Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)Quản lý nhà nước về thu bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM QUỐC THUẬT
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM QUỐC THUẬT
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THẮNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ Quản lý công “Quản lý nhà nước về thu
BHXH bắt buộc trên địa bàn Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh” là công
trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu trong luận văn là trung thực có nguồn gốc rõ ràng
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2018
Tác giả
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn Thạc sĩ này, tôi đã nhận được nhiều sự
hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ cơ quan, tổ chức và cá nhân
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy Cô Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tâm giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức quản lý hành chính nhà nước quý báu để tôi có thể áp dụng vào thực tiễn công tác
Đặc biệt, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy TS Nguyễn Thắng, người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội quận Gò Vấp, đồng nghiệp và gia đình, bạn bè đã luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 01 năm 2018
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT IV DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢNG, SƠ ĐỒ V
MỞ ĐẦU 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 14
1.1 Cơ sở lý luận về BHXH 14
1.1.1 Khái niệm BHXH 14
1.1.2 Đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH 14
1.1.3 Đặc điểm của BHXH 16
1.1.4 Vai trò của BHXH 17
1.1.5 Chức năng của BHXH 19
1.1.6 Nguyên tắc của BHXH 19
1.1.7 Các chế độ BHXH 21
1.2 Quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc 21
1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc 21
1.2.2 Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc 23
1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc 25
1.2.4 Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá công tác quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc 32
1.2.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc 34
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc của các nước trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam 36
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc của các nước trên thế giới 36
1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc của một số địa phương 43
1.3.3 Bài học từ kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc 45
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 48
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU BHXH BẮT
BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP 49
2.1 Khái quát về tình hình kinh tế - xã hội quận Gò Vấp 49
2.2 Giới thiệu về Bảo hiểm xã hội quận Gò Vấp 51
2.2.1 Vị trí, chức năng 51
2.2.2 Nhiệm vụ, quyền hạn 51
2.2.3 Cơ cấu tổ chức 53
2.3 Thực trạng quản lý nhà nước về thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp 54
2.3.1 Cơ sở pháp lý 54
2.3.2 Tình hình đơn vị và lao động tham gia BHXH bắt buộc 55
2.3.3 Tỷ lệ nợ đóng BHXH bắt buộc 61
2.3.4 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH bắt buộc 62
2.3.5 Tỷ lệ đơn vị được thanh tra, kiểm tra 64
2.3.6 Tình hình khởi kiện đơn vị và thu hồi nợ 65
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp 67
2.4.1 Những kết quả đạt được 67
2.4.2 Những mặt còn hạn chế 70
2.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế 71
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 75
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THU BHXH BẮT BUỘC TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN GÒ VẤP 76
3.1 Cơ sở dự báo xu hướng phát triển của BHXH quận Gò Vấp trong những năm tới 76
3.1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước ta về chính sách ASXH 76
3.1.2 Chiến lược phát triển ngành BHXH Việt Nam đến năm 2020 77
3.1.3 Sự phát triển nền kinh tế nước ta giai đoạn 2016-2020 78
3.2 Dự báo công tác thu BHXH bắt buộc tại quận Gò Vấp 80
Trang 73.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa
bàn quận Gò Vấp 81
3.3.1 Công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH bắt buộc 81
3.3.2 Tăng cường công tác đôn đốc, quản lý nợ, thanh tra, kiểm tra và khởi kiện 83
3.3.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng và tổ chức, xây dựng đội ngũ viên chức 84
3.3.4 Công tác tuyên truyền 85
3.3.5 Cải cách về thủ tục hành chính 88
3.3.6 Phát triển hệ thống CNTT của ngành 89
3.4 Kiến nghị 90
3.4.1 Đối với Quốc hội 90
3.4.2 Đối với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam 91
3.4.3 Bảo hiểm xã hội Việt Nam và BHXH Tp Hồ Chí Minh 91
3.4.4 Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 94
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 95
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 101
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASXH An sinh xã hội
2 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
3 BHXH Bảo hiểm xã hội
4 BHYT Bảo hiểm y tế
5 CNTT Công nghệ thông tin
6
CPF Central Provident Fund Board Singapore, còn
gọi là Quỹ phòng xa Trung ƣơng Singapore
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, BẢNG, SƠ ĐỒ DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc tại Đức 37
Biểu đồ 1.2 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc của chủ SDLĐ tại Đức 38
Biểu đồ 1.3 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc của NLĐ tại Đức 38
Biểu đồ 1.4 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc tại Mỹ 39
Biểu đồ 1.5 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc của chủ SDLĐ tại Mỹ 40
Biểu đồ 1.6 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc của NLĐ tại Mỹ 40
Biểu đồ 1.7 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc tại Singapore 41
Biểu đồ 1.8 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc của chủ SDLĐ tại Singapore 42
Biểu đồ 1.9 Tỷ lệ thu BHXH bắt buộc của NLĐ tại Singapore 42
Biểu đồ 2.1 Tổng hợp đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc từ năm 2012-2016 57
Biểu đồ 2.2 Tổng hợp số đơn vị và số lao động tham gia mới BHXH bắt buộc từ năm 2012-2016 58
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ nợ BHXH bắt buộc từ năm 2012-2016 62
Biểu đồ 2.4 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH bắt buộc từ năm 2012-2016 63
Biểu đồ 2.5 Tình hình đơn vị đƣợc thanh tra, kiểm tra từ năm 2012 - 2016 65
Biểu đồ 2.6 Tỷ lệ thu hồi nợ BHXH từ các đơn vị bị khởi kiện từ năm 2012-2016
67
DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1 Tổng hợp đối tƣợng tham gia BHXH bắt buộc theo khối từ năm 2012-2016 55
Bảng 2.2 Tổng hợp số đơn vị và số lao động tham gia mới BHXH bắt buộc từ năm 2012-2016 58
Bảng 2.3 Tình hình các DN tham gia BHXH từ năm 2012 - 2016 60
Bảng 2.4 Tình hình lao động tham gia BHXH từ năm 2012-2016 60
Bảng 2.5 Tình hình nợ BHXH bắt buộc từ năm 2012 - 2016 61
Bảng 2.6 Tình hình thực hiện kế hoạch thu BHXH từ năm 2012 - 2016 63
Trang 10Bảng 2.7 Tình hình đơn vị đƣợc thanh tra, kiểm tra từ năm 2012-2016 64 Bảng 2.8 Tình hình khởi kiện đơn vị nợ BHXH từ năm 2012-2016 66
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Bộ máy tổ chức của BHXH quận Gò Vấp 53
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
BHXH là trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, vì vậy việc hoàn thiện chính sách BHXH đóng vai trò to lớn trong việc góp phần đảm bảo an sinh xã hội Đối với nước ta, bảo đảm ngày càng tốt hơn hệ thống an sinh xã hội luôn là chủ trương, nhiệm vụ lớn của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ nước ta
và có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự ổn định chính trị – xã hội và phát triển bền vững của đất nước Tuy nhiên, theo dự báo của Tổ chức Lao động Thế giới (International Labour Organization - ILO) với các chính sách hiện hành, thì đến năm 2021 Quỹ BHXH của Việt Nam sẽ bị mất cân đối thu - chi, buộc phải lấy nguồn kết dư để chi trả Và đến năm 2034, quỹ lương hưu sẽ hoàn toàn cạn kiệt, khi
đó NLĐ sẽ không được nhận lương hưu, không được giải quyết các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Những nguyên nhân làm mất cân đối thu - chi có thể kể đến như: tỷ lệ thu còn thấp so với mức chi, quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng BHXH còn mất cân đối, mức đóng chưa tương xứng với mức hưởng Tính đến hết ngày 30/11/2016, nợ BHXH trên cả nước là 10.135 tỷ đồng, chiếm 77,16% tổng số nợ [15]
Tại Quận Gò Vấp, tình hình khai thác đối tượng mới tham gia BHXH bắt buộc có chiều hướng gia tăng, tuy nhiên tăng không đều qua các năm, tỷ lệ tham gia còn thấp Một số nguyên nhân chủ yếu như: nhận thức của một số chủ SDLĐ, NLĐ
về lĩnh vực BHXH còn hạn chế; tính tuân thủ pháp luật chưa cao; công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về BHXH chưa được đẩy mạnh và chưa đem lại hiệu quả cao
Tình hình DN tham gia BHXH trên địa bàn quận còn thấp, dưới 50% số DN đang hoạt động trên địa bàn Số DN chưa tham gia tập trung chủ yếu ở những DN ngoài quốc doanh và có quy mô nhỏ Tình hình NLĐ tham gia BHXH mới chỉ đạt 71,5% số NLĐ đang làm việc trên địa bàn Nguyên nhân là do có nhiều đơn vị không đăng ký tham gia BHXH cho NLĐ hoặc có tham gia nhưng không tham gia đúng số lượng lao động thực tế; lợi dụng kẽ hở của pháp luật các DN cố tình ký hợp
Trang 12đồng thời vụ dưới 3 tháng, ký hợp đồng cộng tác viên hoặc kéo dài thời gian thử việc, học việc không ký hợp đồng lao động
Tình trạng trốn đóng, nợ BHXH ngày càng trở lên phổ biến Theo thống kê,
từ năm 2012-2016, số nợ BHXH tại quận Gò Vấp có chiều hướng gia tăng Cụ thể năm 2012 số nợ là hơn 16 tỷ đồng chiếm 3,97%, trong vòng 5 năm số nợ BHXH đã tăng lên gấp đôi hơn 36 tỷ chiếm 4,3% Tình tạng trốn đóng, nợ BHXH không chỉ gây thiệt hại về vật chất mà còn ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của NLĐ, dẫn đến không giải quyết được các chế độ cho NLĐ Nguyên nhân, ý thức chấp hành pháp luật của chủ SDLĐ chưa cao, do DN còn nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh và do công tác khởi kiện các DN nợ đọng BHXH ra tòa chưa hiệu quả
Tình hình đơn vị được thanh tra, kiểm tra tren địa bàn thấp (dưới 10% số DN đang hoạt động trên địa bàn) Năm 2012 chỉ tiến hành thanh tra, kiểm tra ở 125 đơn
vị chiếm 3,28%, đến năm 2016, thanh tra, kiểm tra tại 493 DN chiếm 7,48%
Tình hình khởi kiện và thu hồi nợ chưa mang lại hiệu quả cao, 4 tháng đầu năm 2016 số đơn vị bị khởi kiện lên đến 44 DN số tiền thu hồi nợ được 2,050 tỷ đồng, đạt tỷ lên 59%
Qua thực trạng trên cho thấy thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp chưa đem lại hiệu quả, các hành vi vi phạm về lĩnh vực BHXH hiện nay đang có chiều hướng ngày càng gia tăng, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ trong việc giải quyết các chế độ BHXH, ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội, đặc biệt làm giảm niềm tin của NLĐ vào các chính sách của Đảng và Nhà nước
Chính vì thế việc nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước về thu Bảo hiểm
xã hội bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh” mang tính
thiết thực hiện nay nhằm đưa ra những giải pháp giảm nguy cơ vỡ quỹ BHXH, tăng cường công tác quản lý nhà nước về thu BHXH như: mở rộng đối tượng tham gia BHXH, thu đủ, thu đúng đối tượng, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giảm
nợ đọng
Trang 132 Tình hình nghiên cứu đề tài
BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước nên trong thời gian qua đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước về BHXH đã thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu đã được thực hiện như:
+ Luận án Tiến sĩ: “Hoàn thiện cơ chế thu BHXH ở Việt Nam, Phạm Trường Giang (2010)” Nội dung của luận án đề cập đến mô hình tổ chức của cơ quan BHXH Việt Nam, chức năng, vị trí của bộ phận thu trong cơ quan BHXH Trên cơ sở phân tích thực trạng cơ chế thu của BHXH ở Việt Nam, trong đó tác giả
đi sâu vào phân tích các nội dung: quy định về thu BHXH, tổ chức thực hiện thu BHXH, sự phối hợp giữa các bộ phận trong hệ thống thu BHXH và đánh giá những kết quả và hạn chế cũng như những nguyên nhân của hạn chế Từ đó tác giả đã đưa
ra những định hướng phát triển của BHXH Việt Nam đến năm 2020, đưa ra một số
dự báo thu BHXH đến năm 2020 Dựa vào những định hướng và dự báo đó, tác giả
đã đưa ra một số giải pháp về hoàn thiện các quy định về thu BHXH; tăng cường quan hệ công chúng vào hoạt động xã hội; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; ứng dụng CNTT và cải cách hành chính Một số kiến nghị đối với Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chính phủ; Bộ LĐTB & XH; Tổ chức Công đoàn; Đại diện người SDLĐ
+ Luận án Tiến sĩ: “Đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam, Nguyễn Thị Hào (2015)” Nội dung của luận án đề cập đến những vấn đề lý luận về BHXH, tài chính BHXH; một số vấn đề về đảm bảo tài chính cho BHXH; kinh nghiệm của một
số nước trên thế giới về đảm bảo tài chính cho BHXH và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Trên cơ sở phân tích thực trạng đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam, tác giả đã đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân Từ
đó, tác giả đã đưa ra một số các giải pháp nhằm đảm bảo tài chính cho BHXH Việt Nam như: tăng cường vai trò của Nhà nước đối với BHXH; thực hiện đúng quy định về thu, chi BHXH; thực hiện công bằng đối với các đối tượng tham gia BHXH; đảm bảo quỹ BHXH duy trì được sự cân đối, ổn định trong dài hạn; lựa
Trang 14chọn mô hình BHXH phù hợp với điều kiện của Việt Nam; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân về BHXH
+ Luận án Tiến sĩ: “Hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, Đỗ Văn Sinh (2005)” Nội dung luận án đề cập đến một số vấn đề có liên quan đến BHXH, quản lý quỹ BHXH và mô hình quản lý quỹ BHXH của một số nước trên thế giới Thông qua những phân tích, đánh giá thực trạng quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam, tác giả đã đưa ra những định hướng mang tính chiến lược lâu dài đối với hoạt động quản lý quỹ BHXH và các giải pháp hoàn thiện quản lý quỹ BHXH ở Việt Nam đến năm 2020 như: hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, giải pháp về công tác kiểm tra, giám sát đối với hoạt động quản lý quỹ BHXH, hoàn thiện nghiệp vụ quản lý quỹ BHXH
+ Luận văn Thạc sĩ: “Quản lý nhà nước đối với BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Phạm Thu Hường (2015)” Nội dung đề tài nghiên cứu thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước đối với BHXH bắt buộc trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; đánh giá đúng đắn thực trạng quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Từ đó rút ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân Dựa vào những hạn chế đó, tác giả đã đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc trên địa bàn Tỉnh trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, cụ thể: giải pháp về hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH bắt buộc; giải pháp về tăng cường công tác phối hợp trong việc quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc; giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngành BHXH tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; giải pháp về tăng cường thanh tra, kiểm tra về BHXH bắt buộc; giải pháp về quy định chặt chẽ chế tài xử lý vi phạm BHXH bắt buộc; giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền Một số kiến nghị đối với
cơ quan cấp trên và cơ quan hữu quan
+ Luận văn Thạc sĩ: “Quản lý tài chính BHXH trên địa bàn tỉnh Đồng Nai”, Phạm Minh Thành (2010) Nội dung đề tài nghiên cứu về thực tiễn của hoạt động BHXH và quản lý tài chính BHXH trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; đánh giá đúng đắn thực trạng quản lý thu, chi BHXH Đồng Nai Từ đó rút ra những kết quả đạt được
Trang 15và tồn tại và kết quả quả đó, tác giả đã đề ra các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong điều kiện hội nhập kinh
tế khu vực và thế giới, cụ thể : giải pháp về tăng cường thu và quản lý thu BHXH; giải pháp về tăng cường quản lý chi BHXH; giải pháp về cải cách hành chính; giải pháp dự báo tài chính BHXH; giải pháp điều kiện cần thiết để tăng cường công tác quản lý tài chính BHXH Một số kiến nghị đối với cơ quan cấp trên và cơ qun hữu quan
+ Luận văn Thạc sĩ: “Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ đọng BHXH, trường hợp thành phố Hồ Chí Minh”, Nông Thị Luyến (2013) Nghiên cứu đã tìm ra 6 nhân
tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đó đến nợ đọng và trốn đóng BHXH theo thứ tự từ lớn nhất đến nhỏ nhất là: cơ chế xử lý nợ đọng, trốn đóng; chiếm dụng tiền đóng BHXH; chất lượng dịch vụ cơ quan BHXH; nhận thức của người SDLĐ về chính sách BHXH; tình hình kinh doanh của đơn vị; nội dung chính sách Từ đó, tác giả đưa ra 5 giải pháp thực hiện và kiến nghị đối với Chính phủ, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, BHXH Việt Nam và BHXH Tp Hồ Chí Minh nhằm giảm thiểu tình trạng nọ đọng, trốn đóng BHXH
+ Luận văn Thạc sĩ: “Biện pháp quản lý và chống thất thu BHXH trên địa bàn quận 12, thành phố Hồ Chí Minh”, Nguyễn Thị Kim Nga (2007) Nghiên cứu
đã đưa ra một số nhóm giải pháp về các quy định của pháp luật về chủ trương, chính sách BHXH; các biện pháp đối với cơ quan BHXH, đối với DN nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu BHXH và chống thất thu
Đến thời điểm này, có rất nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý thu BHXH, tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2012 đến năm
Trang 16Vấp Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc;
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn Quận Gò Vấp, Tp.HCM;
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
4 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, Tp.HCM
5 Phạm vi nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của luận văn hướng đến loại hình BHXH bắt buộc, không bao gồm BHXH tự nguyện, bảo hiểm y tế Số liệu phân tích trong luận văn tập trung vào giai đoạn từ năm 2012-2016
6 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp định tính, tổng hợp số liệu để so sánh, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thu BHXH trên địa bàn quận Gò Vấp, TpHCM, dựa trên các số liệu thu BHXH bắt buộc được tổng hợp từ các Báo cáo tổng hợp thu BHXH tại BHXH quận Gò Vấp từ năm 2012 đến năm 2016 Ngoài ra, luận văn còn sử dụng, kế thừa kết quả nghiên cứu của một số công trình, bài viết, báo cáo, tài liệu có liên quan
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh
Luận văn còn có thể làm đề tài nghiên cứu trước cho các nghiên cứu sau này
có liên quan đến công tác quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
Trang 178 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Đề tài gồm 3 chương:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận chung về BHXH
+ Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp
+ Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc trên địa bàn quận Gò Vấp
Trang 18CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Cơ sở lý luận về BHXH
1.1.1 Khái niệm BHXH
Theo ILO: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng để đối phó với khó khăn về kinh tế xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm nhiều về thu nhập, gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già và chết, việc cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con.”
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, tập 1: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH,
có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống của NLĐ và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”
Theo Khoản 1, Điều 3 Luật BHXH năm 2014: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH”
Theo Khoản 2, Khoản 3, Điều 3 Luật BHXH năm 2014, có 2 loại hình BHXH:
+ BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà NLĐ và
người SDLĐ phải tham gia
+ BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham
gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất
1.1.2 Đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH
BHXH ra đời vào những năm giữa thế kỷ 19 khi mà nền công nghiệp và kinh
tế hàng hóa bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các nước châu Âu Từ năm 1883, ở nước
Trang 19phổ (CHLB Đức ngày nay) đã ban hành Đạo luật Bảo hiểm xã hội Một số nước châu Âu và Bắc Mỹ mãi đến cuối năm 1920 mới có đạo luật về BHXH mặc dù ra đời từ rất lâu Tuy nhiên, đối tượng của BHXH vẫn có nhiều quan điểm khác nhau gây tranh cãi, đôi khi còn có sự nhầm lẫn giữa đối tượng của BHXH và đối tượng tham gia BHXH
1.1.2.1 Đối tượng của BHXH
BHXH là một hệ thống bảo đảm khoản thu nhập bị giảm hoặc mất do giảm, mất khả năng lao động, mất việc làm vì có các nguyên nhân như ốm đau tai nạn, tuổi già Chính vì vậy, đối tượng của BHXH là phần thu nhập của NLĐ bị biến động hoặc giảm, mất đi do gặp phải những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ xảy ra
Đối tượng của BHXH không chỉ là các khoản thu nhập theo lương mà bao gồm các khoản thu nhập khác ngoài lương như: thưởng, phụ cấp… cho NLĐ có nhu cầu đóng góp thêm để được hưởng mức trợ cấp BHXH
1.1.2.2 Đối tượng tham gia BHXH
Đối tượng tham gia của BHXH là NLĐ và người SDLĐ Họ là những người trực tiếp tham gia đóng góp tạo nên quỹ BHXH với một khoản phần trăm nhất định
so với tiền lương của NLĐ theo quy định của luật BHXH Tuỳ theo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những NLĐ nào đó trong xã hội
Trong thời kỳ đầu khi triển khai BHXH, hầu hết các nước chỉ áp dụng đối với những người làm công ăn lương để đảm bảo mức đóng góp ổn định, đảm bảo an toàn quỹ BHXH Hiện nay, khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng NLĐ trong
và ngoài doanh nghiệp nhà nước tăng lên nhiều thì đối tượng tham gia BHXH và đối tượng của BHXH cũng được mở rộng Vì vậy, đối tượng tham gia của BHXH bao gồm:
+ Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH: NLĐ và người SDLĐ phải tham gia BHXH một cách bắt buộc với mức đóng và mức hưởng BHXH theo quy định của luật BHXH
Trang 20+ Đối tượng tự nguyện tham gia BHXH: Áp dụng cả với người làm công ăn lương và NLĐ không làm công ăn lương, rhường là do sự đóng góp của NLĐ cùng với sự giúp đỡ của ngân sách Nhà nước
1.1.3 Đặc điểm của BHXH
Thứ nhất, BHXH là hoạt động chia sẻ rủi ro của cộng đồng theo nguyên tắc
“số đông bù số ít” và nguyên tắc “tiết kiệm chi tiêu”:
+ Theo nguyên tắc “số đông bù số ít”: Rủi ro của một hoặc một số người sẽ được chia sẻ cho nhiều người tham gia BHXH cùng gánh chịu, đây là nguyên tắc mang tính đặc thù của hoạt động BHXH Theo cách đó, những rủi ro trong cuộc sống như: ốm đau, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, chết sớm là gánh nặng cho bản thân và gia đình của số ít những người không may sẽ trở nên nhẹ bớt khi được san sẻ cho nhiều người Nói cách khác, đó chính là sự thể hiện tính tương
hỗ của cộng đồng - những thành viên trong xã hội thông qua việc bù trừ rủi ro qua quỹ BHXH Nhờ điều này mà tính xã hội của BHXH đã được thể hiện rất rõ nét, đó
là cộng đồng chung tay góp lại để chăm lo cho những cá nhân không may gặp rủi
ro Vì vậy, BHXH muốn thật sự thành công thì phải đảm bảo được nguyên tắc này
và đòi hỏi phải thu hút được đông đảo NLĐ tham gia làm cho nguồn quỹ BHXH dồi dào thì khi NLĐ gặp rủi ro phần bồi hoàn nhờ đó sẽ có điều kiện tăng lên
+ Theo nguyên tắc “tiết kiệm chi tiêu”: Người tham gia BHXH phải “để dành” một khoản thu nhập bằng việc đều đặn đóng góp khoản “để dành” vào quỹ BHXH lúc có thu nhập để được hưởng trợ cấp lúc tạm thời hoặc vĩnh viễn mất khả năng lao động
Thứ hai, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập của các thành viên trong
xã hội theo chiều dọc và chiều ngang:
+ Phân phối lại theo chiều ngang chỉ thể hiện trong nội bộ những người được hưởng quyền trợ cấp Đó là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh và người ốm đau hoặc những người không may gặp tai nạn nghề nghiệp; giữa những người đang làm việc và người nghỉ việc; giữa những người chưa có con và những người có gánh nặng gia đình
Trang 21+ Phân phối lại thu nhập theo chiều dọc là sự chuyển giao tài sản, sức mua của những người có thu nhập cao cho những người có thu nhập thấp thông qua việc hình thành và sử dụng quỹ BHXH
Thứ ba, BHXH là thực thi chính sách xã hội, đảm bảo an toàn và hiệu quả
xã hội, không nhằm mục đích kinh doanh
+ Thay thế hoặc bù đắp những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu cho NLĐ và gia đình họ
+ Chăm sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật của bản thân NLĐ
+ Đảm bảo điều kiện sống tối thiểu để NLĐ không lâm vào túng quẫn, góp phần bảo đảm hạnh phúc gia đình và an toàn xã hội
Thứ tư, BHXH phải theo nguyên tắc có đóng, có hưởng, quyền lợi tương
ứng với nghĩa vụ, đảm bảo sự công bằng và bền vững của hệ thống BHXH Nguyên tắc có đóng, có hưởng thể hiện bản chất kinh tế của hoạt động bảo hiểm đó là NLĐ muốn được hưởng chế độ BHXH thì cần phải tự nguyện tham gia đóng góp vào quỹ BHXH theo quy định của pháp luật Nguyên tắc này biểu hiện tính minh bạch, công bằng, bình đẳng giữa các đối tượng tham gia đóng góp xây dựng quỹ bảo hiểm Nghĩa là, muốn được hưởng quyền lợi bảo hiểm trước hết phải là những người tham gia bảo hiểm, có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm, quỹ BHXH không chi trả chế độ trợ cấp cho người không tham gia đóng góp xây dựng quỹ,
Thứ năm, BHXH thực hiện phân phối trên cơ sở mức đóng góp vào quỹ
BHXH, tỷ lệ đóng góp và mức hưởng trợ cấp có mối quan hệ chặc chẽ với tiền lương (thu nhập) của người được hưởng bảo hiểm Ở hầu hết các nước trên thế giới, khoản đóng góp của NLĐ được tính theo tỷ lệ % với tiền lương của họ
1.1.4 Vai trò của BHXH
- Đối với NLĐ:
BHXH là một trong những chính sách an sinh - xã hội của Nhà nước, góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ khi gặp rủi ro, khắc phục những khó khăn thông qua các khoản trợ cấp được chi trả bằng nguồn quỹ BHXH Trong cuộc sống hàng ngày, khi NLĐ không may gặp rủi ro như thai sản, ốm đau, tai nạn lao động, bệnh
Trang 22nghề nghiệp, già yếu hay tử tuất - những rủi ro luôn rình rập NLĐ ở khắp mọi lúc mọi nơi Đặc biệt, khi xã hội ngày càng phát triển thì những rủi ro này sẽ xảy ra càng nhiều hơn, khi rủi ro xảy ra làm tinh thần và nguồn thu nhập của NLĐ cũng sẽ
bị giảm sút Lúc này, dựa trên cơ sở mức đóng BHXH mà trước đó NLĐ đã đóng góp vào quỹ BHXH, cơ quan BHXH sẽ góp phần ổn định đời sống của NLĐ bằng cách thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị giảm sút hoặc mất đi, tạo cho NLĐ điều kiện thuận lợi giúp họ ổn định phần nào cuộc sống và yên tâm công tác Hoặc khi NLĐ hết tuổi lao động, họ không thể đi làm để kiếm thêm thu nhập thì BHXH dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng sẽ chi trả tiền lương hưu cho NLĐ theo tỷ lệ quy định hiện hành của Nhà nước đến khi chết
- Đối với người SDLĐ:
Trường hợp NLĐ không may gặp tai nạn rủi ro, ốm đau, thai sản nguồn thu nhập bị giảm sút thì BHXH sẽ thay đơn vị SDLĐ trả một khoản tiền trợ cấp trong khoảng thời gian NLĐ không đi làm tạm thời Như vậy, BHXH đã góp phần làm giảm gánh nặng cho đơn vị khi NLĐ không đi làm việc và nhờ đó còn giúp NLĐ có điều kiện nhanh chóng quay trở lại tham gia vào quá trình sản xuất
- Đối với xã hội:
Với tư cách là một trong những chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước, hoạt động BHXH đem lại sự an toàn và hiệu quả cho xã hội, đặc biệt trong việc phục hồi năng lực làm việc, khả năng sáng tạo của sức lao động Hệ thống BHXH phát triển sẽ hỗ trợ cho thị trường lao động phát triển tốt hơn từ đó đảm bảo quyền lợi về an sinh xã hội cho NLĐ, giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước trong việc hỗ trợ người cao tuổi không có thu nhập từ lương
BHXH đã thực hiện việc phân phối giữa những người có thu nhập cao với những người có thu nhập thấp; giữa những người khỏe mạnh, có việc làm với những người không may gặp tai nạn rủi ro, bị mất việc làm Nhờ đó, BHXH đã góp phần quan trọng làm giảm bớt khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, góp phần đảm bảo thực hiện công bằng xã hội, đồng thời góp phần bảo đảm an ninh quốc gia
Trang 23- Đối với nền kinh tế:
Khi NLĐ gặp rủi ro đã có cơ quan BHXH chi trả các khoản trợ cấp, do vậy không làm ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Bên cạnh đó, với vị trí là một quỹ tiền tệ tập trung, hoạt động đầu tư quỹ BHXH tác động không nhỏ đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội góp phần tạo ra những cơ sở sản xuất kinh doanh mới, việc làm mới, tạo công ăn việc làm, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp, tăng thu nhập cá nhân cho NLĐ nói riêng và tăng tổng sản phẩm quốc nội cũng như tổng sản phẩm quốc dân nói chung
- Gắn lợi ích giữa người SDLĐ, NLĐ và Nhà nước
- Đảm bảo an toàn xã hội, gắn NLĐ với xã hội
1.1.6 Nguyên tắc của BHXH
BHXH ra đời như một thực tế khách quan, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà theo những nguyên tắc đã được quy định trong văn bản pháp luật Nội dung cụ thể trong từng Chương, Điều của Luật phải đảm bảo tuân thủ thủ và thể hiện được những nguyên tắc cơ bản đã được quy định Năm nguyên tắc của BHXH được quy định tại Điều 5, Luật BHXH năm 2014 như sau:
Một, mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng
BHXH và có chia sẻ giữa những người tham gia BHXH
Nguyên tắc này được thể hiện trên các mặt sau: có đóng BHXH thì được hưởng chế độ; thời gian tham gia đóng BHXH nhiều, mức đóng góp cao thì mức trợ cấp ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, lương hưu, trợ cấp tử tuất
và trợ cấp thất nghiệp được hưởng với mức cao và ngược lại Nguyên tắc chia sẻ của BHXH được thể hiện ở tất cả các chế độ, nhưng rõ nét nhất là ở các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và trợ cấp thất nghiệp
Trang 24Hai, mức đóng BHXH bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của
NLĐ Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do NLĐ lựa chọn
Theo nguyên tắc này, nếu người lao động tham gia BHXH bắt buộc thì phải đóng BHXH theo một mức xác định sẵn còn nếu tham gia BHXH tự nguyện thì đóng BHXH theo mức mà người đó lựa chọn
Ba, NLĐ vừa có thời gian đóng BHXH bắt buộc vừa có thời gian đóng
BHXH tự nguyện được hưởng chế độ hưu trí và chế độ tử tuất trên cơ sở thời gian
đã đóng BHXH Thời gian đóng BHXH đã được tính hưởng BHXH một lần thì không tính vào thời gian làm cơ sở tính hưởng các chế độ BHXH
Với nguyên tắc này, giữa BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện có sự liên thông, đảm bảo cho người tham gia BHXH khi hết tuổi lao động có nhiều cơ hội được hưởng chế độ hưu trí do thời gian đóng BHXH được tính bằng tổng thời gian đóng BHXH của 2 loại hình Tuy nhiên theo quy định của Luật BHXH thì trong cùng một thời điểm, người lao động chỉ được tham gia đóng BHXH bắt buộc hoặc BHXH tự nguyện
Bốn, Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, dân chủ, công khai,
minh bạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thành phần Các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định
và chế độ tiền lương do người SDLĐ quy định
Nguyên tắc này quy định quỹ BHXH được quản lý thống nhất và hạch toán theo các quỹ thành phần trên cơ sở công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích nhằm đảm bảo cho việc quản lý, đầu tư quỹ có hiệu quả và phục vụ cho công tác hạch toán, đánh giá tình hình cân đối quỹ để có điều chỉnh về chính sách cho phù hợp, đảm bảo cân đối thu – chi, điều chỉnh kịp thời khi các quỹ thành phần tạm thời
bị mất cân đối, không ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH
Năm, Việc thực hiện BHXH phải đơn giản, dễ dàng, thuận tiện, bảo đảm kịp
thời và đầy đủ quyền lợi của người tham gia BHXH
Trang 25Với nguyên tắc này, việc thực hiện BHXH đối với NLĐ phải được nghiên cứu để quy định cụ thể về hồ sơ, quy trình, thời hạn giải quyết sao cho phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho NLĐ, người SDLĐ khi tham gia BHXH và khi giải quyết hưởng các chế độ BHXH
1.1.7 Các chế độ BHXH
Theo Công ước 102 của ILO, có 9 chế độ BHXH bao gồm: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp thai sản, trợ cấp tàn tật và trợ cấp tử tuất (trợ cấp mất người nuôi dưỡng) [32]
Công ước cũng nêu rõ: Những nước phê chuẩn công ước này phải áp dụng tối thiểu 3 chế độ, trong đó phải áp dụng một trong các chế độ: trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, trợ cấp tàn tật hoặc trợ cấp tử tuất Việc áp dụng bảo hiểm xã hội trên của quốc gia khác nhau thường cũng rất khác nhau về nội dung thực hiện tùy thuộc vào nhu cầu bức bách của riêng từng nơi trong việc đảm bảo cuộc sống của người lao động, ngoài ra, còn tùy thuộc vào khả năng tài chính và khả năng quản lý có thể đáp ứng
Việt Nam tuy chưa phê chuẩn Công ước 102 nói trên, nhưng thực tế đã lần lượt áp dụng hầu hết các chế độ quy định trong Công ước
Theo Khoản 1, Điều 4 Luật BHXH năm 2014 quy định các chế độ của BHXH bắt buộc bao gồm: Chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
Theo Khoản 2, Điều 4 Luật BHXH năm 2014 quy định các chế độ của BHXH tự nguyện bao gồm: Chế độ hưu trí và chế độ tử tuất
1.2 Quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
1.2.1 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về BHXH bắt buộc
1.2.1.1 Xuất phát từ đòi hỏi của sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa
Đường lối phát triển kinh tế của đất nước đã được Đảng ta khởi xướng từ Đại hội VI, tiếp tục được khẳng định qua các Đại hội VII, VIII, IX và Đại hội X Đó là
Trang 26đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước
Trong những năm qua, nền kinh tế thị trường ở nước ta đang được hình thành một cách rõ nét, sự phát triển của các thành phần kinh tế trở nên mạnh mẽ Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế thì nhà nước đóng vai trò quan trọng giúp cho mục tiêu phát triển kinh tế không đi chệch mục tiêu xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng và phức tạp của nền kinh tế thị trường đã đặt ra nhiều thách thức như: sự lựa chọn, đào thải lao động của thị trường dẫn đến mất việc làm và thất nghiệp của NLĐ; sự biến động phức tạp của thị trường và sản xuất kinh doanh khiến NLĐ gặp phải những rủi ro ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ngày một gia tăng Để bảo vệ lợi ích của NLĐ, nhà nước ta cần tăng cường vai trò quản lý của mình đối với chính sách hỗ trợ khi NLĐ gặp các rủi ro trên – chính sách BHXH Trong đó, việc tăng cường quản lý nhà nước đòi hỏi vừa quản lý, vừa kiểm soát được các hoạt động BHXH nhưng không làm hạn chế sự phát triển của xã hội nói chung và phải tạo điều kiện cho sự phát triển của xã hội Trong đó, vấn đề quản lý hoạt động BHXH phải được tiến hành gắn liền với sự phát triển kinh tế, hài hoà với tiến bộ và công bằng xã hội Điều đó có nghĩa là vấn đề tăng cường quản lý nhà nước không chỉ nhằm vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
mà còn nhằm vào việc đảm bảo tiến bộ và công bằng xã hội Vì vậy, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là một yêu cầu cấp bách, tất yếu, khách quan đặt ra từ chính đòi hỏi của nền kinh tế thị trường
1.2.1.2 Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân
Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần phải xây dựng và hoàn thiện hệ thống tổ chức của các cơ quan nhà nước Vì vậy, tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH là một mục tiêu nhằm thực hiện yêu cầu xây dựng nhà nước của dân,
do dân và vì dân Việc tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH với mục đích tạo ra một cơ chế, chính sách công bằng, dân chủ đáp ứng nguyện vọng
Trang 27của đại đa số người lao động, đòi hỏi của xã hội, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ khi tham gia BHXH
Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động BHXH nhằm xác định rõ trách nhiệm của người SDLĐ và NLĐ trong việc đóng quỹ BHXH và trách nhiệm của nhà nước đối với hoạt động BHXH Thông qua hệ thống luật BHXH làm phương tiện để nhà nước quản lý, tổ chức thực hiện và kiểm tra giám sát để mọi quan hệ BHXH hình thành, vận động và phát triển nhằm đạt mục tiêu vì lợi ích của nhân dân lao động, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động như đúng bản chất vốn có của Nhà nước Việt Nam
1.2.1.3 Xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
Hội nhập kinh tế khu vực và kinh tế toàn cầu sẽ tác động mạnh mẽ tới toàn
bộ chính sách, pháp luật của Việt Nam, mà trước hết trước hết là chính sách pháp luật về nhập khẩu, về đầu tư nước ngoài Theo đó, nhiều lĩnh vực, nhiều tổ chức và
cá nhân trong nước đều bị lôi cuốn tham gia vào quá trình này như dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ kỹ thuật, công nghệ Bên cạnh đó, điều kiện cơ sở hạ tầng, sử dụng lao động, việc làm, tiền công, BHXH, an toàn lao động cũng cần phải được quan tâm cải thiện, nâng cao chất lượng tạo thuận lợi cho phát triển
Lĩnh vực BHXH cũng không nằm ngoài tiến trình đó Luật BHXH cần được hoàn thiện song song với việc tổ chức thực hiện các hoạt động BHXH một cách nhất quán, đồng bộ nhằm theo kịp trình độ của các nước trong khu vực và quốc tế, đồng thời thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế
1.2.2 Khái niệm và vai trò của quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
1.2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của các cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và quy luật khách quan
Thu BHXH là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình bắt buộc các đối tượng đóng BHXH theo mức phí quy định hoặc cho phép một số đối tượng được tự
Trang 28nguyện tham gia, lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình Trên cơ sở đó hình thành một quỹ tiền tệ tập trung nhằm chi trả cho các hoạt động của BHXH
Quản lý nhà nước về thu BHXH là tác động có định hướng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý trong hoạt động thu BHXH Chủ thể quản lý là các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về BHXH và đối tượng quản lý là các doanh nghiệp
và NLĐ tham gia đóng BHXH nhằm đạt được mục tiêu đề ra Trên cơ sở là các quy định về quản lý thu để xác nhận chính xác số lao động, số tiền phải thu, số tiền đã nộp, số tiền lãi, số tiền nợ, số tiền nộp thừa của NLĐ, đồng thời theo dõi mức đóng BHXH của NLĐ từng thời điểm và kiểm tra việc chấp hành các quy định khác của Nhà nước về thu BHXH
1.2.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
Trong hệ thống BHXH, hoạt động thu BHXH được xem là trụ cột vì thu đóng góp từ NLĐ và người SDLĐ là nguồn thu chủ yếu và quan trọng nhất cho quỹ BHXH - quỹ này độc lập với Ngân sách Nhà nước và để việc thực hiện được các chính sách BHXH được thuận lợi hay không đều phụ thuộc vào nguồn quỹ này nhiều hay ít Khi NLĐ khi tham gia BHXH thì phải đóng góp một khoản vào quỹ BHXH, điều này là một tất yếu vì dựa trên nguyên tắc có đóng có hưởng, cơ quan BHXH sẽ căn cứ vào mức đóng làm cơ sở để tính ra mức hưởng khi giải quyết các chế độ có liên quan đến NLĐ
Đối tượng của thu BHXH còn là tiền nên khả năng xảy ra những sai phạm trong công tác thu gây thất thu cho quỹ BHXH là rất lớn Bên cạnh đó, thu BHXH phải đảm bảo nguyên tắc thu đúng đối tượng, thu đủ theo quy định của pháp luật hiện hành: rõ ràng, minh bạch nhằm đảm bảo tính công bằng và quyền lợi giữa những người cùng tham gia BHXH
Với vị trí trụ cột có thể thấy được tầm quan trọng của công tác thu trong hệ thống BHXH và để đạt hiệu quả thì việc quản lý thu như thế nào là một nhiệm vụ khó khăn đối với toàn ngành BHXH Yêu cầu đặt ra là phải có quy định quản lý thu chặt chẽ, hợp lý, khoa học và thống nhất trong cả hệ thống BHXH
Trang 291.2.3 Nội dung quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
1.2.3.1 Quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Theo Khoản 1, Điều 38 Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về Quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN; Quản lý sổ BHXH, BHYT đã đề cập đến quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, BHYT, BHTN nhưng trong phạm vi nghiên cứu của luận này, tác giả chỉ
đi sâu vào phân tích quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc
Để thực hiện công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH bắt buộc thì, BHXH tỉnh, huyện có trách nhiệm:
+ Lập danh sách các đơn vị trên địa bàn; thông báo, hướng dẫn đơn vị kịp thời đăng ký tham gia, đóng đủ BHXH cho NLĐ theo quy định của pháp luật
+ Định kỳ 3 tháng hoặc đột xuất, báo cáo UBND cùng cấp, cơ quan quản lý lao động địa phương tình hình chấp hành pháp luật về BHXH của các đơn vị trên địa bàn Các trường hợp đơn vị vi phạm pháp luật về đóng BHXH: không đăng ký tham gia hoặc đăng ký đóng BHXH không đủ số lao động, không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật, cơ quan BHXH lập biên bản, kiến nghị xử lý theo quy định
NLĐ có đồng thời từ 02 Hợp đồng lao động trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH theo Hợp đồng lao động giao kết đầu tiên
NLĐ làm việc theo Hợp đồng lao động trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước nếu thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm
và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) NLĐ thực hiện chế độ tiền lương do đơn vị quyết định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương tháng đóng BHXH Từ 01/01/2016, tiền lương tháng đóng BHXH là mức lương và phụ cấp lương theo quy định của pháp luật lao động
Trang 30Đơn vị chuyển địa bàn, chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản phải đóng đủ BHXH cho NLĐ đến thời điểm di chuyển, chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản để làm căn cứ chốt sổ BHXH giải quyết chế độ cho NLĐ
Đơn vị được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất thì hết thời hạn được tạm dừng đóng, đơn vị tiếp tục đóng BHXH theo phương thức đã đăng ký và đóng
bù cho thời gian tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất Trong thời gian được tạm dừng đóng, nếu có NLĐ nghỉ việc, di chuyển hoặc giải quyết chế độ BHXH thì đơn vị đóng đủ tiền BHXH và tiền lãi chậm đóng (nếu có) đối với NLĐ đó để chốt
sổ BHXH
NLĐ không làm việc và không hưởng tiền lương từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không đóng BHXH tháng đó Thời gian này không được tính để hưởng BHXH, trừ trường hợp nghỉ việc hưởng chế độ thai sản NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì không phải đóng BHXH
NLĐ nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng theo quy định của pháp luật về BHXH thì đơn vị và NLĐ không phải đóng BHXH, thời gian này vẫn được tính là thời gian tham gia BHXH
1.2.3.2 Quản lý tiền thu BHXH
Theo Khoản 1, Điều 39 Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về Quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN; Quản lý sổ BHXH, BHYT, có 2 hình thức đóng tiền BHXH:
+ Chuyển khoản: Chuyển tiền đóng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan
BHXH mở tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
+ Tiền mặt: Nộp trực tiếp tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước Nếu đơn
vị, người tham gia nộp cho cơ quan BHXH thì trước 16 giờ trong ngày, cơ quan BHXH phải nộp toàn bộ số tiền mặt đã thu vào tài khoản chuyên thu tại ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước
Trang 311.2.3.3 Quản lý nợ BHXH
Theo Điều 40 Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về Quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN; Quản lý sổ BHXH, BHYT, căn cứ vào kết quả đóng BHXH bắt buộc của tháng trước, cán bộ quản lý thu tiến hành quản lý nợ theo quy trình như sau:
Bước 1: Phân loại nợ
Nợ BHXH được phân loại thành:
+ Nợ chậm đóng: thời gian nợ dưới 1 tháng
+ Nợ đọng: thời gian nợ từ 1 tháng đến dưới 3 tháng
+ Nợ kéo dài: thời gian nợ từ 3 tháng trở lên và không bao gồm các trường hợp nợ khó thu
+ Nợ khó thu gồm 4 trường hợp:
TH1: Đơn vị không còn tại địa điểm đăng ký kinh doanh;
TH2: Đơn vị đang trong thời gian làm thủ tục giải thể, phá sản; đơn vị có chủ là người nước ngoài bỏ trốn khỏi Việt Nam; đơn vị không hoạt động, không có người quản lý, điều hành
TH3: Đơn vị chấm dứt hoạt động, giải thể, phá sản theo quy định của pháp luật
TH4: Nợ khác; đơn vị nợ đang trong thời gian được tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất; đơn vị được cấp có thẩm quyền cho khoanh nợ
Bước 2: Thu thập hồ sơ xác định nợ
Đối với nợ chậm đóng, nợ đọng, nợ kéo dài thì hồ sơ xác định nợ bao gồm: Thông báo kết quả đóng BHXH và Biên bản đối chiếu thu nộp BHXH
Đối với nợ khó thu thì hồ sơ xác định nợ sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp: TH1: Hồ sơ xác định nợ là văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã TH2: Hồ sơ xác định nợ là văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác nhận tình trạng doanh nghiệp
TH3: Hồ sơ xác định nợ là văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc chấm dứt hoạt động, giải thể doanh nghiệp; quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án
Trang 32TH4: Nếu đơn vị đang trong thời gian được tạm dừng đóng thì phải có quyết định cho phép tạm dừng đóng của cơ quan có thẩm quyền, còn nếu đơn vị đang được khoanh nợ thì phải có văn bản của cơ quan có thẩm quyền cho phép khoanh nợ
Bước 3: Tổ chức thu nợ tại BHXH huyện, BHXH tỉnh
- Trách nhiệm của cán bộ Phòng/Tổ quản lý thu:
+ Hằng tháng thực hiện đôn đốc đơn vị nộp tiền theo quy định
+ Trực tiếp đến đơn vị để đôn đốc; gửi văn bản đôn đốc 15 ngày một lần đối với đơn vị nợ từ 2 tháng tiền đóng, đối với phương thức đóng hằng tháng; 4 tháng, đối với phương thức đóng hằng quý; 7 tháng, đối với phương thức đóng 6 tháng một lần Sau 2 lần gửi văn bản mà đơn vị không nộp tiền, chuyển hồ sơ đơn vị đến Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ tiếp tục xử lý
+ Hằng tháng, chuyển báo cáo chi tiết đơn vị nợ cho Phòng/Tổ Khai thác và thu nợ để quản lý, đôn đốc thu nợ và đối chiếu
- Trách nhiệm Phòng Khai thác và thu nợ:
+ Tiếp nhận hồ sơ do Tổ Quản lý thu chuyển đến, phân tích, đối chiếu với
dữ liệu trong ứng dụng quản lý nợ, lập kế hoạch thu nợ và thực hiện các biện pháp đôn đốc thu nợ đối với từng đơn vị nợ
Đối với đơn vị nợ kéo dài:
+ Lập biên bản đối chiếu thu nộp BHXH (Mẫu C05-TS) Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập biên bản, nếu đơn vị không nộp tiền thì phối hợp với Phòng Kiểm tra báo cáo Giám đốc ra quyết định thanh tra đóng BHXH xử lý vi phạm theo quy định Sau khi kết thúc thanh tra, nếu đơn vị không nộp tiền, lập văn bản báo cáo UBND cùng cấp và cơ quan có thẩm quyền để áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật
+ Nếu chủ đơn vị là người nước ngoài vi phạm pháp luật có dấu hiệu bỏ trốn thì phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để có biện pháp ngăn chặn bỏ trốn
+ Thông báo danh sách đơn vị cố tình không trả nợ trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 33Đối với nhóm nợ khó thu: Sau khi hoàn thiện hồ sơ xác định nợ và thực hiện thu nợ, Phòng khai thác và thu nợ lập danh sách đơn vị mất tích, đơn vị không còn hoạt động và đơn vị không có người quản lý, điều hành, đơn vị chấm dứt hoạt động, đơn vị giải thể, phá sản chuyển cho Tổ Quản lý thu để thực hiện chốt số tiền phải đóng và tiền lãi chậm đóng đến thời điểm đơn vị ngừng hoạt động; mở sổ theo dõi
và xử lý nợ theo hướng dẫn riêng
Bước 4: Đánh giá, báo cáo tình hình nợ, thu nợ
Hằng quý, Phòng Khai thác và thu nợ lập báo cáo đánh giá tình hình thu nợ gửi BHXH cấp trên
1.2.3.4 Thanh tra, kiểm tra đóng BHXH
+ Thanh tra tài chính thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về quản lý tài chính BHXH theo quy định của pháp luật về thanh tra
+ Cơ quan BHXH thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về đóng BHXH
Theo Khoản 2, Điều 43 Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về Quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN; Quản lý sổ BHXH, BHYT thì BHXH tỉnh, huyện phải tổ chức việc thanh tra đóng BHXH đối với các đơn vị trên địa bàn hàng năm Đối tượng thanh tra bao gồm:
+ Đơn vị đã được cơ quan BHXH kiểm tra phát hiện vi phạm pháp luật về BHXH nhưng chưa khắc phục trong thời hạn quy định
+ Đơn vị chưa được kiểm tra nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật về đóng BHXH
Trang 34- Nội dung, kế hoạch, phương pháp thanh tra được thực hiện theo Văn bản quy định của Chính phủ và hướng dẫn của BHXH Việt Nam
Kiểm tra
Theo Khoản 1, Điều 43 Quyết định số 959/QĐ-BHXH ngày 09/09/2015 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về Quản lý thu BHXH, BHYT, BHTN; Quản lý sổ BHXH, BHYT, công tác kiểm tra đóng BHXH được thực hiện như sau:
- Nội dung kiểm tra:
Hằng năm BHXH tỉnh, BHXH huyện tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật BHXH đối với các đơn vị tham gia BHXH trên địa bàn thông qua tình hình đóng BHXH như số lao động, tiền lương làm căn cứ đóng, chuyển tiền đóng BHXH; hồ sơ đăng ký tham gia, đóng BHXH của đơn vị, NLĐ
- Phương pháp kiểm tra:
Căn cứ tình hình cụ thể của địa phương và kế hoạch kiểm tra do BHXH Việt Nam giao hằng năm, BHXH tỉnh, BHXH huyện lập kế hoạch kiểm tra đối với các đơn vị đang tham gia BHXH; Báo cáo UBND cùng cấp để có kế hoạch phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền hoặc thành lập đoàn kiểm tra để tổ chức thực hiện
- Các bước tiến hành:
Bước 1: Kiểm tra, đối chiếu giữa bảng kê hồ sơ đăng ký và hồ sơ điều chỉnh đơn vị gửi cơ quan BHXH, các thông báo kết quả đóng của đơn vị và NLĐ do cơ quan BHXH gửi hàng tháng, hàng năm với chứng từ đóng BHXH tại đơn vị như danh sách lao động trong biên chế, danh sách trả lương, hợp đồng lao động,
Bước 2: Kiểm tra giấy tờ làm căn cứ truy thu; điều chỉnh các yếu tố về nhân viên; điều chỉnh làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm
Bước 3: Lập biên bản kiểm tra
Bước 4: Giải thích, hướng dẫn đơn vị khắc phục các sai sót, nhầm lẫn trong quá trình đóng BHXH theo đúng quy định pháp luật
Bước 5: Kiến nghị thanh tra, xử lý theo quy định pháp luật đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về BHXH như trốn đóng; đóng không đúng tiền
Trang 35lương NLĐ, thu tiền NLĐ nhưng không đóng, đóng không đủ số tiền phải đóng; khai man, giả mạo hồ sơ thì lập biên bản và kiến nghị thanh tra, xử lý theo quy định pháp luật
- Kế hoạch kiểm tra:
+ Kiểm tra định kỳ: Hằng năm, BHXH tỉnh xây dựng kế hoạch và thực hiện kiểm tra thấp nhất đạt 25% số đơn vị, cơ quan quản lý đối tượng trên địa bàn
+ Kiểm tra đột xuất: Căn cứ tình hình đóng BHXH; truy đóng BHXH; số lượng đơn vị, doanh nghiệp, số người thuộc diện tham gia BHXH; số đơn vị, số người tham gia BHXH tiền lương đóng BHXH để lập kế hoạch và tiến hành thanh tra, kiểm tra đột xuất tại đơn vị theo quy định pháp luật
1.2.3.5 Quy định khởi kiện
Trường hợp đơn vị nợ kéo dài đến 4 tháng (hoặc 3 tháng đối với doanh nghiệp có quy mô lớn, số tiền nợ lớn) mà cơ quan thẩm quyền chưa thanh tra, xử lý
vi phạm thì phải lập hồ sơ, khởi kiện ra tòa án dân sự
Tiêu chí để khởi kiện:
+ Đơn vị nợ từ 3 tháng và số nợ BHXH 300 triệu trở lên;
+ Đơn vị nợ từ 4 tháng và số nợ BHXH 200 triệu trở lên;
+ Đơn vị nợ từ 5 tháng và số nợ BHXH 100 triệu trở lên;
+ Đơn vị nợ từ 6 tháng và số nợ BHXH 50 triệu trở lên;
1.2.3.6 Tính lãi chậm đóng và lãi truy thu BHXH
Tính lãi chậm đóng
Theo Công văn số 1379/BHXH-BT ngày 20/04/2016 của Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quy định về việc hướng dẫn thi hành tính lãi chậm đóng, truy thu BHXH, BHYT, BHTN và thu BHXH tự nguyện thì đơn vị chậm đóng BHXH bắt buộc từ 30 ngày trở lên, kể từ ngày phải đóng theo quy định thì phải đóng số tiền lãi tính trên số tiền BHXH bắt buộc chưa đóng
Tính lãi truy thu
- Các trường hợp truy thu:
Trang 36+ Truy thu do trốn đóng: Trường hợp đơn vị trốn đóng, đóng không đủ số người thuộc diện bắt buộc tham gia, đóng không đủ số tiền phải đóng theo quy định, chiếm dụng tiền đóng BHXH được cơ quan BHXH, cơ quan có thẩm quyền phát hiện từ ngày 01/01/2016 thì ngoài việc truy thu số tiền phải đóng theo quy định, còn phải truy thu số tiền lãi tính trên số tiền, thời gian trốn đóng và mức lãi suất chậm đóng
+ Truy thu đối với NLĐ sau khi chấm dứt hợp đồng lao động về nước truy đóng BHXH cho thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao động chưa đóng: trường hợp sau 6 tháng kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động về nước mới thực hiện truy đóng BHXH thì số tiền truy thu BHXH được tính bao gồm số tiền phải đóng BHXH theo quy định và tiền lãi truy thu tính trên số tiền phải đóng
+ Truy thu do điều chỉnh tăng tiền lương đã đóng BHXH cho NLĐ: trường hợp sau 6 tháng kể từ ngày người có thẩm quyền ký quyết định hoặc HĐLĐ (phụ lục HĐLĐ) nâng bậc lương, nâng ngạch lương, điều chỉnh tăng tiền lương, phụ cấp tháng đóng BHXH cho NLĐ mới thực hiện truy đóng BHXH thì số tiền truy thu BHXH được tính bao gồm số tiền phải đóng BHXH theo quy định và tiền lãi truy thu tính trên số tiền phải đóng
+ Các trường hợp khác theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
- Tiền lương làm căn cứ truy thu, tỷ lệ truy thu:
Tiền lương làm căn cứ truy thu là tiền lương tháng đóng BHXH đối với người lao động theo quy định của pháp luật tương ứng thời gian truy thu, tiền lương này được ghi trong sổ BHXH của người lao động
Tỷ lệ truy thu: tính bằng tỷ lệ (%) tiền lương tháng làm căn cứ đóng BHXH, BHYT, BHTN từng thời kỳ do Nhà nước quy định
1.2.4 Các chỉ tiêu cơ bản để đánh giá công tác quản lý nhà nước về thu BHXH
bắt buộc
1.2.4.1 Tỷ lệ đơn vị và lao động tham gia BHXH
Tỷ lệ đơn vị tham gia BHXH là tỷ lệ phần trăm đơn vị tham gia đóng BHXH so với số đơn vị hiện đang hoạt động trên địa bàn quận
Trang 37Cách tính:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ bao phủ của hệ thống BHXH đối với các đơn
vị đang hoạt động trên địa bàn quản lý
Tỷ lệ lao động tham gia BHXH là tỷ lệ phần trăm lao động tham gia BHXH
so với tổng số lao động hiện đang làm việc trên địa bàn quận
Cách tính:
Chỉ tiêu đơn vị và lao động tham gia BHXH phản ánh mức độ bao phủ của
hệ thống BHXH đối với các đơn vị đang hoạt động và lao động đang làm việc trên địa bàn
1.2.4.2 Tỷ lệ nợ đóng BHXH bắt buộc
Tỷ lệ nợ đóng BHXH bắt buộc là tỷ lệ phần trăm tổng số tiền nợ đóng
BHXH so với tổng số tiền BHXH phải thu
Cách tính:
Chỉ tiêu này phản ánh đƣợc tình hình thu tiền BHXH của cơ quan BHXH có hiệu quả không; ngoài ra còn phản ánh tình hình nộp tiền BHXH của đơn vị có kịp thời và đúng quy định không
1.2.4.3 Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH
Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch thu BHXH là tỷ lệ phần trăm của tổng số tiền BHXH thu thực tế so với số thu đƣợc giao theo kế hoạch
Trang 38Cách tính:
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch thu trong năm của cơ quan BHXH
1.2.4.4 Tỷ lệ đơn vị được thanh tra, kiểm tra
Tỷ lệ đơn vị được thanh tra, kiểm tra là tỷ lệ phần trăm của số đơn vị được thanh tra, kiểm tra so với tổng số đơn vị hiện đang tham gia BHXH
Cách tính:
Chỉ tiêu này phản ánh tình hình thanh tra, kiểm tra về lĩnh vực BHXH của các DN hiện đang tham gia BHXH trên địa bàn
1.2.5 Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
1.2.5.1 Chính sách tiền lương, tiền công
Hàng năm, Chính phủ thường có các văn bản điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng đối với NLĐ Khi điều chỉnh tăng mức lương tối thiểu vùng đồng nghĩa với mức tiền lương tháng đóng BHXH cũng tăng theo, điều này sẽ gây khó khăn cho những DN tự quyết định mức tiền lương cho LĐ vì họ phải bỏ ra thêm một số tiền nữa để đóng BHXH cho NLĐ Trường hợp DN đang gặp khó khăn về tài chính thì họ sẽ tìm cách gian lận trong tham gia BHXH cho NLĐ, chậm nộp tiền hoặc chây ỳ không nộp tiền, như vậy công tác quản lý thu BHXH sẽ gặp không ít khó khăn; nếu cán bộ làm công tác quản lý thu không biết cách xử lý hoặc xử lý không khéo léo sẽ khó đảm bảo được nguyên tắc thu đúng, thu đủ, thu kịp thời đảm bảo an toàn và tăng trưởng quỹ BHXH
1.2.5.2 Tốc độ tăng trưởng kinh tế
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, việc sản xuất kinh doanh của các DN
sẽ thuận lợi, nhiều DN mới được thành lập hoặc sẽ được mở rộng quy mô hoạt
Trang 39động Khi DN kinh doanh có lãi họ sẵn sàng tham gia BHXH cho NLĐ để phòng trường hợp NLĐ không may gặp tai nạn rủi ro, ốm đau, thai sản nguồn thu nhập bị giảm sút thì BHXH sẽ thay đơn vị SDLĐ trả khoản tiền trợ cấp trong khoảng thời gian NLĐ không đi làm tạm thời Như vậy khi DN làm ăn hiệu quả thì việc trốn đóng hoặc chậm đóng BHXH sẽ ít xảy ra, điều này sẽ tạo điều kiện cho công tác quản lý thu được thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn,
1.2.5.3 Trình độ cán bộ làm công tác quản lý thu BHXH
Thu BHXH là nghiệp vụ quan trọng trong hệ thống BHXH và quản lý thu là công việc nhạy cảm dễ xảy ra sai phạm vì đối tượng của nó là tiền Do đó để thực hiện tốt công tác quản lý thu yêu cầu đặt ra cho các chuyên quản thu BHXH phải có đạo đức nghề nghiệp, phải đảm bảo năng lực về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có tinh thần trách nhiệm, hiểu biết nhiều lĩnh vực và nhiệt tình với công việc, tâm huyết với nghề thì công tác quản lý thu mới đạt hiệu quả cao và ngược lại
1.2.5.4 Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật BHXH
Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BHXH được thực hiện thường xuyên và có hiệu quả sẽ kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BHXH Ngoài ra, thanh tra, kiểm tra còn làm giảm thiểu tình trạng trốn đóng, chậm nộp và nợ đọng tiền BHXH của DN; nâng cao được tính tự giác chấp hành pháp luật về BHXH của DN, tạo điều kiện cho công tác quản lý thu BHXH hoạt động có hiệu quả hơn
1.2.5.5 Sự hiểu biết của NLĐ và người SDLĐ về chính sách BHXH
NLĐ và người SDLĐ chưa thật sự hiểu hết được vai trò của BHXH trong đời sống nên đã cố tình trốn đóng, không tham gia BHXH Tính đến hết ngày 31/12/2016, cả nước có 12,9 triệu NLĐ tham gia BHXH bắt buộc, chiếm khoảng 24,1% lực lượng lao động [5] Đồng thời, theo thông tin từ BHXH Việt Nam công
bố tại buổi Tọa đàm "Gỡ vướng trong khởi kiện trốn đóng bảo hiểm xã hội" ngày 08/05/2017, cả nước chỉ có khoảng 235.000/500.000 doanh nghiệp tham gia BHXH, chiếm khoảng 47% [8] Vì vậy, nếu SDLĐ am hiểu về chính sách BHXH thì sẽ tự nguyện đăng ký tham gia BHXH bắt buộc cho DN mình để bảo vệ quyền
Trang 40lợi NLĐ đồng thời bản thân NLĐ nếu hiểu rõ quy định pháp luật thì sẽ biết tự bảo
vệ mình khi quyền lợi bị xâm phạm, qua đó tạo điều kiện để công tác quản lý thu BHXH đạt hiệu quả cao
1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc của các nước trên thế giới và một số địa phương ở Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc của các nước trên
thế giới
1.3.1.1 Đức
Quản lý nhà nước về thu BHXH bắt buộc
Đức là nước có lịch sử phát triển BHXH sớm nhất, năm 1850 dưới thời Thủ tướng Bismark đã ban hành đạo luật BHXH đầu tiên trên thế giới, nhiều Bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Từ đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp, lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới, tham gia BHXH là bắt buộc, không chỉ NLĐ đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên); tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khỏe - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp
Hệ thống BHXH của Đức đã phát triển khá lâu đời với bốn loại bảo hiểm cơ bản là: BHYT (1883); Bảo hiểm tai nạn (1884); Bảo hiểm hưu trí (1889); Bảo hiểm thất nghiệp (1927) và Bảo hiểm chăm sóc y tế dài hạn (1995)
Không giống như những nước phát triển khác, hệ thống an sinh xã hội Đức không theo mô hình tập trung dưới sự quản lý nhà nước mà là một hệ thống phức hợp bao gồm các cơ quan cung cấp dịch vụ xã hội ở tầm quốc gia và các cơ quan độc lập ở bang và địa phương Các cơ quan này một số là của nhà nước, một số bán công, một số do công ty tư nhân quản lý hoặc tự nguyện