1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục.PDF

205 270 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 205
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, Cương lĩnh Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ“Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam..." [15, tr.6]. Trong những năm qua chất lượng đào tạo của các trường đại học và cao đẳng trong cả nước nhìn chung đã được cải thiện đáng kể, dần dần từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội, song một thực tiễn đặt ra, hầu hết các trường tập trung mở rộng quy mô đào tạo, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng giáo dục. Hơn nữa, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số hoạt động sư phạm trong nhà trường. Tất cả những yếu tố trên đang hàng ngày, hàng giờ trực tiếp tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh - sinh viên. Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi diễn ra những hoạt động sư phạm, nơi truyền bá những nét đẹp văn hóa một cách khuôn mẫu và bài bản nhất. VHNT tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hòa hợp bên trong. VHNT sẽ giúp cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần tạo nên một sản phẩm giáo dục toàn diện. Do đó, VHNT có vai trò to lớn trong việc thay đổi và phát triển nhà trường. VHNT có ảnh hưởng không chỉ tới hiệu quả hoạt động của nhà trường mà còn là công cụ quan trọng để thực hiện đổi mới tổ chức, quản lý giáo dục trong nhà trường. Phát triển văn hóa nhà trường tích cực là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục. Phát triển văn hóa nhà trường giúp gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa cốt lõi của một nhà trường, duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp và ngăn chặn được những ảnh hưởng tiêu cực từ phía môi trường xã hội. Vậy muốn phát triển văn hóa nhà trường đạt kết quả cao cần có quá trình quản lý phù hợp. Tuy nhiên thực tiễn trong quá trình quản lý tại các nhà trường còn gặp rất nhiều hạn chế về nội dung cũng như cách thức hoạt động. Điều này cản trở các nhà trường tạo nên một văn hóa đặc trưng. Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) nằm trong hệ thống trường Đại học, Cao đẳng, đào tạo nên những thầy cô giáo cho bậc Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở. Trường CĐSP phải luôn quán triệt mục tiêu đào tạo của bậc giáo dục đại học là: “Đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng bảo vệ Tổ quốc”. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường đó là đào tạo giảng viên giảng dạy và có khả năng làm tốt công tác giáo dục học sinh. Vì vậy bên cạnh việc trang bị kiến thức chuyên môn và khả năng nghiệp vụ sư phạm nhà trường còn phải thực hiện tốt việc giáo dục sinh viên để trở thành những nhà giáo mẫu mực sau khi tốt nghiệp. Ngay từ khi còn học tập và rèn luyện tại nhà trường cao đẳng sư phạm, sinh viên phải hoàn thiện cho minh được nhân cách “mô phạm” của người thầy giáo. Chính vì thế vấn đề xây dựng và phát triển một văn hóa nhà trường tích cực có tác động rất lớn tới việc đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên do sự thay đổi của mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới đòi hỏi mỗi nhà trường phải tạo nên thương hiệu đặc trưng của mình. Bên cạnh đó những tác động từ phía môi trường bên ngoài làm cho đạo đức người dạy, người học xuống cấp, hiện tượng tiêu cực trong nhà trường diễn ra thường xuyên điều này đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục. Chính vì thế việc phát triển văn hóa nhà trường ổn định và đặc trưng là một đòi hỏi cấp thiết. Nhận thức được tính cần thiết từ mặt lý luận và thực tiễn trong vấn đề phát triển văn hóa nhà trường, tác giả đã lựa chọn đề tài:“Phát triển văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục”.

Trang 1

- -

VŨ THỊ QUỲNH

PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG

TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

Chuyên ngành : Quản lý giáo dục

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Dục Quang

2 PGS.TS Đặng Quốc Bảo

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ xi

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài 3

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 3

8 Những luận điểm cần bảo vệ 5

9 Những đóng góp mới của luận án 6

10 Cấu trúc luận án 6

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 7

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7

1.1.1 Những nghiên cứu về Văn hóa nhà trường 7

1.1.2 Những nghiên cứu về phát triển VHNT 13

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 16

1.2.1 Văn hóa tổ chức 16

1.2.2 Nhà trường 17

1.2.3 Văn hóa nhà trường 18

Trang 3

1.2.4 Quản lý nhà trường 18

1.2.5 Phát triển văn hóa nhà trường 19

1.3 Đặc trưng văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 21

1.3.1 Đặc trưng văn hóa vùng đồng bằng Sông Hồng 21

1.3.2 Những đặc điểm cơ bản của trường Cao đẳng sư phạm 23

1.3.3 Vai trò của văn hóa đối với các trường Cao đẳng Sư phạm 26

1.3.4 Các thành tố của văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm 28

1.3.5 Định hình những giá trị văn hóa cốt lõi để phát triển văn hoá trong nhà trường cao đẳng sư phạm 37

1.4 Bối cảnh đổi mới giáo dục và yêu cầu đặt ra đối với công tác phát triển văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm 39

1.4.1 Bối cảnh hiện nay 39

1.4.2 Yêu cầu đặt ra đối với công tác phát triển văn hóa nhà trường 40

1.5 Phát triển văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm 41

1.5.1 Tầm quan trọng của phát triển VHNT cao đẳng sư phạm 41

1.5.2 Ma trận các thành tố và chức năng quản lý trong phát triển văn hóa nhà trường 42

1.5.3 Nội dung phát triển văn hóa nhà trường 43

1.5.4 Xây dựng Bộ tiêu chí đánh giá văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm 55

1.6 Các yếu tố ảnh hưởng tới công tác phát triển văn hóa nhà trường 58

1.6.1 Năng lực của cán bộ quản lý nhà trường 58

1.6.2 Cơ sở vật chất, thiết bị trong nhà trường 59

1.6.3 Chất lượng của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong nhà trường 59

1.6.4 Đặc điểm của sinh viên sư phạm 60

1.6.5 Quá trình xã hội hóa giáo dục 60

1.6.6 Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế 61

1.6.7 Sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin và truyền thông 61

Trang 4

1.6.8 Sự tác động của kinh tế - xã hội 62

Kết luận chương 1 63

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 64

2.1 Khái quát vài nét về các trường Cao đẳng sư phạm trong địa bàn nghiên cứu 64

2.1.1 Trường cao đẳng sư phạm Trung ương 64

2.1.2 Trường cao đẳng sư phạm Hà Tây 65

2.1.3 Trường Cao đẳng sư phạm Bắc Ninh 66

2.1.4 Trường Cao đẳng sư phạm Thái Bình 66

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 67

2.2.1 Mục đích khảo sát 67

2.2.2 Đối tượng, địa bàn và khách thể khảo sát 67

2.2.3 Nội dung khảo sát 68

2.2.4 Phương pháp khảo sát 69

2.2.5 Kết quả khảo sát 69

2.3 Thực trạng văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 70

2.3.1 Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của văn hóa nhà trường 70

2.3.2 Thực trạng tầm quan trọng và mức độ biểu hiện các thành tố của văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 71

2.3.3 Đánh giá tầm quan trọng và mức độ biểu hiện về các thành tố của văn hóa nhà trường Cao đẳng sư phạm 80

2.4 Thực trạng phát triển văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 81

2.4.1 Nhận thức về tầm quan trọng của phát triển VHNT Cao đẳng Sư phạm 81

Trang 5

2.4.2 Thực trạng đánh giá trách nhiệm của các thành viên trong phát triển văn hóa

nhà trường cao đẳng sư phạm 83

2.4.3 Thực trạng về vai trò của cán bộ quản lý trong phát triển VHNT 84

2.4.4 Thực trạng các nội dung phát triển văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 86

2.4.5 Thực trạng nhận thức về vai trò xây dựng tiêu chí VHNT trong các trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 101

2.4.6 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động phát triển VHNT 103

2.5 Đánh giá thực trạng 104

Kết luận chương 2 109

Chương 3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 110

3.1 Nguyên tắc đề xuất giải pháp 110

3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống toàn diện của cấu trúc văn hóa 110

3.1.2 Nguyên tắc đảo bảo tính kế thừa và tính hội nhập 110

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo mức độ khả thi 111

3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện 112

3.2 Đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa nhà trường trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục 113

3.2.1 Giải pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức cho các lực lượng giáo dục về tầm quan trọng của phát triển VHNT 113

3.2.2 Giải pháp 2: Tổ chức xác định các giá trị văn hóa cốt lõi phù hợp với sự phát triển của nhà trường cao đẳng sư phạm trong bối cảnh mới 116

3.2.3 Giải pháp 3: Triển khai xây dựng bộ tiêu chí đánh giá văn hóa nhà trường Cao đẳng sư phạm 120

3.2.4 Giải pháp 4: Tổ chức xây dựng mô hình phòng ban, khoa chuyên môn điển hình về văn hóa ở trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 122

Trang 6

3.2.5 Giải pháp 5: Phát triển văn hóa trong học tập và rèn luyện cho sinh viên

hướng đến xây dựng trường học thân thiện, sinh viên tích cực 124

3.2.6 Giải pháp 6: Triển khai xây dựng môi trường sư phạm thông qua việc kiến tạo “nhà trường học tập” trong phát triển văn hóa nhà trường 128

3.2.7 Giải pháp 7: Tăng cường huy động các nguồn lực trong phát triển văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm trong bối cảnh đổi mới giáo dục 131

3.3 Mối quan hệ của các giải pháp 134

3.4 Kết quả khảo nghiệm và thử nghiệm các giải pháp 135

3.4.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và mức độ khả thi của hệ thống giải pháp phát triển văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 135

3.4.2 Thử nghiệm tác động thực tế của giải pháp 141

Kết luận chương 3 148

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 149

1 Kết luận 149

2 Khuyến nghị 150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ĐÃ CÔNG BỐ 153 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Kết quả nhận thức về tầm quan trọng của VHNT 70 Bảng 2.2 Tầm quan trọng và mức độ biểu hiện của bầu không khí trong VHNT Cao đẳng sư phạm 72 Bảng 2.3 Tầm quan trọng và mức độ biểu hiện về văn hóa quản lý trong VHNT Cao đẳng sư phạm 73 Bảng 2.4 Tầm quan trọng và mức độ biểu hiện hành vi văn hóa của giảng viên trong VHNT Cao đẳng sư phạm 74 Bảng 2.5 Tầm quan trọng và mức độ biểu hiện hành vi văn hóa của sinh viên trong VHNT Cao đẳng sư phạm 75 Bảng 2.6 Tầm quan trọng và mức độ biểu hiện về văn hóa ứng xử trong VHNT Cao đẳng sư phạm 76 Bảng 2.7 Tầm quan trọng và mức độ biểu trong văn hóa môi trường và cảnh quan trong nhà trường sư phạm 77 Bảng 2.8 Tầm quan trọng và mức độ biểu hiện về giá trị văn hóa trong VHNT Cao đẳng sư phạm 79 Bảng 2.9 Nhận thức về vai trò của phát triển VHNT cao đẳng sư phạm 82 Bảng 2.10 Thực trạng đánh giá trách nhiệm của các thành viên trong phát triển VHNT 83 Bảng 2.11 Thực trạng về vai trò của cán bộ quản lý nhà trường trong phát triển VHNT 84 Bảng 2.12 Thực trạng phát triển bầu không khí trong văn hóa trường cao đẳng sư phạm 86 Bảng 2.13 Thực trạng phát triển văn hóa quản lý trong trường CĐSP 88 Bảng 2.14 Thực trạng phát triển văn hóa giảng dạy trong trường cao đẳng sư phạm 90 Bảng 2.15 Thực trạng phát triển văn hóa học tập trong trường cao đẳng sư phạm 91

Trang 9

Bảng 2.16 Thực trạng phát triển văn hóa ứng xử trong trường CĐSP 93 Bảng 2.17 Thực trạng phát triển cảnh quan và môi trường sư phạm trong trường CĐSP 95 Bảng 2.18 Thực trạng phát triển các giá trị văn hóa cốt lõi của trường cao đẳng sư phạm 97 Bảng 2.19 So sánh tầm quan trọng và mức độ thực hiện các nội dung phát triển văn hóa nhà trường ở trường cao đẳng sư phạm 99 Bảng 2.20 Thực trạng nhận thức vai trò xây dựng tiêu chí VHNT trong các trường CĐSP vùng đồng bằng sông Hồng 101 Bảng 2.21 Mức độ cần thiết về các tiêu chuẩn trong tiêu chí đánh giá VHNT cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 102 Bảng 2.22 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động 103 phát triển VHNT 103 Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các giải pháp phát triển

văn hóa nhà trường 137 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm về mức độ khả thi của các giải pháp phát triển VHNT ở trường CĐ sư phạm 139 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả khảo nghiệm giữa tính cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp phát triển VHNT cao đẳng sư phạm 140

Trang 10

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

1 Danh mục biểu đồ

Trang

Biểu đồ 2.1: So sánh mức độ nhận thức về các thành tố trong VHNT cao đẳng sư phạm 80Biểu đồ 2.2: So sánh mức độ biểu hiện của các thành tố VHNT trong trường Cao đẳng Sư phạm 81Biểu đồ 2.3 Đánh giá mức độ quan trọng và mức độ thực hiện của các nội dung phát triển VHNT ở trường CĐ sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng 100

2 Danh mục sơ đồ

Trang

Sơ đồ 1.1 Ba mức độ thể hiện của văn hóa nhà trường ……… … 30

Sơ đồ 1.2 Ba mức độ thể hiện của văn hóa nhà trường……….31

Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các giải pháp phát triển VHNT cao đẳng sư

phạm vùng đồng bằng sông Hồng 135

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo, Cương lĩnh Đại hội Đảng toàn

quốc lần thứ XI chỉ rõ“Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển

nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam " [15, tr.6] Trong những năm qua chất

lượng đào tạo của các trường đại học và cao đẳng trong cả nước nhìn chung đã được cải thiện đáng kể, dần dần từng bước đáp ứng nhu cầu nhân lực của xã hội, song một thực tiễn đặt ra, hầu hết các trường tập trung mở rộng quy mô đào tạo, chưa thực sự quan tâm đến chất lượng giáo dục Hơn nữa, mặt trái của nền kinh tế thị trường đã ảnh hưởng tiêu cực đến một số hoạt động sư phạm trong nhà trường Tất cả những yếu tố trên đang hàng ngày, hàng giờ trực tiếp tác động đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh - sinh viên

Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi diễn ra những hoạt động

sư phạm, nơi truyền bá những nét đẹp văn hóa một cách khuôn mẫu và bài bản nhất VHNT tạo ra một môi trường quản lý ổn định, giúp cho nhà trường thích nghi với môi trường bên ngoài, tạo ra sự hòa hợp bên trong VHNT sẽ giúp cho nhà trường thực sự trở thành một trung tâm văn hóa giáo dục, là nơi hội tụ sức mạnh trí tuệ và lòng nhân ái trong xã hội, góp phần tạo nên một sản phẩm giáo dục toàn diện Do đó, VHNT có vai trò to lớn trong việc thay đổi và phát triển nhà trường VHNT có ảnh hưởng không chỉ tới hiệu quả hoạt động của nhà trường mà còn là công cụ quan trọng để thực hiện đổi mới tổ chức, quản lý giáo dục trong nhà trường

Phát triển văn hóa nhà trường tích cực là giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục Phát triển văn hóa nhà trường giúp gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa cốt lõi của một nhà trường, duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp và ngăn chặn được những ảnh hưởng tiêu cực từ phía môi trường xã hội Vậy muốn phát triển văn hóa nhà trường đạt kết quả cao cần có quá trình quản lý phù hợp Tuy nhiên thực tiễn trong quá trình quản lý tại các nhà trường còn gặp rất nhiều hạn chế về nội dung cũng như cách thức hoạt động Điều này cản trở các nhà trường tạo nên một văn hóa đặc trưng

Trang 12

Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) nằm trong hệ thống trường Đại học, Cao đẳng, đào tạo nên những thầy cô giáo cho bậc Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở

Trường CĐSP phải luôn quán triệt mục tiêu đào tạo của bậc giáo dục đại học là: “Đào

tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng bảo vệ Tổ quốc” Một trong những nhiệm vụ trọng

tâm của nhà trường đó là đào tạo giảng viên giảng dạy và có khả năng làm tốt công tác giáo dục học sinh Vì vậy bên cạnh việc trang bị kiến thức chuyên môn và khả năng nghiệp vụ sư phạm nhà trường còn phải thực hiện tốt việc giáo dục sinh viên để trở thành những nhà giáo mẫu mực sau khi tốt nghiệp Ngay từ khi còn học tập và rèn luyện tại nhà trường cao đẳng sư phạm, sinh viên phải hoàn thiện cho minh được nhân cách “mô phạm” của người thầy giáo Chính vì thế vấn đề xây dựng và phát triển một văn hóa nhà trường tích cực có tác động rất lớn tới việc đạt được mục tiêu đào tạo của nhà trường Tuy nhiên do sự thay đổi của mục tiêu giáo dục trong giai đoạn mới đòi hỏi mỗi nhà trường phải tạo nên thương hiệu đặc trưng của mình Bên cạnh đó những tác động từ phía môi trường bên ngoài làm cho đạo đức người dạy, người học xuống cấp, hiện tượng tiêu cực trong nhà trường diễn ra thường xuyên điều này đòi hỏi phải có những biện pháp khắc phục Chính vì thế việc phát triển văn hóa nhà trường ổn định và đặc trưng là một đòi hỏi cấp thiết Nhận thức được tính cần thiết từ mặt lý luận và thực

tiễn trong vấn đề phát triển văn hóa nhà trường, tác giả đã lựa chọn đề tài:“Phát triển văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục”

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn phát triển văn hóa nhà trường (VHNT) ở trường Cao đẳng sư phạm đề tài đề xuất các giải pháp phát triển văn hóa nhà trường CĐSP, góp phân nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, đáp ứng yêu cầu của xã hội hiện nay

Trang 13

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: VHNT ở các trường Cao đẳng sư phạm

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Phát triển VHNT ở Trường Cao đẳng Sư phạm

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài

+ Đề tài nghiên cứu công tác phát triển VHNT của chủ thể quản lý là Hiệu trưởng của nhà trường Cao đẳng Sư phạm

+ Tiến hành khảo sát thực trạng tại CĐSP Thái Bình, CĐSP Bắc Ninh, CĐSP

Hà Tây, Cao đẳng sư phạm trung ương

+ Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại trường CĐSP Hà Tây

5 Giả thuyết khoa học

Trong bối cảnh đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, VHNT là yếu tố tác động lớn đến chất lượng giáo dục của nhà trường Tuy nhiên tại các nhà trường nghiên cứu, công tác phát triển VHNT đang còn gặp một số hạn chế nhất định Nếu vận dụng phương thức quản lý theo nội dung và hoạt động để phát triển VHNT CĐSP thông qua việc đề xuất hệ thống giải pháp đảm bảo đồng bộ, tính thực tiễn và tính khả thi, đồng thời bằng cách xây dựng Bộ tiêu chí làm công cụ đánh giá VHNT thì sẽ tạo nên được một VHNT đặc trưng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tại các trường CĐSP, đáp ứng mục tiêu phát triển trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu cơ s lý luận về phát triển văn hóa nhà trường các trường Cao đẳng Sư phạm

6.2 Đánh giá thực trạng phát triển VHNT các trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng

6.3 Đề xuất giải pháp phát triển VHNT các trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng

7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp luận

Đề tài sử dụng các cách tiếp cận như:

- Tiếp cận cấu trúc 3 mức độ biểu hiện của văn hóa tổ chức: Thực tế các thành tố của VHNT Cao đẳng sư phạm có thể được cấu trúc đôi chút khác nhau, nhưng chủ yếu

Trang 14

đều theo 3 mức độ thể hiện (Hiện thực, giá trị và nhất trí cơ bản) và việc xác định các thành tố cơ bản của VHNT Cao đẳng sư phạm sẽ được nghiên cứu theo ba mức độ này

- Tiếp cận giá trị truyền thống: Văn hóa nhà trường CĐSP hiện nay đều được hình thành và phát triển trên cơ sở các giá trị văn hóa truyền thống Chính vì thế khi thực hiện phát triển VHNT mà cụ thể là việc xây dựng các giá trị cốt lõi đề tài sẽ dựa trên những giá trị truyền thống của dân tộc và của nhà trường sư phạm để thực hiện

- Tiếp cận quan điểm hệ thống: Văn hóa nhà trường là một dạng của VHTC chính vì thế nó mang đặc trưng của văn hóa tổ chức Mặt khác nhà trường CĐSP cũng

là một bộ phận nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân Chính vì vậy, công tác phát triển VHNT ở trường CĐSP cũng là một hệ thống bao gồm nhiều khâu, nhiều nội dung, nhiều thành tố có quan hệ biện chứng với nhau và với việc phát triển các hoạt động VHNT ở các trường, cơ sở giáo dục khác

- Tiếp cận chức năng hoạt động quản lý Hoạt động phát triển VHNT của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) được thực hiện thông qua các chức năng cơ bản quản lý (lập

kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá) Trong nghiên cứu của đề tài sử dụng

ma trận kết nối giữa các thành tố VHNT với các chức năng quản lý để phát triển VHNT Cao đẳng sư phạm

Trong đó văn hóa nhà trường cao đẳng sư phạm được tiếp cận chủ yếu theo cấu trúc 3 mức độ biểu hiện của văn hóa tổ chức, phát triển VHNT được tiếp cận theo chức năng và nội dung các hoạt động quản lý

7.2 Phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề lý luận trong các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài Các văn kiện của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các văn bản chỉ đạo của ngành Giáo dục, sách, báo tạp chí liên quan đến vấn

đề lý thuyết về phát triển VHNT để làm cơ sở lý luận cho đề tài

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Tác giả sử dụng các bộ phiếu điều tra bảng câu hỏi cho các nhóm đối tượng: Cán bộ quản lý nhà trường, giảng viên, nhân viên và sinh viên

Trang 15

7.2.2.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp này nhằm ghi chép lại về không gian giáo dục và đào tạo trong nhà trường; Cùng với đó là những thái độ, hành vi giao tiếp, tác phong ứng xử, làm việc giữa cán bộ quản lý với GV, giữa GV với GV, giữa GV với sinh viên, giữa sinh viên với sinh viên

7.2.2.3 Phương pháp phỏng vấn

Thực hiện phỏng vấn sâu các cấp lãnh đạo trong nhà trường như Hiệu trưởng, thành viên trong Ban giám hiệu, các lãnh đạo khoa, phòng ban và giảng viên phụ trách công tác Đoàn trong nhà trường

Thực hiện phỏng vấn trên từng nhóm sinh viên trong nhà trường để nhằm đưa

ra một bức tranh cụ thể hơn về thực trạng văn hóa làm việc giữa nhà quản lý- nhân viên - giảng viên – sinh viên

7.2.3 Phương pháp toán thống kê toán học

Sử dụng phần mềm xử lý số liệu (SPSS) và phương pháp thống kê để xử lý số liệu thu thập được từ phiếu khảo sát

7.2.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Để chứng minh tính hợp lí, khả thi của các giải pháp đề xuất, chúng tôi sử dụng

2 phương pháp: Khảo nghiệm (thăm dò ý kiến của các chuyên gia về các giải pháp) và tiến hành thử nghiệm một vài giải pháp trong khuôn khổ thời gian, điều kiện nghiên cứu luận án tiến sĩ cho phép

8 Những luận điểm cần bảo vệ

- VHNT cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng phải được xây dựng trên

cơ sở hệ thống lý luận về văn hoá, VHNT, phù hợp với bản sắc văn hoá Việt Nam nhưng vẫn thể hiện được đặc trưng rõ nét của nhà trường sư phạm trong vùng văn hóa đồng bằng sông Hồng

- Phát triển VHNT ở trường CĐSP vùng đồng bằng sông Hồng theo quan điểm tiếp cận các chức năng quản lý và nội dung hoạt động là con đường hữu hiệu để tạo nên một văn hóa nhà trường đặc trưng

- Bộ tiêu chí đánh giá VHNT không chỉ là thước đo để đánh giá VHNT trong trường cao đẳng sư phạm một cách chính xác, khách quan mà nó còn định hướng cho các hoạt động phát triển VHNT toàn diện và đặc trưng

Trang 16

- Các giải pháp phát triển VHNT thể hiện được vai trò của chủ thể quản lý của cán bộ quản lý nhà trường, đồng thời cần thiết phải thực hiện đồng bộ các giải pháp trong đó chú ý đến tính phù hợp, tính thực tiễn để đạt được hiệu quả quản lý cao nhất trong phát triển VHNT

9 Những đóng góp mới của luận án

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ, phong phú thêm lý luận về VHNT, phát triển VHNT và đặc trưng của VHNT nhà trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

- Khẳng định tính đặc trưng và định hướng của những giá trị VHNT trong nhà trường Cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng

- Đánh giá thực trạng phát triển VHNT ở các trường cao đẳng sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay

- Đề xuất được hệ thống các giải pháp phát triển VHNT nhằm duy trì và phát triển VHNT ổn định và bền vững Mặt khác góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay

- Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá VHNT Cao đẳng sư phạm phù hợp với

lý luận và thực tiễn đào tạo

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA NHÀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG

SƯ PHẠM TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Nh ng nghiên cứu về Văn hóa nhà trường

* Nghiên cứu về văn hoá

Người đầu tiên mở đường cho nghiên cứu khoa học về văn hóa có thể kể đến Edward B Tylor với tác phẩm nổi tiếng “Văn hóa nguyên thủy” Theo ông, văn hóa hay văn minh theo nghĩa rộng về dân tộc học nói chung được hình thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen [76] Cho đến gần 40 năm sau, từ khi cuốn sách “Văn hóa nguyên thuỷ” ra đời, năm 1909 thuật ngữ Văn hóa mới được khẳng định bởi Willhelm Ostwald - nhà khoa học và triết học Đức Thuật ngữ này dùng chỉ cho môn học mới mà ông gọi là “Khoa học về các hoạt động văn hóa" tức là hoạt động đặc biệt của con người

Các nhà lý luận Mác xít Xô Viết sau này vào những năm 60 của thế kỷ 20 đã phát triển thêm mở rộng về khái niệm văn hóa và văn hóa được xem là một dạng hoạt động của con người Phần lớn những thành tố của văn hóa được nghiên cứu và thuộc

về cấu trúc của ý thức xã hội bị quy định bởi sự tồn tại của xã hội

Văn hóa được quan tâm nhiều bắt đầu từ cuối thập kỷ 40 của thế kỷ 20 với sự

ra đời của tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) Là một tổ chức hoạt động với mục đích thắt chặt sự hợp tác giữa các quốc gia về giáo dục, khoa học và văn hóa để đảm bảo sự tôn trọng công lý, luật pháp, nhân quyền và

tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo (Công ước thành lập UNESCO) Nhưng văn hóa ở đây đề cập chủ yếu tới các di sản thế giới [dẫn theo 22]

Từ những năm 90 của thế kỷ 20, văn hóa mới là mối quan tâm của nhiều nhà khoa học giáo dục, nhiều quốc gia trên thế giới Xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu cơ sở

Trang 18

lý luận của việc phát triển văn hóa trong đó bao gồm Chủ nghĩa Mác - Lênin; các lý thuyết phương đông, các lý thuyết phương tây về văn hóa Các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu văn hóa khác nhau, đề cập đến nhiều khái niệm khác nhau Trong lĩnh vực nghiên cứu, các nhà văn hóa học thường hay đặt đối lập giữa

ba lĩnh vực nhận thức văn hóa học Theo E.A.Ô-rơ-lô-va đặt đối lập nhận thức lý luận

về văn hóa không chỉ với triết học mà với cả lịch sử Ông cho rằng: Tiếp cận Triết học nghiên cứu văn hóa thường mang tính chất tiên nghiệm (siêu hình) và không được kiểm tra bằng thực nghiệm, còn tiếp cận sử học lại bị hạn chế bởi sự miêu tả các sự kiện và không vượt ra khỏi cấp độ giải thích [dẫn theo 57]

Vì thế, trong các khoa học về văn hóa, cho đến nay, đã có sự đóng góp của nhiều lĩnh vực khác nhau như: nhân học, xã hội học, tâm lý học, ngôn ngữ học, v.v

mà trước hết và chủ yếu là hai lĩnh vực: Nhân học và Xã hội học Tất cả các lĩnh vực này, từ nhiều khía cạnh khác nhau đều nghiên cứu các hiện tượng văn hóa cũng bằng nhiều cách tiếp cận khác nhau

* Nghiên cứu về văn hóa tổ chức

Khái niệm “Văn hóa tổ chức” (organisational culture) xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 và chính thức trở thành một khái niệm trong Khoa học tổ chức - Quản lí, xuất hiện ở Âu Mỹ từ những năm 80 của thế kỷ

XX, hiện nay là một khái niệm tiêu biểu và được phổ biến rộng rãi [34]

Theo tác giả Louis (1980) qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra văn hóa tổ chức là một tập hợp những quan niệm chung của một nhóm người Những quan niệm này phần lớn được các thành viên hiểu ngầm với nhau và chỉ thích hợp cho tổ chức của riêng họ Các quan niệm này sẽ được truyền cho các thành viên mới

Hay một quan niệm khác của Schwatz and Davis (1981) khi nhắc tới văn hóa tổ chức được nghiên cứu như là một hình thức của các tín ngưỡng và tham vọng của các thành viên trong một tổ chức Những tín ngưỡng và tham vọng này tạo nên một quy tắc chung ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc hình thành các hành vi cá nhân và nhóm người trong tổ chức

Trang 19

Các nghiên cứu này phản ánh những quan niệm rất khác nhau về văn hoá nói chung và văn hóa tổ chức nói riêng Ta có thể thấy có 2 luồng ý kiến: một cho rằng văn hoá là một cách nói ẩn dụ và bên kia cho rằng văn hoá là một thực thể khách quan

Theo tác giả Farmer (1990) thì văn hóa của một tổ chức có thể được hiểu như tổng hòa các giả thiết được cho là đúng, các niềm tin và giá trị mà các thành viên của tổ chức ấy cùng chia sẻ và được diễn đạt thông qua cách nói ngắn gọn “làm gì, làm như thế nào, và ai sẽ làm việc ấy” Tuy nhiên, thành viên của một tổ chức thường coi văn hóa ấy là đương nhiên và không thực sự biết đánh giá tác động của nó đến các quyết định, hành vi, sự truyền thông giao tiếp, hay xem xét những biên giới có tính cấu trúc

và biểu tượng của văn hóa tổ chức cho đến khi những lực lượng bên ngoài kiểm nghiệm

nó Theo Farmer, “sự thất bại trong việc hiểu biết những cách thức tương tác giữa văn hóa tổ chức và chiến lược tạo ra những thay đổi đã dự định cũng đồng nghĩa với sự thất bại của chính những chiến lược ấy” [78]

Ở Việt Nam, văn hóa đã xuất hiện từ lâu đời trong đời sống của con người Văn hóa là cái không thể nắm bắt, nhận diện nhưng đã và đang hiện hữu trong đời sống hàng ngày, trong phong tục tập quán, trong giao tiếp, ứng xử, trong cung cách làm việc của mỗi tổ chức , trong xã hội Việt Nam Bản chất và nội dung của VHNT

đã được xây dựng và bồi đắp trong các nhà trường ở Việt Nam từ xa xưa và trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta như: “Kính thầy yêu bạn”, “Tôn sư trọng đạo”, “Uống nước nhớ nguồn”,

Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã rất quan tâm đến giáo dục đạo đức cho

thế hệ trẻ để họ trở thành những người “vừa hồng vừa chuyên”, Bác mong muốn thế hệ

trẻ phải được giáo dục để trở thành những con người mới xã hội chủ nghĩa

Tác giả Phạm Quang Huân trong nghiên cứu Văn hóa- Hình thái cốt lõi của văn hóa nhà trường đã đề cập đến tổ chức nhà trường là một tổ chức hành chính – sư phạm Đó là một thế giới thu nhỏ với những cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, những giá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng do những con người cụ thể thuộc mọi thế

hệ tạo lập Tác giả khẳng định VHNT chính là văn hóa tổ chức Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại, dù ít hay nhiều, một nền văn hoá nhất định.[31]

Trang 20

Tác giả Nguyễn Viết Lộc trong bài viết “Văn hóa tổ chức Đại học Quốc gia Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập” đã phân tích các khái niệm và các yếu tố cấu thành văn hóa tổ chức, văn hóa tổ chức của một trường đại học Tác giả đã khái quát hóa các đặc trưng cơ bản của văn hóa tổ chức để đưa ra những vấn đề đặc biệt quan tâm

và mô hình tham khảo cho quá trình xây dựng văn hóa tổ chức của Đại học Quốc gia

Hà Nội trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

Tác giả Phạm Hiệp với bài viết Văn hóa tổ chức trong cải cách giáo dục đại

học Tác giả nhấn mạnh vai trò của văn hóa tổ chức trong cải cách giáo dục Đó là giải

pháp quan trọng nhất trong cải cách giáo dục ở các trường đại học Văn hóa tổ chức bao gồm 6 thành tố như: Sự tương tác giữa cán bộ trong trường đại học; Sự tương tác giữa các nhà Lãnh đạo, GV và công nhân viên; sự tương tác giữa các sinh viên; sự tương tác giữa cán bộ và sinh viên trong nhà trường; sự tương tác giữa cán bộ của trường đại học với xã hội bên ngoài; sự tương tác giữa các sinh viên của trường đại học với xã hội bên ngoài Khi cải cách giáo dục diễn ra đồng thời phải cải cách 6 thành tố đó trong văn hóa

Văn hóa tổ chức qua những nghiên cứu của các tác giả trong nước nhấn mạnh ở đặc trưng cơ bản của văn hóa trong một tổ chức Các cách quan niệm này đã đơn giản hóa văn hóa tổ chức khiến cho chúng ta có những cách nhìn nhận rõ ràng hơn Tuy nhiên những hướng nghiên cứu này không đi sâu vào nghiên cứu bản chất thực sự của văn hóa tổ chức Một số khái niệm về văn hóa tổ chức của các tác giả có sự đồng nhất Các tác giả mới dừng lại ở mức độ hiểu, nhận biết nhưng chưa có sự thực nghiệm văn hóa tổ chức vào thực tiễn để đánh giá tầm quan trọng của nó đối với sự phát triển của một tổ chức nhất định

* Nghiên cứu về văn hóa nhà trường

Thuật ngữ “Văn hóa nhà trường” (School culture) là một khái niệm mới xuất hiện gần đây Nội dung của “Văn hóa học đường” bao hàm nội dung của “Trường học thân thiện” do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối thế kỷ XX

Nghiên cứu của Edgar Henry Shein (1996), (culture-the missing concept in organization studies); theo quan niệm của ông, VHNT cũng chính là văn hóa tổ chức

Trang 21

Ông đã chỉ ra văn hóa nhà trường bao gồm: những quá trình và cấu trúc hữu hình (Artifacts), hệ thống giá trị được tuyên bố (Espoused values), những quan niệm chung (basic underlying assumption)

Nghiên cứu của Rexford Brown đã đưa ra các tài liệu dẫn chứng về sự phát triển của các trường đại học tại Mỹ trong 20 năm Ông khẳng định nếu muốn cải thiện chất lượng một trường học phải thay đổi cấu trúc và nền văn hóa của trường

đó Ông cũng chỉ ra rằng, trường học không phải là một doanh nghiệp, trường học phức tạp hơn nhiều các tổ chức xã hội và chính trị Trong đó, con người rất đa dạng, có nhiều văn hóa xung đột vì có thể học sinh thuộc những dân tộc khác nhau, vùng miền khác nhau, ngôn ngữ địa phương khác nhau và khác nhau cả thói quen

và đặc điểm truyền thống văn hóa vì vậy xây dựng VHNT là một việc đặc biệt quan trọng [dẫn theo 84]

Nghiên cứu của Philips, G & Wagner (2003), đã đưa ra đặc điểm của VHNT và quá trình đánh giá VHNT (School culture assessment) [dẫn theo 85]

Nhà trường có một nền văn hóa tích cực, lành mạnh là yếu tố giáo dục toàn diện sinh viên và các trường cần có một công cụ cần thiết để phát triển và đánh giá nền văn hóa nhà trường Nhà trường cũng phải chịu trách nhiệm về đánh giá chất lượng văn hóa của họ Sức mạnh của nền văn hóa lành mạnh, tích cực sẽ dẫn nhà trường đi đến thành công Thành tích học tập của sinh viên sẽ được nâng lên, hành vi của sinh viên được cải thiện thông qua chuyển đổi văn hóa Tác giả đưa ra các điều kiện để xây dựng văn hóa nhà trường tích cực, lành mạnh:

+ Nhà trường phải có những biện pháp tích cực trong giáo dục để đi đến thành công Trường, lớp học phải tiếp cận cách đánh giá phát triển con người một cách toàn diện bao gồm: các kỹ năng sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề, làm việc theo nhóm,

sự tôn trọng, chuẩn mực về đạo đức, khả năng ra quyết định, cam kết về nhân quyền

và công bằng xã hội

+ Các nhà giáo dục phải có một sự hiểu biết toàn diện về những gì thuộc văn hóa nhà trường Một nền văn hóa học tích cực được hình thành và vun trồng suốt quá trình phát triển của nhà trường

Trang 22

+ Nhà trường cần phải có bộ công cụ để đánh giá và phải chịu trách nhiệm về nền văn hóa đó

Các nghiên cứu về VHNT thì đã chỉ ra nội hàm của khái niệm VHNT, những đặc trưng cơ bản của một VHNT Hơn nữa một số nghiên cứu đã xác định được cách thức phát triển VHNT thông qua những hoạt động cụ thể Bản chất của VHNT đó là các giá trị về tinh thần và vật chất, các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường, các đặc trưng tạo nên thương hiệu và uy tín của nhà trường đó

VHNT là một khái niệm mới xuất hiện trong những năm gần đây ở nước ta và

đã được nghiên cứu rộng rãi, tuy nhiên, chỉ là nghiên cứu ở một số khía cạnh cụ thể và đơn lẻ như văn hóa giao tiếp, văn hóa ứng xử, văn hóa học đường,

Tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc phát triển VHNT thông qua cách tiếp cận và nghiên cứu về văn hóa học đường Giáo dục giá trị được thể hiện qua ba mặt của văn hóa học đường: cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và giao tiếp ứng xử Xây dựng một hệ giá trị trong nhà trường để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội, giáo dục nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy người bên cạnh dạy chữ và dạy nghề [21]

Trong những năm gần đây, quan điểm về đổi mới, phát triển Giáo dục và Đào tạo đã được Đảng ta đề ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI và ngày càng cụ thể, hoàn thiện để sát hợp với thực tiễn và tiếp tục được khẳng định trong báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011) Ngày 14 – 05 – 2011 Bộ Chính trị khóa XI ban hành chỉ thị số 03-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Một trong những nội dung chủ yếu của Chỉ thị đó là

“Coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ” Phong trào “Xây dựng

trường học thân thiện, sinh viên tích cực” được phát động vào đầu năm học

2008-2009 của Bộ GD&ĐT (Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT, ngày 22/7/2008) Ban chấp hành trung ương khóa VII đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp trong quan hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Đây

Trang 23

là một trong những bước đi đầu tiên tiếp cận hiện đại trong giáo dục, đó là phát triển văn hóa nhà trường

Từ năm 2008 đến 2010 theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Quản lý giáo dục Việt Nam đã hợp tác với Học Viện Giáo dục Singapore tổ chức chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết Việt Nam- Singapore giai đoạn 2008- 2010 Nội dung chương trình có 7 chuyên đề, trong đó

có chuyên đề 3 “Văn hóa nhà trường” được rất nhiều nhà Lãnh đạo đánh giá cao về tầm quan trọng của VHNT và được coi là một trong những yếu tố hàng đầu làm nên sự thành công trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường [29]

Những nghiên cứu của các tác giả trong nước cũng đã bước đầu khẳng định vai trò của nó đối với hoạt động phát triển của nhà trường Văn hóa nhà trường gắn liền với từng hoạt động của nhà trường, chi phối đến đời sống tâm lý của các thành viên trong nhà trường Tuy nhiên tất cả những quan niệm này chỉ dừng lại ở việc phân tích các đặc điểm của văn hóa tổ chức trong nhà trường mà chưa đi sâu vào việc ứng dụng

và thực nghiệm ở bất kỳ trường nào ở Việt Nam Hay nói cách khác mới dừng lại ở việc mô tả về VHNT mà chưa phân tích sâu vào bản chất, tiêu chí cụ thể của một VHNT, chưa thay đổi được hệ thống giá trị và quan điểm tồn tại trong VHNT

1.1.2 Nh ng nghiên cứu về phát triển VHNT

Phát triển văn hóa nhà trường không phải chuyện ngày một ngày hai mà cần có những bước đi phù hợp Có nhiều mô hình được các nhà nghiên cứu đề xuất Mô hình xây dựng văn hóa nhà trường dựa trên cơ sở mô hình xây dựng văn hóa tổ chức gồm các

bước cụ thể do hai tác giả Julie Heifetz & Richard Hagberg đề xuất [80]

Julie Heifetz & Richard Hagberg, hai nhà nghiên cứu khoa học giáo dục đã chỉ

ra đâu là giá trị cốt lõi làm cơ sở cho xây dựng VHNT thành công Các giá trị cốt lõi phải là các giá trị không phai nhòa theo thời gian và là linh hồn của nhà trường Bên cạnh đó cũng yêu cầu thường xuyên đánh giá văn hóa nhà trường và thiết lập các chuẩn mực mới, những giá trị mới mang tính thời đại; đặc biệt là các giá trị học tập không ngừng và thay đổi thường xuyên Việc truyền bá các giá trị mới cho mọi thành viên trong nhà trường cần được coi trọng song song với việc duy trì những giá trị, chuẩn mực tốt đã

Trang 24

xây dựng được và lọc bỏ những chuẩn mực, giá trị cũ lỗi thời hoặc gây ra ảnh hưởng tiêu cực cho tiến trình phát triển của văn hóa nhà trường

Theo các nghiên cứu của Hill và Jones (1995), nếu quản lý hay xử lý tốt thì văn hóa nhà trường sẽ là công cụ hữu ích nhất cho việc kiểm soát/ quản lý nhân viên trong nhà trường, vì trong thực tế, nhân viên nhà trường không chỉ bị quản lý hoàn toàn bởi các quy định và thủ tục bên ngoài, mà chỉ bị quản lý chủ yếu bởi hệ thống các giá trị bên trong và chính giá trị của văn hóa nhà trường có khả năng tạo ra các nguyên tắc hành vi của các thành viên trong nhà trường Chính vì thế nghiên cứu đã khẳng định vai trò của phát triển văn hóa nhà trường trong việc tạo ra đọng lực làm việc cho các thành viên trong nhà trường

Ở Việt Nam, một số bài báo và công trình nghiên cứu của tác giả như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Thành Nghị, Nguyễn Tiến Hùng, Phạm Quang Huân, Phan Thị Hoa Hương, Lê Hiển Dương, Trần Quốc Thành… tập trung vào phân tích những quan niệm của các tác giả nước ngoài về văn hóa nhà trường và đưa ra một

số giải pháp phát triển văn hóa nhà trường hiện nay ở Việt Nam thông qua các vấn

- Phân tích vấn đề quản lý sự phát triển văn hóa nhà trường chính là tác động

để tạo ra sự dịch chuyển các cấp độ của văn hóa nhà trường;

- Khái niệm về văn hóa nhà trường trong một tổ chức học hỏi;

- Các kiểu văn hóa nhà trường phổ thông;

Tác giả Phạm Minh Hạc nhấn mạnh đến việc xây dựng văn hóa nhà trường hay còn gọi là văn hóa học đường bằng giáo dục giá trị được thể hiện qua ba mặt của văn

Trang 25

hóa nhà trường: Cơ sở vật chất, môi trường giáo dục và giao tiếp ứng xử Xây dựng một hệ giá trị trong nhà trường để mọi thành viên đồng thuận lấy đó làm mục tiêu đạo đức xã hội, giá trị nhân cách hay chúng ta còn gọi là dạy người bên cạnh dạy chữ và dạy nghề Nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc đã định hướng cho việc xây dựng

và phát triển VHNT trên bình diện phát triển văn hóa vật chất và phát triển văn hóa tinh thần

Tác giả Nguyễn Tiến Hùng với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Lý luận

phát triển VHNT phổ thông đã làm rõ khung lý luận về phát triển VHNT phổ thông

thông qua khái niệm/thuật ngữ và mối quan hệ giữa văn hóa và bầu không khí nhà trường, vai trò, các đặc trưng cơ bản và quy trình phát triển VHNT phổ thông Đây là nghiên cứu có tính nền tảng, tạo cơ sở lý luận vững chắc cho hướng nghiên cứu về phát triển VHNT ở Việt Nam [30]

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Ngọc Thúy (2012), Quản lý nhà trường Tiểu

học Việt Nam theo tiếp cận văn hóa tổ chức đã tiếp cận dưới góc độ VHNT như là

một dạng của văn hóa tổ chức và một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả của nhà trường Quản lý nhà trường theo quan điểm tiếp cận văn hóa tổ chức là một hướng quản lý mới có tác dụng rất tích cực nhằm nâng hiệu quả nhà trường.[57]

Kết luận: Nhìn chung, VHNT là khái niệm đã được các tác giả nước ngoài

nghiên cứu rất sâu và sử dụng nó để thay đổi và phát triển nhà trường Dù có nhiều cách tiếp cận và quan niệm khác nhau nhưng họ đều đi đến được sự đồng thuận nhất định đó là muốn phát triển được VHNT cần phải có quá trình, có sự lãnh đạo ảnh hưởng của cán bộ quản lý nhà trường và có sự tham gia của tất cả các thành viên trong nhà trường Ở nước ta, quan điểm VHNT còn khá mới mẻ với các nhà nghiên cứu và các lực lượng giáo dục mặc dù đều công nhận VHNT là một trong các tiêu chí để làm tăng tính hiệu quả trường học Chính vì thế các nghiên cứu về xây dựng hay phát triển VHNT cũng chỉ là những cách tiếp cận theo một quan điểm của một tác giả nước ngoài Chưa có sự tổng hợp và áp dụng mang tính đặc thù trong phát triển VHNT ở từng cấp bậc, loại hình đào tạo của nhà trường Phát triển VHNT chưa thực sự trở thành một nhiệm vụ quan trọng của nhà quản lý ở trường học Nếu có những nghiên cứu sâu hơn

Trang 26

về phát triển VHNT đặc biệt làm rõ vai trò, các nội dung phát triển VHNT sẽ giúp cán

bộ quản lý nhà trường thực hiện hiệu quả hơn vai trò của mình Dựa trên những nghiên cứu của các tác giả về VHNT, phát triển VHNT nói chung, chúng tôi sẽ làm rõ phát triển VHNT cao đẳng sư phạm theo cách tiếp cận nội dung hoạt động sư phạm để từ đó đưa ra được những đặc trưng VHNT nhằm hướng tới sự phát triển ổn định và bền vững trong nhà trường

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1 2.1 Văn hóa tổ chức

Tùy theo đối tượng tiếp cận, văn hóa tổ chức được gọi bằng một số tên khác nhau như văn hóa công ty, văn hóa doanh nghiệp, văn hóa công sở Trong đó thuật ngữ văn hóa tổ chức được sử dụng khá phổ biến Có nhiều định nghĩa khác nhau về VHTC, có thể kể đến một vài quan niệm cơ bản:

Trong tác phẩm “ Quản lý hành chính – Lý thuyết và thực hành” các tác giả Michel Amiel, Francis Bonnet và Joseph Jacobs đã cho rằng “ Văn hóa tổ chức là toàn

bộ giá trị, niềm tin, truyền thống và thói quen có khả năng quy định hành vi của mỗi thành viên trong tổ chức, ngày càng phong phú thêm và có thể thay đổi theo thời gian, mang lại cho tổ chức một bản sắc riêng.” [75]

Văn hóa tổ chức là tập hợp các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin và hành vi ứng

xử của một tổ chức tạo nên sự khác biệt của các thành viên của tổ chức này với các thành viên của tổ chức khác (Greert Hofstede, Cultures & Organisations, 1991) [79]

Văn hóa tổ chức liên quan đến toàn bộ đời sống vật chất, tinh thần của một tổ chức Nó biểu hiện trước hết ở trong tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu, triết lý, các giá trị, phong cách lãnh đạo, quản lý… bầu không khí tâm lý Thể hiện thành một hệ thống các chuẩn mực, các giá trị, niềm tin, quy tắc ứng xử được xem là tốt đẹp và được mỗi người trong tổ chức chấp nhận

Qua những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy rằng dù phát biểu theo những

cách khác nhau về văn hóa tổ chức nhưng nói chung các tác giả đều nhấn mạnh những

chuẩn mực và giá trị chung được biểu hiện thành những nguyên tắc sống, những nguyên tắc ứng xử có tác dụng chỉ dẫn hành vi của cá nhân trong tổ chức

Trang 27

1.2.2 Nhà trường

Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành

do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các tri thức và thực hiện các nhu cầu xã hội cần thiết cho mỗi cá nhân, cho từng nhóm dân cư nhất định trong cộng đồng và xã hội

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhà trường ở Việt Nam: “ Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai của thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của đất nước mình Vì vậy cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi… phải dạy cho họ có ý chí tự lập tự cường quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ.” Người cho rằng học tập ở nhà trường chính

là yếu tố quyết định đến việc xây dựng đất nước, phục vụ đắc lực cho nâng cao dân trí, đẩy lùi giặc dốt Tầm quan trọng của nhà trường là không thể phủ nhận

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì nhà trường trong bối cảnh hiện nay không đơn giản chỉ là thiết chế sư phạm đơn thuần Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành nhân cách và nhân lực phục vụ cho sự phát triển cộng đồng, làm gia tăng hài hòa cả ba nguồn vốn: vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội của đất nước “ nhà trường” là cầu nối của giáo dục vĩ mô (nền giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân) với giáo dục vi mô (quá trình dạy học, sự phát triển nhân cách sinh viên) Nó cũng là cầu nối làm cho trẻ em đi từ thế giới tình cảm của gia đình đến thế giới công việc của xã hội gặp nhiều thuận lợi, tránh đi các sự hụt hẫng căng thẳng

Ngày nay thường có thông điệp: “ Nhà trường- vầng trán của cộng đồng”, “Cộng đồng là trái tim của nhà trường” Chính với thiết chế này mà quá trình “Giáo dục hóa xã hội” và “Xã hội hóa giáo dục” quyện chặt với nhau Từ nhà trường mà giáo dục đến với mọi người và cho mỗi người (Education for All) và qua nhà trường mà các nguồn lực của xã hội tập trung vào sự phát triển của giáo dục (All for Education)

Như vậy, nhà trường có thể coi là một thiết chế tổ chức chuyên biệt trong hệ thống tổ chức xã hội, đóng vai trò tái tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự duy trì và phát triển của xã hội

Trang 28

1.2.3 Văn hóa nhà trường

Từ điều đã khẳng định: nhà trường là một tổ chức, có thể suy ra rằng: văn hoá

nhà trường là văn hoá của một tổ chức hành chính – sư phạm

Các tác giả Urben G.C., Hugies L.W., Noris C.J cho rằng VHNT gắn liền với chất lượng giáo dục “Một trường tốt có chuẩn chất lượng cao, có kỳ vọng cao đối với

HS, có môi trường giảng dạy và học tập tốt, hay nói cách khác là có VHNT tốt”

Joan Richardson định nghĩa “VHNT là sự tích lũy các giá trị và chuẩn mực của nhiều người Đó là sự đồng thuận về những gì quan trọng Đó là những kỳ vọng của tập thể chứ không phải những kỳ vọng của một cá nhân” [83;tr109]

VHNT thể hiện ở mọi góc độ nhà trường, bao gồm từ phong cách ngôn ngữ của

GV và HS, cách bài trí lớp học,…cũng như thái độ quan tâm của họ đối với những nội dung chương trình và phương pháp GD, đến những định hướng giá trị nhân cách của

HS (và cả của GV) trước những thay đổi của cuộc sống XH hiện đại.VHNT lành mạnh sẽ giảm bớt được xung đột và tăng tính ổn định Đúng như Donahoe (1997) chỉ

ra rằng: “Nếu văn hoá thay đổi thì mọi thứ sẽ thay đổi” [79]

Văn hoá tổ chức của một nhà trường là hệ thống niềm tin, giá trị, chuẩn mực, thói quen và truyền thống hình thành trong quá trình phát triển của nhà trường, được các thành viên trong nhà trường thừa nhận, làm theo và được thể hiện trong các hình thái vật chất và tinh thần, từ đó tạo nên bản sắc riêng cho mỗi tổ chức sư phạm

Tóm lại VHNT là hệ thống những giá trị vật chất và tinh thần tồn tại trong nhà

trường làm cho nhà trường có những nét riêng biệt, khác biệt để phân biệt nhà trường này với nhà trường khác Nó bao gồm từ bầu không khí nhà trường, các giá trị tồn tại trong các hoạt động giảng dạy, giáo dục, môi trường cảnh quan, cơ sở vật chất đến niềm tin, sự kỳ vọng của từng cá nhân…

1.2.4 Quản lý nhà trường

Đa phần các hoạt động giáo dục đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và sau đại học) Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống giáo dục từ Trung ương tới

cơ sở Theo đó quan niệm quản lý giáo dục (QLGD) luôn đi kèm với quan niệm quản

Trang 29

lý nhà trường (QLNT) Các nội dung QLGD luôn gắn với QLNT QLNT có thể được coi là sự cụ thể hóa công tác QLGD

Ngày nay nhà trường không chỉ là thiết kế sư phạm đơn thuần Công việc diễn

ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách – sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người, vốn tổ chức, vốn xã hội

Theo Nguyễn Ngọc Quang thì quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối

ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giảng viên, sinh viên và các cán bộ khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế

hệ trẻ Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới”

Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục Mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thể hệ trẻ và với từng sinh viên” [23]

Tóm lại, QLNT là quá trình tác động của chủ thể quản lý nhà trường (Hiệu

trưởng, Cán bộ phụ trách phòng ban) đến các đối tượng quản lý (giảng viên, sinh viên, các quá trình dạy học và giáo dục) để đạt được mục tiêu giáo dục mà nhà trường đề ra Trong nội dung quản lý nhà trường thì phát triển văn hóa là một nội dung quan trọng

1.2.5 Phát triển văn hóa nhà trường

Thuật ngữ phát triển có nhiều cách định nghĩa, xuất phát từ những cấp độ xem xét khác nhau Ở cấp độ chung nhất, phát triển được hiểu là:

Quá trình chuyển biến từ trạng thái này sang trạng thái khác hoàn thiện hơn; chuyển từ trạng thái cũ sang tình trạng chất lượng mới, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao

Phát triển còn là sự trải qua quá trình tăng trưởng hay lớn lên tự nhiên, phân hóa hay tiến hóa tự nhiên với những thay đổi liên tục kế tiếp nhau

Trang 30

Theo quan điểm triết học, phát triển là biến đổi hoặc làm cho biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp Lý luận của phép biện chứng duy vật khẳng định: mọi sự vật, hiện tượng không phải chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt số lượng mà cơ bản chúng luôn biến đổi, chuyển hóa từ sự vật hiện tượng này đến sự vật hiện tượng khác, cái mới kế tiếp cái cũ, giai đoạn sau kế thừa giai đoạn trước tạo thành quá trình phát triển tiến lên mãi mãi

Thuật ngữ ”phát triển” mà đề tài xác định bao gồm các hoạt động quản lý nhằm biến đổi đối tượng quản lý (trong đề tài là văn hóa nhà trường), tức là quá trình tác động của chủ thể quản lý thông qua các hoạt động nhằm gìn giữ và phát triển những giá trị văn hóa để đáp ứng tối ưu những kỳ vọng của chủ thể quản lý, tạo nên một văn hóa nhà trường đặc trưng Phát triển văn hóa nhà trường là vấn đề quan trọng trong quản lý nhà trường ở cơ sở giáo dục đào tạo ĐH, CĐ

Phát triển văn hóa tức là tạo nên hay sáng tạo nên những giá trị mới về tinh thần và vật chất thuộc về văn hóa Tuy nhiên văn hóa luôn tồn tại những giá trị được lưu truyền từ đời này qua đời khác ta gọi đó là giá trị văn hóa Giá trị văn hóa luôn có

ý nghĩa nhưng trong từng thời kỳ thì ý nghĩa của các giá trị văn hóa đó có phù hợp hay không mới là cái quan trọng Chính vì thế, khi nói tới phát triển văn hóa tức là người ta muốn đề cập đến việc kế thừa những giá trị văn hóa sẵn có để xây dựng hoặc

có thể tạo nên những giá trị văn hóa cho phù hợp với từng thời kỳ lịch sử

Vậy phát triển VHNT tức là quá trình mà chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) thực

hiện chức năng quản lý thông qua thực hiện các hoạt động tác động đến các thành tố của văn hóa nhà trường nhằm kế thừa, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa tích cực tồn tại trong nhà trường, đồng thời giúp nhà trường phát triển ổn định và đạt được mục đích giáo dục Phát triển văn hóa nhà trường là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự nỗ lực đóng góp của tất cả các thành viên trong nhà trường trong đó nhấn mạnh vai trò đi đầu của cán bộ quản lý nhà trường

Phát triển văn hóa nhà trường sẽ tập trung ở những nội dung về phát triển

những giá trị về tinh thần và vật chất tồn tại trong các hoạt động nhà trường và góp

phần tạo nên thương hiệu riêng của nhà trường

Trang 31

1.3 Đặc trưng văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm vùng đồng bằng sông Hồng

1.3.1 Đặc trưng văn hóa vùng đồng bằng Sông Hồng

Vùng đồng bằng Sông Hồng là vùng đất mang nhiều nét truyền thống của văn hóa Việt Nam Đây được coi là cái nôi của văn hóa – lịch sử dân tộc Văn hóa vùng

đồng bằng sông Hồng mang những nét đặc trưng cơ bản sau:

* Đặc trưng văn hoá vật chất

- Văn hoá cư trú (nhà ở) Hàng ngàn năm lịch sử, người dân Việt đã chinh phục thiên nhiên, tạo nên một diện mạo, đồng bằng như ngày nay, bằng việc đào mương, đắp bờ, đắp đê Biết bao cây số đê cũng được tạo dựng dọc các triền sông thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Nói cách khác, đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình là kết quả của sự chinh phục thiên nhiên của người Việt Trong văn hóa đời thường, sự khác biệt giữa văn hóa Bắc Bộ và các vùng khác trong cả nước chính được tạo ra từ sự thích nghi với thiên nhiên này Nhà ở của cư dân Việt Bắc Bộ thường là loại nhà không có chái, hình thức nhà vì kèo phát triển Người nông dân Bắc Bộ thường muốn xây dựng ngôi nhà của mình theo kiểu bền chắc, to đẹp, tuy nhiên vẫn hòa hợp với cảnh quan

– Văn hoá ẩm thực (ăn – uống) Thường là người Việt Bắc Bộ muốn trồng cây cối quanh nơi cư trú, tạo ra bóng mát cho ngôi nhà ăn uống của cư dân Việt trên châu thổ Bắc Bộ vẫn như mô hình bữa ăn của người Việt trên các vùng đất khác : cơm + rau + cá, nhưng thành phần cá ở đây chủ yếu hướng tới các loại cá nước ngọt Hải sản đánh bắt ở biển chủ yếu giới hạn ở các làng ven biển, còn các làng ở sâu trong đồng bằng, hải sản chưa phải là thức ăn chiếm ưu thế Cư dân đô thị, nhất là Hà Nội, ít dùng đồ biển hơn cư dân ở các đô thị phía Nam như Huế, Nha Trang, Sài Gòn Thích ứng với khí hậu ở châu thổ Bắc Bộ, người Việt Bắc Bộ có chú ý tăng thành phần thịt

và mỡ, nhất là mùa đông lạnh, để giữ nhiệt năng cho cơ thể Các gia vị có tính chất cay, chua, đắng, quen thuộc với cư dân Trung Bộ, Nam Bộ lại không có mặt trong bữa

ăn của người Việt Bắc Bộ nhiều lắm

- Văn hoá trang phục Cách mặc của người dân Bắc Bộ cũng là một sự lựa chọn, thích ứng với thiên nhiên châu thổ Bắc Bộ đó là màu nâu Đàn ông với y phục

đi làm là chiếc quần lá tọa, áo cánh màu nâu sống Đàn bà cũng chiếc váy thâm, chiếc

Trang 32

áo nâu, khi đi làm Ngày hội hè, lễ tết thì trang phục này có khác hơn: đàn bà với áo dài mớ ba mớ bảy, đàn ông với chiếc quần trắng, áo dài the, chít khăn đen Ngày nay

y phục của người Việt Bắc Bộ đã có sự thay đổi khá nhiều

- Di sản vật thể khác Nói tới văn hóa ở châu thổ Bắc Bộ là nói tới một vùng văn hóa có một bề dày lịch sử cũng như mật độ dày đặc của các di tích văn hóa Các

di tích khảo cổ, các di sản văn hóa hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương Đền, đình, chùa, miếu v.v…, có mặt ở hầu khắp các địa bàn, tận các làng quê Nhiều di tích nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà cả ở nước ngoài như đền Hùng, khu vực Cổ Loa, Hoa Lư, Lam Sơn, phố Hiến, chùa Dâu, chùa Hương, chùa Tây Phương, đình Tây

Đằng v.v…

* Đặc trưng văn hoá tinh thần

Người dân của vùng mà đặc biệt là ở Thăng Long- Hà Nội vốn rất nổi tiếng là thanh lịch về vốn văn hóa tinh thần, về cách ăn mặc trang nhã, các món ăn chế biến tinh vi, khéo léo Đời sống tâm linh của người dân của vùng rất phong phú, thể hiện qua sự phát triển của các loại tín ngưỡng và tôn giáo như đạo Lão, Đạo Nho, Đạo Thiên Chúa nhưng phát triển nhất vẫn là đạo Phật Phật Giáo dường như chiếm vị trí độc tôn trong đời sống tâm linh của người dân trong khu vực, nhưng không vì thế mà các tín ngưỡng khác không được chú trọng và phát triển Chính quyền cũng như các cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú trọng đến việc hài hòa các giá trị tín ngưỡng, văn hóa Đảm bảo cho việc phát huy các nét văn hóa truyền thống cũng như hiện đại có giá trị ở địa phương Lấy những giá trị văn hóa tốt đẹp là định hướng để đẩy lùi những tư tưởng, suy nghĩ và hành vi văn hóa tiêu cực Ở đây còn có một hệ thống các di tích lịch sử văn hóa cũng như các loại hình văn hóa truyền thống rất phong phú và đa dạng Với một nền tảng văn hóa lâu đời và bảo lưu được nhiều giá trị truyền thống thì văn hóa vùng đồng bằng sông Hồng là nền tảng để xây dựng nền văn hóa hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc

Đồng bằng sông Hồng cũng là đầu ngõ để du nhập các giá trị văn hóa tiên tiến của nhân loại, điều này có tác động rất lớn đến hệ tư tưởng trong giáo dục tại các nhà trường Chính sự phát triển của giáo dục ở đây tạo ra sự phát triển của văn hóa bác học, bởi chủ thể sáng tạo nền văn hóa bác học này chính là đội ngũ trí thức được sinh

Trang 33

ra từ nền giáo dục ấy Đội ngũ này, tiếp nhận vốn văn hóa dân gian, vốn văn hóa bác học Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây, tạo ra dòng văn hóa bác học Giữa văn hóa và giáo dục càng chứng tỏ được mối quan hệ khăng khít, tạo nên một nền văn hóa giáo dục với các giá trị cốt lõi không thể thay thế Đó là giá trị của đạo Nho, đạo Phật, đạo Thiên Chúa

Đồng bằng sông Hồng là mảnh đất có nhiều truyền thống văn hóa, có sự giao hòa của nhiều tín ngưỡng khác nhau đồng thời cũng là vùng đất có trình độ dân trí cao Tuy nhiên cũng là vùng đất của ngõ để du nhập các trào lưu văn hóa thông qua

xu thế hội nhập Chính vì thế các nhà trường ở bậc đại học, cao đẳng đặt trong địa bàn cần phải tận dụng được những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp cũng như phải có chiến lược để đối mặt với những thách thức để xây dựng và phát triển văn hóa đặc trưng trong nhà trường

1.3.2 Nh ng đặc điểm cơ bản của trường Cao đẳng sư phạm

Trường Cao đẳng Sư phạm là cơ sở đào tạo thuộc hệ thống các trường Cao đẳng, Đại học trong cả nước Chính vì thế nhiệm vụ, quyền hạn của trường Cao đẳng

Sư phạm cũng tương tự như trường Cao đẳng nói chung Đặc điểm cơ bản của trường Cao đẳng sư phạm:

- Nội dung giảng dạy và học tập trong trường Cao đẳng sư phạm đó là: trau dồi tri thức chuyên môn, văn hóa sư phạm, hiểu biết xã hội, rèn luyện các phẩm chất nhân cách của người giảng viên, rèn luyện năng lực, kỹ năng sư phạm…

- Phương pháp học tập và rèn luyện của sinh viên Cao đẳng Sư phạm đó là: chú trọng phương pháp tự học, tự giáo dục, tham gia tích cực vào các hoạt động rèn luyện NVSP, thường xuyên và các hoạt động thực thế ở trường phổ thông

- Cán bộ quản lý trong trường cao đẳng sư phạm: Đó là những thầy cô giáo có kinh nghiệm lâu năm trong nghề dạy học Họ có kiến thức chuyên sâu và nghiệp vụ sư phạm vững vàng, cho nên nó ảnh hưởng đến phong cách quản lý nhà trường Quản lý mang tính nhân văn và giáo dục sâu sắc Ưu tiên sự chủ động, tự giác và sáng tạo trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của cấp dưới

Trang 34

- Giảng viên giảng dạy trong nhà trường Cao đẳng sư phạm: Giảng viên giảng dạy trong các nhà trường cao đẳng sư phạm được đào tạo tại các nhà trường đại học sư phạm

Họ có năng lực sư phạm rất tốt, kiến thức chuyên ngành chuyên sâu và đặc biệt có nền tảng đạo đức Môi trường Cao đẳng Sư phạm là môi trường đạo đức đặc biệt với những yêu cầu cao về chuẩn mực đạo đức của xã hội cho nên các thầy cô giáo trong nhà trường đào tạo giáo viên là phải đạt về chuẩn mực đạo đức Giảng viên phải là người dạy nghề, nghề chữ và dạy đạo đức làm người, làm nhà giáo cho người học

- Sinh viên cao đẳng sư phạm: Họ là người có đam mê đối với hoạt động dạy học Có nền tảng và phẩm chất đạo đức tốt Đó là động cơ nghề nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên trong nhà trường Những động

cơ này sẽ là những động lực thôi thúc SV tham gia tích cực vào các hoạt động rèn luyện nghề, vượt qua mọi khó khăn, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động rèn luyện nghề nghiệp Những động cơ tích cực cần phải xây dựng ở sinh viên đó là các động động cơ học tập đúng đắn, học “vì ngày mai lập nghiệp”, vì “sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, vì một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Khác với các nghề khác, tính nhân văn thể hiện đậm nét trong nghề dạy học Qua sự nhận thức của SVSP về những giá trị nghề nghiệp nói chung, nghề dạy học nói riêng; từ động cơ, thái độ, tình cảm của họ với nghề đã chọn, giáo dục sinh viên thấm nhuần được giá trị lao động và ý nghĩa thiêng liêng của nghề dạy học, hướng họ vươn tới các giá trị của nghề dạy học, đó là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề giúp phát triển đạo đức nhân cách, nghề giúp

ích cho mọi người, nghề phục vụ đắc lực cho công cuộc đổi mới

- Mô hình đào tạo: Trong nhà trường sư phạm, “nghề” đang được đào tạo là

một mô hình của nghề dạy học Nó chưa phải là môi trường giáo dục đang diễn ra ở các cơ sở nhà trường Tuy nhiên, việc tham gia rèn luyện tích cực trong nhà trường

“mô hình” đó là ý nghĩa quyết định đối với sinh viên, trang bị cho các em những kiến thức, kỹ năng cơ bản để có thể tham gia “hành nghề” trong môi trường thực sự sau này Nếu đáp ứng tốt, các em sẽ dễ dàng thích nghi hiệu quả với môi trường nghề nghiệp thực tế sau khi tốt nghiệp “Mô hình” đào tạo ở trường sư phạm quy định đến đặc điểm riêng trong hoạt động của sinh viên Cao đẳng sư phạm

Trang 35

- Hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm: Kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về nghề dạy học, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành sư phạm.Các hình thức học tập và rèn luyện nghề của sinh viên CĐSP rất phong phú đa dạng, gắn liền với các hoạt động học tập và giáo dục SV ở trường CĐSP như rèn luyện các kỹ năng sư phạm trên lớp, ở nhà, theo nhóm, tổ, các hình thức tổ chức câu lạc bộ, seminar, trong các hoạt động xã hội, trong thực tiễn giáo dục, trong nghiên cứu khoa học… Đây là đặc điểm nổi bật trong nhà trường cao đẳng

sư phạm khác biệt với các trường cao đẳng khác

- Môi trường và cảnh quan trong trường cao đẳng sư phạm: Trường học là nơi

để tiến hành dạy và học với sự tham gia của cơ sở vật chất trường học, cán bộ quản lý giáo dục, thầy, trò, chương trình, nội dung giáo dục… để thực hiện mục tiêu, nhiệm

vụ giáo dục đào tạo của từng trường học.Với cảnh quan môi trường thì nhà trường cao đẳng sư phạm được bố trí sắp xếp như hệ thống các trường học Các khu giảng đường tập trung và các khoa chuyên môn được bố trí nhằm tạo điều kiện cho hoạt động học tập và rèn luyện nghiệp vụ thường xuyên của sinh viên Sinh viên lần đầu tiên bước chân vào trường, nhìn cảnh quan môi trường các em đã phần nào hình dung ra con đường học tập của mình sắp tới đó là “học đi đôi với hành” , điều này cũng đồng nghĩa với “sự mạnh mẽ, tự tin, dứt khoát” đã bắt đầu hình thành trong tâm lý của các

em giúp các em dần định hướng được con đường tương lai phía trước của mình

- Mối quan hệ giữa thầy và trò trong nhà trường cao đẳng sư phạm: Ngày nay không phải người trò hay người thầy là chủ thể của quá trình dạy học mà chính mối quan hệ giữa thầy và trò mới là chủ thể của quá trình dạy học Bởi nó có vai trò rất quan trọng, quyết định đến hiệu quả dạy học trong nhà trường Với nhà trường cao đẳng sư phạm mối quan hệ giữa thầy và trò được thể hiện ra như là mối quan hệ của những thầy cô giáo đi trước với những thầy cô giáo tương lai Có sự kính trọng vô cùng lớn, sự học hỏi không ngừng nghỉ nhưng cũng có sự trao đổi thẳng thắn ở hai chủ thể của quá trình dạy học Tạo ra một không khí cởi mở những vẫn đảm bảo được

sự tôn trọng trong nhà trường

Trang 36

1.3.3 Vai trò của văn hóa đối với các trường Cao đẳng Sư phạm

Đối với nhà trường Cao đẳng Sư phạm, nơi đào tạo ra những thầy cô giáo tương lai phục vụ cho bậc học Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở thì VHNT tích cực sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhân cách nghề nghiệp của sinh viên VHNT là cái nôi – tạo động lực học tập và phấn đấu rèn luyện chuyên môn và tu dưỡng đạo đức nghề nghiệp cho người học Do đó, VHNT có vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục của nhà trường như sau:

i Phát triển khả năng tư duy sáng tạo trong nhà trường

VHNT có tương quan với thái độ của cán bộ (CB), giảng viên trong nhà trường, là động lực sư phạm được tạo nên bởi nhiều yếu tố Văn hóa là động lực vô hình nhưng có sức mạnh kích cầu hơn cả các biện pháp kinh tế

VHNT tích cực, phù hợp sẽ tạo ra mối quan hệ tốt đẹp giữa CB, GV, nhân viên trong tập thể sư phạm, giữa GV với SV tạo ra bầu không khí thoải mái, vui vẻ, lành mạnh trong công việc Qua đó, giúp họ thấy rõ mục tiêu, định hướng, ý nghĩa và bản chất công việc thực hiện Đó là nền tảng tinh thần cho sự sáng tạo, là điều quan trọng đối với hoạt động sư phạm mà đối tượng là con người

VHNT tích cực giúp mọi thành viên, bao gồm CB, GV, SV luôn có cảm giác tự hào, hãnh diện vì là thành viên hoặc là những người có liên quan trong tổ chức nhà trường, được cống hiến công sức vì mục tiêu cao cả của nhà trường

Khi cuộc sống khó khăn, nhu cầu vật chất được đặt lên trên và động lực lao động của GV là đồng lương thì khi nhu cầu vật chất đạt được ở mức độ nào đó thì mỗi nhà sư phạm sẵn sàng lựa chọn, chọn mức thu nhập thấp hơn để được làm việc trong môi trường thân thiện, hòa đồng, thoải mái và khi được tôn trọng và thừa nhận, họ sẵn sàng cống hiến vì mục tiêu cao cả

ii Điều chỉnh hành vi, nhận thức của giảng viên và sinh viên theo hướng thân thiện, tích cực

Đối với đội ngũ CB, GV, VHNT tích cực, lành mạnh tạo nên tình thương yêu chân thành giữa các thành viên và đảm bảo cho sự hợp tác vì mục tiêu chung Thầy cô giáo là người trực tiếp tham gia hoạt động dạy học, hơn ai hết, chính nhân cách nhà giáo sẽ ảnh

Trang 37

hưởng trực tiếp tới nhân cách học trò Điều đó đòi hỏi những nhà giáo ngoài kiến thức chuyên môn giỏi phải có tầm hiểu biết sâu rộng về cuộc sống, văn hóa, xã hội

Đối với SV, văn hóa tạo nên giá trị đạo đức, có vai trò điều chỉnh hành vi Khi được giáo dục trong môi trường văn hóa và thấm nhuần hệ giá trị văn hóa, các em không những hình thành được hành vi chuẩn mực mà quan trọng hơn sự ẩn chứa trong tiềm thức của SV là niềm tin nội tâm sâu sắc vào những điều tốt đẹp, từ đó, khao khát cuộc sống hướng thiện và sống có lý tưởng Đồng thời, VHNT còn giúp các em có khả năng thích nghi với xã hội Một con người có văn hóa phải luôn hội tụ đầy đủ những giá trị đạo đức căn bản, đó là đức tính khiêm tốn, lễ độ, thương yêu con người, sống có trách nhiệm với bản thân và xã hội, Do đó, khi gặp những tình huống xã hội phát sinh mà các em chưa biết nhưng nhờ vận dụng năng lực văn hóa mà SV biết điều chỉnh hành vi một cách hài hòa hay tự điều chỉnh bản thân phù hợp với hoàn cảnh, có cách ứng xử tốt với mọi người xung quanh

VHNT kiểm soát hành vi mỗi cá nhân bằng các chuẩn mực, quy trình, quy tắc và bằng cả dư luận do nhiều thế hệ mà nhà trường gây dựng lên Khi phải đối mặt với những vấn đề khó khăn, phức tạp, đây sẽ là điểm tựa tinh thần, giúp nhà quản lý và các thành viên trong trường hợp tác, phát huy trí lực để có quyết định đúng đắn

iii Hạn chế các biểu hiện tiêu cực trong nhà trường

VHNT ảnh hưởng trực tiếp đến các thành viên trong nhà trường, có tác động ảnh hưởng hay khuyến khích mối quan hệ hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau giữa các thành viên Tạo bầu không khí cởi mở, tin cậy, tôn trọng lẫn nhau là động lực để

GV quan tâm, cải tiến, nâng cao chất lượng dạy - học, phát huy thành tích giảng dạy tốt của GV nhà trường,… Đối với SV, VHNT có tác động tạo ra bầu không khí học tập tích cực, các em cảm thấy tự tin, thoải mái, vui vẻ, ham học, được thừa nhận, tôn trọng, cảm thấy mình có giá trị SV thấy rõ trách nhiệm của bản thân, tích cực khám phá, tương tác với GV, nhóm bạn, các em nỗ lực hết sức để đạt thành tích học tập cao nhất, tạo ra môi trường thân thiện an toàn, cởi mở, tôn trọng và chấp nhận các nhu cầu, hoàn cảnh khác

nhau của bạn học,…

VHNT tích cực sẽ tạo nên sự thống nhất về cách nhận thức, giải quyết vấn đề Từ

đó sẽ hạn chế những biểu hiện tiêu cực, trái với quy tắc, chuẩn mực đã được thừa nhận

Trang 38

hay những mâu thuẫn và nguy cơ gây xung đột Nếu nguy cơ này không thể tránh khỏi thì VHNT sẽ là hành lang pháp lý góp phần khắc phục, giải quyết chúng một cách hiệu quả và mang tính giáo dục cao

iv Tạo động lực cho sự phát triển của nhà trường

Trong những năm gần đây, các trường cao đẳng, đại học đã và đang chịu áp lực ngày càng tăng khi phải thích nghi với những thay đổi nhanh chóng của xã hội, công nghệ và kinh tế Điều này đòi hỏi các trường cao đẳng kỹ thuật công nghiệp phải có những chuyển biến cơ bản trong tổ chức, nghiên cứu, đào tạo và quản lý Sự thay đổi đó không chỉ ở cơ chế và quy trình quản lý mà còn ưu tiên trong việc thay đổi văn hóa Sự thay đổi đó phải giữ gìn được bản sắc truyền thống, đảm bảo sự ổn định, đồng thời phải phù hợp với những giá trị cốt lõi, sứ mạng và tầm nhìn của nhà trường Tập hợp các yếu

tố trên, VHNT đã làm tăng hiệu quả các hoạt động trong nhà trường, trên cơ sở đó tạo nên những phẩm chất đặc trưng khác biệt trong tổ chức nhà trường, tạo niềm tin cho xã hội khi thực hiện chức năng giáo dục, đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội

1.3.4 Các thành tố của văn hóa nhà trường Cao đẳng Sư phạm

1.3.4.1 Một số cách phân nhóm các thành tố cơ bản của văn hóa nhà trường

Có nhiều cách phân nhóm các thành tố cơ bản của VHNT, sau đây là một số cách phân nhóm được nhiều người thừa nhận và mang tính điển hình:

Trang 39

- Vai trò của nhân viên

- Những điều cấm kị

Nhận xét: Cách phân nhóm các thành tố VHNT của Terence E Deal và Kent

D Peterson đã có cách nhìn cụ thể một cách rõ nét, song chưa đề cập một cách đầy đủ các thành tố của VHNT, nó thiên về các giá trị tinh thần trong khi các giá trị vật chất, những biểu tượng hiện hữu trong nhà trường cũng là những thành tố quan trọng trong VHNT hiện nay

b) Phân nhóm các thành tố cơ bản của văn hoá nhà trường của Edgar Henry Schein

(Mô hình tảng băng)

Theo Edgar Henry Schein, văn hóa nhà trường bao gồm nhiều lớp tương ứng với nhiều thành phần của một thể thống nhất như sau [74]

- Lớp bề mặt: Những quá trình và cấu trúc hữu hình, đó là những cái có thể

nhìn thấy, dễ cảm nhận khi tiếp xúc với một tổ chức nhà trường Những yếu tố này có thể được phân chia như sau: Phong cách thiết kế kiến trúc xây dựng, cơ sở vật chất, trang thiết bị, các vật dụng, logo, biểu trưng ; Cơ cấu tổ chức bộ máy, cơ chế điều hành hoạt động; những thực thể vô hình như: triết lý, nguyên tắc, phương pháp, phương châm giải quyết vấn đề, hệ thống thủ tục, quy định; các chuẩn mực hành vi như: Nghi thức các hoạt động sinh hoạt tập thể, cách thức tổ chức các hội nghị, ngày

lễ, các hoạt động văn nghệ, thể thao, cách ăn mặc; các hình thức sử dụng ngôn ngữ như: các băng rôn, khẩu hiệu, ngôn ngữ xưng hô, giao tiếp

- Lớp tiếp theo: Hệ thống giá trị được tuyên bố, đó là các chiến lược, mục tiêu,

giá trị cốt lõi, các bộ quy tắc ứng xử thành văn, các cam kết, quy định Những giá trị này cũng có tính hữu hình vì người ta có thể dễ nhận biết và diễn đạt chúng một cách chính xác, rõ ràng Chúng thực hiện chức năng hướng dẫn, định hướng và là tài liệu đầu tiên diễn tả về một tổ chức

- Lớp sâu nhất: Những quan niệm chung, đó là những niềm tin, nhận thức, suy

nghĩ và tình cảm có tính vô thức, mặc nhiên và ngầm định Các ngầm định nền tảng

Trang 40

thường là những suy nghĩ và trạng thái cảm xúc đã ăn sâu vào tiềm thức mỗi cá nhân

và tạo thành một nét chung trong tập thể tổ chức Những ngầm định này thường là những quy ước bất thành văn đương nhiên tồn tại và tạo mạch ngầm kết dính mỗi thành viên trong tổ chức tạo nên nền tảng giá trị, lối suy nghĩ, cách hành động của họ

Vì vậy, bản chất của văn hoá nhà trường là nằm ở những quan niệm chung của chúng Nếu nhận biết văn hoá của một nhà trường ở cấp độ một và hai thì mới tiếp cận nó

ở bề nổi tức là có khả năng suy đoán các thành viên của tổ chức đó "nói gì" trong một tình huống nào đó Chỉ khi nào nắm được lớp văn hoá thứ ba chúng ta mới có khả năng

dự báo họ sẽ "làm gì" khi vận dụng những giá trị này vào thực tiễn

Sơ đồ 1.1: Mô hình tảng băng văn hoá nhà trường Nhận xét: Cách phân nhóm các thành tố cơ bản của văn hoá nhà trường của

Edgar Henry Schein (Mô hình tảng băng) đã đề cập tương đối đầy đủ các thành tố

VHNT, giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể một cách sâu sắc về VHNT Song, chưa

đề cập đến yếu tố con người một cách cụ thể Đặc biệt chưa đề cập đến các yếu tố về

cơ sở vật chất, truyền thống văn hóa trong nhà trường.v.v

Ngày đăng: 07/03/2018, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w