1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực trạng bệnh sâu răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng trên sinh viên năm thứ nhất trường ĐHYD hải phòng năm học 2013 2014

78 271 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại theo ngưỡng chẩn đoán theo Pitts Sơ đồ tảng băng Pitts Tổn thương đến tủy + Tổn thương thấy ngà + Tổn thương men có lỗ giới hạn trong men + Tổn thương men chưa ‘có lỗ’có thể ph

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh sâu răng là bệnh phổ biến Bệnh sâu răng có đặc điểm là tiêu dần các chất vô cơ và hữu cơ ở men và ngà răng tạo thành lỗ sâu Nếu điều trị không kịp thời sẽ gây viêm tuỷ, viêm quanh cuống răng và có thể mất răng Vào những năm 75 của thế kỷ XX, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xếp 3 bệnh trong số hơn 10 bệnh phổ biến là tai họa của loài người: bệnh tim mạch, bệnh ung thư và bệnh sâu răng [1] Bệnh sâu răng là một tai họa của loài người vì 3 lý do:

- Bệnh mắc sớm (ngay sau khi mọc răng - 6 tháng tuổi)

- Bệnh rất phổ biến (ở Việt Nam trên 50% dân số có sâu răng)

- Tổn phí chữa răng rất lớn, nếu chỉ chú ý đến việc chữa bệnh thì không một quốc gia nào có thể đáp ứng được cho nhân dân

Trên thế giới, Yupin Songpaisan - Thái Lan (1999) cho rằng: Bệnh sâu răng là bệnh phổ biến nhưng tỷ lệ mắc còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể ở mỗi cộng đồng Cộng đồng nào phòng bệnh kém thì tỷ lệ mắc bệnh cao, cộng đồng nào phòng bệnh tốt thì tỷ lệ mắc bệnh thấp, thậm chí còn không

có người mắc bệnh [2]

Theo tổ chức Y tế Thế Giới (WHO 1984) nghiên cứu bệnh sâu răng ở vùng Tây Thái Bình Dương, cho rằng bệnh sâu răng mắc với tỷ lệ rất cao nhưng ở mỗi cộng đồng điều kiện sống, làm việc và hiểu biết khác nhau thì tỷ

lệ mắc cũng khác nhau [3]

Những yếu tố ảnh hưởng làm tăng khả năng mắc bệnh sâu răng là: Sự tồn tại của mảng bám răng sót lại trong các khe kẽ của răng chuyển hóa tạo ra môi trường axit tại chỗ làm tiêu men ngà răng gây sâu răng

Trang 2

Ở Việt Nam theo kết quả điều tra sức khoẻ răng miệng toàn quốc năm 2001 cho thấy tỷ lệ người mắc sâu răng rất cao, chiếm 75,2% ở lứa tuổi từ 18 - 34 tuổi

và tăng lên 93,7% ở lứa tuổi từ 45 trở lên Chỉ số sâu mất trám (SMT) ở lứa tuổi

từ 45 trở lên rất cao và ở mức 8,93 Chỉ số SMT gia tăng theo tuổi, từ 2,84 ở lứa tuổi 18 đến 4,7 ở lứa tuổi trung niên và 8,93 ở nhóm tuổi cao hơn [4]

Trường Đại học Y Dược Hải Phòng là trường đại học đào tạo đa ngành,

đa cấp Hàng năm trường tuyển sinh hàng trăm sinh viên cho đào tạo đại học

và sau đại học Đối với sinh viên đại học, các chuyên ngành được đào tạo là Bác sĩ đa khoa, Bác sĩ chuyên khoa Răng Hàm Mặt, Bác sĩ Y học dự phòng,

cử nhân điều dưỡng, cử nhân kỹ thuật Y học, Dược sĩ đại học Địa bàn tuyển sinh của trường là các tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam từ Quảng Bình trở ra, các sinh viên mới nhập trường, họ đến từ các tỉnh thành khác nhau cho nên có những đặc điểm khác nhau về điều kiện sống cũng như những hiểu biết về phòng bệnh Ở Lào Cai, Yên Bái, Bắc Kạn… đa số các sinh viên đã sinh sống trên vùng cao, điều kiện được chăm sóc vệ sinh răng miệng có khác hơn các sinh viên đã sinh sống ở thành phố Hải Phòng Khi tất cả các sinh viên họ được sống, sinh hoạt trong một trường đại học Y, họ có thể có thêm được những kiến thức, những điều kiện cho việc chăm sóc sức khỏe Mặt khác, khảo sát được bệnh sâu răng để đưa ra nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh

hưởng ở sinh viên năm thứ nhất là rất cần thiết Vì vậy đề tài “Thực trạng bệnh sâu răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng trên sinh viên năm thứ nhất trường Đại học Y Dược Hải Phòng năm học 2013 - 2014”

Trang 3

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 GIẢI PHẪU RĂNG VÀ TỔ CHỨC HỌC CỦA RĂNG

1.1.1 Giải phẫu răng [5]

Cấu tạo ngoài của răng gồm 3

phần: thân răng, cổ răng và chân răng

- Thân răng: là phần nằm trong

hốc miệng có 5 mặt: mặt ngoài giáp

môi má, mặt trong giáp lưỡi, mặt gần

là mặt gần đường giữa, mặt nhai với

răng hàm và rìa cắn với răng cửa và

răng nanh Đối với cấu tạo thân răng,

mặt nhai các răng hàm có nhiều núm,

rãnh, nơi tiếp giáp giữa mặt gần và

mặt xa các răng là nơi rắt thức ăn dễ

bị sâu răng

Hình 1.1 Giải phẫu răng [5]

- Cổ răng: là ranh giới giữa thân răng và chân răng, cổ răng cũng là điểm yếu dễ sâu răng đối với những người cao tuổi do lợi tụt lộ cổ răng

- Chân răng: chân răng là phần nằm trong xương hàm, đối với răng cửa

và răng hàm nhỏ (trừ răng số 4 hàm trên có 2 chân) chỉ có 1 chân, các răng số 6,7 hàm dưới có 2 chân, các răng số 6, 7 hàm trên có 3 chân Chân của các răng số 8 (răng khôn) là bất định

Trang 4

1.1.2 Tổ chức học của răng [5], [6], [7]

* Men răng:

- Men răng là mô cứng nhất trong cơ thể, có nguồn gốc từ ngoại bì Men răng có màu trong suốt bao phủ toàn bộ thân răng dày, mỏng tùy vị trí khác nhau, dày nhất ở núm răng là 2,5 mm và mỏng nhất ở vùng cổ răng Men răng không có sự bồi đắp thêm mà chỉ mòn dần theo thời gian, nhưng có sự trao đổi lý - hóa với môi trường trong miệng

- Về mặt hóa học: Chất vô cơ chiếm 96%, chủ yếu là Hydroxy Apatite 3Ca3PO4.2Ca(OH)2 còn lại là các muối cacbonat của magiê, và một lượng nhỏ clorua, fluorua và muối sunfat của natri và kali Thành phần hữu cơ chiếm khoảng 1% trong đó chủ yếu là protit

- Về mặt lý học: Men răng có màu trong suốt, rất cứng, giòn và cản tia X

Trang 5

Tủy răng có nhiệm vụ duy trì sự sống của răng, cụ thể là sự sống của nguyên

bào và tế bào tạo ngà thứ phát, nhận cảm giác của răng Trong tủy răng có chứa

nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và đầu tận cùng của dây thần kinh

1.2 ĐỊNH NGHĨA VÀ SINH BỆNH HỌC SÂU RĂNG

1.2.1 Định nghĩa [5], [8], [9]

Sâu răng là một bệnh nhiễm khuẩn tổ chức Canxi hóa của răng được đặc

trưng bởi sự hủy khoáng của thành phần vô cơ và sự phá hủy thành phần

hữu cơ của mô cứng Tổn thương là quá trình phức tạp bao gồm các phản

ứng lý hóa ảnh hưởng đến sự di chuyển các ion bề mặt giữa răng và môi

trường miệng và là quá trình sinh học giữa các vi khuẩn mảng bám với cơ

chế bảo vệ của vật chủ

1.2.2 Sinh bệnh học sâu răng [9]

Bệnh sâu răng là bệnh được gây ra bởi nhiều yếu tố trong đó vi khuẩn

đóng vai trò quan trọng Ngoài ra phải có các yếu tố thuận lợi như chế độ ăn

uống nhiều đường, vệ sinh răng miệng (VSRM) không tốt, chất lượng men

răng kém và môi trường tự nhiên, nhất là môi trường nước ăn uống có hàm

lượng fluor thấp (hàm lượng fluor tối ưu là 0,7 - 1,2 ppm) tạo điều kiện cho

sâu răng phát triển [10]

Trước năm 1970, người ta cho rằng bệnh căn của sâu răng là do nhiều

nguyên nhân với sự tác động của 3 yếu tố Vi khuẩn trong miệng mà chủ yếu

là Streptococcus Mutans lên men các chất bột và đường tạo thành axit, axit

này phá hủy tổ chức cứng tạo thành lỗ sâu ở răng, qua lỗ sâu, vi khuẩn đã xâm

nhập vào tủy răng gây nên viêm tủy răng và viêm quanh cuống răng Sự phối

hợp của các yếu tố này để gây nên sâu răng được thể hiện bằng sơ đồ Keys

Trang 6

Sơ đồ Keys: Người ta chú ý đến chất đường và vi khuẩn Streptococcus Mutans,

vì vậy việc dự phòng cũng phải chú ý quan tâm đến chế độ ăn hạn chế đường và vệ sinh răng miệng Tuy nhiên khi áp dụng vào thực tế phòng bệnh sâu răng thấy kết

quả đạt được không cao, tỷ lệ sâu răng giảm xuống không đáng kể

Sơ đồ White: Giải thích sinh bệnh học sâu răng bằng việc thay vòng tròn chất đường trong sơ đồ Keys bằng vòng tròn chất nền và

đề cao vai trò bảo vệ của nước bọt, nồng độ pH dòng chảy nước bọt

quanh răng và vai trò của Fluor

Trang 7

Hủy khoáng > Tái khoáng Sâu răng

Các yếu tố bảo vệ:

+ Nước bọt, dòng chảy nước bọt

+ Khả năng kháng acid của men

+ Fluor có ở bề mặt men răng

+ Acid từ dạ dày trào ngược + pH < 5

+ VSRM kém

Hình 1.3 Sơ đồ tóm tắt cơ chế sâu răng [15]

1.3 PHÂN LOẠI BỆNH SÂU RĂNG

Tuỳ theo tác giả mà có nhiều cách phân loại khác nhau [16] nhưng cơ bản vẫn dựa trên 5 loại lỗ hàn của Black

Các phân loại trước đây:

Theo diễn biến sâu răng: sâu răng cấp tính và sâu răng mãn tính

Theo mức độ tổn thương: sâu men, sâu ngà nông, sâu ngà sâu

Theo bệnh sinh: sâu răng tiên phát, sâu răng thứ phát, sâu răng tái phát Theo vị trí tổn thương: sâu hố rãnh, sâu mặt nhẵn, sâu cemment…

Trong đó phân loại theo mức độ tổn thương được ứng dụng nhiều nhất:

Trang 8

- Sâu men (S1): tổn thương mới ở phần men chưa có dấu hiệu lâm sàng rõ

Khi chúng ta nhìn thấy chấm trắng ở răng thì sâu răng đã tới đường men ngà

- Sâu ngà (S2,S3): khi bắt đầu xuất hiện lỗ sâu trên răng thì chắc chắn là sâu ngà Sâu ngà được chia làm 2 loại: sâu ngà nông (S2) và sâu ngà sâu (S3), đây là 2 loại chúng ta thường gặp trên lâm sàng

Các phân loại mới về bệnh sâu răng

Ngày nay các tác giả thường sử dụng 2 bảng phân loại mới để chẩn đoán

và điều trị đó là: phân loại theo site và size, phân loại theo Pitts

* Phân loại theo site and size (dựa vào vị trí và mức độ tổn thương) [16]

2 yếu tố đó là vị trí và kích thước (giai đoạn, mức độ) của lỗ sâu

Vị trí(site):

+ Vị trí 1: hố rãnh và các mặt nhẵn

+ Vị trí 2: kết hợp với mặt tiếp giáp

+ Vị trí 3: cổ răng và chân răng

Trang 9

Phân loại theo ngưỡng chẩn đoán (theo Pitts)

Sơ đồ tảng băng Pitts

Tổn thương đến tủy + Tổn thương thấy ngà

+ Tổn thương men có lỗ giới hạn trong men + Tổn thương men chưa ‘có lỗ’có thể phát hiện trên lâm sàng + Tổn thương chỉ có thể phát hiện với sự hỗ trợ của các công cụ cổ điển (phim cắn cánh) + Tổn thương tiền lâm sàng đang tiến triển/lành mạnh

D 4

D 3

D 1

Ngưỡng chẩn đoán trong các điều tra dịch tễ cổ điển

(WHO)

Ngưỡng áp dụng trên lâm sàng

và nghiên cứu

Ngưỡng có thể xác định nhờ các công cụ hỗ trợ mới hiện nay và trong tương lai

Biểu hiện không

sâu tại ngưỡng

chẩn đoán D 3

Cần thay đổi chiến lược phát hiện và điều trị

Hình 1.4 Sơ đồ tảng băng Pitts [16]

Phân loại theo WHO (1997) [1]

* Sâu men:

- Là tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm, chưa hình thành lỗ sâu

+ Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai

+ Khi thổi khô bề mặt răng thấy tổn thương là các vết trắng nhạt trên bề mặt men răng Nếu quá trình mất khoáng liên tục, bề mặt vết trắng chuyển thành mờ đục, không nhẵn như men thường, mắc thám trâm khi khám

+ Nếu tổn thương phát triển thêm, vết trắng có thể lan rộng, biến đổi thành màu nâu nhạt rồi sẫm

- Các tổn thương sâu răng giai đoạn sớm được xác định bằng mắt thường

Trang 10

* Sâu ngà:

- Là sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu

- Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn thương

có chiều sâu từ 2 – 4mm)

1.4 DỊCH TỄ HỌC VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ BỆNH SÂU RĂNG

1.4.1 Tình hình bệnh sâu răng trên thế giới và trong nước

Thế giới: [17], [18]

Bản đồ sâu răng toàn cầu (Dental caries world map – WHO 2004):

Hình 1.5 Tỷ lệ sâu răng theo quốc gia (trên 100.000 dân)

Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) đã đưa ra 5 mức độ sâu răng phụ thuộc vào chỉ số sâu mất trám răng vĩnh viễn ở lứa tuổi 12 và lứa tuổi 35 – 44 như sau [19], [20]

Trang 11

Bảng 1.1 Phân chia mức độ sâu răng theo chỉ số SMT của WHO

Dịch tễ học sâu răng toàn cầu cho thấy có hai xu hướng của bệnh sâu răng:

- Ở các nước phát triển: Từ những năm 1940 đến 1960, tình hình sâu răng rất nghiêm trọng, trung bình mỗi trẻ em 12 tuổi có từ 8 - 10 răng bị sâu hoặc răng bị mất do sâu răng Chỉ số SMT của Na Uy tới mức 12,0 năm 1940 Nhưng đến năm 1980, chỉ số SMT ở tuổi 12 tại nước này đã giảm xuống mức

từ 2,0 - 4,0 Vào năm 1993, chỉ số SMT tuổi 12 ở hầu hết các nước công nghiệp hóa đã giảm xuống tới mức thấp từ 1,2 - 2,6 [21], [22] Như vậy, nhìn chung từ cuối những năm của thập kỷ 1970 tới nay, tình trạng sâu răng tại các nước phát triển có xu hướng giảm dần, chỉ số SMT tuổi 12 tại hầu hết các quốc gia này đạt mức thấp và rất thấp [15], [22] Đó là hiệu quả của sự thay đổi điều kiện sống, hiệu quả của việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe răng miệng, các chương trình nha khoa phòng ngừa và sử dụng kem đánh răng có chứa fluor [1], [23]

- Ở các nước đang phát triển: Thời điểm những năm thập kỷ 1960, tình hình sâu răng ở mức thấp hơn nhiều so với những nước đang phát triển Chỉ

số SMT tuổi 12 ở thời kỳ này chỉ từ 1,0 - 3,0; thậm chí một số nước dưới mức 1,0 như Thái lan, Uganda, Zaire Tới thập kỷ 1970 và 1980 thì chỉ số này lại tăng lên và ở mức từ 3,0 - 5,0 và một số nước còn cao hơn như Chile là 6,3 Nhìn chung tình trạng sâu răng của các nước đang phát triển đều có xu hướng

Trang 12

ngày càng tăng [25] Đó là do điều kiện kinh tế còn thấp, vấn đề sức khỏe răng miệng chưa được quan tâm đúng mức, không được fluor nước uống, thiếu sự giáo dục nha khoa và chế độ ăn không khoa học nhất là đồ ăn có đường [19], [24], [26]

Theo chương trình Y tế Quốc gia và khảo sát kiểm tra dinh dưỡng, 1999 - 2004, tại Hoa Kỳ Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn (SMT)

Bảng 1.2 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn tại Hoa Kỳ (SMT) 1999-2004

Tuổi Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn

Điều tra răng miệng toàn quốc năm 1991, Võ Thế Quang đã so sánh kết quả này với tình trạng điều tra năm 1983 cho thấy sâu răng ở Việt Nam tăng dần theo độ tuổi Tại từng thời điểm điều tra từ năm 1983 đến năm 1991 thì tình trạng sâu răng tại các tỉnh Miền Nam cao hơn tại các tỉnh Miền Bắc nhưng mức độ gia tăng bệnh thì Miền Bắc lại cao hơn Miền Nam Nhìn chung

từ năm 1983 đến 1990 ở Việt Nam tình trạng sâu răng có xu hướng gia tăng

Trang 13

Bảng 1.3 Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn ở Việt Nam năm 1991 và 2001

Từ 45 tuổi trở lên Việt Nam 93,7 8,93

1.4.2 Nhu cầu điều trị bệnh sâu răng trên thế giới và trong nước

Trên thế giới

Trong nhiều thập kỷ qua, đã có nhiều báo cáo trên thế giới thống nhất bệnh sâu răng đang giảm một cách đáng kể và ngày càng giảm do việc sử dụng kem đánh răng và các sản phẩm có chứa fluor, chất trám bít hố rãnh, chế độ

ăn được cải thiện, nhiều dịch vụ chăm sóc và giáo dục sức khỏe răng miệng ngày càng tốt hơn Tuy nhiên những nghiên cứu gần đây lại đưa ra cảnh báo bệnh sâu răng đang có xu hướng tăng lên ở trẻ em và cả người trưởng thành

Điều này có ảnh hưởng đến nhu cầu điều trị các bệnh răng miệng [24]

Trang 14

Ở Mỹ (2009) sâu răng được xem là một bệnh mạn tính, có tỷ lệ mắc cao

ở trẻ em từ 5 – 17 tuổi, cao gấp 5 lần so với bệnh hen và gấp 7 lần so với bệnh sốt mùa hè Trên 50% trẻ từ 5 – 9 tuổi và 78% trẻ 17 tuổi có ít nhất 1 răng bị sâu cần trám phục hồi, 25% trẻ em Mỹ chưa được đi khám răng miệng bao giờ, nhất là những trẻ có điều kiện kinh tế xã hội thấp [28]

Ở Rumani, theo nghiên cứu của Cristina Nuca và cộng sự (2007) trên đối tượng trẻ 12 tuổi, tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn là 77,2%; số răng sâu trung bình trên 1 trẻ là 3,31; tỷ lệ sâu răng không được điều trị là 88,71%; chỉ có 7,68% răng sâu được trám và có 3,61% răng sâu cần phải nhổ [29]

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ sâu răng ở các nước vẫn còn cao nhưng tỷ lệ răng sâu được điều trị rất thấp, nhất là các nước đang phát triển Điều đó chứng minh tại sao hiện nay tỷ lệ sâu răng lại có xu hướng tăng lên

Trong nước

Đã có rất nhiều nghiên cứu về tỷ lệ sâu răng ở lứa tuổi học đường nhưng chưa có được nhiều nghiên cứu đi sâu phân tích nhu cầu điều trị bệnh sâu răng ở các lứa tuổi này

Theo kết quả điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc Trần Văn Trường

và cộng sự (2001) đã công bố ở trẻ 12 tuổi trung bình 1 em có 1,87 răng sâu,

tỷ lệ răng sâu được trám chiếm 1,6% và tỷ lệ răng sâu không được điều trị chiếm 97,9% [30]

Ngoài ra một số nghiên cứu của các địa phương như Tuyên Quang, Yên Bái … đều cho thấy tỷ lệ sâu răng ở học đường rất cao trong khi tỷ lệ được điều trị rất thấp Điều đó chứng tỏ nhu cầu điều trị sâu răng trong cộng đồng là rất lớn Muốn giảm tỷ lệ sâu răng cần kết hợp điều trị và dự phòng, nhất là phát huy hiệu quả các chương trình nha học đường [31], [32]

Trang 15

1.5 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH SÂU RĂNG

Các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh sâu răng:

- Tập quán ăn uống

- Chăm sóc vệ sinh răng miệng

- Các yếu tố khác như tuổi, giới…

Các tác giả thường mô tả các yếu tố ảnh hưởng, không phân tích sâu về các mối ảnh hưởng giữa chúng và bệnh sâu răng [33]

1.5.1 Tập quán ăn uống

Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu các tập quán ăn uống ảnh hưởng đến bệnh sâu răng như tần suất sử dụng các đồ ăn thức uống có nhiều đường, ăn thêm bữa phụ buổi tối, đồ ăn thức uống nóng lạnh, đồ ăn cứng, khẩu phần ăn:

- Petersen và CS nghiên cứu ở Thái Lan (2001) công bố tỷ lệ sử dụng đồ uống ngọt hàng ngày rất cao như sữa đường (34%), chè đường (26%), nước ngọt (24%) ảnh hưởng đến tỷ lệ sâu răng rất cao 70-96,3% tùy độ tuổi và chỉ số SMT là 8,1 răng/học sinh Đồng thời tác giả cũng nêu lên tập quán sử dụng đồ ngọt nhiều ở những người theo đạo Hồi và đặc biệt là ở nữ [34]

1.5.2 Chăm sóc vệ sinh răng miệng

Một số tác giả nước ngoài và trong nước đã nghiên cứu về các yếu tố chăm sóc răng miệng như hiểu biết về chăm sóc răng, khám định kỳ răng, thói

quen chải răng, tuổi sử dụng bàn chải, thuốc, vật liệu chải răng:

- Rao và cộng sự cho biết tại Ấn Độ có đến 59,2-62% học sinh có chải răng ít nhất 1 lần/ngày nhưng chỉ có 5,7-13,6% sử dụng thuốc đánh răng; 3,1% dùng tay làm sạch răng và 21,1% dùng tro và than để đánh răng hàng ngày [35]

Trang 16

- Okeigbemen và cộng sự thông báo 81,4% học sinh chưa bao giờ được khám răng tại các cơ sở y tế, 95,8% có sử dụng bàn chải răng [36]

- Rao và cộng sự cho rằng học sinh nội thành có tỷ lệ sâu răng cao hơn

ở ngoại thành (22,8% so với 15%), học sinh dân tộc ít người có chất lượng răng tốt hơn học sinh không phải là dân tộc ít người [35]

- Okeigbemen và cộng sự cho biết học sinh thành thị có chỉ số SMT cao hơn học sinh nông thôn (0,72 so với 0,53) và học sinh ở trường tư thục có chỉ số SMT cao hơn học sinh ở trường công lập (0,75 so với 0,55) nhưng chỉ

số SMT ở nữ lại cao hơn học sinh nam (0,7 so với 0,59) [36]

1.6 CHẨN ĐOÁN SÂU RĂNG

Giai đoạn khi đã hình thành lỗ sâu là giai đoạn muộn của bệnh sâu răng, để điều trị chúng ta phải khoan và trám răng phục hồi, không thể điều trị tái khoáng được Do đó việc chẩn đoán các tổn thương sớm là rất quan trọng Chẩn đoán bệnh sâu răng có thể nhầm với các khiếm khuyết do sự phát triển bất thường trong giai đoạn hình thành răng Đôi khi cũng khó phát hiện tổn thương sâu răng ở mặt bên, sâu hố rãnh hay những tổn thương sâu răng dạng ẩn Khi đó cần phải có các biện pháp hỗ trợ như: X-Quang thường quy hoặc kỹ thuật

số, Lazer huỳnh quang Diagnodent, máy đo điện trở men, DIOFOTI…

Trên lâm sàng, sâu răng thường được phân loại theo mức độ tổn thương: sâu men, sâu ngà nông và sâu ngà sâu [37], [38]

Trang 17

1.6.1 Chẩn đoán sâu men (Theo tiêu chuẩn WHO 1997) [1]

- Là tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm, chưa hình thành lỗ sâu

- Chưa gây ra triệu chứng chủ quan

- Lâm sàng:

+ Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai

+ Khi thổi khô bề mặt răng thấy tổn thương là các vết trắng nhạt trên bề mặt men răng Nếu quá trình mất khoáng liên tục, bề mặt vết trắng chuyển thành mờ đục, không nhẵn như men thường, mắc thám trâm khi khám

+ Nếu tổn thương phát triển thêm, vết trắng có thể lan rộng, biến đổi thành màu nâu nhạt rồi sẫm

- Các tổn thương sâu răng giai đoạn sớm được xác định bằng mắt thường

- Sâu men cần chẩn đoán phân biệt với:

+ Bệnh nhiễm fluorose: tổn thương là các đốm trắng hoặc vằn trắng mờ, nếu nhiễm fluor nặng hơn có thể có vằn vằng hoặc nâu, nhiều ở mặt ngoài, thường gặp ở vùng răng cửa và có biểu hiện đối xứng

+ Thiểu sản men: tổn thương lan theo chiều rộng hơn, vị trí hay gặp mặt ngoài răng, thường gặp ở nhóm răng có cùng thời gian hình thành

1.6.2 Chẩn đoán sâu ngà (Theo tiêu chuẩn WHO 1997) [1]

- Là sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu

- Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn thương có chiều sâu từ 2 – 4mm)

- Triệu chứng cơ năng: Ê buốt khi có kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt Hết kích thích là hết ê buốt Bệnh nhân sâu ngà sâu thì nhạy cảm với kích thích hơn sâu ngà nông

- Lâm sàng:

+ Tổn thương có thể gặp ở tất cả các mặt của răng

Trang 18

+ Nhìn thấy có lỗ sâu, đáy gồ ghề, thay đổi màu sắc (màu nâu hoặc đen) + Thăm khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu mềm, có nhiều ngà mềm, ngà mủn, có dấu hiệu mắc thám trâm Tuy nhiên nếu sâu răng ở giai đoạn ổn định, thăm khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu cứng nhưng mắc thám trâm + Khi thử tủy nhận kết quả dương tính

- X - Quang: Dựa vào phim cận chóp cho phép đánh giá chính xác mức

độ sâu và khoảng cách từ đáy lỗ sâu tới tủy răng để có biện pháp điều trị phù hợp Với những lỗ sâu mặt bên phim cánh cắn, panorama rất có giá trị trong hỗ trợ cho chẩn đoán

- Chẩn đoán xác định dựa vào: Lâm sàng, X- quang, thử tủy dương tính

- Chẩn đoán phân biệt với:

+ Lõm hình chêm: thường gặp ở phía ngoài cổ răng, nhất là các răng hàm nhỏ Tổn thương hình tam giác, đỉnh quay vào trong, đáy quay ra ngoài, đáy cứng và nhẵn bóng, thường gặp ở các răng đối xứng

+ Thiểu sản men: Tổn thương gây mất men, ngà, tạo thành rãnh, ngấn ở mặt ngoài các răng cửa hay mặt nhai các răng hàm, thường đối xứng

1.7 ĐIỀU TRỊ BỆNH SÂU RĂNG

- Đối với sâu men:

Những tổn thương này có điều trị tái khoáng bằng các sản phẩm có fluor như kem đánh răng có fluor, vecni fluor, gel fluor… hoặc kết hợp trám bít hố rãnh trong những trường hợp răng có hố rãnh sâu (không phải sâu răng): những răng có hố rãnh mặt nhai sâu, khúc khuỷu (thường gặp ở các răng hàm lớn, nhất là các răng mới mọc), dễ lắng đọng thức ăn, có thể gây kẹt thám trâm Trám bít hố rãnh giúp cho bề mặt răng trơn láng hơn, dễ vệ sinh hơn (trám bít phòng ngừa sâu răng)

Trang 19

Hình 1.6 Tổn thương sâu men ở rãnh mặt nhai

Trước Sau

Hình 1.7 Trám bít hố rãnh phòng sâu răng

- Đối với sâu ngà:

Những tổn thương sâu răng này cần phải trám phục hồi bằng cách nạo sạch ngà mềm, ngà mủn sau đó sát khuẩn lỗ sâu và chọn chất liệu phù hợp trám kín

lỗ sâu Hiện nay có rất nhiều loại vật liệu để hàn răng sâu như: Amangam, Fuji, Composite

Sâu ngà nông Sâu ngà sâu

Hình 1.8 Tổn thương sâu ngà răng

Trang 20

1.8 DỰ PHÒNG BỆNH SÂU RĂNG

1.8.1 Mục tiêu

Từ năm 1979 đến năm 1994, tổ chức Y Tế Thế Giới đã nhiều lần đưa ra mục tiêu và bổ xung các mục tiêu toàn cầu về dự phòng sâu răng [3], [39] Các mục tiêu được trình bày ở 2 bảng:

Bảng 1.4 Mục tiêu toàn cầu dự phòng sâu răng trẻ em cho năm 2000

Bảng 1.5 Mục tiêu toàn cầu dự phòng sâu răng trẻ em cho năm 2010

Ở Việt Nam, mục tiêu của chương trình nha học đường là đạt được mục tiêu dự phòng sâu răng của tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO)

1.8.2 Các biện pháp can thiệp

Năm 1984, tổ chức sức khỏe thế giới đã đưa ra các biện pháp phòng bệnh sâu răng [3], [40] Các biện pháp này bao gồm:

Trang 21

+ Dùng kem đánh răng có fluor

+ Dùng gel fluor hoặc vecni fluor

+ Sử dụng phối hợp các dạng fluor

 Trám bít hố rãnh

Áp dụng với các mặt nhai để ngăn ngừa sâu ở hố rãnh răng sau khi mọc răng vĩnh viễn

 Chế độ ăn hợp lý phòng sâu răng

Kiểm soát thức ăn và đồ uống có đường bao gồm các biện pháp:

+ Kiểm soát các thực phẩm có đường ở trường học

+ Giảm số lần ăn các thực phẩm có đường

+ Giảm mức độ tiêu thụ đường ở tầm quốc gia

 Hướng dẫn vệ sinh răng miệng

+ Phương pháp cơ học: chải răng, sử dụng chỉ tơ nha khoa, bàn chải lưỡi… + Phương pháp hóa học: xúc miệng bằng dung dịch Chlohexidine 0,1% hoặc 0,2%; nước xúc miệng Listerine, sử dụng các loại đường thay thế: Xylitol, manitol…

Trang 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

* Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên đa khoa năm thứ nhất trường Đại học Y Dược Hải Phòng Không giới hạn về tuổi của sinh viên

* Tiêu chuẩn lựa chọn

Đối tượng: Đồng ý tham gia nghiên cứu, không có sự cản trở để khám răng miệng

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Không đầy đủ phiếu thu thập thông tin

- Đối tượng không hợp tác nghiên cứu

2.2 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

- Thời gian: Tháng 1/2014 - 12/2014

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Khoa răng hàm mặt Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng

+ Viện đào tạo răng hàm mặt Trường Đại học Y Hà Nội

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang để xác định tỷ lệ sâu răng, nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng trên đối tượng nghiên cứu

Trang 23

2.3.2 Kỹ thuật chọn mẫu

Theo công thức tính cỡ mẫu [4]

n = 2

2 ) 2 / 1 (

d

pq

Z 

n : Cỡ mẫu

Z : Hệ số tin cậy, với độ tin cậy ở mức xác suất 95% và α = 0.05

p : Tỷ lệ mắc bệnh sâu răng của quần thể, ước lượng tỷ lệ sâu răng là 0,69 (theo điều tra sức khỏe răng miệng toàn quốc năm 2001 [4])

q = 1- p : Tỷ lệ ước lượng không sâu răng

d : Độ chính xác mong muốn 5%

Cỡ mẫu theo công thức tính được là 329.Trên thực tế chúng tôi khám cho toàn bộ 449 sinh viên đa khoa năm thứ nhất của trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Bông, cồn, găng tay, giấy lau tay

Phiếu thu thập thông tin về sâu răng, phiếu thu thập thông tin về nhu cầu điều trị và một số yếu tố ảnh hưởng

Trang 24

Bước 2: Liên hệ với Ban Giám hiệu, phòng Y tế của trường Đại học Y Dược

Hải Phòng, Khoa răng hàm mặt Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng

Bước 3: Tập huấn cho các bác sĩ, điều dưỡng Khoa răng hàm mặt Bệnh viện

Đại học Y Hải Phòng về cách thức khám, cách thu thập thông tin và ghi vào phiếu phỏng vấn (phụ lục 1), phiếu khám (phụ lục 2)

Bước 4: Khám đánh giá bệnh sâu răng và tình trạng vệ sinh răng miệng bằng

dụng cụ khám và theo phiếu thu thập thông tin

* Phỏng vấn

- Chào hỏi tìm sự cởi mở và hợp tác của đối tượng nghiên cứu

- Đặt câu hỏi theo bộ câu hỏi có sẵn

- Giải thích nếu đối tượng nghiên cứu chưa rõ

- Ghi lại trung thực và đầy đủ các câu trả lời vào phiếu điều tra (phụ lục 1)

- Phương pháp khám đánh giá sâu răng:

Quan sát kết hợp thám châm và gương soi thăm khám để phát hiện các tổ thương sâu răng ghi nhận là tổn thương sâu răng sớm trên bề mặt răng (vết trắng), dùng bông cách ly nước bọt quan sát khi ướt và khi thổi khô bằng hơi của ghế nha khoa hay sâu răng nếu phát hiện thấy chấm nâu hay đen, mắc thám châm khi thăm khám Đánh giá sâu răng theo tiêu chuẩn của WHO 1997 [1]

Trang 25

 Tổn thương sâu men theo WHO (1997)

- Là tổn thương sâu răng ở giai đoạn sớm, chưa hình thành lỗ sâu

+ Tổn thương thường thấy ở hố và rãnh mặt nhai

+ Khi thổi khô bề mặt răng thấy tổn thương là các vết trắng nhạt trên bề mặt men răng Nếu quá trình mất khoáng liên tục, bề mặt vết trắng chuyển thành mờ đục, không nhẵn như men thường, mắc thám trâm khi khám

+ Nếu tổn thương phát triển thêm, vết trắng có thể lan rộng, biến đổi thành màu nâu nhạt rồi sẫm

- Các tổn thương sâu răng giai đoạn sớm được xác định bằng mắt thường

 Tổn thương sâu ngà theo WHO (1997)

- Là sâu răng giai đoạn đã hình thành lỗ sâu

- Dựa vào chiều sâu của lỗ sâu, người ta phân loại sâu ngà răng thành sâu ngà nông (nếu tổn thương sâu dưới 2mm) và sâu ngà sâu (nếu tổn thương có chiều sâu từ 2 – 4mm)

- Triệu chứng cơ năng: Ê buốt khi có kích thích nóng, lạnh, chua, ngọt Hết kích thích là hết ê buốt Bệnh nhân sâu ngà sâu thì nhạy cảm với kích thích hơn sâu ngà nông

- Lâm sàng:

+ Tổn thương sâu răng là những lỗ sâu nhìn thấy bằng mắt thường + Men răng vùng xung quanh lỗ sâu đục hoặc mất độ trong

+ Tổn thương có thể gặp ở tất cả các mặt của răng

+ Nhìn thấy có lỗ sâu, đáy gồ ghề, thay đổi màu sắc (màu nâu hoặc đen) + Thăm khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu mềm, có nhiều ngà mềm, ngà mủn, có dấu hiệu mắc thám trâm Tuy nhiên nếu sâu răng ở giai đoạn ổn định, thăm khám bằng thám trâm thấy đáy lỗ sâu cứng nhưng mắc thám trâm

+ Khi thử tủy nhận kết quả dương tính

Trang 26

Bước 5: Tư vấn cho sinh viên

Sau khi thăm khám, tùy tình trạng bệnh răng miệng và đặc biệt là bệnh sâu răng của từng sinh viên chúng tôi sẽ tiến hành tư vấn cho sinh viên biết tình trạng, phương pháp điều trị bệnh răng miệng nếu có Từ đó chúng tôi tìm hiểu xem sinh viên có nhu cầu điều trị như thế nào và rút ra được nhu cầu điều trị bệnh sâu răng của sinh viên năm thứ nhất

2.4 CHỈ SỐ VÀ TIÊU CHÍ ÁP DỤNG TRONG VIỆC NGHIÊN CỨU

2.4.1 Chỉ số SMT

- Tiêu chuẩn đánh giá: Gồm 3 phần:

S (Sâu răng): Bao gồm tất cả các răng bị sâu ở thân, chân răng và các răng

đã hàn nhưng bị sâu tái phát

M (Mất răng): Bao gồm các răng mất do sâu và mất răng do nguyên nhân khác

T (Trám răng): Răng đã được trám và không bị sâu tái phát

- Chỉ số SMT là tổng số răng Sâu + Mất + Trám chia cho tổng số răng được khám [41]

Bảng 2.1 Quy ước của WHO về chỉ số SMT

2.4.2 Nhu cầu điều trị

Một số tỷ lệ cho thấy mức độ nhu cầu điều trị gồm:

S/SMT: Tỷ lệ sâu răng không được điều trị

Trang 27

M/SMT: Tỷ lệ răng bị nhổ do sâu răng

T/SMT: Tỷ lệ răng sâu được trám

Bảng 2.2 Mã số quy ước nhu cầu điều trị

2.4.3 Biến số và chỉ số nghiên cứu

 Biến số về đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:

- Tuổi

- Giới

 Biến số về yếu tố ảnh hưởng đến sâu răng

- Tập quán ăn uống

- Chăm sóc vệ sinh răng miệng

- Các yếu tố khác: Tuổi, giới, địa dư

 Các chỉ số về tỷ lệ sâu răng và chỉ số SMT:

- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn

- Tỷ lệ sâu răng vĩnh viễn theo tuổi và giới

Trang 28

- Tỷ lệ sâu răng theo vị trí (hàm trên, hàm dưới)

- Tỷ lệ sâu răng ở các mặt răng (mặt: nhai, trong, ngoài, gần, xa)

- Tỷ lệ sâu răng theo mức độ tổn thương (sâu men, sâu ngà nông, sâu ngà sâu)

- Tỷ lệ răng cần điều trị tái khoáng

- Tỷ lệ răng cần trám phục hồi

- Tỷ lệ răng cần nhổ

- Tỷ lệ răng cần các điều trị khác

- Các chỉ số S, M, T, SMT

2.4.4 Tiêu chí phân loại kết quả

Các kết quả được so sánh với các chỉ số theo phân loại WHO như sau:

Bảng 2.3 Phân loại tỷ lệ sâu răng

Trang 29

2.5 XỬ LÝ SỐ LIỆU

Nhập và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0

2.6 BIỆN PHÁP HẠN CHẾ SAI SỐ TRONG NGHIÊN CỨU

- Dùng mẫu phiếu khám thống nhất để thu thập thông tin

- Bộ dụng cụ đầy đủ với gương, gắp, thám trâm

- Nhập số liệu và xử lý số liệu được tiến hành hai lần để đối chiếu kết quả

2.7 Y ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU

Việc nghiên cứu được tiến hành đúng theo đề cương nghiên cứu đã được thông qua hội đồng

Mọi thông tin nghiên cứu đều được giữ bí mật chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Đối tượng tham gia nghiên cứu hoàn toàn tự nguyện sau khi được thông báo về mục đích của nghiên cứu, sinh viên có quyền không tiếp tục tham gia nghiên cứu bất kỳ lúc nào nếu muốn Các đối tượng được tôn trọng khi tham gia nghiên cứu

Quá trình khám vấn đề vô khuẩn được đảm bảo không gây bất kỳ ảnh hưởng xấu nào tới đối tượng Trong quá trình nghiên cứu không tiến hành bất

Trang 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới

- Tỷ lệ chung nam ít hơn nữ, nam chiếm 38,3% thấp hơn nữ 61,7%

- Tỷ lệ nam ở nhóm 18 tuổi cao hơn ở nhóm 19 – 27 tuổi

- Tỷ lệ nữ ở nhóm 18 tuổi lại thấp hơn ở nhóm 19 – 27 tuổi

Trang 31

3.2 TỶ LỆ SÂU RĂNG

3.2.1 Tỷ lệ sâu răng ở sinh viên năm thứ nhất

Bảng 3.2 Tỷ lệ sâu răng theo giới của đối tượng nghiên cứu

- Tỷ lệ sâu răng ở nữ cao hơn nam không đáng kể 65,7% so với 61,6%

- Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05

Bảng 3.3 Tỷ lệ sâu răng theo tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

Trang 32

- Chỉ số SMT thu được là 2,09 là thấp theo tiêu chí của WHO

- Chỉ số SMT ở nam (1,75) thấp hơn ở nữ (2,3) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

- Trong các chỉ số S, M ở nữ cao hơn ở nam còn chỉ số T thì ngược lại ở nam cao hơn ở nữ

Bảng 3.5 Chỉ số SMT theo tuổi và giới của đối tượng nghiên cứu

- Chỉ số M, T rất nhỏ

Trang 33

Bảng 3.6 Phân tích chỉ số SMT theo tuổi và giới của đối tượng

S/SMT (%)

M/SMT (%)

T/SMT (%)

Trang 34

3.2.3 Phân bố mức độ và vị trí răng sâu

Bảng 3.7 Phân bố tỷ lệ mức độ sâu răng của đối tượng

Trang 35

Nhận xét:

- Chúng ta có thể thấy rằng sâu răng tập trung chủ yếu ở mặt nhai và mặt ngoài Mặt nhai chiếm tỷ lệ cao nhất là 62,2% và mặt ngoài 27,3%

- Sâu răng ở vị trí mặt gần và xa chiếm tỷ lệ rất nhỏ

- Sâu răng tại các vị trí mặt nhai, trong, ngoài ở nữ luôn cao hơn 2 lần ở nam

Bảng 3.9 Phân bố tỷ lệ sâu răng theo vị trí hàm của đối tượng

3.3 NHU CẦU ĐIỀU TRỊ

Bảng 3.10 Tỷ lệ sinh viên được đi khám răng miệng trong 1 năm

Trang 36

Nhận xét:

- Tỷ lệ không đi khám răng trong 1 năm vẫn cao chiếm 55,2% Thấp nhất là khám ≥ 2 lần/năm chỉ có 9,8%

- Số lần khám răng trong năm không có sự khác biệt nhiều giữa nam và

nữ khi sự chênh lệch là không đáng kể

Bảng 3.11 Phân bố địa điểm khám răng miệng

Trang 37

Bảng 3.12 Tỷ lệ sâu răng được điều trị và không được điều trị của nhóm

- Tỷ lệ răng sâu được điều trị ở nhóm 18 tuổi cao hơn 2 lần so với nhóm

19 – 27 tuổi nhưng vẫn chiếm tỷ lệ rất nhỏ

Trang 38

Bảng 3.13 Nhu cầu điều trị của nhóm nghiên cứu

Điều trị

Đối tượng

Điều trị tái khoáng

Trám bít

hố rãnh

Trám phục hồi

Nhổ răng

Điều trị Khác

18 tuổi 31 11,6 104 39,0 101 37,8 1 0,4 30 11,2

19 - 27 tuổi 19 10,7 79 44,6 59 33,3 0 0 20 11,4 Chung 50 11,3 183 41,2 160 36,0 1 0,2 50 11,3

Trang 39

SL

Tỷ lệ (%)

SL

Tỷ lệ (%)

Ngày đăng: 07/03/2018, 13:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w