BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NGUYỄN QUANG TOÀN Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và một số yế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN QUANG TOÀN
Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và một số yếu tố liên quan, năm 2015
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng ủy, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Sức khỏe Môi trường, Viện Đào tạo Y học Dự phòng & Y tế Công cộng, trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Với tấm lòng của người học trò, tôi xin bày được tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Lê Thị Hoàn - Viện Đào tạo Y học Dự phòng & Y tế Công cộng Trường đại học Y Hà nội đã luôn tận tình dành nhiều thời gian hướng dẫn chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn các thầy, cô bộ môn Sức Khỏe Môi Trường cùng các thầy cô của Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Uỷ ban nhân dân thành phố Điên biên Phủ, Uỷ ban nhân dân các phường sở tại trong thành phố Điện Biên Phủ cơ quan chủ quản Sở Y tế, Trung tâm Pháp y tỉnh Điện biên cùng đồng nghiệp Toàn thể các hộ gia đình và các em vị thành niên đã tham gia trong nghiên cứu này luôn ủng hộ, tạo điều kiện và nhiệt tình giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian làm việc, công tác tại địa phương
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong gia đình, những người bạn thân thiết đã cùng tôi chia sẻ những khó khăn và giành cho tôi những tình cảm, sự chăm sóc quý báu trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2015
Nguyễn Quang Toàn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học trong khuôn khổ
của Đề tài “Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và một số yếu tố liên quan, năm 2015” do
bản thân tự thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Lê Thị Hoàn, Viện Đào tạo
Y học Dự phòng & Y tế Công cộng tại trường đại học Y Hà nội
Tôi xin cam đoan đã thực hiện nghiên cứu này một cách khoa học, chính xác và trung thực
Các số liệu, kết quả trong luận văn này đều được thu thập từ quá trình nghiên cứu và chưa được công bố trên bất kỳ tài liệu nào trước đây
Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Quang Toàn
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CB/CNV Cán bộ/Công nhân viên
CDC Centers for Disease Control and Prevention
(Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mỹ) CSSK Chăm sóc sức khỏe
DVYT Dịch vụ y tế
GYTS Global youth tobacco survey
(Tổ chức khảo sát thuốc lá ở thanh thiếu niên trên toàn cầu)
TTGDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe
UBND Ủy ban nhân dân
VTN Vị thành niên
Trang 5MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN 3
1.1 Đại cương về sức khỏe vị thành niên 3
1.1.1 Khái niệm lứa tuổi vị thành niên 4
1.1.2 Những thay đổi về thể chất ở lứa tuổi vị thành niên 4
1.1.3 Phát triển tâm lý xã hội giai đoạn vị thành niên 6
1.1.4 Tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên 8
1.2 Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới và Việt Nam 9 1.2.1 Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới 9
1.2.2 Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên tại Việt Nam 12
1.3 Những yếu tố liên quan đến sức khỏe vị thành niên 14
1.4 Một số nghiên cứu về tình trạng sức khỏe vị thành niên 21
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 23
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 23
2.2 Đối tượng nghiên cứu 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu 24
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 24
2.3.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 25
2.3.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu 26
2.4 Sai số nghiên cứu và biện pháp khắc phục 28
2.5 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu 29
2.6 Đạo đức nghiên cứu 30
Trang 6Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên 34
3.3 Hành vi sức khỏe vị thành niên 38
3.4 Một số yếu tố liên quan tới sức khỏe không tốt của trẻ VTN 43
Chương 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 51
4.2 Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên 52
4.3 Một số hành vi sức khỏe của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ năm 2015 56
4.4 Yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe tự đánh giá không tốt của trẻ vị thành niên 61
KẾT LUẬN 65
KHUYẾN NGHỊ 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 31
Bảng 3.2 Thông tin chung của gia đình trẻ vị thành niên 32
Bảng 3.3 Thông tin chung của mẹ trẻ vị thành niên 33
Bảng 3.4 Thông tin chung bố trẻ vị thành niên 33
Bảng 3.5 Tỷ lệ trẻ vị thành niên tự đánh giá sức khỏe không tốt theo đặc điểm nhân khẩu học 35
Bảng 3.6 Tỷ lệ trẻ vị thành niên có sức khỏe không tốt theo các đặc điểm chung của gia đình 36
Bảng 3.7 Tỷ lệ trẻ vị thành niên có sức khỏe không tốt theo đặc điểm cá nhân của cha, mẹ 37
Bảng 3.8 Thời gian trẻ vị thành niên dành cho việc học và ngủ/ngày 38
Bảng 3.9 Tình trạng sử dụng Internet của trẻ vị thành niên 38
Bảng 3.10 Tình trạng chơi thể dục thể thao của trẻ vị thành niên 39
Bảng 3.11 Trẻ vị thành niên tham gia lao động ngoài giờ học 40
Bảng 3.12 Tình trạng sử dụng và thời gian sử dụng rượu, bia, chất có cồn của trẻ vị thành niên 40
Bảng 3.13 Tình trạng sử dụng và thời gian sử dụng thuốc lá, thuốc lào của trẻ vị thành niên 41
Bảng 3.14 Tình trạng trẻ vị thành niên bị bắt nạt 41
Bảng 3.15 Tình trạng trẻ vị thành niên bị đánh 42
Bảng 3.16 Sử dụng một số thực phẩm, chế độ dinh dưỡng của trẻ vị thành niên43 Bảng 3.17 Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm nhân khẩu học của vị thành niên 43
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm nhân khẩu học gia đình 44
Trang 8Bảng 3.19 Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm chung của mẹ 45Bảng 3.20 Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt với đặc điểm chung của bố 45Bảng 3.21 Mối liên quan giữa tự đánh giá sức khỏe không tốt của trẻ vị thành
niên đối với các hành vi bị ảnh hưởng tới sức khỏe 46Bảng 3.22 Mối liên quan giữa sức khỏe của trẻ vị thành niên với các hành vi có
nguy cơ tới sức khỏe 47Bảng 3.23 Mối liên quan giữa tự đánh giá sức khỏe không tốt của vị thành niên
với phân bố thời gian hoạt động trong ngày 47Bảng 3.24 Mối liên quan giữa sức khỏe không tốt của trẻ vị thành niên với các 48
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên 34Biểu đồ 3.2 Thực trạng BMI của trẻ vị thành niên 34
Trang 10Tỷ lệ trẻ VTN chiếm khoảng 20% dân số thế giới và có tới 85% số đó sống ở các nước đang phát triển [3] Tuy nhiên, trẻ VTN đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, chịu sức ép lớn về việc học tập và dự kiến tương lai từ gia đình, nhà trường và xã hội, tiếp xúc nhiều thông tin thiếu sự chọn lọc hoặc không phù hợp lứa tuổi, khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và dễ bị lôi kéo bởi các tệ nạn xã hội Do thể chất và tinh thần chưa ổn định, khả năng tự nhận biết, tự đánh giá về súc khỏe của bản thân chưa cao và đây còn là độ tuổi
dễ mắc các bệnh như bệnh học đường (bệnh cận thị, bệnh cong vẹo cột sống, bệnh răng miệng), bệnh do rối loạn dinh dưỡng (bệnh thiếu máu, rối loạn do thiếu iod, bệnh béo phì các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nghiện hút
và tiêm chích ma túy, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng [4] Nhiều hành
vi nguy cơ cao ảnh hưởng tới sức khỏe như hút thuốc lá, uống rượu bia ít vận động, quan hệ tình dục không an toàn hoặc tham gia vào các hành vi bạo lực…dẫn tới những hậu quả về lâu dài tác động tới sức khỏe khi trưởng thành.Theo thống kê cho thấy, gần 60% trường hợp chết trẻ và và 1/3 trong tổng số những người mắc bệnh ở tuổi trưởng thành có liên quan đến các hành
vi từ khi ở tuổi niên thiếu [3]
Tại Việt Nam, tính tới ngày 01 tháng 4 năm 2014 có17,4% dân số trong
độ tuổi VTN [5] Thế hệ thanh niên là nhân tố đóng góp quan trọng vào việc gây dựng con đường tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững Do đó việc cung cấp thông tin, giáo dục và dịch vụ về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên cũng như tìm hiểu tình hình sức khỏe, những nhận thức về sức khỏe của lứa tuổi này là cần thiết và đặc biệt quan trọng Ở nước ta vấn đề
Trang 11chăm sóc và bảo vệ sức khỏe VTN đang là vấn đề được quan tâm hàng đầu.Tại nhiều địa phương nạn bạo lực học đường, bạo lực gia đình đang tăng lên do ảnh hưởng từ nền KT, XH… Tỷ lệ chích hút ma túy, sử dụng rượu, bia đang tăng nhanh Cùng với việc trẻ VTN sử dụng lớn quỹ thời gian vào hệ thống công nghệ thông tin, hành vi truy cập các nguồn thông tin mạng internet không chính thống, các trò chơi điện tử mang tính bạo lực hiện nay cũng đang được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe VTN [6] Hiện nay tình trạng VTN “hổng” về kiến thức sức khỏe khá phổ biến và vấn đề tự đánh giá sức khỏe của VTN đang còn là vấn đề mới mẻ ít được nhắc đến, chưa có hướng dẫn tự đánh giá về sức khỏe cho lứa tuổi VTN, chưa có hệ thống chăm sóc sức khỏe riêng biệt cho lứa tuổi VTN
Điện Biên là một tỉnh thuộc vùng Tây bắc, đa sắc tộc trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (chiếm khoảng 82% dân số) Do điều kiện kinh tế, đi lại còn khó khăn, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số còn lạc hậu, chính vì những phong tục mang tính đặc trưng của vùng, miền và nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế nên việc chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên chưa được chú trọng một cách toàn diện, đặc biệt vấn đề tự đánh giá sức khỏe của VTN vẫn chưa có nghiên cứu và hướng dẫn cụ thể nào Thành phố Điện Biên Phủ là thành phố trẻ đang phát triển các điều kiện KT, XH, CT tương đối phức tạp kèm theo mô hình bệnh tật đang chuyển đổi ảnh hưởng không nhỏ tới vấn đề sức khỏe và thái độ, nhận thức về sức khỏe của trẻ VTN
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và một số yếu tố liên quan, năm 2015” với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng sức khỏe tự đánh giá và một số hành vi sức khỏe của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, năm 2015
2 Mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, năm 2015
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Đại cương về sức khỏe vị thành niên
Năm 1978, trong bản Tuyên ngôn Alma Ata, Tổ chức y tế Thế Giới của
Liên hợp quốc (WHO) định nghĩa về sức khỏe: “Sức khỏe không chỉ là không bệnh tật, mà còn là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội ”
Trong Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục đăng trên báo Cứu quốc (ngày
27-3-1946), Bác Hồ đã nêu rõ: “Ngày ngày tập luyện thì khí huyết lưu thông,
tinh thần đầy đủ để giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới ”
theo đó khái niệm về sức khỏe của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là:“khí huyết lưu
thông, tinh thần đầy đủ như vậy là sức khỏe” Khái niệm của Bác (một người
Á Đông) về vấn đề sức khỏe vẫn luôn đúng và đầy đủ so với định nghĩa về vấn đề sức khỏe của tổ chức y tế thế giới WHO sau hơn 30 năm và cho tới tận
ngày nay
Hiến chương của Tổ chức Y tế Thế Giới (TCYTTG) (1946) là công cụ quốc tế đầu tiên bảo vệ sức khỏe, coi đó là “quyền cơ bản của mọi người, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, quan điểm chính trị, điều kiện kinh tế hay xã hội” Quyền được hưởng tình trạng sức khoẻ tốt nhất ngày nay đã
được nhiều hiệp định quốc tế về quyền con người phê chuẩn
Ở mọi thời đại sức khỏe con người ta luôn là điều quý giá nhất (có sức khỏe là có tất cả) cá nhân khỏe mạnh → gia đình khỏe mạnh → xã hội khỏe mạnh → đất nước phát triển luôn là qui luật phát triển chung đối với mỗi quốc gia trên thế giới nói chung và mỗi đất nước, mỗi một dân tộc nói riêng, tương lai của nhân loại, của đất nước đều phụ thuộc vào nguồn nhân lực trẻ, đó chính là sự tồn tại và phát triển của trẻ vị thành niên (VTN) Chính vì vậy mà
Trang 13toàn thế giới và các cộng đồng, các quốc gia luôn đặt vấn đề phát triển và bảo
vệ sức khỏe trẻ VTN lên hàng đầu
1.1.1 Khái niệm lứa tuổi vị thành niên
Tổ chức y tế thế giới WHO đã phân chia lứa tuổi VTN thành 2 giai đoạn:
- Giai đoạn VTN sớm (10 - 14 tuổi)
- Giai đoạn VTN muộn (15 -19 tuổi) [7]
Các nghiên cứu về sức khỏe trẻ vị thành niên (VTN) cho thấy: Đây là thời kỳ con người ta đang ở trong quá trình chuyển tiếp từ trẻ em sang người trưởng thành giai đoạn tuổi dậy thì là giai đoạn hoàn thiện và trưởng thành về mặt tính dục đối với cả nam và nữ Kèm theo đó là sự phát triển mạnh mẽ về thế chất, tinh thần cũng như tình cảm và khả năng hòa nhập với cộng đồng Tuy nhiên sự trưởng thành phát triển theo tốc độ khác nhau đó là sự khác nhau giữa các nền văn hóa, các quốc gia, các gia đình và cá nhân khác nhau Lứa tuổi VTN đặc trưng bởi sự phát triển nhanh về trí tuệ và thể lực với nhiều thay đổi về tâm lý và sinh lý Trong giai đoạn này VTN đã dần tự chủ
về ý thức, thích tự khẳng định mình, đây cũng là lứa tuổi đang phát triển và hình thành nhân cách, nhiều yếu tố tâm lý chưa được hình thành vững chắc
Có nguy cơ cao đối với những mối nguy hiểm trong xã hội có thể gây nên các tổn thương về thể trạng và tinh thần, ảnh hưởng lớn tới sức khỏe VTN kèm theo sự thiếu hiểu biết về thông tin giới tính, vấn đề an toàn tình dục trong lứa tuối VTN cũng sẽ là mối nguy hại tới vấn đề sức khỏe sinh sản của VTN sau này [8]
1.1.2 Những thay đổi về thể chất ở lứa tuổi vị thành niên
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp
từ trẻ em sang người lớn Giai đoạn này có đặc điểm phát triển mạnh mẽ và phức tạp, với sự thay đổi nhanh về thể chất, nội tiết, tâm sinh lý, nhận thức, các kỹ năng và các mối quan hệ xã hội [9]
Trang 14* Các chỉ số phát triển thể chất
- Ở trẻ trai: Là giai đoạn có tốc độ phát triển cơ thể nhanh, từ 13 - 14 tuổi Trước tuổi dậy thì, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 4 - 5cm/năm Giai đoạn dậy thì phát triển mạnh và kéo dài khoảng 4 năm, đỉnh tăng trưởng là khoảng 15 tuổi, với mức tăng chiều cao trung bình có thể đạt 8 - 12cm/năm, trung bình cả đợt trăng trưởng ở tuổi dậy thì là 25cm Ở Việt Nam, lứa tuổi chiều cao tăng mạnh nhất là 13 - 14 tuổi với mức tăng 8,3cm/năm Cân nặng cũng tăng nhanh ở giai đoạn này, tăng cân nhiều nhất ở 14 - 15 tuổi, có thể đạt tới 6,23kg/năm Sau giai đoạn dậy thì phát triển chiều cao và cân nặng chững lại, sự phát triển chiều cao kết thúc ở độ tuổi 20 - 25 tuổi [10]
Hệ thống cơ bắp phát triển mạnh mẽ, nhất là cơ cánh tay, các cơ ở ngực
phát triển nhiều tạo nên dáng vẻ một thanh niên
Về sinh dục, nội tiết: Đây là giai đoạn đang hoàn thiện dần hình thái và chức năng sinh sản Ở Việt Nam, tuổi xuất tinh lần đầu sớm nhất là 12 tuổi, đến 17 tuổi 87,82% trẻ trai đã có dấu hiệu xuất tinh lần đầu Phát triển tuyến
bã và tăng tiết Androgen
Thay đổi giọng nói: Dấu hiệu sớm của hiện tượng này là thỉnh thoảng đổi giọng hoặc như vỡ giọng khi nói [10]
- Ở trẻ gái: Phát triển chiều cao, trước tuổi dậy thì tăng 4 - 5 cm/năm, ở
tuổi dậy thì trẻ gái tăng trung bình 6 - 11 cm/năm Ở Việt Nam, tuổi tăng chiều cao mạnh nhất ở trẻ gái là 11 - 12 tuổi (7,68cm/năm) Thông thường sau
18 tuổi ít phát triển thêm về chiều cao
Cân nặng thường bắt đầu tăng nhanh lúc 10 - 11 tuổi, trẻ gái tăng trung
bình 3 – 3,5kg/năm, cao nhất ở giai đoạn 12 - 13 tuổi với 3,82 kg/năm
Về sinh dục, nội tiết: Thay đổi trước tiên là tuyến vú, từ 8 - 13 tuổi (trung bình 11 tuổi) và hoàn tất ở tuổi 13 - 18 tuổi (trung bình 15 tuổi), một
vú có thể phát triển nhanh hơn vú bên kia Hoàn chỉnh sự phát triển của bộ
Trang 15phận sinh dục ngoài Tử cung phát triển, thành tử cung trở nên lớn hơn và
hoàn thiện hơn [11]
- Tuổi dậy thì:
Dậy thì là thời điểm quan trọng đánh dấu sự phát triển và trưởng thành
về thể chất, giới tính và khả năng sinh sản Những thay đổi cơ thể thường kéo dào theo những thay đổi về tâm lý và tình cảm Dấu hiệu quan trọng nhất đổi với trẻ gái là xuất hiện kinh nguyệt lần đầu tiên, còn đối với trẻ nam là hiện tượng xuất tinh hoặc mộng tinh là lần đầu tiên
Tuổi dậy thì đang có xu hướng ngày càng sớm hơn, khác nhau ở mỗi cá thể, có thể ảnh hưởng bởi các yếu tố dinh dưỡng, giống nòi, văn hóa xã hội…
Ở Việt Nam, theo điều tra Quốc gia về trẻ VTN và thanh niên năm 2009, tuổi trung bình có kinh nguyệt lần đầu ở trẻ gái là 14,5 và mộng tinh/xuất tinh ở trẻ trai là 15,6 Tuổi dậy thì có sự khác biệt nhỏ giữa thanh thiếu niên thành thị và nông thôn: 14 tuổi ở nữ thanh thiếu niên thành thị so với 14,6 tuổi ở nông thôn, sự khác nhau này có thể do điều kiện dinh dưỡng ở nông thôn còn hạn chế hơn [8]
1.1.3 Phát triển tâm lý xã hội giai đoạn vị thành niên
* Đặc điểm tâm lý ở giai đoạn vị thành niên
Cùng với những thay đổi về thể chất ở trẻ vị thành niên là những thay đổi về tâm lý, xã hội cũng như sự phát triển nhân cách Trẻ vị thành niên luôn tìm hiểu và đánh giá các sự kiện, tình huống theo quan điểm của riêng mình, trẻ có khả năng trừu tượng, một hình thức tư duy mà trước đây chưa có [4], [12]
Trẻ vị thành niên được dẫn dắt bởi một tư duy hoàn toàn mới mẻ, quá trình tư duy được tổ chức ở tầm cao hơn, tầm của người trưởng thành [13] Trẻ VTN nỗ lực tìm kiếm độc lập, tách khỏi sự kiểm soát của cha mẹ và các
áp lực gia đình Trẻ khẳng định mình là một cá thể độc lập, tự mình điều khiển mình chứ không phải ai khác [14]
Trang 16Những biến đổi sinh học, nhận thức đã tạo nên sự mất cân bằng tạm thời về tâm lý, trong giai đoạn này trẻ có những thay đổi thường xuyên về tâm
lý, tình cảm nhiều khi gây nên những rối loạn về tâm lý, làm nảy sinh lo âu, trầm cảm và cả những ý nghĩ tự sát [15]
* Sự phát triển về cảm xúc
Tuổi VTN là giai đoạn thích nghi khó khăn nhất trong cuộc sống, trẻ có những biến động về mặt sinh học, cơ thể và sự chín muồi về giới tính kéo theo sự phát triển tâm lý rất đặc thù Ở VTN nhân cách định hình nhưng chưa được khẳng định, trí tuệ phát triển tối đa, nhưng cảm xúc thì dao động, dễ bị tổn thương Tâm trạng trẻ thường xuyên căng thẳng dễ xúc động, hoang mang, lo sợ, dễ nảy sinh trầm cảm Hành động bốc đồng, dao động, dễ tập nhiễm các hành vi tiêu cực [16]
Tuổi VTN là thời kì trẻ có gắng thử nghiệm những gì đã học trước đó
để thỏa mãn các nhu cầu của bản thân Trong giai đoạn này, trẻ cần sự hỗ trợ của người lớn, đặc biệt là cha mẹ về mặt tâm lý, sự đồng cảm, để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng này Điều quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe tinh thần là thấu hiểu tâm trạng của trẻ, củng cố lòng tự trọng, tôn trọng tính độc lập, cần có hướng dẫn khuyến khích những mặt tích cực, tránh các yếu tố tiêu cực [17]
* Sự phát triển về quan hệ xã hội
Ở tuổi này VTN đang hình thành những hứng thú và thay đổi mới, có
xu hướng tư tưởng hóa, vị tha, quan tâm nhiều hơn đến việc phát triển các kỹ năng giao tiếp, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với mối trường xã hội ngày một mở rộng [18]
Phần lớn trẻ VTN bị ảnh hưởng bởi bạn bè cùng lứa, tuy nhiên mức độ ảnh hưởng tùy thuộc vào cá thể Sự đồng nhất với bạn cùng nhóm được thể hiện thông qua cách ăn mặc, cử chỉ, diện mạo, ứng xử… Trẻ vị thành niên
Trang 17ngày càng ít có thời gian ở nhà, trẻ dành nhiều thời gian với bạn bè, thông thường là bạn học vì nhà trường là nơi diễn ra nhiều nhất các tác động qua lại
về mặt xã hội đối với trẻ Thông qua các mối quan hệ mang tính xã hội này, trẻ VTN hiểu biết rõ hơn về bản thân và những người khác
Trước tuổi VTN, nam nữ thường không ưa nhau Đến tuổi dậy thì bắt đầu biểu hiện những cảm xúc giới tính, để ý vụng trộm, trêu chọc bạn khác giới Sau đó là các hoạt động nhóm, hẹn hò bạn khác giới… Tuy nhiên, ở giai đoạn này quan hệ mang tính chất xã hội hơn là quan hệ tình yêu, nó kích thích
sự phát triển ý thức về tính đồng nhất của trẻ VTN
Một điểm quan trọng trong quá trình phát triển của VTN là phát triển năng lực tự quản và ý thức trách nhiệm Sự phát triển tâm lý xã hội ở giai đoạn vị thành niên đã diễn ra nhanh chóng, có tính chất kịch tính cao và khá phức tạp Quá trình phát triển này dễ bị tác động bởi các yếu tố môi trường, văn hóa xã hội, giáo dục, gia đình…
1.1.4 Tầm quan trọng của chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên
Vị thành niên là một lực lượng to lớn và nòng cốt của xã hội Ở những nước đang phát triển có cấu trúc dân số trẻ như Việt Nam thì lực lượng vị thành niên chiếm gần một phần tư dân số, đây là nguồn nhân lực chủ yếu của một đất nước trong tương lai [19]
Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển hoàn thiện con người từ lúc ấu thơ đến khi trưởng thành Đây là thời kì mang lại những biến đổi lớn lao về cơ thể cũng như sự khác biệt về giới Là độ tuổi rất cần sự hướng dẫn, chăm sóc của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội để giúp vị thành niên chuyển sang tuổi trưởng thành một cách đúng đắn Sự phối kết hợp của cá nhân, cộng đồng và môi trường là cơ sở rất quan trọng trong việc tăng trưởng sức khỏe vị thành niên, nó giúp cho vị thành niên phát triển hài hòa về thể chất và lành mạnh về tình thần [20]
Trang 18Sức khỏe vị thành niên liên quan trực tiếp tới sự phát triển của mỗi con người từ lúc còn ở tuổi vị thành vị thành niên và cả tương lai duy trì giống nòi của dòng họ sau này Vấn đề sức khỏe vị thành niên nhất là sức khỏe sinh sản
ở tuổi này còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của cả dân tộc Do đó việc cung cấp thông tin, giáo dục và dịch vụ về chăm sóc sức khỏe lứa tuổi vị thành niên là cần thiết và đặc biệt quan trọng [20]
1.2 Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên Thế giới
Theo những tài liệu công bố của Mỹ có tới hơn 80% bệnh tật có nguồn gốc phát sinh từ môi trường Đối với toàn cầu thì môi trường sức khỏe là một lĩnh vực vô cùng to lớn và có cảm giác như vô hình nó bao gồm: Lý, hóa, sinh học, môi trường xã hội (môi trường làm việc, môi trường cộng đồng, gia đình, phân chia giàu nghèo, các căng thẳng xã hội)…mà các yếu tố này đều liên quan tới sức khỏe VTN [21] Thực tế đã cho thấy các quốc gia trên toàn thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề lớn liên quan tới sức khỏe của lứa tuổi VTN Đó là các vấn đề về sức khỏe như tỷ lệ tử vong do sinh nở, nhiễm HIV,
tử vong do chấn thương, sử dụng rượu bia và thuốc lá
Trên thế giới, cứ 5 người thì có 1 người trong độ tuổi VTN và 85% trong số họ sống ở các nước đang phát triển Gần 2/3 trong số chết trẻ và 1/3 trong tổng số những người mắc bệnh ở tuổi trưởng thành có liên quan đến điều kiện sống và các hành vi từ khi ở tuổi niên thiếu như sử dụng thuốc lá, thiếu hoạt động thể chất, tình dục không an toàn và tình trạng bạo lực [7]
Gần 20% VTN trong độ tuổi từ 13 - 15 tuổi trên toàn thế giới sử dụng các sản phẩm thuốc lá, theo số liệu phân tích từ năm 1999 - 2005 của Tổ chức khảo sát thuốc lá ở thanh thiếu niên trên toàn cầu (GYTS) Nhìn chung, thuốc lá đang thịnh hành trong giới trẻ ở tất cả các châu lục, cao nhất là ở khu vực châu Mỹ và châu Âu (22,2% và 19,8%) [21] Theo Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) đây là con số đáng báo động để các nước trên thế giới tăng cường đánh giá và thực hiện các chương trình kiểm soát thuốc lá [22]
Trang 19Sử dụng rượu bia đang có xu hướng tăng lên qua các năm ở lứa tuổi VTN Trẻ VTN uống nhiều rượu thường học kém, thiếu tập trung, giảm chú
ý Phân tích về các hành vi nguy cơ có ảnh hưởng sức khỏe vị thành niên cho thấy trẻ VTN có sử dụng rượu bia có xu hướng hoạt động tình dục sớm gấp 7 lần so với những trẻ không uống rượu [23] Cũng theo một nghiên cứu tại Mỹ, 40,7% sinh viên nam và 27,8% sinh viên nữ bắt đầu có quan hệ tình dục khi có sử dụng các thức uống có cồn Theo thống kê năm 2009 ở Mỹ, có tới 4,2 triệu trẻ VTN bắt đầu sử dụng rượu bia lúc 16 tuổi hoặc trẻ hơn, với
độ tuổi trung bình là 13 tuổi [12] Tại châu Á, các báo cáo về tình hình sử dụng rượu trong lứa tuổi VTN cũng rất nhiều Lứa tuổi trung bình bắt đầu sử dụng rượu ở Nhật Bản là từ 13 đến 17 tuổi còn tại Hàn Quốc, tỷ lệ trẻ VTN uống rượu, bia là 43% trong đó trẻ trai có xu hướng lạm dụng rượu, bia nhiều hơn trẻ gái [24]
Sức khỏe tinh thần của trẻ VTN cũng đang là một vấn đề cần quan tâm Không dưới 20% số người trẻ tuổi sẽ trải qua những rối loạn tinh thần nào đó như phiền muộn, nhiễu loạn tâm lý, lạm dụng thân thể, hành động tự sát hay chán ăn Để cải thiện vấn đề này, cần tăng cường việc chăm sóc sức khoẻ cho vị thành niên và các dịch vụ tư vấn tại cộng đồng [11], [13]
Bạo lực là nguyên nhân hàng đầu trong 10 nguyên nhân gây tử vong ở tuổi VTN trên toàn cầu, bao gồm cưỡng bức, bạo lực gia đình và cả chiến tranh [14]
Trong mọi cái chết có nguyên nhân từ bạo lực ước tính có hơn 20 đến 40% có thể tránh được nếu được điều trị tại bệnh viện Sự hỗ trợ hiệu quả về mặt tâm lý và xã hội có thể giúp ngăn chặn chu kỳ bạo lực từ thế hệ này sang thế hệ khác
Nhiều nghiên cứu trên thế giới quan tâm tới quan hệ tình dục không an toàn ở lứa tuổi vị thành niên Theo nghiên cứu của Kipp và cộng sự năm 2004 tại Uganda đối với đối tượng VTN từ 12 đến 21 tuổi chỉ ra kết quả: Phần lớn
Trang 20đối tượng tham gia bắt đầu có QHTD ở độ tuổi từ 12 - 15 tuổi Nhóm đối tượng đang học trong trường học có quan điểm cởi mở hơn với vấn đề tình dục so với đối tượng không đi học [25] Nghiên cứu của Frontenria và cộng
sự năm 2006 về vấn đề kiến thức và thực hành về SKSS trên đối tượng là học sinh trung học ở 4 nước là Bỉ, Cộng hòa Séc, Estonia và Bồ Đào Nha đã đưa
ra những kết luận về hiểu biết của VTN về tình dục, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, QHTD và sự sử dụng các dịch vụ y tế Theo đó, tỷ lệ học sinh
có bạn trai, bạn gái chiếm 76 đến 96% tùy từng quốc gia và gần một nửa trong
số đó đã từng QHTD (47,6% - 58,5%) [26]
Hàng năm trên thế giới có khoảng 16 triệu em gái tuổi từ 15 đến 19 sinh con, chiếm gần 11% số ca sinh toàn cầu Phần lớn các ca sinh nở ở tuổi VTN là ở các nước đang phát triển Nguy cơ tử vong ở trẻ VTN mang thai cao hơn rất nhiều so với phụ nữ trưởng thành
Rất nhiều trẻ VTN ở các nước đang phát triển bước vào độ tuổi vị thành niên trong điều kiện không được nuôi dưỡng đầy đủ, điều này làm tăng nguy cơ mắc bệnh và chết sớm Ngược lại, một dạng khác của suy dinh dưỡng ảnh hưởng đến sức khoẻ là tăng cân và béo phì đang tăng nhanh trong giới trẻ ở cả các nước giàu Thói quen luyện tâp thể chất điều độ, ăn uống khoa học và dinh dưỡng hợp lý ở lứa tuổi này là cơ sở để có sức khoẻ tốt ở tuổi trưởng thành [30]
Nhà nghiên cứu George Patton, giáo sư nghiên cứu về sức khỏe thanh thiếu niên tại Đại học Melbourne và cộng sự đã nghiên cứu về bức tranh toàn cảnh về sức khỏe của thanh thiếu niên trên toàn thế giới trong độ tuổi từ 10 - 24 vào năm 2008, tỉ lệ tử vong ở lứa tuổi thanh thiếu niên, hiện tượng hiếm xảy ra khá phổ biến ở nhiều nước, trong đó Nam Phi có tỉ lệ cao nhất thế giới [27] Nguyên nhân tử vong chủ yếu do chấn thương, nhiễm HIV hoặc lao phổi và
Trang 21các bệnh mãn tính khác Mỹ là nước có tỉ lệ tử vong thanh thiếu niên cao nhất trong số 27 nước thu nhập cao
Các bệnh hay gặp ở lứa tuổi vị thành niên là: Bệnh học đường (bệnh cận thị, bệnh cong vẹo cột sống, bệnh răng miệng), bệnh do rối loạn dinh dưỡng (bệnh thiếu máu dinh dưỡng, rối loạn do thiếu iod, bệnh béo phì)… các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nghiện hút và tiêm chích ma túy, nhiễm HIV/AIDS ngày càng tăng [19], [28], [29] Năm 2007, trên toàn thế giới khoảng 45% tổng số trường hợp nhiễm HIV mới là người trong độ tuổi
15 đến 24 [6]
1.2.2 Tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên tại Việt Nam
Các nghiên cứu về sức khỏe học sinh gần đây cho thấy mô hình bệnh tật của học sinh không có nhiều thay đổi, chủ yếu mắc các bệnh cấp tính nhưng học sinh ít nghỉ học do ốm hơn so với trước [33, 34] Theo kết quả nghiên cứu của Chu Văn Thăng và cộng sự năm 2008 - 2009 tại Phú Thọ, Quảng Bình và Đồng Nai trên 2764 học sinh tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông cho kết quả trong 2 tuần qua học sinh thường mắc các bệnh cấp tính như sổ mũi (57%), sốt (30%) và đau học, đau tai (30%) Học sinh thường tự chữa là nhiều nhất khi bị ốm trong 2 tuần qua (chiếm tỷ lệ 33%) rồi đến bệnh viện (21%) và đến các cơ sở khác như trạm y tế xã, y tế tư nhân và thầy thuốc Đặc biệt không có học sinh nào báo cáo đến phòng y tế trường học đầu tiên khi bị ốm trong 2 tuần qua [19]
Theo báo cáo kết quả điều tra thực trạng một số bệnh của học sinh phổ thông và hoạt động y tế trường học tại Hà Nội thực hiện năm 2009: Cho thấy 16.024 học sinh các trường phổ thông tại Hà Nội được khám, có 5.078 học sinh mắc các bệnh về tai mũi họng (chiếm 31,7%), 1.335 học sinh mắc các bệnh về da liễu (8,3%) Kết quả điều tra cho thấy có 32,9% học sinh mắc các bệnh về mắt trong đó có 30,2% mắc bệnh cận thị và có xu hướng tăng dần
Trang 22theo bậc học (cấp 1: 20,4%, cấp 2: 29,6%, cấp 3: 36,9%) Tỷ lệ học sinh mắc các bệnh về răng miệng chiếm 41,2% tỷ lệ học sinh bị sâu răng là 10,8% (chiếm 26,2% các bệnh về răng miệng) [19]
Tỷ lệ cận thị đang có xu hướng tăng lên trong các cấp học và ở thành thị
số học sinh bị cận thị cao hơn nhiều so với học sinh ở vùng nông thôn Theo tác giả Trần Văn Dần, ở Hà Nội có lớp học tới 50% học sinh phải đeo kính, tỷ lệ này
ở khối tiểu học là 9,6%, trung học cơ sở là 36,5% và khối trung học phổ thông
là 24% Trong khi đó ở các vùng nông thôn tỷ lệ cận thị trường học rất thấp chỉ
từ 1,6% - 3% Cùng với cận thị thì bệnh cong vẹo cột sống cũng là một bệnh phổ biến ở lứa tuổi VTN Theo nghiên cứu của Vụ giáo dục thể chất Bộ giáo dục đào tạo tiến hành khám 634 học sinh tại 6 trường học tại Hà Nội Năm 2004 - 2005
có tỷ lệ cong vẹo cột sống là 28,7% trong đó cong vẹo cột sống hình chữ C thuận chiếm 45% hình chữ S thuận và ưỡn chỉ chiếm 3,6%, đặc biệt tỷ lệ học sinh bị
gù tuy ít nhưng có xu hướng tăng dần theo bậc học
Theo nghiên cứu SAVY2 (Điều tra Quốc gia về VTN và thanh niên Việt Nam năm 2009) thì có 38,6% phải nghỉ việc hoặc nghỉ học ít nhất 1 tuần trong 12 tháng trước đó Năm triệu chứng thường gặp nhất của VTN là sốt, cảm lạnh, đau bụng, bệnh hô hấp, tiêu chảy [8]
Nghiên cứu của Bộ Y tế và Tổng cục thống kê về đánh giá hiệu quả sử dụng dịch vụ y tế năm 2001 - 2002 cho thấy có 4,56% trường hợp ốm đau không điều trị gì; trong số những người điều trị thì phần lớn tự điều trị (65,94%) Nhóm người bệnh nghèo không điều trị cao hơn nhóm người bệnh giàu (8,44% so với 3,16%) Trình độ học vấn càng cao tỷ lệ tự điều trị và không điều trị càng thấp [35]
ngại Nước ta, mỗi năm có từ 1,2 đến 1,4 triệu trường hợp nạo phá thai trong
đó có khoảng 300.000 là nữ thanh niên chưa có chồng từ 15 - 19 tuổi [30]
Trang 23Chỉ sau 5 năm (2002 - 2007), tuổi quan hệ tình dục lần đầu của vị thành niên, thanh niên Việt Nam đã giảm 1,5 năm, từ 19,6 tuổi xuống còn 18,1 tuổi (theo điều tra vị thành niên và thanh niên (Savy) 2002 – 2007)
1.3 Những yếu tố liên quan đến sức khỏe vị thành niên
Rối loạn tâm lý, sức khỏe tâm thần:
Không có các cuộc điều tra thường xuyên đánh giá sự phổ biến của rối loạn sức khỏe tâm thần VTN hoặc hành vi sử dụng dịch vụ sức khỏe tâm thần của vị thành niên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã hỗ trợ cuộc điều tra Sức khỏe Tâm thần Thế giới, 10 cuộc điều tra hộ gia đình trong 5 quốc gia để ghi lại sự các điều kiện sức khỏe tâm thần VTN và các hành vi chăm sóc sức khoẻ của họ [36] Cuộc điều tra phát hiện rằng nhiều rối loạn tâm thần thường bắt đầu trong thời thơ ấu hay tuổi niên thiếu Một nửa trong số các trường hợp rối loạn tâm thần bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi 14 [36]
Đối với VTN, các vấn đề về sức khỏe tâm thần là một trong những nhân tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến cái chết, chẳng hạn như tự tử Nhiều vị thành niên khi tham gia các buổi tư vấn toàn cầu, được tổ chức bởi Tổ chức y
tế thế giới (WHO) đã xem xét sức khỏe tâm thần, là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất đối với vị thành niên ngày nay, và họ muốn tiếp cận nhiều hơn để chăm sóc sức khỏe tâm thần cho chính mình [36]
Theo báo cáo của nhiều quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ tự tử là 5 - 10%
Tỷ lệ tự tử này cao hơn, khoảng 15% tại một số quốc gia có thu nhập trung bình, thấp Ở một số quốc gia, có 1 trong 3 vị thành niên thú nhận đã từng có
ý định tự tử [37] Tỷ lệ tự tử dao động trong vị thành niên từ 12 - 18 tuổi
Sự khác biệt giới tính: Tại châu Âu và châu Mỹ, số lượng các cô gái ở
độ tuổi vị thành niên có ý định tự tử gấp đôi số lượng nam giới, nhưng các nước ở khu vực Châu Phi, Đông Địa Trung Hải, và còn tại khu vực Tây Thái Bình Dương, không có sự khác biệt ý định tử tự ở cả hai giới [38], [39]
Trang 24Ở các nước có thu nhập cao như Mỹ và Canada, khoảng một nửa số vị thành niên với các vấn đề sức khỏe tâm thần được chăm sóc ở mức cần thiết
Ở các nước có thu nhập thấp và trung bình việc tiếp cận điều trị là khó khăn
Hành vi sử dụng internet
Tầm ảnh huởng của internet phát tán mạnh mẽ khi nó bắt đầu phát huy công dụng giải trí của mình, người ta không chỉ có thể tìm tư liệu mà còn xem phim, nghe nhạc, chơi game trên mạng Hàng triệu người vào mạng mỗi ngày, nhà nhà nối mạng, người người vào mạng, nhưng số người vào mạng
để làm việc, học tập, truy cập tài liệu thì ít mà số người vào mạng để tán gẫu
hay chơi game thì nhiều
Internet đang chiếm lĩnh giới trẻ với một tốc độ như bão quét, những trò chơi trực tuyến nhanh chóng tìm đuợc những tín đồ trung thành và cuồng nhiệt Giới trẻ và sự mê đắm của họ trong thế giới game online trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của xã hội hiện nay và không ai có thể
dự đoán được hệ lụy lớn lao của game online đối với giới trẻ sẽ lớn đến chừng nào.Ảnh hưởng của việc dành thời gian ngồi trước màn hình quá nhiều tới sức khỏe vị thành niên Một số nghiên cứu cho thẩy 5 - 10% người dùng internet bị nghiện họ coi internet còn quan trọng hơn đồ ăn thức uống hàng ngày.Tại những vùng não bị kích thích gây nghiện bị teo nhỏ 10 - 20%,có nhiều nguy cơ rối loạn tăng động, thiếu chú ý (ADHD) và trầm cảm theo thống kê con số mắc chứng (ADHD) tăng 66%
Trong 30 năm qua trong số này có 30% cho biết họ sử dụng internet hàng ngày.khi sử dụng internet khiến cho mắt phải điều tiết quá nhiều số người cận thị tăng từ 25 - 41,6% trong 10 năm qua kèm theo ảnh hưởng nhiều tới cột sống Mất ngủ rối loạn giấc ngủ kéo dài kèm theo ảnh hưởng tâm lý nhiều ngưới trở nên thô lỗ, bạolực hoặc có khuynh hướng tự tử, tự kỷ
Trang 25Ngày 19/11/1997 là ngày đầu tiên Việt Nam chính thức hòa vào mạng internet toàn cầu, sau 15 năm hoạt động Internet trở thành một thuật ngữ hầu như ai cũng biết, một phương tiện truyền thông rất nhiều người đang sử dụng, thậm chí với một số bộ phận còn phụ thuộc hoàn toàn Tỷ lệ VTN Việt Nam
sử dụng intrernet ngày càng cao và có nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe, khả năng học tập của trẻ VTN
Xu hướng sử dụng rượu bia Hầu hết các nước có thu nhập cao ở châu
Âu và Mỹ báo cáo tình hình sử dụng rượu bia giảm đi trong cả hai vị thành niên lớn tuổi và trẻ tuổi Trong số các vị thành niên trẻ, mức sử dụng bia rượu
ở nhiều nước đã giảm hơn một nửa từ năm 2001 Tuy nhiên, một số quốc gia báo cáo tăng lên (WHO)
Hành vi hút thuốc lá, thuốc lào
Ở Mỹ có nhiều nghiên cứu về sự liên quan giữa sử dụng thuốc lá và ung thư đã được tiến hành, các nghiên cứu này ước tính rằng khoảng một phần ba trong tổng số người chết vì ung thư liên quan tới sử dụng thuốc lá Thuốc lá gây ra xấp xỉ 90% tổng số người chết vì ung thư phổi và hút thuốc lá còn gây ra ung thư ở nhiều các phần khác như họng, thanh quản, thực quản, tuyến tuỵ, tử cung, cổ tử cung, thận, bàng quang, ruột và trực tràng…
Trang 26Ảnh hưởng của thuốc lá đến chức năng phổi: Hút thuốc gây ra hiện tượng gọi là tăng tính đáp ứng đường thở Do ảnh huởng của các chất độc hại trong khói thuốc, đường thở bị co thắt Khi điều này xảy ra thì luồng khí hít vào và thở ra đều bị cản trở ở người hút thuốc, và do đó hình thành các tiếng ran rít, ran ngáy và có thể bị khó thở
Khói thuốc làm giảm sự phát triển của phổi và gây viêm tổ chức phổi ở trẻ nhỏ Ở lứa tuổi từ 20 - 30 khi hút thuốc thì tổn thương phổi lại khác Những người hút thuốc ở tuổi càng trẻ thì thời gian hút để gây ra bệnh liên quan đến đường hô hấp càng ngắn so với những người bắt đầu hút ở tuổi muộn hơn
Vai trò gây bệnh của hút thuốc đã được chứng minh qua nhiều nghiên cứu trên thế giới cũng như ở nước ta Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm Hút thuốc làm tăng
tỷ lệ tử vong từ 30 đến 80%, chủ yếu là do các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, các bệnh tim mạch… Mức độ tăng nguy cơ phụ thuộc vào tuổi bắt đầu hút (tuổi hút thuốc càng sớm thì nguy cơ càng cao) và thời gian hút càng dài thì nguy cơ cũng càng lớn
Hành vi sử dụng các loại chất gây nghiện (ma túy, cần sa, các loại chất kích thích…)
Tác hại của ma túy đối với cơ thể: Tình trạng lệ thuộc ma túy đòi hỏi sử dụng ma túy đều đặn như một phương thức sống Người lệ thuộc sẽ bị những biến đổi về khí sắc, cảm xúc cũng như nhận thức do những tổn thương trong não Những tổn thương này có thể tồn tại rất lâu hoặc vĩnh viễn sau khi ngưng sử dụng
Sự rối loạn trên bắt nguồn từ nhiều lý do khác nhau: Bản thân, gia đình,
xã hội, tâm lý Sử dụng, lạm dụng rồi lệ thuộc ma túy dẫn đến tình trạng nghiện là triệu chứng cuối cùng hoàn tất quá trình rối loạn trên Do vậy việc điều trị phục hồi nghiện ma túy bao gồm rất nhiều lĩnh vực y tế, tâm lý
Trang 27 Thói quen lười vận động:
Trong tất cả các nước có thu nhập cao, 20% hoặc ít hơn nữ giới 15 tuổi đáp
ứng đủ số lượng khuyến cáo hàng ngày của hoạt động thể chất Chỉ có 7 quốc gia
có hơn 25% trẻ em trai đạt mức đề nghị của hoạt động thể chất hàng ngày
Hoạt động thể lực được xem là rất quan trọng để ngăn ngừa bệnh tiểu đường, thừa cân, béo phì, bệnh tim mạch và tăng cường sức khỏe tinh thần trẻ
vị thành niên Hướng dẫn giới thiệu ít nhất 60 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày đối với VTN Tuy nhiên, không một quốc gia nào có số vị thành niên của mình đáp ứng các mức độ hoạt động hàng ngày được đề nghị [36]
Theo nghiên cứu khoa học gần đây được đăng tải trên tạp chí The Lancet (Anh), có khoảng 1/3 người trưởng thành trên khắp thế giới mắc “bệnh” lười vận động, dẫn đến hậu quả 5,3 triệu người chết mỗi năm và Việt Nam là một trong 10 nước lười vận động nhất thế giới Cũng theo thông tin được đăng trên tạp chí The Lancet, nếu một người không vận động thể chất nhẹ nhàng đủ
30 phút/5 lần/tuần và vận động thể lực mạnh 20 phút/3 lần/tuần hoặc kết hợp cả hai hình thức vận động trên, thì bị coi là rơi vào tình trạng thiếu vận động Thiếu vận động dẫn tới hàng loạt bệnh nguy hiểm như tim mạch, tiểu đường, béo phì, ung thư vú, ung thư đại tràng Các nhà nghiên cứu đánh giá mức độ nguy hiểm của tình trạng thiếu vận động tương đương với bệnh béo phì và nạn hút thuốc lá và nếu thế giới giảm được 10% tỷ lệ người thiếu vận động sẽ ngăn chặn được cái chết của hơn 500.000 người/năm
Tại Việt Nam, theo điều tra của Viện Tim mạch Việt Nam và Viện Dinh Dưỡng tại 8 tỉnh, thành phố, hiện nay tỷ lệ người mắc bệnh tim mạch (từ 25 tuổi trở lên) là 25,1%, tỉ lệ người mắc chứng béo phì là 16,3% Bên cạnh chế độ dinh dưỡng, lười vận động được chứng minh là một trong những nguy cơ chính dẫn đến hai căn bệnh này và vô số các nguy cơ bệnh khác
Trang 28Lối sống ít vận động, dành thời gian nhiều cho xem tivi, đọc báo, làm việc bằng máy vi tính, nói chuyện qua điện thoại, lái xe, ăn uống, ngồi lì trong văn phòng… đang ngày càng phổ biến trong đại bộ phận người dân nước ta, gây ra những căn bệnh nguy hiểm Đặc biệt, đối với những người thường xuyên làm công việc văn phòng, lười vận động còn là nguyên nhân của những chứng bệnh phổ biến như đau khớp, đau vai gáy, stress thường xuyên… dẫn đến sức khỏe suy giảm, tinh thần căng thẳng, ảnh hưởng trầm trọng đến chất lượng cuộc sống Hoạt động thể lực ngày càng ít đi, con người càng trở nên lười nhác hơn Bệnh tật là nguy cơ nhãn tiền đối với lứa tuổi vị thành niên của nước ta hiên nay do thói quen ngồi nhiều với các trò chơi trên màn hình vi tính với ti vi hoặc ngủ vùi cũng đang có nhiều nguy cơ đáng báo động cho tình trạng lười vận động ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ VTN
Hành vi Bạo lực và chấn thương: Chấn thương là một trong những
nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở VTN Sử dụng bạo lực có thể dẫn đến chấn thương nghiêm trọng, trong đó liên quan đến cả việc sử dụng chất gây nghiện, chất kích thích tác động lên các hành vi sử bạo lực
có chiều hướng gia tăng trong trẻ VTN hiện nay Vì vậy điều quan trọng là giám sát và đưa ra các biện pháp phòng tránh bạo lực, phòng tránh thương tích do bạo lưc gây ra
Tỷ lệ bạo lực: Gần 30% phụ nữ độ tuổi từ 15 - 19 đang sống chung với bạo lực do các đối tác của họ, theo một đánh giá của WHO [5] Tỷ lệ bạo lực dao động từ khoảng 10% ở một số nước có thu nhập cao đến 43% tại khu vực Đông Nam Á
Các cuộc điều tra trong trường học trong năm quốc gia có thu nhập cao (Canada, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) cho thấy dấu hiệu bạo lực bạn tình ở vị thành niên không sống chung nhưng đang trong mối quan hệ yêu đương Trong các cuộc điều tra, sự phổ biến của bạo lực bạn tình cho cả nam giới và nữ giới vị thành niên và là khoảng 10% Tỷ lệ bạo lực giữa các học sinh trong các trường học ở cả Bắc Mỹ và châu Âu cũng tương tự
Trang 29Xung đột gia đình: Xung đột gia đình được xác định bằng các cuộc cãi
vã thường xuyên xảy ra với tỷ lệ 8,9% trên tổng số thanh thiếu niên được điều tra.Trong số thanh thiếu niên sống trong những gia đình bất hòa một số nhỏ thanh thiếu niên cho biết đã bị người trong gia đình đánh gây thương tích (2,2%) tỷ lệ này cao hơn ở nam thanh thiếu niên (2,9% so với nữ 1,5%) và nam thanh thiếu niên thành thị tuổi 14 - 17 nói riêng với tỷ lệ là 4,6% [40]
Tình trạng suy dinh dưỡng, hành vi về bổ xung dinh dưỡng
+ Suy dinh dưỡng: Trong một số quốc gia, tình trạng suy dinh dưỡng
vẫn là một nguy cơ quan trọng đối với vị thành niên trẻ tuổi Tình trạng suy dinh dưỡng làm tăng tỷ lệ tử vong vì liên quan đến các vấn đề thiếu máu thiếu sắt Ở một số nước cả suy dinh dưỡng và béo phì đang ở một mức độ cao cùng một lúc
Trong số 47 quốc gia có thể đo được khối lượng cơ thể ở vị thành niên trẻ trong ít nhất 10% trẻ em trai ở 13 quốc gia và 10 quốc gia có trẻ em gái bị suy dinh dưỡng Hầu hết các nước có tỷ lệ trẻ vị thành niên suy dinh dưỡng cao là ở các khu vực châu Phi hay Đông Nam Á Không có quốc gia thu nhập thấp và trung bình nào ở châu Mỹ mà có tới 10% trẻ vị thành niên bị suy dinh dưỡng [41]
+ Tiêu thụ trái cây và rau quả, đồ uống có đường
Ăn nhiều trái cây và rau quả sẽ giúp vị thành niên sẽ cải thiện mức độ chất dinh dưỡng và giảm rủi ro mắc các bệnh bệnh béo phì, tiểu đường và một
số dạng ung thư, phần lớn các vị thành niên trẻ không ăn đủ khẩu phần trái cây và rau quả hàng ngày [36]
Các cuộc điều tra ở châu Âu và Bắc Mỹ hỏi vị thành niên liệu họ ăn trái cây và rau ít nhất một lần trong ngày Tỷ lệ dao động từ 10% đến 60% Trong hầu hết các nước, tỷ lệ nữ ăn rau quả nhiều hơn là nam giới [41]
Nước giải khát, đặc biệt là đồ uống có đường, phổ biến với vị thành niên góp phần gây thừa cân, béo phì cũng như các nguy cơ bệnh tiểu đường loại II Kể từ năm 2001 ở các nước thu nhập cao hơn cho thấy: Đã có ít nhất hai phần ba số quốc gia báo cáo sự sụt giảm tỷ lệ thanh thiếu niên uống nhiều
Trang 30nước ngọt hàng ngày Tuy nhiên mức tiêu thụ có thể tăng lên ở các nước thu nhập thấp và trung bình
Béo phì là một yếu tố nguy cơ cho bệnh tim mạch và đái tháo đường tuổi
vị thành niên và tuổi trưởng thành Khoảng một trong số bốn thanh thiếu niên tham gia tư vấn toàn cầu của WHO cho rằng béo phì và thừa cân là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất ảnh hưởng đến vị thành niên Có sự khác biệt về tỉ lệ béo phì giữa các khu vực Các nước Châu Phi và Đông Nam Á Trong số 56 quốc gia mà độ cao và trọng lượng vị thành niên được xác định, 14 quốc gia có hơn 10% trẻ em trai bị béo phì và 09 quốc gia có trẻ em gái (Tỷ lệ béo phì được báo cáo ở một số nước Tây Thái Bình Dương và Đông Địa Trung Hải)
1.4 Một số nghiên cứu về tình trạng sức khỏe vị thành niên
Nghiên cứu về sức khỏe và một số yếu tố liên quan tới sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên thế giới đã được thực hiên ở nhiều quốc gia như Thụy Điển, Mỹ, Anh… Theo tổ chức Y tế thế giới, thanh thiếu niên trên toàn thế giới hiện này chiếm hơn 1/3 dân số thế giới và 90% số này sinh sống ở các nước có thu nhập thấp và trung bình [42]
Một số nghiên cứu về sức khỏe VTN trên thế giới cho thấy tình hình sức khỏe của VTN có sự khác biệt giữa các vùng miền.Tại các nước phát triển, học sinh chủ yếu mắc các bệnh nhiễm trùng và cấp tính.Tuy nhiên các nghiên cứu về sức khỏe học sinh này rất ít khi thực hiện tại trường học mà chủ yếu tại các cơ sở y tế Nghiên cứu của Sakai A và cộng sự tại các học sinh
là bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Băng Cốc, Thái Lan cho thấy 45% học sinh đến khám bệnh là do mắc các bệnh về đường hô hấp, các bệnh nhiễm trùng khác là 8,5% [43]
Một số nghiên cứu về tình hình sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên trên thế giới đã cho thấy rằng: quan hệ tình dục không an toàn, sử dụng thuốc lá, rượu bia là các nguyên nhân chính gây ảnh hưởng nặng nề tới sức khỏe của lứa tuổi vị thành niên [44]
Trang 31Một số điều tra trên thế giới và ở Châu Á cho thấy hiện đang diễn ra giai đoạn phát triển dân số mà theo đó nhóm dân số trẻ có tỷ trọng lớn Đối với thể lực của con người, các chỉ tiêu nhân trắc có một vai trò quan trọng trong sự phát triển của một quần thể người nói chung hoặc của từng cá thể Trong số các số đo nhân trắc, chiều cao, độ tuổi, cân nặng, vòng bụng, vòng mông và tỷ
lệ phần trăm mỡ cơ thể là các chỉ tiêu cơ bản nói lên tầm vóc thể lực cũng như tình trạng dinh dưỡng chung Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính từ cân nặng
và chiều cao là một chỉ số cơ bản trong đánh giá tình trạng béo gầy
Ở Việt Nam Năm 2008 dân số dưới 25 tuổi chiếm 43,3% tổng dân số,
và vị thành niên và thanh niên trong độ tuổi 14 - 24 cũng chiếm tới 21,7% tổng dân số (Tổng cục Thống kê, Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2008) SAVY 2 được tiến hành 5 năm sau SAVY 1 với 10.044 VTN/TN trong
độ tuổi từ 14 - 25 hiện đang sống cùng gia đình ở khắp 63 tỉnh, thành trên toàn quốc về rất nhiều góc cạnh cuộc sống và các mối liên quan như: giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ - SKSS, SKTD và một số vấn đề khác như HIV/AIDS, sử dụng các chất gây nghiện, tai nạn thương tích, bạo hành gia đình, sức khoẻ thể chất, sức khỏe tinh thần
Ngoài ra còn có các nghiên cứu chuyên biệt trong thời gian gần đây
đã tập trung nhiều vào vấn đề sức khỏe VTN như: Các bệnh học đường (cận thị, cong vẹo cột sống), bệnh răng miệng, rối loạn dinh dưỡng, rối loạn
do thiếu iod, bệnh béo phì các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nghiện hút và tiêm chích ma túy, tỷ lệ nhiễm HIV/ AIDS cũng nhằm cung cấp dữ liệu
cụ thể về tình trạng sức khỏe VTN Việt Nam hiện nay
Trang 32
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Điện
Biên Phủ, tỉnh Điện Biên và được tiến hành tại tất cả các phường (07 phường)
trong địa bàn Thành phố Điện Biên Phủ
Điện Biên là một tỉnh nằm ở vùng Tây Bắc, miền Bắc Việt Nam, giáp với các tỉnh Lai Châu và Sơn La, ở phía Tây giáp tỉnh Phongsaly của Lào ở phía Tây Nam giáp tỉnh Luangprabang của Lào Theo điều tra dân số ngày 01/04/2009, Điện Biên có 21 dân tộc sinh sống với tổng dân số là 491.046 người, chủ yếu là người Thái (khoảng 38%), tiếp đó là H'Mông (khoảng 30%)
và người Kinh chỉ chiếm khoảng 20%
Thành phố Điện Biên Phủ được thành lập năm 2004 là thành phố trẻ Phía đông nam giáp huyện Điện Biên Đông, các phía còn lại giáp huyện Điện Biên Điện Biên Phủ có diện tích 60,0905 km², gồm có 2 xã ngoại vi và 07 phường với tổng 152 tổ dân phố, mỗi tổ dân phố có từ 70 - 80 hộ gia đình Điện Biên Phủ cũng là thành phố có dân số và mật độ dân thấp nhất nước Các dân tộc thiểu số chiếm 1/3 dân số của thành phố
Tính đến cuối năm 2014, thành phố Điện Biên Phủ có số dân khoảng 70.639 người trong số đó ước tính tỷ lệ trẻ em ttrong lứa tuổi VTN khoảng 16.100 người
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện: Từ tháng 11/2014 đến tháng 11/2015
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Trẻ trong độ tuổi Vị thành niên (10 - 19 tuổi) hiện tại đang sinh sống tại thành phố Điện Biên Phủ
Trang 33- Bố, mẹ VTN (Người có vai trò chăm sóc sức khỏe chính cho trẻ VTN đồng thời là người cung cấp thông tin chung hộ gia đình của trẻ VTN)
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Trẻ VTN và bố, mẹ VTN đồng ý tham gia vào nghiên cứu
+ Trẻ trong độ tuổi VTN từ 10 - 19 tuổi
+ Trẻ VTN, bố, mẹ của trẻ VTN có hộ khẩu thường trú tại thành phố Điện Biên Phủ
+ Trẻ VTN, bố, mẹ của trẻ VTN có đủ khả năng sức khỏe thể chất, tinh thần cung cấp thông tin theo yêu cầu của nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Trẻ VTN, bố, mẹ VTN mắc bệnh, không có khả năng cung cấp thông tin theo yêu cầu của nghiên cứu
+ Trẻ VTN, bố, mẹ VTN không hợp tác, không đồng ý
+ Trẻ VTN không có mặt tại địa phương trong thời gian nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Theo phương pháp mô tả cắt ngang, có phân tích
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu được tính toán theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng cho một tỷ lệ:
n = Z 2 (1-α/2)
p(1-p)
x DE (ε.p) 2
Trong đó: n: Cỡ mẫu tối thiểu phải đạt được
Trang 34- Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Chọn 30 tổ dân phố
+ Dựa vào cỡ mẫu và trung bình hộ gia đình trong một tổ dân phố tính được mỗi tổ dân phố cần điều tra ít nhất 12 hộ gia đình có trẻ trong độ tuổi VTN + Lập danh sách tổ dân phố dựa trên số liệu được cung cấp bởi chính quyền địa phương, các tổ trong danh sách này sẽ được lựa chọn một cách ngẫu nhiên hệ thống theo hệ số K= 5 (152/30 = 5)
+ Chọn ngẫu nhiên một hộ tại trung tâm của tổ dân phố từ hộ trung tâm, điều tra viên đi theo tay phải theo phương pháp cổng liền cổng vào các hộ gia đình có trẻ VTN tới khi đạt được ít nhất 12 hộ gia đình trong một tổ dân phố
có trẻ VTN tham gia phỏng vấn nghiên cứu
- Thực tế: Chúng tôi tiến hành thu thập được 364 phiếu thông tin có trẻ
VTN sau khi loại trừ 22 phiếu do ghi chép sai Số còn lại là 342 hộ gia đình
có trẻ vị VTN thuộc 30 tổ dân phố trên 07 phường của thành phố Điện Biên Phủ được sử dụng để phân tích trong nghiên cứu này
2.3.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
- Nhân lực điều tra:
+ Điều tra viên bao gồm: Nhóm học viên lớp Ytế công cộng khóa 22
trường đại hoc Y Hà Nội và 10 cán bộ là các bác sỹ, Y sỹ hiện đang công tác tại các bệnh viện, và trung tâm Y tế trong địa bàn Thành phố Điện Biên Phủ nhóm tổ chức tập huấn kỹ cho điều tra viên Sau đó chia nhóm phân công điều tra theo danh sách các tổ trong phường đã đươc lựa chọn Mỗi nhóm sẽ
có 01 giám sát viên đi cùng thực hiện
- Công cụ thu thập số liệu:
Bộ câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục) đã được kiểm tra trên thực địa, có
chỉnh sửa sau khi điều tra thử Bộ câu hỏi gồm:
+ Thông tin chung trẻ VTN
+ Thông tin chung hộ gia đình
Trang 35+ Các câu hỏi, yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe trẻ VTN
+ Thông tin về sức khỏe do VTN tự đánh giá với các mức (rất yếu, yếu, trung bình, khỏe, rất khỏe)
2.3.4 Biến số và chỉ số nghiên cứu
Biến số, chỉ số mục tiêu 1: Mô tả thực trạng sức khỏe tự đánh giá và một số hành vi sức khỏe của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, năm 2015
Phân bố, tỷ lệ sử dụng thời gian của trẻ VTN trong 24h
- Thực trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên (Không khỏe/khỏe)
- Tỷ lệ trẻ vị thành niên có sức khỏe không tốt theo đặc điểm cá nhân của cha, mẹ
- Thực trạng BIM của trẻ ( <18, 5; 18,5-24,9; ≥25)
- Thời gian học: (Thời gian học ở trường, học ở nhà, học thêm của trẻ VTN được chia thành 2 nhóm):
+ Nhóm học ít hơn 8 tiếng/ngày
+ Nhóm học nhiều hơn 8 tiếng/ngày
- Thời gian ngủ: (Thời gian ngủ của trẻ VTN được chia thành 2 nhóm): + Nhóm ngủ ít hơn 8 tiếng/ngày
+ Nhóm ngủ nhiều hơn 8 tiếng/ngày
- Thời gian giải trí: (Thời gian sử dụng internet, xem tivi, phim ảnh, đọc báo, trò chơi được chia thành 2 nhóm):
+ Nhóm dành thời gian giải trí ít hơn 4 tiếng/ngày
+ Nhóm dành thời gian giải trí nhiều hơn 4 tiếng/ngày
- Thời gian luyện tập thể dục,thể thao: (Thời gian trẻ VTN luyện tập thể dục thể thao được chia thành 2 nhóm):
+ Nhóm dành thời gian luyện tập ít hơn 60 phút/ngày
+ Nhóm dành thời gian luyện nhiều hơn 60 phút/ngày
Trang 36Biến số, chỉ số mục tiêu 2: Mô tả một số yếu tố liên quan tới tình trạng sức khỏe tự đánh giá của trẻ vị thành niên tại thành phố Điện Biên Phủ, năm
2015
*Các biến số về thông tin chung của trẻ VTN:
Chúng tôi phân loại thời gian sinh hoạt của trẻ VTN dựa theo nghiên cứu của tác giả Phùng Thế Hùng năm 2009 về một số yếu tố nguy cơ đến sức khỏe lứa tuổi vị thành niên tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam [45] Từ đó, xác định tỷ lệ và tìm hiểu mối liên quan tới sức khỏe, tình trạng tự đánh giá sức khỏe trẻ VTN
-Tuổi: Được phân loại thành 2 nhóm theo các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn vị thành niên sớm: 10 - 14 tuổi
+ Giai đoạn vị thành niên muộn: 15 - 19 tuổi
Phân loại theo tiêu chuẩn phân loại của Bộ Y tế ban hành năm 2011 [1]
- Giới: Xác định tỷ lệ nam, nữ của trẻ VTN
+ Dân tộc: Xác định tỷ lệ dân tộc: Kinh, Thái, khác của trẻ VTN
+ Tình trạng đi học, trình độ văn hóa, bậc học cao nhất: Tỷ lệ trẻ VTN
còn đi học, nghỉ học Xác định bậc học cao nhất đã hoàn thành
- Chỉ số BMI:
+ Trẻ VTN khai báo thông tin số đo chiều cao (cm), số đo cân nặng (kg)
Chỉ số BMI được tính theo công thức: BMI = W/H 2 (Trong đó: W là cân nặng của trẻ, tính theo đơn vị: kg, H là chiều cao của trẻ, tính theo đơn vị: cm)
- Thông tin chung của bố, mẹ trẻ VTN:
+ Tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp
- Thông tin chung của hộ gia đình trẻ VNT:
+ Nhân khẩu: Đối tượng khai báo số nhân khẩu hiện có trong gia đình (ăn chung, ở chung, trong vòng 3 tháng trở lên)
Trang 37+ Phân loại kinh tế hộ gia đình: Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng phân loại kinh tế hộ theo phân loại của địa phương: nghèo, cận nghèo, trung bình, khá, giàu
+ Nước sạch: Thực trạng sử dụng nước ăn, nước sinh hoạt của HGĐ (Nước sông, suối, hồ, nước giếng, nước mưa, nước máy )
+ Nhà tiêu: Thực trạng sử dụng nhà tiêu của HGĐ trẻ vị thành niên (Tự hoại, 2 ngăn, 1 ngăn, hố xí đào,…)
+ Nhà tắm: Quan sát đánh giá thực tế nhà tắm của HGĐ trẻ vị thành niên (Hợp vệ sinh, không hợp vệ sinh)
+ Nhà ở: Quan sát thực tế tình trạng nhà ở HGĐ trẻ vị thành niên (Mái lá, Cấp 4, mái bằng, 2 tầng, biệt thự, …)
+ Bếp: Thực trạng vị trí bếp và tình hình sử dụng nhiên liệu trong gia đình (Vị trí bếp, nhiên liệu đun nấu)
2.4 Sai số nghiên cứu và biện pháp khắc phục
- Sai số mắc phải:
+ Sai số do điều tra viên: Điều tra viên bỏ sót câu hỏi, sai số khi ghi chép thông tin, không hiểu rõ về câu hỏi
+ Sai số trong quá trình nhập số liệu
+ Sai số do người trả lời phỏng vấn: Trả lời không trung thực, không hiểu
rõ ý nghĩa câu hỏi, trẻ VTN trả lời theo ý muốn của người lớn
- Giải thích rõ cho trẻ VTN hiểu về mục đích nghiên cứu và mong muốn trả lời trung thực chính xác
Trang 38- Đối với sai số trong quá trinh thu thập số liệu: Giám sát, kiểm tra số liệu tại thực địa
- Đối với sai số trong quá trình làm sạch số liệu và nhập liệu: Đọc phiếu
và làm sạch trước khi nhập liệu Tạo các tệp check của phần mềm nhập liệu nhằm hạn chế sai số trong quá trình nhập liệu
- Làm sạch các số liệu bị thiếu và số liệu vô lý trước khi phân tích
2.5 Quản lý, xử lý và phân tích số liệu
Sau khi làm sạch số liệu Sử dụng phần mềm Epidata 3.0 để nhâp liệu
có file check để khống chế sai số khi nhập liệu sau đó sử dụng Stata 12 để phân tích và xử lý số liệu.Thống kê mô tả được áp dụng.Thống kê mô tả bao gồm: Tần số, tỷ lệ %, trung bình, độ lệch chuẩn Tính toán tỷ suất chênh (Odd ratio) nhằm xác định các yếu tố liên quan với tình trạng sức khỏe của trẻ VTN Phân tích mối liên hệ theo mô hình hồi quy logistic Khoảng tin cậy 95% CI không chứa giá trị 1 được coi là có ý nghĩa thống kê
* Phân tích mối liên quan giữa hành vi và ý thức của trẻ VTN đối
với sức khỏe tự đánh giá
Áp dụng mô hình hồi quy logistic để phân tích đa biến
- Biến phụ thuộc: Việc tự đánh giá tình hình sức khỏe của bản thân trẻ VTN (Khỏe hay không khỏe)
- Biến số độc lập gồm: Tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ văn hóa, đặc điểm nhân khẩu học, phân loại kinh tế, các hành vi liên quan đến sức khỏe: (sử dụng internet, uống rượu, bia, chất có cồn, chế độ dinh dưỡng, hút thuốc
lá, thuốc lào, tình trạng trẻ bị đánh, bị bắt nạt, các hoạt động giải trí, thể lực) + Các câu hỏi từ 1 - 16 nhằm đánh giá sơ bộ về đặc điểm chung và tình
trạng sức khỏe của trẻ VTN
Trang 39+ Các câu hỏi từ 17 - 46 liên quan đến hành vi sức khỏe của trẻ VTN Trong đó có các câu trả lời nhiều lựa chọn (31, 34, 35, 36, 38, 39, 40) nhằm xác
định tần suất xuất hiện của các hành vi liên quan tới tình trạng sức khỏe VTN
+ Các câu hỏi từ 47 - 50 gồm các câu hỏi liên quan đến sức khỏe, ý thức sức khỏe tự đánh giá của VTN Trong đó có các câu trả lời nhiều lựa chọn (47, 49) nhằm xác định tần suất mắc bệnh, ốm của trẻ VTN trong 3 tháng qua
và 1 tháng qua tính từ thời điểm được phỏng vấn
2.6 Đạo đức nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành có sự đồng ý của chính quyền địa phương
- Các điều tra viên đã giải thích rõ cho các đối tượng về ý nghĩa của cuộc điều tra là nhằm mục đích chăm sóc sức khỏe cho trẻ VTN Nghiên cứu tiến hành có sự đồng ý của đối tượng và gia đình của trẻ VTN
- Thông tin do đối tượng nghiên cứu cung cấp chỉ sử dụng vào mục đích
nghiên cứu, hoàn toàn được giữ bí mật
- Đối tượng nghiên cứu có thể từ chối tham gia nghiên cứu trong quá trình điều tra mà không ảnh hưởng gì
Trang 40Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n=342)