BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI TRIỆU HOÀNG ĐẠO ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT U LÀNH TÍNH TUYẾN NƯỚC BỌT DƯỚI HÀM TẠI BỆNH VIỆN RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG HÀ NỘI TỪ NĂM 2010 ĐẾN
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRIỆU HOÀNG ĐẠO
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ
PHẪU THUẬT U LÀNH TÍNH TUYẾN NƯỚC BỌT DƯỚI HÀM TẠI BỆNH VIỆN
RĂNG HÀM MẶT TRUNG ƯƠNG
HÀ NỘI TỪ NĂM 2010 ĐẾN 2015
Chuyên ngành : Răng Hàm Mặt
LUẬN VĂN BÁC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP II
Người hướng dẫn khoa học:
TS Lê Ngọc Tuyến
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
U tuyến nước bọt (TNB) có đặc điểm lâm sàng, bệnh học phức tạp [1], cũng là loại u hay gặp chiếm từ 3% đến 10% trong tổng số các u vùng đầu mặt cổ [2] Trung bình từ 4 đến 5,4 ca/100.000 dân, u ác tính từ 0,5 đến 1,3 ca/100.000 dân [3] Trong đó, u tuyến dưới hàm (TDH) là loại u thường gặp chỉ sau u tuyến mang tai (TMT), chiếm khoảng 8% đến 12% trong tổng số u tuyến nước bọt và đa phần là lành tính [3] Y văn thế giới ghi nhận 30% đến 35% u tuyến dưới hàm ác tính
U tuyến dưới hàm dễ nhận biết, dễ phát hiện khi u đã to Tuy nhiên, biểu hiện lâm sàng của nó lại âm thầm, kéo dài, không đau, thường gây lầm lẫn với các tổn thương không do u mạn tính khác [2], [4] Thêm nữa, mô bệnh học của u tuyến nước bọt nói chung, u tuyến dưới hàm nói riêng có đặc điểm phong phú, đa dạng với nhiều loại tế bào có nguồn gốc mô học khác nhau góp phần làm sai lệch kết quả giải phẫu bệnh (GPB) [5] Gần đây, xét nghiệm hoá
mô miễn dịch với nhiều loại chất chỉ điểm (markers) đã giúp cải thiện tính
chính xác của chẩn đoán Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy chưa có một loại chất chỉ điểm nào có đủ tính chuyên biệt và độ tin cậy tuyệt đối cho chẩn đoán [6], [7], [8] Do đó, việc chẩn đoán đúng vẫn là vấn đề khó khăn đối với các bác sĩ lâm sàng và giải phẫu bệnh [2], [9]
Điều trị u tuyến dưới hàm chủ yếu bằng phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến, hay cắt phần tổn thương [9], [10] Tuy nhiên, phẫu thuật luôn có nguy cơ tổn thương nhánh hàm dưới của thần kinh (TK) VII, thần kinh hạ thiệt, thần kinh lưỡi cũng như cấu trúc cơ, mạch máu khác [2], [6], [11]
Trên thế giới và tại Việt Nam đã công bố nhiều báo cáo cho thấy sự cải thiện đáng kể kết quả chẩn đoán, điều trị bệnh lý tuyến nước bọt, tuy nhiên đa
Trang 3số các công trình đó chủ yếu tập trung nghiên cứu tuyến mang tai [12], [13] Với u tuyến dưới hàm, các báo cáo chưa đầy đủ hoặc tỷ lệ về biến chứng, di chứng trong sau mổ chưa được thống kê đầy đủ, và vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất nhau về việc xác định bệnh, chỉ định và phương pháp điều trị Do vậy, chẩn đoán và kết quả điều trị bệnh lý này là vấn đề cần được nghiên cứu them [14], [15]
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá kết quả điều trị
phẫu thuật u lành tính tuyến nước bọt dưới hàm tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương từ năm 2010 đến 2015”, với mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, mô bệnh học u lành tính tuyến dưới hàm từ năm 2010 đến năm 2015
2 Đánh giá kết quả điều trị u lành tính tuyến nước bọt dưới hàm từ năm
2010 đến 2015 tại viên Răng Hàm Mặt Trung ương
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Tuyến nước bọt
1.1.1 Phôi thai học
Theo quan niệm cổ điển trước năm 1983, TNB bắt đầu ở tuần thứ 6 đến
thứ 8 của bào thai, khi ngoại bì ở cung mang miệng (oral ectodermal) ấn lõm
sâu vào trung bì tạo chỗ cho các TNB chính phát triển Sự phát triển này qua
3 giai đoạn: Giai đoạn đầu hiện diện miệng nguyên thuỷ và sự thành lập các
nụ ống tuyến Giai đoạn hai xuất hiện tiểu thuỳ và các ống tuyến Giai đoạn ba
có sự trưởng thành của vùng chế tiết và ống tuyến xen lẫn nhau Những nụ tuyến này nằm trong tam giác dưới hàm phát triển thành TDH Bao tuyến có nguồn gốc từ trung mô xuất hiện lúc ba tháng cuối thai kỳ [2], [13], [16]
Những nghiên cứu cấp độ phân tử sau năm 1983 trên chuột cho thấy quá trình phát triển mô học TDH giống sự biến đổi hình thái trong bào thai của các cơ quan trong cơ thể như phổi, tuyến vú, tuyến tuỵ và thận [15],
1.1.2 Mô học
TDH là tuyến ngoại tiết có nguồn gốc biểu mô, gồm những đơn vị chế tiết và ống tuyến [16], [17], chất nền là mô liên kết chia thành nhiều thuỳ Đơn vị chế tiết gồm 3 loại tế bào chế tiết: Tế bào chế tiết thanh dịch có
bề mặt gồ ghề, hình tháp, đáy chứa nhân, bao quanh bởi ty thể và lưới nội bào
có hạt, đỉnh tháp có nhiều hạt sinh men và bộ Golgi Tế bào tiết nhày hình
khối vuông, nhân ở đáy hình phẳng dẹt, có nhiều hạt chứa glycoprotein ưa
nước Và tế bào hỗn hợp vừa tiết nhày vừa tiết thanh dịch, tuy nhiên luôn có tính chất nào đó vượt trội [16], [18]
Trang 5Các tế bào chế tiết đổ sản phẩm tiết vào tiểu quản, sau đó vào các ống: (1) Trung gian được lót bởi tế bào vảy (2) Ống có vạch lợp bởi biểu mô hình
tháp hay trụ với đáy gấp khúc, tế bào chất nhiều mitochondria (3) Ống bài
xuất nhiều tế bào có chân rải rác giữa các tế bào trụ giả tầng, gần niêm mạc miệng đổi thành biểu mô lát tầng không sừng hoá [19], [20], [21]
TDH tiết thanh dịch và nhày, tuy nhiên thanh dịch chiếm 90%, chất nhày chiếm 10% [20]
Hình 1.1: Mô hình đơn vị chế tiết
(Nguồn: Salivary Gland Disorders) [7]
1.1.3 Giải phẫu
TDH (gồm hai tuyến) là một trong ba cặp TNB chính nằm dọc thân xương hàm dưới (XHD), trong tam giác dưới hàm được xác định bởi thân trước và thân sau cơ nhị thân, bờ dưới XHD TDH nặng 7 đến 16 gr Tam giác dưới hàm còn chứa hạch lympho, động tĩnh mạch mặt, cơ hàm móng, TK lưỡi, hạ thiệt, hàm móng Thường TDH nằm sau ngoài cơ hàm móng Trong quá trình PT vùng này, cơ hàm móng phải được kéo ra trước để bộc lộ TK
Trang 6lưỡi và hạch sau hàm TK này thường nhỏ hơn ống tuyến, chạy dọc theo lưỡi, hướng lên trên vào khoang miệng ở độ sâu ngang với cơ hàm móng [6], [10], [14], [18], [19]
trí phía trên TK hạ thiệt và phía dưới TK lưỡi Nó dẫn nước bọt đổ vào hai bên hãm lưỡi tại cấu trúc nhú lên khỏi sàn miệng ngay sau răng cửa hàm dưới Lưu ý, lỗ đổ của tuyến dưới lưỡi nằm trong nếp dưới lưỡi ở bụng lưỡi, có vị trí gần đường giữa hơn so với lỗ đổ của TDH [14], [19], [22]
Trang 7Động mạch nuôi tuyến
Cả hai TDH và tuyến dưới lưỡi đều được cấp máu nuôi bởi động mạch dưới cằm, động mạch dưới lưỡi là những nhánh của động mạch mặt và lưỡi Động mạch mặt, nhánh bên của động mạch cảnh ngoài, cấp máu chủ yếu cho TDH Đường đi của nó theo hướng vào trong đến bụng sau cơ nhị thân, uốn cong vào sâu bên trong tuyến Động mạch thoát ra ở bờ trên tuyến ngang mức bờ dưới XHD Sau đó nó lên trên ngay sát với nhánh hàm dưới TK mặt
Trong quá trình PT cắt TDH, động mạch mặt thường bị cắt 2 lần: Lần 1 tại vị trí bờ dưới XHD, lần 2 tại vị trí cao hơn bụng sau cơ nhị thân [14], [19]
Tĩnh mạch
Tĩnh mạch mặt trước dẫn lưu máu chủ yếu cho TDH, có vị trí sát động mạch mặt khi nó xuống dưới và ra sau Tĩnh mạch nằm ngay dưới nhánh hàm dưới của TK mặt, nên trong quá trình PT cắt TDH, việc kéo tĩnh mạch mặt trước lên trên có thể giúp bảo vệ được nhánh TK này
Tĩnh mạch tạo nhánh thông nối với tĩnh mạch trên và dưới ổ mắt Tĩnh mạch mặt trước và tĩnh mạch mặt sau kết hợp tại vị trí khoảng giữa TDH tạo thành tĩnh mạch mặt chung Tĩnh mạch mặt chung đi từ trong tuyến, thoát khỏi tam giác dưới hàm dẫn lưu máu đến tĩnh mạch cảnh ngoài [14], [19]
Hạch bạch huyết
Các hạch bạch huyết dẫn lưu có vị trí giữa TDH và bao tuyến nhưng không xuyên qua nhu mô tuyến Chúng nằm cạnh động tĩnh mạch mặt ở mặt trên tuyến, đổ bạch huyết vào hệ bạch mạch cổ sâu và cảnh Trong quá trình
PT, khi buộc động mạch mặt và đám rối tĩnh mạch, lưu ý bảo vệ nhánh hàm dưới của TK mặt có vị trí rất gần những cấu trúc này
Trang 8Hạch bạch huyết dưới hàm nằm trong tam giác dưới hàm có 3 đến 6 hạch Hạch của Stahr nằm trên động mạch mặt thường gặp nhất khi PT Các hạch nhỏ khác đôi khi tìm thấy ở mặt sâu TDH Ngoài ra còn nhiều hạch khác
bao gồm: Hạch cổ sâu trên nằm dưới cơ ức đòn chũm Hạch này gồm: Hạch cảnh - nhị thân, các hạch lưỡi Hạch cảnh - vai móng thuộc nhóm hạch cổ sâu
dưới, nằm trên tĩnh mạch cảnh trong nhận bạch huyết từ lưỡi, hạch bạch huyết dưới cằm, dưới hàm, hạch cổ sâu trên [19], [22]
Thần kinh liên quan
TDH được chi phối bởi sợi giao cảm và đối giao cảm của TK VII TK đối giao cảm nguyên uỷ từ nhân bọt trên (superior salivatory nucleus) ở cầu
não, hợp với TK mặt xuyên qua trung não vào lỗ tai trong, tiếp với TK thừng nhĩ trong đoạn chũm của TK mặt, sau đó xuyên qua tai giữa, khe đá nhĩ đến
hố dưới thái dương TK giao cảm từ đám rối cổ tuỳ hành với động mạch lưỡi
đến TDH kiểm soát hoạt động bài tiết dịch nhày
TK lưỡi là nhánh của TK hàm dưới thuộc TK V3 thu nhận cảm giác vị
giác 2/3 trước lưỡi Nó đi giữa cơ chân bướm trong và cành cao XHD vào khoang miệng Ở vị trí R8 hàm dưới, TK này bắt chéo cơ móng lưỡi dọc theo sàn miệng ngay dưới niêm Một nhánh vận động nhỏ tách ra ở phía dưới XHD, đi ra sau chi phối cơ hàm móng PT lấy TDH thường làm tổn thương những TK này [20], [22], [23], [24]
TK hạ thiệt (XII) chi phối vận động toàn bộ các cơ trong và ngoài lưỡi trừ cơ khẩu cái lưỡi Từ kênh hạ thiệt ở nền sọ, TK hướng xuống cổ qua nhánh chẩm của động mạch cảnh ngoài, sau đó chạy sâu xuống bụng sau cơ nhị thân, vào tam giác dưới hàm Ở đây, nó nằm ở vị trí sau trong tam giác này, được che phủ bởi lớp màng mỏng Từ đây, TK hướng lên trên ra trước đến TK lưỡi và cơ hàm móng [14], [25], [26], [27] Khi PT vùng đầu cổ, PT viên cần lưu ý bảo vệ TK này
Trang 91.1.4 Sinh lý
Nước bọt có vai trò tiêu hoá đường, chất béo qua hai enzyme: Ptyalin là
α-amylase có vai trò cắt mối nối α-1,4-glycosidic của đường thành maltose,
maltotriose và á-limit dextrins Lingual lipase có chức năng phân giải
triglycerides
Tính kháng khuẩn của nước bọt chủ yếu do thành phần có nguồn gốc
hữu cơ Liên kết glycoprotein vào immunoglobulinA (IgA) tạo nên phức hợp kháng nguyên kháng thể chống lại virus và vi khuẩn, lysozyme có khả năng phân rã thành tế bào vi khuẩn, lactoferrin ngăn chặn sự trưởng thành của vi
khuẩn Nhiều thành phần hữu cơ trong nước bọt vẫn đang được nghiên cứu
như: á-amylase, lingual lipase, mucus, lysozymes, glyco-proteins, lactoferrin, phức hợp IgA, thành phần kháng thể nhóm máu A, B, AB và O, kallikrei
Chức năng của tuyến nước bọt dưới hàm:
Với pH = 6,5 nước bọt có tác dụng làm ổn định độ pH trong miệng, kim chế sự phát triển của vi khuẩn, qua đó bảo vệ niêm mạc miệng
Tỷ lệ mắc hàng năm của tuyến nước bọt trên thế giới là 0,4 - 6,5/ 100.000 dân, trong đó khoảng 8% là u tuyến dưới hàm và đa phần trong số
Trang 10này là lành tính [15] U hỗn hợp tuyến nước bọt lành tính là loại u thường gặp nhất của các tuyến nước bọt chính
1.2.2 Nguyên nhân
Cho đến nay vẫn chưa biết được nguyên nhân chính xác của u TDH tuy nhiên một số yếu tố nguy cơ cao đã được báo cáo trong y văn Uống rượu và
hút thuốc lá không gây u TDH trừ u Warthin’s [2], [17] Yếu tố nguy cơ được
hiểu rõ nhất là phóng xạ Những người phơi nhiễm chất phóng xạ hay xạ trị
có sự gia tăng u TDH Những trẻ bệnh leukemia có đa hoá trị, hay kháng sinh điều trị trong trường hợp viêm màng não cũng xuất hiện u TDH [6], [9]
Nhiễm EBV cũng có thể gây tổn thương ác tính ở TDH, thường xảy ra ở người Eskimo và Trung Quốc nhiều hơn so với người phương tây Tuy nhiên nhiễm virus herpes, papilloma hay HIV thì không thấy tăng tỷ lệ bệnh Không
có mối liên quan giữa UT vú và UT TDH, tuy nhiên có mối liên hệ giữa UT vùng hầu họng, tuyến giáp, phổi với u TDH [2], [9]
Phân tích tế bào học u lành TDH thấy có bất thường liên quan đến bất
thường nhiễm sắc thể trisomy 8 hay hiện tượng chuyển vị, hoạt hoá gene sinh ung (oncogenes) HMGIC, thường xảy ra ở vị trí 12q13 và PLAG1 trên chromosome 8q12 [22], [23] Ngoài ra chất thải công nghiệp, ô nhiễm môi
trường… cũng là những yếu tố nguy cơ của u TDH [2], [25], [29]
1.3 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng
1.3.1 Đặc điểm lâm sàng
* Triệu chứng cơ năng
Triệu chứng cơ năng của u tuyến dưới hàm thường rất nghèo nàn và dễ
bị bỏ qua U lành tính không gây đau trừ phi có dấu hiệu nhiễm trùng, chảy máu, hoặc gợi ý dấu hiệu của ác tính [15], [25]
Trang 11* Dấu hiệu thực thể
U lành tình tính: biểu hiện u tròn, ranh giới rõ, mật độ chắc, di động, chỉ khi u ở sâu hay xơ hóa thì di động hạn chế, không có dấu hiệu thần kinh hoặc xâm lấn da
Khám lâm sàng kỹ nhằm xác định u nằm trong tuyến hay ngoài tuyến, hạch tại chỗ lành hay ác tính Hạch lành tính thường di động, không có dấu hiệu dính vào nhu mô xung quanh Hạch ác tính thường cứng, dính, di động kém hay rất ít, có thể xuất hiện một hay 2 bên, một hay nhiều hạch, giai đoạn nặng có thể xâm lấn ra mô xung quanh gây thâm nhiễm hay có thể loét da tại chỗ [2], [12], [29]
1.3.2 Cận lâm sàng
XQ:
XQ thường: không có giá trị trong chẩn đoán u tuyến nước bọt
Chụp cản quang tuyến nước bọt (Sialography)
Bơm thuốc cản quang vào ống tuyến nước bọt ống (Warton) rồi chụp phim theo tư thế Hirtz Ít có giá trị chẩn đoán
Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA)
FNA là biện pháp chẩn đoán khá chính xác và đơn giản, giúp lập kế hoạch điều trị hợp lý, cung cấp thông tin cho BN trước điều trị [22]
Tuy nhiên việc sử dụng kỹ thuật này vẫn còn đang bàn cãi Nó có thể gây chảy máu, khó đọc kết quả trên các mảnh sinh thiết GPB Các mẫu sinh thiết có thể không chính xác, đòi hỏi thực hiện lại nhiều lần làm chậm quá trình chẩn đoán [15], [27] Ngoài ra kết quả FNA có thể không ý nghĩa thực tiễn vì không làm thay đổi kế hoạch điều trị [28], [30]
Trang 12Siêu âm
Là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, dễ thực hiện và có giá trị cao trong chẩn đoán Trên siêu âm, tuyến dưới hàm bình thường tăng âm nhẹ so với mô dưới da, mẫu hồi âm đồng nhất
- Đặc điểm siêu âm khối u lành tính:
+ Bờ đều, sắc nét
+ Đồng nhất
- Vai trò của siêu âm:
+ Khẳng định sự hiện diện của khối u
+ Phân định u ở trong nhu mô hay ở ngoài tuyến
+ Đưa ra nhận định ban đầu bản chất lành hay ác tính
+ Siêu âm Doppler có thể đánh giá mức độ tăng sinh mạch trong u + Siêu âm còn được dùng để dẫn đường khi chọc hút tế bào bằng kim nhỏ hay sinh thiết
Tuy nhiên siêu âm có hạn chế trong việc đánh giá thùy sâu tuyến Mặt khác việc đánh giá kết quả còn phụ thuộc vào một số yếu tố như: bệnh nhân
có cổ ngắn, người béo và cũng cần phải có chuyên gia siêu âm vùng đầu cổ Tuyến dưới hàm nằm ở phần sau của tam giác dưới hàm Các cạnh của tam giác dưới hàm được tạo bởi bụng trước và bụng sau cơ nhị thân và thân xương hàm dưới Khoảng trước tuyến dưới hàm là mô liên kết và các hạch bạch huyết Thông thường, hình dạng của tuyến dưới hàm trong các mặt cắt dọc và cắt ngang là hình tam giác [24], [30] Tuyến dưới hàm có thể nối với tuyến mang tai hoặc tuyến dưới lưỡi bằng các mỏm tuyến
Trang 13Hình 1.3 Hình ảnh tuyến dưới hàm trên siêu âm [24]
Hình 1.4 Hình ảnh u Warthin tuyến dưới hàm [24]
Trang 14Hình 1.5 Hình ảnh CLVT bình diện axial, coronal qua vùng tuyến dưới
hàm [24]
Trang 15CT mang lại nhiều thông tin trong việc đánh giá u tuyến dưới hàm: Xác định u vùng dưới hàm ở trong hay ở ngoài tuyến Cần chú ý phân biệt với hạch (nếu là hạch to thường có thể thấy một lớp mỡ mỏng ngăn cách với nhu
mô tuyến)
1.4 Chẩn đoán u tuyến dưới hàm, xếp loại TNM và giai đoạn bệnh
1.4.1 Chẩn đoán u tuyến dưới hàm
Chẩn đoán đúng u TDH khó, đòi hỏi nhiều kỹ năng cũng như kiến thức, kinh nghiệm của thầy thuốc Chẩn đoán dựa trên hỏi kỹ bệnh sử, khám lâm sàng, phối hợp đánh giá các kết quả cận lâm sàng giúp chẩn đoán Kết quả GPB của tổn thương được xem như là chuẩn vàng trong việc xác định bệnh
Nó được xem như là chẩn đoán cuối cùng và có giá trị nhất [9], [31], [32]
Chẩn đoán phân biệt
Viêm tuyến dưới hàm
Viêm TDH thường biểu hiện là khối sưng đau, tuy nhiên 33% trong số
đó không triệu chứng Viêm TDH thường do tắc nghẽn, hay gặp nhất là do sỏi Dấu hiệu đặc trưng là sưng phồng, đau, đặc biệt sau khi ăn, nhỏ dần kèm theo trào nhiều nước bọt ở sàn miệng, hay tự hết sau khoảng thời gian nhất định Thỉnh thoảng tuyến viêm cấp, có tấy đỏ, đau nhiều Khi sờ sàn miệng kỹ có thể
phát hiện sỏi, có thể có mủ chảy ra ở lỗ đổ ống Wharton’s Chụp X.quang với
phim cắn (occlusal position) hay siêu âm cũng có thể thấy sỏi [25], [27], [33]
1.4.2 Khối u tuyến nước bọt dưới hàm:
+ Kích thước khối u ≤ 2cm
+ Kích thước khối u < 4cm
+ Kích thước khối u > 4 cm
Trang 161.5 Đặc điểm giải phẫu bệnh của u tuyến dưới hàm
1.5.1 Phân loại theo mô học
TNB là một cơ quan riêng biệt trong cơ thể, tuy nhiên u của nó có hình ảnh GPB đa dạng, phong phú cả trong cùng một tổn thương [2], [34], [35] Phân loại u của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 1972 là phổ biến nhất, tuy nhiên nó không phù hợp với nhiều trường hợp lâm sàng [36], [37] Năm 1978, Batsakit và Regezi đã đưa ra phân loại chi tiết hơn về u biểu mô TNB [25], [34], [35] Sau đó, WHO (1991) đã đưa ra phân loại hoàn chỉnh hơn Phân loại mô học u TDH theo WHO (2003) đang được áp dụng rộng rãi nhất Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng phân loại u tuyến nước bọt dưới hàm theo WHO (2003), AJCC (2010) [36], [37], [38]
U tuyến đa hình (u hỗn hợp) (Pleomorphic adenoma)
U biểu mô cơ (Myoepithelioma)
U tuyến tế bào đáy (Basal cell adenoma)
U tuyến lympho, u lympho tuyến nang (Warthin tumour)
U tuyến tế bào ái toan (Oncocytoma)
U tuyến tiểu quản (Canalicular adenoma)
U tuyến dạng bã (Sebaceous adenoma)
U hạch bạch huyết (Lymphadenoma)
o U có chứa chất bã (Sebaceous)
o U không chứa chất bã (Non-sebaceous)
U nhú ống tuyến (Ductal papillomas)
o U nhú ống tuyến đảo ngược (Inverted ductal papilloma)
o U nhú trong ống tuyến (Intraductal papilloma)
o U tuyến nước bọt dạng nhú (Sialadenoma papilliferum)
U tuyến nang (Cystadenoma)
Trang 17* U mô mềm
U mạch máu (Haemangioma)
* U lympho
U lympho Hodgkin (Hodgkin lymphoma)
U lympho tế bào B to lan toả (Diffuse large B-cell lymphoma)
U lympho tế bào B có vùng rìa lan toả (Extranodal marginal zone cell lymphoma)
B-1.5.2 Đặc điểm giải phẫu bệnh
Có 8% đến 10% u TNB xảy ra ở TDH, tuy nhiên tần suất ác tính khá cao, chiếm từ 37% đến 45%
U biểu mô lành tính
U hỗn hợp TNB (u tuyến đa hình, Pleomorphic adenoma)
U hỗn hợp thường gặp nhất trong các loại u TDH, chiếm tỷ lệ từ 44% đến 68% U này có nguồn gốc từ các thành phần biểu mô cơ và ống tuyến Tính đa dạng của tổn thương tồn tại ngay trên các vị trí của cùng một u [39]
GPB cho thấy tổn thương có bờ rõ, đều, tạo thành thuỳ Có vài nơi thâm nhập tế bào u ra ngoài Bên trong là những tế bào biểu mô và biểu mô
cơ trên nền giống trung mô, không xác định được tỷ lệ giữa thành phần biểu
mô và trung mô [39], [40] Thành phần biểu mô tạo nên những ống hay cấu trúc nang tạo thành những đảo tế bào Tế bào vảy sừng hoá và tế bào tạo nhày cũng hiện diện Tế bào biểu mô cơ thường chiếm tỷ lệ cao, hình ảnh đa dạng,
nhân trung tâm, tế bào chất chứa nhiều hạt ái eosin giống tế bào plasma [41]
U tuyến tế bào ái toan (oncocytoma, oxyphilic adenoma)
U tuyến tế bào ái toan là u lành tính của TNB bao gồm tế bào biểu mô
được biết như tế bào u (oncocytes) U hiếm gặp, chiếm 1% trong u TNB [42]
Trang 18GPB: Đại thể u có vỏ bọc, mặt nhẵn, chắc, mặt cắt sẫm, thuần nhất, bờ
rõ gồm những tế bào đa diện lớn, nhiều hạt Ti thể của nó có nhiều hạt chứa
phosphotungstic acid-hematoxylin, một số chứa glycogen, số khác phân chia,
nhân tế bào nằm ở giữa U có ít chất nền, vách ngăn có sự thấm nhập tế bào
lympho [33], [43], [44]
U tuyến tế bào ái toan thường chứa lượng lớn tế bào với tế bào chất sáng Thỉnh thoảng khó phân biệt với những u tuyến khác có độ biệt hoá thấp
U Warthin’s (papillary cystadenoma lymphomatosum, adenolymphoma)
U hiếm xuất hiện ở TDH, chiếm 1% đến 2% trong u TNB [45] U có nguồn gốc biểu mô ống tuyến, liên quan đến sự thành lập mô lympho thứ phát Y văn cho thấy có sự bất thường về tế bào trong thành phần biểu mô Nhiều nghiên cứu thấy rằng u liên quan chặt chẽ với hút thuốc lá Người hút thuốc mắc bệnh cao hơn người không hút thuốc tám lần [7] Virus Epstein-
Barr cũng là yếu tố gây bệnh [23]
GPB đặc trưng là tế bào biểu mô ống tuyến và chất nền giống mô
lympho Mô lympho này có tế bào B chiếm ưu thế nhưng cũng có tế bào T,
dưỡng bào [44], [45]
U tuyến đơn hình (monomorphic adenoma)
Thuật ngữ monomorphic adenoma mô tả những u TNB có hình ảnh GPB đồng dạng Một số tác giả xem u Wharthin’s, u tuyến tế bào sáng, u
tuyến tế bào đáy thuộc nhóm u tuyến đơn hình, trong khi tác giả khác chỉ xếp
u tuyến đơn hình gồm u tuyến tế bào đáy, u tuyến tế bào ái toan Tuổi bệnh nhân (BN) trung bình thường gặp là 61 tuổi [2], [9], [37], [46]
Trang 19U tuyến tế bào đáy
U này lành tính hiếm gặp của TNB, chiếm từ 1% đến 2% tổng số u TNB Lâm sàng là khối sưng to chậm, không đau, dễ nhận biết khi sờ, có thể
ở dạng đa nhân Tuổi thường gặp từ 35 đến 80, trung bình là 60 Nam nhiều hơn nữ [47], [48]
Hình ảnh GPB có 3 thể: (1) Thể đặc có đặc trưng là những đảo tế bào
đáy, có tế bào hình khối hay trụ ở ngoại biên Một số tế bào ưa kiềm phân tán
trong mô đệm chứa ít sợi tạo keo (2) Thể ống nhỏ có nhiều tế bào kết thành dây nối nhau hoặc thành hốc trong tuyến trong mô đệm lỏng lẻo (3) Thể bè
và thể màng có nhiều màng đáy dày bao phủ quanh các cấu trúc biểu mô hoặc
đôi khi xâm lấn vào lòng tiểu thuỳ tuyến tạo hình ảnh giả u Tuy nhiên, nhìn chung có thể chia ra 2 loại mô bệnh học là dạng có màng và dạng không màng [27], [48], [49]
U tuyến bã
U này đặc trưng bởi sự hiện diện nhiều tế bào tiết bã, thường gặp ở TDH và TMT Các tế bào này có thể biệt hoá cao trong u lành, biệt hoá thấp trong u ác [47], [47], [50]
1.5.3 Hóa mô miễn dịch
Hóa mô miễn dịch là kết hợp phản ứng miễn dịch và hoá chất để làm hiện rõ các kháng nguyên (KN) hiện diện trong mô (bào tương, màng tế bào, nhân) Vì kháng nguyên không thể quan sát hình thái được nên người ta phải xác định vị trí của nó trên tế bào bằng các phản ứng miễn dịch và hóa học Có hai kỹ thuật: miễn dịch huỳnh quang và miễn dịch men [51], [52], [53]
Nguyên tắc: Cho kháng thể (KT) đặc hiệu lên mô, nếu trong mô có kháng nguyên sẽ có phản ứng kết hợp KN - KT Có 2 cách để quan sát được phức hợp này:
Trang 20Miễn dịch huỳnh quang: cho gắn với một chất phát huỳnh quang và quan sát dưới kính hiển vi huỳnh quang
Miễn dịch men: Cho gắn với một loại men (peroxidase hoặc alkaline phosphatase) và gắn với chất màu (chromogen), có thể quan sát dưới kính hiển vi quang học
Ứng dụng của hóa mô miễn dịch trong chẩn đoán
Xác định nguồn gốc của những u không biệt hóa
Các loại ung thư khác nhau có tiên lượng và cách điều trị khác nhau, do
đó việc xác định nguồn gốc tế bào ung thư giúp phân loại chính xác các ung thư giúp ích rất nhiều cho việc điều trị bệnh này Chẩn đoán giải phẫu bệnh cơ bản dựa vào hình thái tế bào và cấu trúc mô học của tế bào Các u có nguồn gốc thượng mô thường xếp thành mảng, các u có nguồn gốc trung mô thường xếp rời rạc
1.6 Điều trị u tuyến nước bọt dưới hàm lành tính:
Đối với u tuyến dưới hàm lành tính điều trị chủ yêu bằng phẫu thuật Phẫu thuật u tuyến dưới hàm cần cắt rộng rãi, bao gồm phẫu thuật lấy u và tuyến Một số tác giả khuyên bóc tách toàn bộ bao ngoài u và 2-3 mm mô
xung quanh có liên quan nhằm làm giảm tỷ lệ tái phát sau mổ [53], [54], [55]
Đường rạch phẫu thuật
Kết quả điều trị PT u TDH liên quan chặt chẽ đến phương pháp PT, trong đó đường rạch PT là một trong những yếu tố quan trọng Có nhiều đường rạch PT bộc lộ tổn thương này nhằm giảm đến mức thấp nhất biến chứng liên quan đến nhánh hàm dưới của TK mặt, TK hạ thiệt, TK lưỡi và các cấu trúc khác [53], [55]
Đường rạch trong miệng (đường rạch này không thuận lợi và ít dùng)
Trang 21Có thể dùng đường rạch trong miệng sử dụng đối với bệnh lý viêm mạn hay u lành TDH [56], [57] Với đường rạch này, tác giả Yoav et al (2003) nhận thấy có thể lấy toàn bộ tuyến và u lành, ống tuyến, tránh 6% viêm ngược dòng vào ống tuyến sau PT, tuy nhiên, không thể dùng trong các trường hợp cần cắt rộng như u ác TDH [58]
Đường rạch dưới cằm
Có thể dùng đường rạch dưới cằm để cắt toàn bộ TDH và tổn thương Tác giả Jong Lyel Roh (2008) đã đánh giá kết quả PT 12 trường hợp u hỗn hợp TDH bằng đường rạch này thấy không có tổn thương TK lưỡi và hạ thiệt, tuy nhiên khó tiếp cận tổn thương, không thích hợp cho u ác TDH [25], [59]
Đường rạch sau tai
Đường rạch sau tai có thể tránh được sẹo xấu, sang chấn TK mặt, lấy trọn TDH và tổn thương Tuy nhiên phẫu trường nhỏ, khó kiểm soát và không thuận lợi khi cắt TDH, đặc biệt không thích hợp với trường hợp u ác tính đòi hỏi cắt rộng mô xung quanh [2], [41], [59]
Cắt tuyến dưới hàm qua nội soi
Kessler và cộng sự (2006) đã nghiên cứu PT vào vùng dưới hàm trên thực nghiệm và cắt TDH thành công cho 2 BN viêm TDH bằng PT nội soi Qua nghiên cứu tác giả thấy kết quả điều trị khá tốt, ít chảy máu, tránh được sang chấn TK mặt, dưới lưỡi và hạ thiệt Tuy nhiên, đây chỉ là bước đầu đánh giá và có ý nghĩa đặt nền móng dùng nội soi PT vùng dưới hàm và TDH [60]
Đường rạch cổ bên
Là đường mổ kinh điển đã được mô tả từ lâu và được hầu hết các phẫu thuật viên sử dụng Phương pháp này được chỉ định cho tất cả các khối u tuyến dưới hàm không hạn chế kích thước u và một số bệnh lý vùng dưới hàm khác
Trang 22Đường rạch dài 4-6 cm dưới bờ hàm dưới 2-3cm cho phẫu trường rộng rãi Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này là để lại sẹo vùng dưới hàm,
và một số biến chứng có thể xảy ra bao gồm: chảy máu (2-10%), nhiễm trùng vết mổ (2-9%), dò (0-7%), tổn thương nhánh thần kinh mặt (7,7-36%), thần kinh hạ thiệt (0-7%), thần kinh lưỡi (0-22%) [2], [56], [59], [60]
Đường rạch cổ bên là đường rạch kinh điển có thể giảm được nhiều biến chứng với nhiều mức độ khác nhau tuỳ tác giả nghiên cứu [59], [60] Tỷ
lệ tổn thương TK mặt khi rạch đường rạch này là từ 18% đến 36%, trong đó hai phần ba tổn thương vĩnh viễn Tổn thương TK lưỡi từ 2% đến 5%, 1% chảy máu [61], [62], [63] Trong nghiên cứu này, đường rạch dưới hàm được
áp dụng PT cho tất cả BN
Hình 1.6 Đường mổ cổ bên [2]
Trang 24Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là tất cả những hồ sơ bệnh án của bệnh nhân được khám, chẩn đoán xác định u TDH và được điều trị bằng phẫu thuật tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội từ thang 10/2010 đến tháng 10/2015
- Tiêu chuẩn lựa chọn BN
+ Bệnh nhân được chẩn đoán là u tuyến dưới hàm lành tính
+ Có xét nghiệm mô bệnh học
+ Có kết quả chẩn đoán hình ảnh là siêu âm hoặc chụp CLVT u tuyến dưới hàm
+ Được điều trị bằng phẫu thuật
- Tiêu chuẩn loại trừ
+ Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nhóm nghiên cứu
+ Có các bệnh lý kèm theo ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật và điều trị như các bệnh về máu làm cho tỷ lệ chẩy máu cao, cơ địa sẹo xấu
+ Bệnh nhân được điều trị bệnh lý u tái phát
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu hồi cứu trong thời gian gian từ tháng 1/2010 đên 12/2013,
từ tháng 1/2014 đến tháng 10/2015 là nghiên cứu mô tả cắt ngang
+ Từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2013 là nghiên cứu hồi cứu trên hồ sơ bệnh án u tuyến nước bọt dưới hàm Trong NC này chúng tôi thu thập được
30 ca hồi cứu
+ Từ tháng 1/ 2014 đến 10/ 2015 nghiên cứu tiến cứu Trong NC này chúng tôi thu thập được 45 trường hợp
Trang 252.2.2 Mẫu nghiên cứu
- Cỡ mẫu được tính theo công thức:
2
2 ) 2 / 1 (
.
) 1 (
p
p p
Z = 1,96 Hệ số tin cậy ở mức sác xuất 95%
p = 0, 95 bệnh nhân có kết quả phẫu thuật u tuyến dưới hàm đạt kết quả tốt (Theo nghiên cứu của Nguyễn Quang Huy Luận văn Thạc sỹ
Y Học năm 2010)
là sai lệch tương đối, = 0,15
Thay vào công thức ta có: n = 70 bệnh nhân
Trong nghiên cứu này chúng tôi thu thập được 75 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn của nghiên cứu
2.2.3 Thu thập thông tin
Thông tin của mẫu nghiên cứu được thu thập bao gồm:
-Đối với nhóm hồi cứu thu thập thông tin dựa trên các dữ liệu của hồ sơ bệnh án được lưu trữ tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà Nội
- Đối với nhóm tiến cứu trực tiếp thăm khám bệnh nhân, ghi chép các dữ liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu và tham gia phẫu thuật
Đặc điểm lâm sàng
+ Tuổi, giới tính, lý do đến khám
+ Tiền sử bản thân: Tiền sử hút thuốc, uống rượu,
+ Thời gian khởi phát bệnh (là thời gian có triệu chứng khó chịu đầu tiên đến lúc khám và điều trị) tính theo đơn vị tháng
+ Triệu chứng xuất hiện đầu tiên
+ Dấu hiệu toàn thân: Sốt, giảm cân, dấu hiệu khác
Trang 26+ Triệu chứng tại chỗ: Đau tại TDH, khô miệng, tê lưỡi + Tính chất của u:
- Vị trí: Bên phải, bên trái, cả hai bên
- Kích thước < 2cm, 2 – 4cm, > 4cm
- Mật độ: chắc, cứng, mềm
- Ranh giới: rõ, không rõ
- Di động: di động dễ dàng, hạn chế di động
Hình 2.1: Hình ảnh u tuyến dưới hàm Trái
(Bệnh nhân: Lê Văn M Mã BA:)
Trang 27+ Vị trí: ngoài tuyến, trong tuyến, cả trong và ngoài tuyến
+ Số lượng khối u: một khối, ≥ 2 khối
+ Ranh giới: rõ, không rõ
+ Mật độ: đồng nhất, không đồng nhất, cấu trúc dịch
+ Độ ngấm thuốc: Độ I, độ II, độ III
+ Hình dạng khối u: thùy múi, tròn hoặc bầu dục, không xác định + Đánh giá giá trị của chụp CLVT đối với u tuyến dưới hàm:
Trang 28Đánh giá độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm và chụp CLVT dưa trên và các giá trị thu thập được sau phẫu thuật với các giá trị siêu âm và chụp CLVT trước mổ trên cùng bệnh nhân
Tiến trình phẫu thuật:
Tất cả BN đều được PT bằng đường rạch dưới hàm Tiến trình PT qua 8 bước như sau:
Bước 1: Chuẩn bị phẫu trường
Hình 2.2 Chuẩn bị phẫu trường đường mổ cổ bên
Bước 2: Phác hoạ đường rạch và gây tê co mạch
Hình 2.3 Đường rạch cổ bên
Trang 29 Bước 3: Rạch da
Đường rạch da dài khoảng 4-6cm dọc theo, cách bờ xương hàm dưới hai khoát ngón tay (3cm)
Rạch qua tổ chức dưới da, cơ bám da
Rạch qua lớp cân mỏng phía dưới cơ bám da
Bước 4: Cắt cơ bám da cổ
Bước 5: Bóc tách đến võng cơ cắn - chân bướm
Bước 6: Bộc lộ toàn bộ TDH và các tổn thương liên quan
Bước 7: Lấy tổn thương
Chúng tôi phân loại PT cắt u là:
+ Cắt u đơn thuần
+ Cắt toàn bộ u và tuyến
+ Cắt toàn bộ u, tuyến và phần mô xung quanh
Hình 2.4 Hình ảnh cắt khối u và tuyến
Trang 30 Bước 8: Khâu đóng và đặt dẫn lưu
Hình 2.5 Khâu đóng và đặt dẫn lưu
Đặc điểm mô bệnh học:
Tiến trình PT, tình trạng BN và bệnh phẩm được ghi chép rõ ràng trong
hồ sõ bệnh án Chúng tôi đánh giá đặc điểm GPB như sau:
+ Ðặc điểm đại thể: Ðược mô tả cụ thể trong biên bản PT
+ Ðặc điểm vi thể: Dựa trên cõ sở các tiêu bản hoặc bệnh phẩm của BN sau điều trị Tất cả đều được thực hiện tại một nơi Chúng tôi loại bỏ các kết quả GPB không được đọc rõ ràng
+ Về phân loại GPB, chúng tôi dựa theo phân loại của WHO (2003) gồm có u hỗn hợp, u Warthin
+ Đối với UT TDH, chúng tôi theo phân loại kích thước khối u TDH theo WHO (2003), AJCC (2010) Các thông tin này được thu thập từ khám lâm sàng, cận lâm sàng và các chi tiết trong biên bản PT
Trang 31Tiến trình tiến hành lấy bệnh phẩm, làm tiêu bản và đọc kết quả như sau:
+ Lấy bệnh phẩm: Mẫu bệnh phẩm là phần mô nằm giữa khối u và qua vùng tiếp giáp với mô lành tính của toàn bộ TDH, mô xung quanh và hạch (nếu có)
+ Làm tiêu bản: Cố định mẫu bệnh phẩm trong dung dịch formol 10%, đúc parafin, cắt tiêu bản 3-4µm, tiến hành nhuộm theo phương pháp H.E và P.A.S
+ Ðọc kết quả: Ðọc các tiêu bản dưới kính hiển vi quang học với độ phóng đại 100, 200, 400 lần tại khoa Giải phẫu bệnh - Tế bào Bệnh viện K và Bệnh viện RHM Trung ương Hà Nội
Chúng tôi thu thập thông tin về:
+ Tỷ lệ mỗi loại GPB
+ Phân loại GPB
+ Đối chiếu tỷ lệ tái phát u TDH sau PT ở nơi khác (nếu có)
Hình 2.6 Hình ảnh u tuyến dưới hàm và toàn bộ tuyến được lấy ra sau khi phẫu thuật (BN Nguyễn Văn M Mô bệnh học là u tuyến đa hình)
Trang 32 Kết quả điều trị
Đánh giá kết quả PT:
Đánh giá kết quả phẫu thuật dựa vào:
- Dữ liệu hồ sơ bệnh án
- Trực tiếp thăm khám bênh nhân
- Hẹn bệnh nhân tái khám để dánh giả kết quả xa
- Đổi với những bệnh nhân không đến tái khám liên lạc qua điện
thoại hoặc gửi phiếu điều tra
Chúng tôi nhận xét:
Tỷ lệ các phương pháp phẫu thuật cắt u
Biến chứng trong và sau mổ:
- Chảy máu
- Tổn thương nhánh hàm dưới TK VII
- Tê lưỡi
- Khô miệng
Kết quả điều trị gần và xa:
- Kết quả gần: Bệnh nhân được theo dõi sau phẫu thuật cắt u tuyến dưới hàm 1 tháng, 3 tháng
- Kết quả xa đánh giá kết quả 6 tháng sau phẫu thuật cắt u tuyến dưới hàm
- Các tiêu chí để đánh giá kết quả phẫu thuật dựa vào:
+ Biến chứng sau mổ: Tê lưỡi, rò nước bọt, khô miệng
+ Còn u
+ Sẹo mổ
+ Tái phát
+ Chuyển hóa ác tính
Trang 33Kết quả điều trị được phân loại như sau:
Kết quả tốt khi: Lấy hết u và không có bất kỳ biến chứng nào trong,
và sau mổ
Kết quả trung bình khi: Lấy hết tổn thương và có biến chứng PT
Kết quả xấu khi: không thể lấy hết tổn thương, tái phát, chuyển hóa
ác tính
2.2.4 Phương tiện nghiện cứu:
- Hô sơ bệnh án, mẫu bệnh ánh nghiên cứu, phiếu điều tra
- Thước đo kích thước u
- Siêu âm:
+ Tất cả các khám xét được thực hiện trên máy siêu âm với đầu dò
phẳng tần số 7,5MHz (Máy Philip – HD 7 Diagnostic Ultrasound System – HD 7 XE và máy Logic – GE Ultrasound Korea, Model classic 1 của bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương
+ Toàn bộ tuyến và các tổn thương cần phải được đánh giá với ít nhất
là 2 mặt phẳng vuông góc với nhau trong quá trình làm siêu âm Toàn bộ cổ phải được đánh giá nhằm tìm kiếm các hạch và tổn thương đi kèm hoặc bệnh liên quan
- Chụp CLVT:
+ Tất cả các khám xét đều được thực hiện trên máy Ct xoắn ốc (Asterion – Toshiba, Model TSX – 021B của viện Răng Hàm Mặt Trung Ương
+ Thuốc cản quang được dung là Ultravist 300, lọ 50 mm, tiêm tĩnh mạch với tốc độ 3ml/ giây
+ Thực hiện các lớp cắt trước tiêm để đánh giá nhu mô tuyến và sỏi cản quang hay không Sau đó tiêm nhanh thuốc cản quang tĩnh
Trang 34mạch và bắt đấu lớp cắt sau 60 giây, độ dày lớp cắt trước và sau tiêm là 5mm
+ Các lớp cắt được thực hiện trên hai mặt phẳng trục và đứng ngang
2.2.5 Xử lý số liệu
Số liệu được nhập vào máy tính, xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0
Dùng phương pháp thống kê y học để phân tích số liệu Kiểm định các đại lượng bằng χ2 test, Fisher Extact test
2.2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện khi được sự cho phép của Hội đồng khoa học Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Hà Nội Ban Giám đốc, Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội Nghiên cứu có tính chất phục vụ nghiên cứu khoa học,công tác điều trị
và nâng cao trình độ chuyên môn
Những thông tin trong nghiên cứu được giữ bí mật
Nghiên cứu cam kết không làm ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh
Trang 35Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng u TDH
Đặc điểm lâm sàng u tuyến dưới hàm
Trang 363.1.2 Triệu trứng đầu tiên và thời gian khởi phát bệnh
Bảng 3.2: Triệu trứng đầu tiên và thời gian khởi phát bệnh
Triệu trứng cơ năng
Bảng 3.3 Dấu hiệu đau tại chỗ, khô miệng, tê lưỡi lúc khám
- Đau tại chỗ: Triệu trứng không tại chỗ chiếm tỷ lệ cao nhất là 96%
- Khô miệng: Không khô miệng chiếm tỷ lệ cao nhất 94.7%
- Tê lưỡi: Có 2 bệnh nhân tê lưỡi chiếm tỷ lệ 2.7%
Trang 37- Kích thước: Khối u có kích thước 2 – 4cm chiếm tỷ lệ cao nhất 73.4%
Trang 38Đặc điểm cận lâm sàng
3.1.6 Đặc điểm giải phẫu bệnh u tuyến hàm dưới
Bảng 3.6 Đặc điểm giải phẫu bệnh u TDU
Nhận xét: U tuyến đa hình chiếm tỷ lệ cao nhất là 61.3%
3.1.7 Đặc điểm siêu âm u tuyến dưới hàm
Đặc điểm, kích thước, tính chất u tuyến dưới hàm trên siêu âm
Bảng 3.7 Đặc điểm, kích thước, tính chất u tuyến dưới hàm trên siêu âm
Trang 39Nhận xét:
Trong tổng số 25 bệnh nhân thu nhận được có siêu âm tuyến dưới hàm cho thấy:
- Kích thước khối u 2 – 4 cm chiếm tỷ lệ cao nhất 80%
- Độ đồng nhất của khối u chiếm tỷ lệ cao nhất 80%
- Ranh giới của khối u rõ chiếm tỷ lệ cao nhất là 84%
3.1.8 Đối chiếu siêu âm với lâm sàng của u TDH
Đối chiếu lâm sàng và siêu âm về kích thước u TDH
Biểu đồ 3.2 Kích thước u sau mổ Nhận xét: Kích thước của u sau mổ trên lâm sàng và kích thước của u trên
siêu âm có có khác nhau đặc biệt ở nhóm kích thước u > 4cm
Trang 40 Đối chiếu lâm sàng và siêu âm về ranh giới u TDH
Biểu đồ 3.3: Ranh giới Nhận xét: Sự khác biệt về ranh giới khối u TDH giữa siêu âm và lâm sàng
không có ý nghĩa thống kê
3.1.9 Đặc điểm chụp CLVT của u tuyến dưới hàm
Đặc điểm: Kích thước và tính chất của u TDH trên CLVT
Bảng 3.8 Đặc điểm kích thước và tính chất cua u TDH trên CLVT