm mục đích lợi nhuận BHYT là một trong các hoạt động nhân đạo nhất với mục đích chia sẻ rủi ro về mặt sức khỏe, thể hiện sự hỗ trợ tương thân, tương ái trong chăm sóc sức khỏe giữa người giàu với người nghèo, giữa người đang thuận lợi về sức khỏe với người ốm đau và rủi ro về sức khỏe, giữa người đang độ tuổi lao động với người già và trẻ Đồng thời, BHYT mang tính dự phòng những rủi ro do chi phí cao cho chãm sóc sức khỏe gây nên khi ốm ðau, bệnh tật
Trang 23Nằm trong hệ thống an sinh xã hội nên BHYT cũng mang một mục đích sâu xa “là một nhân tố ổn định kinh tế vĩ mô vừa là nhân tố động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội” BHYT là chính sách đóng góp ba bên (do Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động cùng đóng góp) Với bất cứ đối tượng tham gia vào 1 tổ chức, cơ quan sử dụng lao động nào thì đơn vị đó cũng phải có nghĩa vụ chi trả 1 phần bảo hiểm y tế của người lao động, đó là quyền lợi đã được nhà nước quy định rõ ràng
Hiện nay, việc thực hiện chế độ Bảo hiểm y tế được thực hiện Luật
số 46/2014 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế đã được Quốc hội khóa 13 thông qua và có những nội dung cơ bản như sau:
Nguyên tắc bảo hiểm y tế: Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do Quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ
Chính sách của Nhà nước ta về bảo hiểm y tế: Nhà nước đóng hoặc
hỗ trợ tiền đóng bảo hiểm y tế cho người có công với cách mạng và một số nhóm đối tượng xã hội Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm y tế để bảo toàn và tăng trưởng quỹ Nguồn thu của quỹ và số tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm y tế được miễn thuế Nhà nước tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm y tế hoặc đóng bảo hiểm y tế cho các nhóm đối tượng Nhà nước khuyến khích đầu tư phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến trong quản lý bảo hiểm y tế
Cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế; Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính
Trang 24phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế tại địa phương
1.2.2 Chính sách Bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp là một bộ phận của bảo hiểm xã hội nhằm hỗ trợ thu nhập, đảm bảo cuộc sống bình thường cho mọi người lao động bị mất việc làm (hoặc chưa tìm được việc làm) cũng như hỗ trợ cho họ để có
cơ hội tham gia vào thị trường lao động
Luật Bảo hiểm thất nghiệp được triển khai thực hiện từ năm 2009 gồm 4 chế độ: trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghể, hỗ trợ tìm việc làm và bảo hiểm y tế
Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp gồm: Người lao động có hợp đồng lao động từ đủ 12 tháng trở lên và làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh có qui mô từ 10 lao động trở lên; Cán bộ, viên chức làm việc trong khu vực sự nghiệp
Mức đóng bảo hiểm thất nghiệp: Người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước tham gia đóng góp vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp Trong
đó, người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp; người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp; hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần Quỹ được bảo toàn và tăng trưởng thông qua đóng góp từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư và từ các nguồn thu hợp pháp khác
Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp: Người thất nghiệp được hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi có đủ các điều kiện: đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội, chưa
Trang 25tìm được việc làm
Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp: Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của sáu tháng liền kề trước khi thất nghiệp
1.2.3 Chính sách trợ giúp xã hội
Đây là sự trợ giúp của Nhà nước và xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu khác đối với mọi thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh rủi ro, nghèo đói không đủ khả năng để tự lo cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình Nguồn tài chính đảm bảo việc cứu trợ xã hội được hình thành chủ yếu từ Nhà nước, sự hảo tâm, từ thiện của các tổ chức, cộng đồng dân cư mà đối tượng hưởng không phải đóng góp trực tiếp
Trợ giúp xã hội được gổm hai nhóm là trợ giúp xã hội thường xuyên
và trợ giúp xã hội đột xuất
1.2.3.1 Trợ giúp xã hội thường xuyên
Thực hiện chăm sóc những người không tự lo được cuộc sống tại các
cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tại cộng đồng
Hiện nay việc thực hiện trợ giúp thường xuyên được áp dụng Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 và Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 quy định đối tượng tiếp nhận vào cơ sở bảo trợ xã hội hoặc nhà xã hội tại cộng đồng là những người tàn tật, người già cô đơn, người tâm thần, trẻ em mồ côi không tự lo được cuộc sống Mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng thấp nhất cho các đối tượng bảo trợ xã hội sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội từ 360 nghìn đồng đến 450 nghìn đổng
Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích và tạo điểu kiện để các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia giúp đỡ đối tượng bảo trợ xã hội
Thực hiện hỗ trợ tiền mặt cho đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó
Trang 26khăn theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 và Nghị định số 67/2007/NĐ-CP qui định 9 nhóm đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng, gồm: trẻ em mồ côi hoặc bị bỏ rơi không nơi nương tựa; người già cô đơn thuộc hộ nghèo; người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội; người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặc không có khả năng tự phục vụ; người mắc bệnh tâm thần; người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ gia đình nghèo; gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; hộ gia đình có từ 02 người trở lên bị tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ và người đơn thân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới
16 tuổi
Mức chuẩn để xác định mức trợ cấp xã hội hàng tháng là 180 nghìn đồng và quy định đối với từng nhóm đối tượng, dao động từ 180-720 nghìn đồng Ngoài hỗ trợ bằng tiền, các đối tượng được cấp thẻ bảo hiểm y tế và khi từ trần được hỗ trợ kinh phí mai táng
1.2.3.2 Chính sách trợ giúp đột xuất
Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những biến cố khác nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp khắc phục và vượt qua khó khăn, sớm ổn định sản xuất và đời sống, đảm bảo thu nhập, không bị rơi xuống nghèo khổ
Hiện nay, chính sách trợ giúp đột xuất đang thực hiện theo Nghị định
số 13/2010/NĐ-CP ngày 27 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ quy định đối tượng được trợ cấp đột xuất gồm: những người, hộ gia đình gặp khó khăn
do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng như hộ gia đình có người bị chết, mất tích; hộ gia đình có hộ có người bị thương nặng, hộ có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng; người thiếu đói; người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú mà bị thương nặng hoặc bị chết, gia đình không biết để
Trang 27chăm sóc hoặc mai táng; người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú
Mức trợ giúp được quy định cụ thể như sau:
- Mức trợ giúp đối với hộ gia đình: hộ có người chết, mất tích (4.500.000 đồng/người); hộ có người bị thương nặng (1.500.000 đồng/người); hộ có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏng nặng (6.000.000 đồng/hộ và 7.000.000 đồng/hộ đối với hộ sống ở vùng khó khăn); hộ gia đình phải di dời nhà ở khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét (6.000.000 đồng/hộ)
- Mức trợ giúp đối với cá nhân: Trợ giúp cứu đói (15 kg gạo/người/tháng), trong thời gian từ 1 đến 3 tháng; Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị thương nặng, gia đình không biết để chăm sóc (1.500.000 đồng/người); Người lang thang xin ăn trong thời gian tập trung chờ đưa về nơi cư trú (15.000 đồng/người/ngày) nhưng không quá 30 ngày Trường hợp đặc biệt cần phải kéo dài thì thời gian được hưởng trợ cấp tối đa không quá 90 ngày và mức trợ cấp bằng mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng tại cơ
sở bảo trợ xã hội
- Đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, cơ quan, đơn vị đứng ra mai táng được hỗ trợ kinh phí mai táng thấp nhất bằng 3.000.000 đồng/người
1.2.4 Chính sách ưu đãi xã hội
Ưu đãi xã hội là một bộ phận đặc thù trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Chính sách ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ về vật chất và tinh thần đối với những người có công với nước với dân, với cách mạng nhằm ghi nhận những công lao đóng góp, hy sinh cao cả của họ Điều này chẳng những thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội, mà nói lên đạo lý của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ người trồng cây”
Trang 28Từ những năm đất nước vô cùng khó khăn, cả dân tộc đứng lên chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL ngày
16 tháng 02 năm 1947 về chế độ Hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân liệt sĩ Kể từ đó, việc thực hiện chính sách đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được thực hiện thường xuyên và đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta
Để thực hiện tốt hơn chính sách thương binh, liệt sĩ, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta chỉ rõ phải “thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình cán bộ, chiến sĩ chiến đấu ngoài mặt trận, gia đình có công với cách mạng…”; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Quan tâm chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng, coi
đó vừa là trách nhiệm của Nhà nước, vừa là trách nhiệm của toàn dân; sớm ban hành chế độ toàn dân đóng góp vào quỹ đền ơn, trả nghĩa để chăm lo đời sống thương binh, gia đình liệt sĩ và những người có công với cách mạng”; Nghị quyết Đại hội VIII chỉ rõ: “Tổ chức tốt việc thi hành Pháp lệnh về người có công, bảo đảm cho những người có công với đất nước và cách mạng có đời sống vật chất và tinh thần ít nhất bằng mức sống trung bình của nhân dân nơi cư trú; bồi dưỡng và tạo điều kiện cho con em những người có công với cách mạng tiếp nối sự nghiệp của cha anh Mở rộng phong trào đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ ”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, khẳng định: “Chăm
lo tốt hơn đối với các gia đình chính sách và những người có công với cách mạng, bảo đảm tất cả các gia đình chính sách đều có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình so với người dân địa phương trên cơ sở kết hợp 3 nguồn lực: Nhà nước, cộng đồng và cá nhân các đối tượng chính sách tự vươn lên” Nhấn mạnh quan điểm này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X một lần nữa chỉ rõ: “Chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội Vận
Trang 29động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có công với nước, người hưởng chính sách xã hội”
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội XI của Đảng thông qua, khẳng định “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và thân nhân các gia đình có công với nước”
Hiện thực hóa chủ trương của Đảng, đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách ưu đãi người có công, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung chính sách ưu đãi người có công lần thứ ba; ngày 9/4/2013 Chính phủ ban hành Nghị định số 31/NĐ-CP quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng và Nghị định này đang được tổ chức thực hiện trong cả nước
Tiếp đó, để đánh giá toàn diện, đầy đủ việc thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước đối với người có công, ngày 27 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 23/CT-TTg về việc tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong hai năm
2014 - 2015 Theo đó, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xây dựng chương trình phối hợp, triển khai rà soát đối với 07 đối tượng, bao gồm: liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, người có công giúp đỡ cách mạng và cựu thanh niên xung phong và trên cơ sở rà soát sẽ kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền tiếp tục hoàn thiện việc triển khai thực hiện chính sách đối với người có công
Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” luôn được các cấp ủy đảng và chính quyền các địa phương phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu Cả nước đã đóng
Trang 30góp xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” Việc xã hội hóa công tác “Đền ơn đáp nghĩa” mang lại những kết quả to lớn, thực sự huy động được sức mạnh của toàn xã hội tự nguyện tham gia phong trào, gánh vác trách nhiệm cùng Nhà nước chăm lo đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng Mỗi năm, cả nước đã đóng góp được hơn
150 tỷ đồng “Quỹ tình nghĩa” để xây dựng mới và sửa chữa nhà tình nghĩa; thăm tặng quà cho đối tượng chính sách, cấp sổ tiết kiệm cho các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng
Hầu hết người có công và thân nhân của họ đã được hưởng các chế
độ ưu đãi của Nhà nước, đời sống ổn định và từng bước được cải thiện, góp phần ổn định chính trị, xã hội, củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước Bên cạnh đó, việc xây dựng xã, phường làm tốt công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng đã trở thành phong trào thi đua
và được cấp ủy, chính quyền các cấp, các đoàn thể đưa vào kế hoạch phấn đấu hằng năm, tạo không khí lành mạnh ở cơ sở
Hơn lúc nào hết, trách nhiệm và tình cảm đối với người có công đã trở thành một nội dung quan trọng trên các diễn đàn và truyền thông đại chúng, trở thành nét đẹp trong đời sống văn hóa Việt Nam Đó là sự chuẩn
bị cần thiết để công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng
Trang 31sống bằng và cao hơn mức sống trung bình của xã hội; 100% Bà mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống được phụng dưỡng và chăm sóc chu đáo,…
Cùng với những kết quả đạt được, việc thực hiện chủ trương của Đảng đối với thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng vẫn còn nhiều hạn chế cần được khắc phục, giải quyết Đó là tình trạng sai sót đối tượng trong việc thực hiện chính sách hỗ trợ vẫn còn diễn ra ở không ít địa phương Công tác đền ơn đáp nghĩa ở một số nơi chưa gắn với việc giáo dục truyền thống, tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của phong trào, tôn vinh người tốt, việc tốt Ngoài ra, những việc làm tình nghĩa và phong trào chăm sóc thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ chưa được thực hiện thường xuyên, chưa phát triển đồng đều ở các địa phương, nhất là những nơi kinh
tế còn khó khăn
1.3 Thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.3.1 Chủ thể thực hiện
Chủ thể có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng theo nghĩa Hán Việt là
bộ phận chính, giữ vai trò chủ đạo
Chính sách xã hội nói chung và chính sách an sinh xã hội nói riêng luôn gắn với một chế độ chính trị - xã hội nhất định Do đó, việc thể chế hóa và cụ thể hóa những đường lối, chủ trương giải quyết các vấn đề về
an sinh xã hội, dựa trên những tư tưởng, quan điểm của những chủ thể lãnh đạo, phù hợp với bản chất của chế độ chính trị - xã hội, phản ánh lợi ích và trách nhiệm của cộng đồng xã hội nói chung và từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm tác động trực tiếp vào con người và điểu chỉnh các mối quan hệ lợi ích giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, hướng tới mục tiêu cao nhất là thỏa mãn những nhu cầu ngày càng cao về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân
Chủ thể ban hành chính sách an sinh xã hội chủ yếu là các cơ quan của Nhà nước, ngoài ra còn có các tổ chức tư nhân, các đoàn thể chính trị -
Trang 32xã hội, cũng nhý các cõ quan trong bộ máy nhà nýớc ðể tổ chức thực hiện Chính sách an sinh xã hội do Nhà nước ban hành nên có thể coi chính sách
an sinh xã hội là chính sách của Nhà nước Nhà nước ở đây được hiểu là cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước, bao gồm Quốc hội, các bộ, chính quyền địa phương các cấp
Ở nước ta, trên sách báo, chúng ta thường gặp cụm từ "chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước", như vậy có ý kiến cho rằng, Đảng cũng là chủ thể ban hành chính sách, điều này có thể giải thích bằng thực tế đặc thù của nước ta Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc vạch ra Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách - đó chính là những căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách an sinh xã hội nói riêng và chính sách nói chung
Như vậy, về thực chất, các chính sách an sinh xã hội là do Nhà nước Cộng ḥòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (chủ yếu là Chính phủ đề ra) Các chính sách được ban hành là việc cụ thể hóa đường lối, chiến lược và các định hướng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm thực hiện mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các đối tượng được thụ hưởng các chế độ an sinh xã hội
1.3.2 Đối tượng tác động
Về mặt thể chế, trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta đã hoạch định và triển khai nhiều chính sách an sinh xã hội quan trọng, huy động được nhiều nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp cho các đối tượng (người dân tộc thiểu số, người nghèo, người già cô đơn, trẻ em
và các đối tượng dễ bị tổn thương) vươn lên trong cuộc sống Các chính sách và giải pháp bảo đảm an sinh xã hội được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: Giúp các đối tượng thụ hưởng tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà
Trang 33ở,…; Hỗ trợ phát triển sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm thị trường, tín dụng, việc làm; Phát triển kết cấu hạ tầng thiết yếu cho các địa phương phục vụ người dân tốt hơn và đối tượng chịu tác động nhiều nhất của các chính sách an sinh xã hội vẫn là những đối tượng “yếu thế” trong
xã hội là người già, trẻ em, người bệnh và người thất nghiệp
1.3.3 Nguồn lực thực hiện
Nguồn lực là tổng thể các thế mạnh mà có thể huy động được để có thể thực hiện cho một mục tiêu cần thực hiện Để thực hiện chính sách an sinh xã hội thì có thể huy động từ nhiều nguồn lực khác nhau, trong đó các nguồn lực chính là của nhà nước, nguồn lực từ bên ngoài như nguồn ODA, nguồn hỗ trợ từ phi chính phủ, nguồn lực xã hội từ các doanh nghiệp, tổ chức và trong nhân dân
Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước ta đã quán triệt, nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong xây dựng và thực hiện chính sách xã hội, coi các chính sách xã hội là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, lâu dài, liên tục từ đó chủ động đề ra các giải pháp để đảm bảo tốt an sinh xã hội, không ngừng nâng cao đời sống cho người dân Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến luật pháp, chính sách, vận động nhân dân, đoàn viên, hội viên tham gia ủng hộ đóng góp nguồn lực và tham gia thực hiện các hoạt động theo chức năng và thực hiện tốt việc kiểm tra, giám sát và phản biện
xã hội trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, giảm nghèo, an sinh xã hội Bảo đảm quản lý và sử dụng đúng và có hiệu quả nguồn lực cho an sinh xã hội, đưa các chỉ tiêu đảm bảo an sinh xã hội vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội Từng bước mở rộng diện đối tượng được thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước
Tiếp tục tổng kết các mô hình giảm nghèo, an sinh xã hội đã và đang thực hiện có hiệu quả ở địa phương để có cơ sở hoàn thiện và nhân rộng ra
Trang 34các địa phương khác Tích cực và chủ động khai thác các nguồn lực xã hội, nguồn lực quốc tế, xây dựng cơ chế khuyến khích và huy động các tổ chức, doanh nghiệp tham gia cung cấp các dịch vụ xã hội theo phương thức hợp tác công tư
1.3.4 Phối hợp thực hiện
Phối hợp là làm việc với nhau một cách hòa hợp mà trong đó các chủ thể đều thực hiện hành vi nhằm đạt được mục tiêu đã xác định với sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hành vi Xét từ khía cạnh quản lý nhà nước, phối hợp là một phương thức, một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan,
tổ chức lại với nhau để bảo đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung
Phối hợp giữa các cơ quan quản lý không những giúp chia sẻ được những nỗ lực trong xây dựng chính sách và đảm bảo thực thi đầy đủ, hiệu quả những chính sách này mà còn giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực (như tài chính, con người) nhằm đạt được các mục tiêu chính sách; đảm bảo cho tất cả các cơ quan liên quan có những hành động cần thiết nhằm thực hiện các chính sách của Chính phủ; đảm bảo cho những chính sách trong lĩnh vực này không gây ra những ảnh hưởng xấu cho lĩnh vực khác Đặc biệt trong lĩnh vực chính sách an sinh xã hội là một lĩnh vực có phạm
vi rộng lớn, gần như bao trùm trên nhiều lĩnh vực, nhiều bình diện khác nhau; Vì vậy phối hợp là yêu cầu mang tính chất quyết định cho sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện các mục tiêu đề ra của chính sách an sinh xã hội
Phối hợp trong thực hiện chính sách an sinh xã hội tồn tại trong suốt quá trình quản lý, từ hoạch định chính sách, xây dựng thể chế, đến việc tổ chức thực thi cơ chế, chính sách, pháp luật, Mục tiêu cuối cùng của phối hợp trong thực hiện chính sách an sinh xã hội là tạo ra sự thống nhất, đồng
Trang 35thuận, triển khai tổ chức thực hiện một cách đồng bộ để đưa lại hiệu quả tối
ưu nhất
Trong quản lý nhà nước, phối hợp trong thực hiện chính sách an sinh
xã hội có thể được thực hiện theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc Phối hợp theo chiều ngang là phối hợp xây dựng và thực hiện chính sách an sinh
xã hội giữa các cơ quan cùng cấp (chẳng hạn giữa bộ Lao động Thương binh và Xã hội với Bộ Y tế ) Phối hợp theo chiều dọc là phối hợp giữa các cơ quan không cùng cấp (chẳng hạn phối hợp giữa Bộ Lao động Thương binh và Xã hội với Sở Lao động Thương binh và xã hội cấp tỉnh) Phối hợp giữa các cơ quan quản lý giúp cho các cơ quan chia sẻ được những nỗ lực trong xây dựng chính sách an sinh xã hội và đảm bảo thực thi đầy đủ, hiệu quả những chính sách này Phối hợp giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực (như tài chính, con người) nhằm đạt được các mục tiêu chính sách; đảm bảo cho tất cả các cơ quan liên quan có những hành động cần thiết nhằm thực hiện các chính sách của Chính phủ
Ở nước ta, trong 30 năm qua, cùng với những thành tựu đổi mới kinh
tế, phát triển mạnh mẽ kinh tế thị trường, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia, Việt Nam đã có những nỗ lực to lớn, đầu tư nguồn lực và đổi mới cơ chế, chính sách để thực hiện an sinh xã hội, chăm lo cải thiện không ngừng cuộc sống của người dân
Các chương trình xóa đói giảm nghèo của Việt Nam ở tầm quốc gia
đã thu được những kết quả rất tốt đẹp, đã được dư luận quốc tế thừa nhận
và đánh giá cao, nhất là xóa đói giảm nghèo cho nông dân Về việc giải quyết các vấn đề xã hội và thực hiện các chính sách an sinh xã hội cho các cộng đồng dân cư, Việt Nam là một trong những quốc gia đã hoàn thành sớm các Mục tiêu thiên niên kỷ, nhận được những đánh giá tích cực của cộng đồng quốc tế Qua đó, cho thấy cơ chế phối hợp trong thực hiện các
Trang 36chính sách ở nước ta trong những năm qua cơ bản có hiệu quả, đã có sự chỉ đạo, phân công tương đối rõ ràng
Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách xã hội và an sinh xã hội hiện nay, Việt Nam cũng đứng trước rất nhiều khó khăn, trở ngại và thách thức trong điều kiện khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu tác động vào, cũng như tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước suy giảm, lạm phát và thất nghiệp gia tăng, đời sống, mức sống người dân giảm sút Hội nghị Trung ương lần thứ năm, khóa XI, Ðảng Cộng sản Việt Nam đã ra Nghị quyết về
“Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 - 2020”, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới an sinh xã hội Nghị quyết đã nêu ra những hạn chế yếu kém trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện chính sách xã hội và
an sinh xã hội mà nổi bật là: Tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỷ
lệ hộ cận nghèo và tái nghèo còn cao Mức trợ cấp ưu đãi người có công còn thấp; Chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao và giảm chậm Vệ sinh an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn thấp Đời sống của một
bộ phận người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất khó khăn, chưa bảo đảm được mức tối thiểu dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là
về nhà ở và sử dụng nước sạch Chênh lệch các chỉ số về an sinh xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung b́nh của cả nước còn lớn Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, Nghị quyết Trung ương 5, khóa XI đã xác định những quan điểm rất cơ bản, có tác dụng và ý nghĩa chỉ đạo thực hiện lâu dài, trong đó an sinh xã hội được nhấn mạnh: “…bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội” Do
đó, thực hiện phối hợp trong thực hiện các chính sách an sinh xã hội không
Trang 37thể một tổ chức nào đứng ngoài cuộc và đó là nhiệm vụ của toàn nhân dân, trong đó các cơ quan có trách nhiệm thực thi chính sách an sinh xã hội và người được thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội là đối tượng trực tiếp
Thiết lập và vận hành một cơ chế phối hợp tốt giữa các cơ quan thực thi chính sách an sinh xã hội là một trong những giải pháp thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách xã hội ở nước ta, góp phần nâng cao đời sống, chất lượng sống cho nhân dân Ngược lại, sự thiếu phối hợp trong thực hiện chính sách dẫn đến sự chậm trễ, chồng chéo và hệ quả không hiệu quả hoặc đạt hiệu quả thấp, chất lượng cuộc sống của người dân không có sự chuyển như mục tiêu đề ra ban đầu
1.3.5 Kiểm tra đôn đốc thực hiện
Để thực hiện công tác chính sách an sinh xã hội, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 31/2011/QĐ-TTg ngày 2/6/2011 về việc quy định việc công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật
về an sinh xã hội
Quyết định này quy định về công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật về Bảo hiểm xã hội; Bảo hiểm y tế; trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; ưu đãi đối với người có công; vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo; hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện và cơ
sở bảo trợ xã hội; các chương trình xã hội
Đối tượng áp dụng là các cơ quan quản lý nhà nước; cá nhân, hộ gia đình, tập thể được thụ hưởng từ quy định pháp luật về an sinh xã hội; cơ quan, tổ chức, cá nhân tài trợ cho các hoạt động an sinh xã hội và cơ quan thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an sinh
xã hội
Trang 38Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân có trách nhiệm công khai tùy theo nội dung, đối tượng, mục đích công khai và điều kiện thực tế mà lựa chọn trong số các hình thức công khai sau: công bố tại cuộc họp của cơ quan, tổ chức, đơn vị; niêm yết tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị; thông báo bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan; phát hành ấn phẩm; thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng; đăng tải trên trang thông tin điện tử; cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân phải công khai những nội dung sau: quy định pháp luật an sinh xã hội; cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện quy định pháp luật; điều kiện, tiêu chuẩn của đối tượng thụ hưởng; hồ sơ, quy trình, phương pháp lựa chọn đối tượng thụ hưởng, thời hạn thực hiện; danh sách đối tượng, thứ tự ưu tiên, mức được thụ hưởng từ quy định pháp luật
Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thực hiện quy định pháp luật về an sinh xã hội có trách nhiệm thường xuyên tự kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của đơn vị, của cán bộ, công chức, viên chức Cơ quan, tổ chức thực hiện việc vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra đảm bảo việc thực hiện đúng mục đích, đối tượng được thụ hưởng
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách an sinh xã hội
1.4.1 Thể chế nhà nước
Thể chế đóng vai trò quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội Nội dung cơ bản của thể chế này là xác định khuôn khổ pháp lý (luật, các văn bản dưới luật), phạm vi các chính sách, chế độ, đối tượng tham gia, tiêu chí, điều kiện tham gia, cơ chế đóng góp, quyển lợi hưởng thụ và những điều kiện ràng buộc Thể chế nhà nước còn xác định trách nhiệm của bộ, ngành địa phương trong việc thực hiện chính sách, chế độ để ra
Trang 39Thể chế được hình thành từ nhu cầu thực tế của các thành viên trong
xã hội cần được bảo vệ trước các nguy cơ bị rủi ro mà họ không tự bảo vệ được Tuy nhiên, không phải mọi thành viên trong xã hội đều có nhu cầu và
có cơ hội ngang nhau trong việc tham gia và thụ hưởng các chính sách an sinh xã hội An sinh xã hội được hình thành và phát triển theo từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, ngay cả những nước coi an sinh xã hội là quyền của người dân, lộ trình để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội toàn dân cũng phải kéo dài trong nhiều năm
1.4.2 Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội Nguồn lực xác định cơ chế đối với từng loại chính sách, từng nhóm đối tượng (tỷ lệ đóng góp của người dân, người sử dụng lao động, của Nhà nước); cơ chế cân đối thu - chi, đầu tư phát triển quỹ; giá cả, cơ chế và chất lượng cung cấp dịch vụ an sinh xã hội
Cơ chế tài chính của các hợp phần của an sinh xã hội không hoàn toàn giống nhau Các loại hình bảo hiểm có thể áp dụng cơ chế có đóng có hưởng, còn đa số hợp phần trợ giúp xã hội thì nguồn tài chính lại chủ yếu
do ngân sách nhà nước cung cấp
Thể chế tài chính của hệ thống an sinh xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với chính sách thuế và tài chính và phụ thuộc vào mô hình hệ thống an sinh xã hội Ví dụ, các nước theo mô hình Nhà nước phúc lợi thường thu thuế cao (kể cả thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập gia tăng hoặc thuế xuất nhập khẩu cũng như các khoản lệ phí khác) để có nguồn thực hiện các chính sách an sinh xã hội tốt hơn cho mọi người dân Ngược lại, các nước theo mô hình Nhà nước xã hội khuyến khích tăng trưởng nhanh hơn nên thu thuế thấp hơn và chỉ thực hiện các chính sách an sinh xã hội ở mức thấp, với phạm vi chính sách và đối tượng bao phủ hạn chế
Trang 40Việc bố trí nguồn tài chính cho các chính sách an sinh xã hội tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của từng quốc gia Một số nước phát triển, ngân sách nhà nước dành cho các chính sách an sinh xã hội có thể lên tới 30% tổng ngân sách nhà nước, hay khoảng 15% GDP, trong khi đối với các nưóc đang phát triển (trong đó có Việt nam), chỉ khoảng dưới 5% GDP 1.4.3 Trình độ nhận thức của người dân
Nhận thức của người dân trong việc tự nguyện đóng góp, chia sẻ khó khăn và cả nhận thức của người thụ hưởng trong việc khắc phục hậu quả của rủi ro, tự lực cánh sinh cải thiện điều kiện sống của mình có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội
Đồng thời, việc nâng cao chất lượng ASXH là nhiệm vụ của toàn Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, nhưng để vượt qua khó khăn lại phải bằng
sự nỗ lực, sự vươn lên của chính là người đang trực tiếp hưởng các chính sách ASXH Nếu họ không tự vươn lên thì không thể thoát được khó khăn Đây là mối quan hệ qua lại, cộng đồng xã hội chỉ có thể tạo mọi điều kiện thuận lợi, hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực để phấn đấu vươn lên Do đó phải làm cho những đối tượng đang được hưởng các chính sách ASXH tin vào triển vọng của cuộc sống, có điều kiện và môi trường xã hội thuận lợi để phát triển bằng khả năng sẵn có, bằng lao động, bằng đào tạo để vượt khó khăn là rất quan trọng và chỉ có như vậy thực hiện ASXH mới mang tính chất bền vững
1.4.4 Môi trường thực hiện chính sách
1.4.4.1 Về môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên (vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, tài nguyên khoáng sản, biến đổi khí hậu, như mưa bão, lũ lụt thường xuyên, nước biển dâng )
có ảnh hưởng thuận lợi và khó khăn cho việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, nó trở thành nguồn lực, còn